Monthly Archive January 21, 2020

PHÁP ĐÀM NHÂN CHUYẾN THĂM ACHAAN NGÀY 17/09/2019 – Phần II

Thanh Tâm: Con nhớ trong lần pháp đàm gần đây nhất ở Nha Trang, ngay khi bắt đầu buổi Pháp đàm, Sarah nói với Hội chúng rằng, khi được gặp Achaan ở Băng Cốc, Achaan đã nhắn đúng một từ tới mọi người: Dhamma (Pháp)!

Achaan: Bởi vì mọi thứ là thực. Cái gì thực đều là pháp. Cái thấy là thực, nghe, nếm, ngửi, xúc chạm… Cái gì sinh khởi đều là thực.

………………..

Achaan:  Đừng quên rằng, có thể có khoảnh khắc bắt đầu của hiểu biết chỉ một đặc tính tại một thời điểm, vì chúng đều khác nhau. Chỉ một từ, một thực tại thôi. Bởi vì có một, một, một, … rất nhiều thực tại.

Thái: Bản chất của thực tại sẽ vận hành theo cách của nó, không thể thay đổi?

Achaan: Không bao giờ. Nó đã diệt đi rồi, không còn gì nữa, chỉ một khoảnh khắc rồi diệt đi ngay, không có gì có thể ở lại. Sự thật là chẳng có gì, rồi có gì, rồi lại chẳng có gì cả. Vậy lợi ích gì khi sinh ra chỉ để kinh nghiệm rất nhiều thứ khác nhau, rồi tất cả đều diệt đi, không bao giờ trở lại. Suy nghĩ không phải là ta, cái thấy không phải là ta, tất cả đều diệt đi…

Mai: Một số người gợi ý nên học tiếng Pali để có thể đọc trực tiếp nguyên bản Tam tạng.

Achaan: Bạn học tiếng Anh và bạn có thể đọc hiểu tiếng Anh nhưng đó không phải là hiểu Pháp. Cũng như người Thái, họ nói tiếng Thái và có bản dịch kinh điển bằng tiếng Thái nhưng điều đó không có nghĩa bất kỳ ai nói tiếng Thái đều có thể hiểu được Giáo lý. Cần phải học hiểu và suy xét. Chẳng hạn, ở Thái Lan mọi người dùng từ “Dhamma” nhưng họ không hiểu nghĩa của nó là gì. Dhamma là gì? Họ không biết. Họ cần được nghe giải thích. Giống như những người ở thời đức Phật, họ ở đó, họ được thấy, được nghe từ Ngài hàng ngày nhưng họ không có ý niệm gì về vô ngã, dù bất kỳ ở đâu hay khi nào. Chỉ là các pháp sinh khởi do duyên rồi diệt đi ngay lập tức, không bao giờ trở lại. Mọi thứ đều diệt đi, mỗi ngày, đều diệt đi, diệt đi, không có gì còn lại. Nếu bạn hiểu rõ, bạn sẽ tích lũy từng chút một, từng chút một, để thấy mọi thứ đều diệt đi, nó ở đấy rồi diệt đi, mọi thứ, phải rất chi tiết…

Mai: Chúng con suy xét được một chút rồi lập tức quên ngay, rồi nghĩ về đủ mọi thứ, mọi câu chuyện khác nhau,…

Achaan: Bạn sẽ không quên nếu bạn được nghe, được thấy thường xuyên. Nếu chỉ một lần, chắc chắn bạn sẽ quên. Bạn có quên tôi không? [Mai: không ạ] Vì bạn thấy tôi nhiều hơn một lần. Còn nếu chỉ gặp một lần thì bạn sẽ quên. Giáo lý cũng vậy, chúng ta nghe, hiểu được một chút và rồi đi nghe rất nhiều thứ khác nhau thì làm sao có khoảnh khắc nhớ về Giáo lý? Còn nếu nghe hàng ngày, nghe thêm nữa, từng chút một thì bạn sẽ nhớ đến nó hơn. Đó là lý do vì sao nghe Pháp rất quan trọng, vì các pháp là vô ngã.Bạn cố gắng nhớ nhưng nó là vô ngã, không thể theo sự kiểm soát của bạn. Hãy thấy được giá trị của việc nghe và hiểu Pháp, as much as there’s time hãy nghe khi có thể. Có người nghe Pháp cả ngày, cứ khi nào có thời gian, từ khi thức dậy… Nếu bạn muốn nghe, bạn có thể tìm thấy cơ hội trong mọi khoảnh khắc, còn nếu bạn không có tích lũy cho nghe Pháp thì bạn lại có tích lũy cho những việc khác. Nó tùy thuộc vào pháp, vào sự tích lũy.

Mai: Nếu ta không có tích lũy thì không thể…

Achaan: Có bao nhiêu người ở nhà [không phải đi làm], nhưng bạn thấy đấy, có bao nhiêu người nghe Pháp? Kể cả ở trong ngôi nhà này hay bất cứ ngôi nhà nào. Đến Đức Phật cũng không thể khiến cho họ nghe Pháp. Từng lời trong Giáo lý đều đưa đến hiểu biết hơn về vô ngã. Nhờ nghe Pháp chúng ta sẽ nhận ra rằng, sự thật chẳng có gì cả, chỉ có pháp, là các pháp khác nhau do duyên sinh và diệt liên tục tiếp nối nhau, vô cùng nhanh… Và khi ấy ta cũng sẽ hiểu, mọi thứ do duyên, luôn sinh khởi rồi diệt đi ngay lập tức. Bạn có tin không? Không chỉ tin mà cần phải hiểu mọi thứ là như vậy. Không có ai cả, mọi thứ đều diệt đi trong khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi, nhưng cái mới tiếp nối ngay lập tức, rất nhanh. Đó là lý do vì sao, cái được thấy chỉ là nimitta (tướng) – hình và dạng. Chúng ta cần phải hiểu về dhamma (pháp) – parathadhamma (pháp chân đế). Không phải là mắthaytai.Tương tự như khi ta chạm vào giấy và bút – mới chỉ thế thì chưa có gì cả, nhưng ta bắt đầu vẽ ra mắt, tóc, … hiện giờ cũng như vậy, vô cùng nhanh. Dường như luôn hiện diện cái gì đó, nhưng đó là nimitta (tướng) của sự sinh và diệt của các thực tại – thứ không ai có thể ngăn được, kể cả Đức Phật cũng không thể thay đổi. Nhưng những tích lũy ba la mật và các ân đức tuyệt hảo của Ngài đã làm duyên cho khoảnh khắc của sự giác ngộ, một cách không hề định trước. Không ai biết trước khi nào điều ấy sẽ xảy ra nhưng nếu không có nghe Pháp- cái là âm thanh hiện giờ, không suy xét và tìm hiểu thì không thể biết rằng nó không thể được thấy, citta (tâm) không thể được thấy, cetasika (tâm sở) sinh khởi và thực hiện các chức năng của chúng cũng không thể được thấy. Khi thời điểm đến, thực tại sẽ xuất hiện với hiểu biết đúng tại khoảnh khắc chúng được kinh nghiệm, bởi vô ngã. Càng nghe Pháp, chúng ta sẽ càng hiểu hơn về vô ngã, không có ai ở đó cả. Khi không có ai, ta cũng sẽ không phải bận tâm nhiều và không phải chịu nhiều đau khổ – dukha (khổ). Nó xuất hiện rồi lại biến mất.

Mai: Làm sao Achaan có thể sống khi cứ thấy sự sinh diệt liên tục?

Achaan: Làm sao ta có thể sống ư? Kể cả khi bạn không thấy thì nó vẫn thế. Kể cả khi bạn không biết, không thấy và không kinh nghiệm những điều đó thì nó vẫn như vậy. Khi trí tuệ sinh khởi và kinh nghiệm sự thật,ta sẽ càng muốn hiểu thêm về sự thật. Sự thật là sự thật, biến chuyển liên tục, bất kể là gì, trừ nibbana (niết bàn), vì niết bàn không sinh nên không thể diệt.

Thái: Khoảnh khắc thấy sinh diệt là khoảnh khắc của trí tuệ, vì vậy khi ấy không có dosa (sân) với thực tại hay với các câu chuyện.

Achaan: Bạn thấy không,một thứ kỳ lạ và không ngờ được, như về sự sinh diệt chẳng hạn.Trước đó không có sân, nhưng tại sao sân lại tới? Khi có cái hiểu về pháp xuất hiện, bạn sẽ hiểu sự thật. Làm sao có thể thay đổi sự thật ấy bằng suy nghĩ của mình hay của ai đó khác. Nó là như vậy. Bằng chứng là nóđã sinh khởi do có duyên và rồi diệt đi. Âm thanh, cái nghe,.. không có gì còn lại, không bao giờ quay trở lại. Từng thứ một xuất hiện như vậy, sinh rồi diệt. Khi bạn có hiểu biết vững chắc bạn sẽ lại bắt đầu nghe Pháp với hiểu biết ngày càng sâu sắc hơn. Đức Phật biết rằng, chỉ vài từ thôi sẽ không đủ làm thay đổi ý niệm về ngã, cần nhiều hơn thế, một kiếp cũng không đủ. Vì vậy điểm mấu chốt là: đối tượng của trí tuệ là gì? Ai đó có thể muốn đi đến đâu đó và làm cái gì đó. Nhưng đối tượng của trí tuệ là gì? Phải là bây giờ, cái đang xuất hiện lúc này! Nếu không hiểu về thực tại bây giờ, làm sao có thể có hiểu về bất cứ thứ gì khác? Vì mọi thứ đều như vậy, xuất hiện rồi diệt mất, không ngừng. Khoảnh khắc này chính là đối tượng của trí tuệ, khi hiểu biết ngày càng sâu sắc hơn, chứ không chỉ từ nghe Pháp đơn thuần. Cần hiểu nhiều hơn nữa. Ở khoảnh khắc của trí tuệ , sẽ rõ ràng rằng sati (chánh niệm) không phải là bạn,cái hiểu không phải là bạn. Có nhiều tâm sở, có nhiều hơn bảy tâm sở sinh khởi cùng các tâm thiện. Đó không phải là bạn, nhưng bạn không hề biết. Bạn cho mọi thứ xuất hiện đều là mình, bạn của mình, đồ của mình… như là những gì trường tồn, kéo dài. Nhưng khi không có suy nghĩ như lúc ngủ say, bạn có biết mình là ai không, bạn đang ở đâu, con gái của bạn ở đâu? Không có gì cả. Tất cả đều biến mất. Nó đã diệt đi rồi, trước khi bạn nghĩ về nó. Vì bạn không bao giờ nghĩ về cái vừa diệt đi mà chỉ nghĩ rằng nó luôn hiện diện, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Bất cứ cái gì xuất hiện đều có thể được hiểu, và chỉ có thể hiểu về nó chứ không phải là những thứ đã qua hay chưa tới. Đó là sự thật, nhưng cần nhiều thời gian để nhận ra. Sự thật là không có ai cả, không chỉ là không có “tôi” mà là không có gì cả, chỉ có sự sinh diệt rất nhanh và tạo nên ý niệm về “cái gì đó” khác nhau, mọi lúc. Nếu không có gì sinh khởi thì sẽ không thể có như vậy, nếu chỉ có một thực tại sinh khởi rồi diệt đi thì cũng không có như vậy, mà phải là sự tiếp nối sinh diệt liên tục để tạo nên ý niệm về một thứ gì đó, … Tiếng Pali gọi đó là “nimitta” (tướng). Cứ khi nào có nimitta là có “paññatti” (pháp chế định), cái được biết như là một thứ gì đó, vì nó là hiện diện của cái liên tục sinh diệt. Nhưng nó cũng diệt đi rồi.

Đồ ăn giờ ở đâu? Chúng ta nghĩ ai đó đã ăn rồi, nhưng dù thức ăn đang để ở đâu, trong đĩa hay trong căn phòng này thì sự thật nó diệt đi rồi. Bất cứ cái gì sinh khởi đều diệt đi ngay lập tức và được tiếp nối bởi các thực tại khác cũng do duyên, vô cùng nhanh, không ai có thể kinh nghiệm sự sinh diệt trừ trí tuệ ở mức độ cao. Chúng ta bắt đầu hiểu, và càng nhiều hiểu biết sẽ càng bớt đi dính mắc. Đó là cách duy nhất để giảm bớt dính mắc. Chỉ có nhờ trí tuệ. Vì tham ái do vô minh làm duyên.

Mai: Thưa Achaan, vì sao Achaan luôn nhấn mạnh đến anattā (vô ngã) mà không phải là anicca (vô thường) hay dukkha (khổ)?

Achaan: Mọi pháp hữu vi là vô thường, mọi pháp hữu vi là khổ, mọi pháp là vô ngã. Vì vậy chúng ta đang nói về tất cả mọi thứ, không chỉ về những thứ do duyên sinh rồi diệt – cái là dukkha (khổ) và anicca (vô thường). Nhưng dù có là dukkha hay anicca hay không, bất cứ cái gì là thực đều là pháp, không có ngoại lệ. Đó là lý do vì sao, điều chính yếu là không có ai, không có gì cả, chỉ có các thực tại khác nhau sinh rồi diệt và có thể được nhận biết bởi trí tuệ. Vì vậy khoảnh khắc phát triển hiểu biết, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, giống như giọt nước trong đại dương, cần từng giọt một.

Mai: Trước con cứ nghĩ, vì Achaan cho rằng tà kiến về ngã là cái ngăn cản mọi người đến với Pháp hay hiểu Pháp một cách đúng đắn.

Achaan: Vì chúng ta cho mọi thứ là trường tồn. Đó là lý do vì sao Đức Phật nói: “Sabbe saṅkhārā aniccā” (Các pháp hữu vi là vô thường). Những thứ do duyên sinh thì cũng do duyên diệt. Giáo lý thì rất khác đối với những người chưa giác ngộ. Họ thúc giục mọi người làm gì đó thay cho hiểuđúng. Nhưng từng lời của Giáo lý đều đưa đến hiểu biết. Rất rõ ràng, là sự thực mà không ai có thể phủ nhận. Khoảnh khắc của cái thấy hiện giờ không phải là cái đã diệt đi trước đó. Nếu không có phassa (tâm sở xúc) chạm vào đối tượng, nó không thể được thấy [Achaan chỉ vào cái điện thoại]. Nhưng khi lấy nó đi rồi [Achaan dấu điện thoại xuống dưới gầm bàn], bạn còn thấy nó không? Vậy cái được thấy là gì? Không ai nghĩ về điều đó, nhưng Đức Phật đã dạy…

Mai: Cái được thấy chỉ xuất hiện đúng một lần.

Achaan: Đó là cái gì?

Mai: Vì khi Achaan hỏi cái điện thoại giờ ở đâu thì đúng là nó chỉ có thể được thấy lúc đó, một lần duy nhất và không bao giờ trở lại.

Achaan: Vậy giờ nó ở đâu? [Achaan để lại chiếc điện thoại lên bàn]

Mai: Nó đã trở lại ạ [cười]

Achaan: Bạn thấy không, dù nó được thấy, nhưng không được hiểu rằng nó sinh khởi cùng với cứng, mềm,…tức là các sắc tứ đại (maha bhuta rupa). Không hiểu rằng nếu không có tứ đại [Achaan dấu cái điện thoại đi]thì không thể thấy được nó, nhưng thực chất nó sinh khởi cùng tứ đại [Achaan lại đưa cái điện thoại trở lại]… Vì vậy, cái được thấy là sắc, nó không cứng, không nóng.  Tứ đại là bốn sắc. Bất cứ khi nào có sắc tứ đại là có bốn loại sắc khác sinh khởi cùng. Có sắc tứ đại, tổ hợp sắc, nhưng chỉ một sắc trong đó có thể được thấy, đặc tính cứng thì không thể được thấy. Vậy cái gì được thấy hiện giờ? Chỉ có một thực tại trong số các thực tại là được thấy, đó là đối tượng thị giác.Đặc tính cứng không thể được thấy, vị chua không thể được thấy, âm thanh không thể được thấy, thích, không thích không thể được thấy. Chỉ có cái này có thể được thấy – nhưng nó gắn liền với sắc tứ đại, nó không thể tồn tại độc lập riêng rẽ mà không có sắc tứ đại. Bên cạnh cái được thấy hiện giờ đây, có gì sinh khởi cùng các sắc tứ đại nữa không? Không chỉ có cái này đâu. Còn gì sinh khởi cùng các sắc tứ đại nữa không? Có tám sắc luôn sinh khởi cùng nhau.

: Achaan muốn nói về ánh sáng?

Achaan: Bạn gọi đó là ánh sáng? Sự thật là gì?

: Sự thật nó là sắc

Achaan: Sắc là gì?

: Cái không thể kinh nghiệm…

Achaan: Cái không thể kinh nghiệm, không biết gì cả, không phải thích, không thích; nó cứng hay mềm,…

: Vâng. Nhưng con muốn biết loại sắc nào…

Achaan: Ngay cả từ “ánh sáng” cũng đưa đến điều gì đó. Chưa có cái hiểu rằng nó cũng sinh và diệt, bởi cái này thực sự sinh diệt. Làm sao “ánh sáng” lại không diệt đi, vì nó sinh khởi với các sắc khác, không thể tách biệt.

Mai: Nhưng khi nói về sắc tứ đại là chúng ta chỉ nghĩ về chúng chứ không phải…

Achaan: Có bốn sắc thuộc nhóm tứ đại: pathavi (đất), tejo (lửa), apo (nước) và vayo (gió). Còn cái được thấy, ta không cần phải dùng từ nào nhưng ta biết khi nói về “cái được thấy” thì nó ở đó [Achaan chỉ vào cái ly]. Khi lấy nó đi rồi, cái gì ở đó? Vẫn là cái được thấy. Khi bạn nói “ánh sáng”, đó là một cái gì đó, nhưng khi nói “cái được thấy”thì nó chỉ là vậy, là cái được thấy…

Mai: Vậy ta gọi mọi thứ là “cái có thể được thấy”…

Achaan: Giống như bây giờ, cái đang được thấy. Rất khó, nhưng điều ấy mang đến hiểu biết về vô ngã, khi bạn có hiểu biết hơn. Ngay khi bạn nhắm mắt lại, những thứ được thấy đâu rồi? Còn bạn mở mắt ra? Hãy nhắm lại và mở mắt ra. Khác, rất khác nhau!

Mai: Khi quan sát những thứ đang chuyển động, như con di chuyển cái cốc thế này thì dễ nói rằng mọi thứ đều thay đổi, cái được thấy cũng thay đổi. Nhưng nếu ở trong một căn phòng và không có gì chuyển động thì…

Achaan: Hãy nhắm mắt lại thì bạn sẽ hiểu không còn cái được thấy nữa.

Mai: À vâng, con quên mất việc nhắm và mở mắt

Achaan: Đúng không? Sự thật là sự thật. Cứ nhắm mắt lại mà xem.

Thái: Đó là chúng ta vẫn đang nói về câu chuyện cái gì đó thay đổi, chứ không phải là sự thay đổi của thực tại.

Achaan: Khi bạn nói về cái gì đó thay đổi thì vẫn là “cái gì đó”. Vậy có gì ở “cái gì đó” ấy? Sinh rồi diệt mất, liên tục, mà không hề đượcnhậnbiết. Vì vậy khi bạn hiểu từng từ một rõ hơn, rõ hơn cho đến khi thực sự chắc chắn thì nó sẽ làm duyên cho chánh niệm hay biết trực tiếp đối tượng đó, mỗi cái tại một thời điểm. Vì khi chúng bị trộn lẫn thì không thể thấy được cái gì sinh rồi diệt. Nhưng khi chỉ có một: làm sao nó có thể ở đó? Vì nó đã sinh khởi. Khi ấy sẽ bớt đi dính mắc. Khi mọi thứ sinh khởi, bạn sẽ bắt đầu hiểu từng thứ một khác nhau nhờ chánh niệm. Nếu chánh niệm không sinh khởi thì không thể, chỉ là nghĩ về nó thôi. Nhưng khi có chánh niệm, đặc tính của thực tại xuất hiện được hiển lộ. Chẳng hạn, cái thấy khác với cái được thấy. Trí tuệ sẽ bắt đầu hiểu chođến khi cái xuất hiện chỉ là cái thấy và cái được thấy.Không có ai cả. Đó là sự thật mà chỉ có Đức Phật đã tự mình giác ngộ. Nếu không có Đức Phật chứng ngộ và tuyên thuyết, không ai có thể hiểu điều này, cứ sống từ khoảnh khắc này qua khoảnh khắc khác mà không hiểu gì cả, rồi chết đi với vô minh, tham ái và mọi bất thiện pháp.

Mai: Quá dài, quá lâu. Càng nghe Achaan giảng thì con càng thấy dài…

Achaan: Không mong đợi được. Nhưng vẫn nên bắt đầuhiểu. Trong Kinh Đại niệm xứ có dạy rằng, hãy bắt đầu lại, bắt đầu lại. Bởi vì cái cần biết bị che phủ rất dày. Bắt đầu lại, hãy bắt đầu lại,… và trí tuệ sẽ tự nó tăng trưởng chứ không phải bởi ngã hay tham muốn.

Thanh Tâm: Cứ khi nào bạn thấy dài, bạn nhắm mắt lại và bắt đầu lại từ đầu [cười]

Achaan: Nói về “ánh sáng”, nếu không có hiểu biết thì chúng ta đều ở trong bóng tối. Nếu không hiểu về sự thật, làm sao ta có thể nói đó là “ánh sáng”? Trí tuệ là thứ ánh sáng sáng nhất, hơn mọi loại ánh sáng. Ngay cả bây giờ, cái đang sinh khởi có thể được nhận biết trực tiếp, từ chỗ chưa trực tiếp, mới chỉ hiểu về mặt tư duy đến khi trở thành khoảnh khắc của chánh niệm. Vì vậy khi chánh niệm sinh khởi, không thể là lúc ai đó biết điều gì đó, mà chính là thời điểm hiểu về đặc tính của chánh niệm là vô ngã, không có ai cả. Hãy có niềm tin trong cuộc sống hàng ngày, vì đó là cách duy nhất để hiểu về những tích lũy đã cócủa bản thân,mỗi người một khác. Chúng ta không thể bảo ai đó hãy ngồi và làm thế này hay thế kia để kinh nghiệm, với vô minh, chẳng hiểu gì cả. Hãy nhớ rằng, trí tuệ có thể hiểu bất cứ cái gì, hãy tin như vậy!

Mai: là khi có trí tuệ

Achaan: Chỉ có trí tuệ mà thôi.

Mai: Chúng con chỉ có thể có niềm tin khi có trí tuệ mà thôi.

Achaan: Khi mọi người nghĩ là mình nên đến đâu đó để cố gắng chánh niệm, làm sao họ có thể cố gắng có chánh niệm được? ai có thể cố gắng đây? Nếu họ nghĩ là có thể làm cho chánh niệm sinh khởi, vậy hãy nhắm mắt lại và làm cho cái thấy sinh khởi đi?

Thái: Không thể

Mama Dang: Có nhiều người mới học Pháp và nghĩ rằng, họ phải bỏ công việc và chỉ tập trung vào việc học Pháp thôi, chỉ học và nghe pháp cả ngày, không làm gì cả mà chỉ học pháp thôi, như vậy có đúng không ạ?

Achaan: Tự ngã có cách của nó, để nghĩ như vậy. Nhưng đó không phải là con đường, vì nó có sự dính mắc hơn vào tự ngã – bạn là người làm việc đó.

Thái: Con nghĩ, có khi họ nghĩ cách đó sẽ giúp họ được nghe pháp nhiều hơn và vì vậy có thêm cơ hội để hiểu pháp hơn khi làm việc… Đó là lý do vì sao họ bỏ việc, thay đổi cuộc sống thường nhật và thử theo cách khác, tập trung hơn vào nghiên cứu giáo pháp.

Achaan: Có thể không? “Làm như thế này” có phải là cách để hiểu không? Chỉ là cách để muốn như thế thôi. Vì thế tham ái được ví như là khoảng trống ở giữa các kalāpa (tổ hợp sắc). Lobha (tham ái) ở đó, giữa từng kalāpa. Dù bạn cắt nhỏ mọi thứ đến đâu, lobha đều ở đó. Tiếng Pali gọi đó là Ogha (bộc lưu). Có bốn bộc lưu: kamogha (dục bộc lưu), ditthogha (kiến bộc lưu), avijjogha (vô minh bộc lưu) và bhavogha (hữu bộc lưu). Bộc lưu đầu tiên – kamogha (dục bộc lưu) là đại dương của dính mắc với ngũ dục, với cái được nghe, ngửi, nếm, xúc chạm… mọi lúc, như ngay hiện giờ, vì vậy làm sao mà dính mắc không là đại dương cho được? Có quá nhiều trong một ngày. Thứ hai, dithogha (kiến bộc lưu), chính là người muốn có thêm thời gian để nghe Pháp cho bản thân mình, đó là tà kiến, vì sự thực chẳng có ai cả, nhưng luôn có mong muốn, muốn và muốn liên tục. Avijjogha (vô minh bộc lưu) – không hiểu rằng cái xuất hiệnchỉ làcái được thấy, mà cho nó là một cái gì đó.Bhavogha (hữu bộc lưu) là muốn được trở thành, muốn được hiện hữu, được sinh ra thành thế này hay thế kia,  bất kể thành chúng sinh gì, rắn, chim, sâu bọ,… bất kể…, là dính mắc vào sự hiện hữu. Để thành bạn Thái?, thành bạn Mai?…

Thái: Để thành một người tốt (cười)

Achaan: Là ở khoảnh khắc nào? Qua āsava (lậu hoặc, rỉ chảy)?Trong bốn loại āsava[1] trong nhóm tâm bất thiện, có kamāsava (dục lậu)…. Āsava (lậu hoặc) là loại kilesa (phiền não) vô cùng vi tế nhưng có thể sinh khởi, trong khi anusaya (phiền não ngủ ngầm) thì không sinh khởi. Anusaya (phiền não ngủ ngầm) được tích lũy nơi tâm nhưng chưa sinh khởi, nhưng vì nó ở đó nên nó có thể tạo duyên cho một loại phiền não tương ứng sinh khởi, như kamāsava (dục lậu) – sự dính mắc qua ngũ căn mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Ai mà không dính mắc được đây? Không ai biết được rằng chỉ ba khoảnh khắc sau cái thấy là dính mắc đã ở đó rồi. Đã có bao nhiêu khoảnh khắc sau cái thấy hiện giờ? Vì vậy mà āsava, āsava, āsava mọi lúc. Đó là lý do vì sao có một từ khác để nói về vị A la hán, đó là Khīnāsava (bậc Lậu Tận), có nghĩa là người đã dập tắt mọi āsava (lậu hoặc). Khi mọi āsava đã bị diệt trừ, người ấy cũng không còn kilesa và anusaya nữa, không còn nivarana (triền cái),….. Cần phải học, phải hiểu rất nhiều, từng từ một, nhờ đó ta sẽ hiểu rằng không có ngã, không có ai cả. Cái nghe nghe, suy nghĩ nghĩ nối tiếp, liên tục cả ngày.

Thanh Tâm: Có quá nhiều từ cho một lần.

Thái: Nhưng một điểm cốt yếu nhất vẫn là thực tại hiện giờ.

Achaan: Đúng vậy, là vô ngã, không có gì cả, vì mắt không phải là tôi, tai không phải là tôi, cái nghe không phải là tôi … những gì được kinh nghiệm cũng không phải là tôi hay là bất kỳ ai khác, không có ai cả.

Thanh Tâm: Lý nói rằng biết về vô ngã thật là hữu ích, em ấy cảm thấy thật thư giãn, đỡ lo lắng vì chẳng có ai cả.

Achaan:  Nhưng chúng ta cần hiểu nghĩa của “attā” là gì? Attā không có nghĩa chỉ là có “tôi”, mà là có bất cứ thứ gì.

Thái: Bất cứ thứ gì trường tồn.

Achaan: … chừng nào chưa có kinh nghiệm trực tiếp sự sinh diệt hiện giờ. Nếu cái thấy không sinh khởi, có thể có cái thấy không? Không đâu. Nhưng khi cái thấy sinh khởi, nó chỉ thấy, nhưng ta liền cho đó là tôi thấy. Tà kiến đi kèm với vô minh, rất nhanh, mà không hề được biết. Thấy không, āsava, āsava đi ngay sau cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm.

Mai: Nhanh như thế nào ạ, Achaan?

Achaan: Tùy thuộc vào kamāsava, ditthāsava,… Lời dạy của Đức Phật sẽ diệt trừ, từng chút một, tại khoảnh khắc của trí tuệ.

Thái: Chúng ta sẽ thấy khi trí tuệ đến nhiều hơn nữa

Thanh Tâm: Thế khi nào trí tuệ đến nhiều hơn?

Thái: Hãy nghe pháp hơn nữa… [cười]

Achaan: Đó là cách duy nhất.

Thái: Liệu có thể nói, cho đến khi Đức Phật giác ngộ và giảng pháp, mọi người đều không thể hiểu về vô thường theo nghĩa tột cùng?

Achaan: Đúng vậy

Thái: Còn khi hiểu về vô thường theo nghĩa tột cùng, họ cũng sẽ hiểu về vô ngã, phải không ạ?

Achaan: Chúng ta dùng từ “vô ngã” khi bị đau ốm, hôm nay hay ngày mai. Chúng ta nói “anattā (vô ngã), không thể quyết định được”. Nhưng sự thật, đó là không phải cái này, cái này hay cái này… [Achaan chỉ vào các vật dụng trên bàn], mà chỉ là cái xuất hiện đối với trí tuệ, một lần tại một thời điểm thôi, sinh khởi rồi diệt đi sau đó khi có hiểu biết hơn về từng thực tại chứ không phải là một cái gì đó kéo dài, trường tồn. Hiện giờ có đặc tính cứng, rồi diệt đi hoàn toàn, vì có những thứ khác xuất hiện ngay lập tức, không thể chủ định. Vậy nếu ai đó bảo ta ngồi rồi chú tâm, thì vì sao, để làm gì? “Tôi là người ngồi và chú tâm”, lúc nào cũng chỉ là “tôi”.

Mai: Chỉ là mong muốn…

Achaan: Cho đó là tôi, là tự ngã, do bởi nimitta (tướng). Nếu không có nimitta, ta sẽ không cho thế này là những thứ này đâu.

Thanh Tâm: Thật khó hiểu về nimitta, nó không phải là thực tại cũng không phải là khái niệm.

Achaan: Nhưng chúng ta cần nhớ rằng, nếu không có thực tại tối hậu sẽ không thể có nimitta. Làm sao lại có các hình dạng thế này, tròn hay dài… như vậy? Bởi vì sự tiếp nối liên tục của các thực tại sinh rồi diệt. Giống như khi bạn thắp một ngọn nến và xoay tròn nó, bạn sẽ thấy một vòng ánh sáng, nhưng sự thật chỉ có một, một, một… rồi một điểm ánh sáng mà từ đó ta có ý niệm về nimitta (tướng). Tam Tạng chỉ ra năm loại nimitta:rūpanimitta (tướng của sắc – sắc tướng), vedanānimitta (tướng của thọ – thọ tướng), saññanimitta (tướng của tưởng – tưởng tướng), saṅkhāranimitta (tướng của hành – hành tướng) và viññāṇanimitta (tướng của thức – thức tướng). Tất cả xuất hiện thành như cái gì đó. Tất cả đều là nimitta. Vì vậy, chúng ta sống trong thế giới của nimitta, một thế giới khác so với người đã giác ngộ. Có hiểu biết thì tốt hơn là không hiểu gì cả rồi rời khỏi thế giới này với vô minh.

Thái: Liệu có thể nói là chỉ có một nimitta tại một thời điểm vì chỉ có…

Achaan: Có bao nhiêu nimitta hiện giờ? rất ảo diệu, vô cùng nhanh

Thái: Như vậy có ba thứ tại khoảnh khắc của cái thấy: tâm, tâm sở và…

Achaan: Bạn chưa kinh nghiệm được tâm, chỉ toàn là nimitta thôi.

Mai: Nimitta của citta (tướng của tâm)

Achaan: Gọi là viññāṇanimitta (thức tướng). Có năm uẩn: rūpa-khandha (sắc uẩn), vì vậy có rūpanimitta (sắc tướng), vedanākhandha….. Mọi người hỏi về nghiệp, về điều này hay điều kia nhưng lại không hiểu gì về dhamma (pháp). Tôi nghĩ rằng, nếu bạn nghe bất kỳ chữ gì, bạn cần hiểu thật rõ ràng chữ đấy. Như về “kamma” (nghiệp) chẳng hạn. “Nghiệp” là gì? Nếu không bạn sẽ không biết liệu một việc nào đó bạn làm có tạo nghiệp hay không? Nó phụ thuộc vàotư tâm sở-cetanā , có tác ý hay không có tác ý làm việc đó. Cho dù chúng ta ở đâu, ngồi, nói chuyện ở đây hay ở kia, đều như nhau, dù lúc nghỉ ngơi hay suy nghĩ,… đó là cuộc sống hàng ngàydù ở đâu hay là ai… Chính vì thế các vị tỳ kheo trong Pháp và Luật của đức Phậtrất khác biệt với các giáo phái khác. Họ không nhất thiết phải có một nơi ở cố định, họ có thể trú ngụ bất cứ ở đâu….Điều giá trị nhất trong cuộc sống là hiểu biết càng nhiều càng tốt, vì những khoảnh khắc của vô minh thì nhiều hơn rất nhiều.

——————–

[1]Là kāmāsava (dục lậu), bhāvāsava (hữu lậu), ditthāsava (kiến lậu) và avijjāsava (vô minh lậu)

 

, , , ,

PHÁP ĐÀM NHÂN CHUYẾN THĂM ACHAAN NGÀY 17/09/2019 – Phần I

Thăm Achaan ngày 17/9/2019

 

Achaan:

…. Hiện giờ đang có pháp, thật không dễ thấy, nhưng từng lời của Tam tạng đều chỉ vềpháp ởkhoảnh khắc hiện giờ, là vô ngã. Vì vậy bắt đầu với hiểu biết về vô ngã sẽ tạo duyên đưa đến đạo lộ chứng ngộ sự thật ấy. Tất cả chỉ là pháp nhưng chúng ta luôn cho đó là tôi, là cái gì đó. Vô cùng, vô cùng khó trong vòng luân hồi, chứ không chỉ trong kiếp này. Nhưng dù chỉ như một giọt nước để làm đầy đại dương, cần rất rất lâu, vẫn còn hơn không bắt đầu chút nào. Mọi người thường cho Đạo Phật thật dễ, họ coi thấp Đức Phật.

Nếu không có hiểu biết thì làm sao để tốt hơn đây? Cần có hiểu biết về sự thật, nếu không thì không thể. Ở Thái Lan hay các nơi khác, chùa chiền không còn dành cho các vị sư giống như thời Đức Phật tại thế nữa. Họ sống như ở nhà, sở hữu mọi thứ. Đó là lý do tôi không còn đến chùa nữa. Ở đó giống như chợ vậy, chỉ để mua bán. Nhưng nhờ việc chúng ta đã nói và giảng giải nhiều, mọi người giờ đây bắt đầu hiểu và không cúng dường tiền cho các vị sư nhiều như trước nữa. Kể cả ở các trường thiền cũng vậy, … trước kia mọi người nghĩ rằng như thế chẳng sao cả, cứ để họ làm vậy đi… nhưng giờ mọi người đã bắt đầu nói thế là sai …. Chúng ta đã đi khắp nơi để nói về điều ấy… Bạn có thể thấy người ta thực hành giới ở khắp nơi trên thế giới,nhưng luôn là “tôi là người giữ giới”, đó là sự khác biệt giữa lời dạy của Đức Phật với những vị khác. Họ chỉ muốn có cái này cái kia, còn Đức Phật dạy về sự xả lymọi phiền não.

Nếu khôngcó hiểu biết,chúng ta sẽ không thể từ bỏ ý niệm về ngã. Dù ta hiểu về tâm, tâm sở và sắc đến đâu đi nữa nhưng vẫn chưa phải là hiện giờ, đúng vậy không? Phải là hiện giờ!

Mai: Một số người ở Việt Nam nói rằng, chừng nào chưa chứng ngộ về vô thường và khổ, đừng hoài công nói về vô ngã?

Achaan: Được rồi, hãy bàn về từng từ một. Ở Đài Loan, mọi người hỏi về dukkha, tái sinh, cái này rồi cái kia … nhưng hãy gác những câu chuyện rất dàiquamột bên, cần lần lượt bàn về từng từ một. Chẳng hạn khi nói: sinh là khổ. Vậy điều đó là thế nào? Cần phải đặt câu hỏi vì sao và như thế nào trước khi đưa ra câu trả lời. Khi nhận ra mình không biết, mọi người sẽ đi tìm nghe lời giảng giải chân chánh. Nhưng nếu họ nghĩ mình biết, rồi không hỏi ai cả, họ sẽ tự nghĩ mình đúng…

Mai: Nhưng có thể họ nghĩ bằng việc hành thiền, họ có thể thấy khổ và vô thường.

Achaan: Thiền là gì? Chúng ta luôn phải bắt đầuvới câu hỏi: thiền nghĩa là gì? Thường mọi người đều không thể trả lời được nó là gì.

Mai: Nhắm mắt lại và cố gắng quan sát thực tại.

Achaan: Vậy sự khác biệt giữa nhắm mắt và mở mắtlà gì? Sự thật là sự thật. Chẳng ai giúp họ tìm hiểu và tư duy thật kỹ lưỡng. Họ chỉ làm theo và chấp nhận “sinh là khổ”. Nhưng sinh là gì, vì sao nó lại khổ? Cần phải học từng từ một.Và câu trả lời nằm trong Giáo Pháp của Đức Phật, trong từng lời dạycủa Ngài. Nếu không có “sinh” làm sao có “khổ” hiện giờ hay bất cứ khi nào, khi có khoảnh khắc bất khả ái hay những khi khác? Hoặc chúng ta có thể đặt ra các câu hỏi chi tiết hơn, như cái gì được sinh ra? Nếu không có gì được sinh ra thì không có sự tái sinh. Vậy nó là gì? Chúng ta có thể nói cái gì đang sinh ra hiện giờ không?

Thái: Tâm, tâm sở.

Achaan: Tâm là gì? Chúng ta biết từ “tâm”, nhưng tâm là gì và khi nào? Đó là cách để tìm hiểu Phật giáo nguyên thủy. Ở Thái Lan có trường học Vi diệu pháp, nhưng tới đó để làm gì, học điều gì? Vì nếu ngay ở đây có cái hiểu về khoảnh khắc này thì cũng như ở trường học thôi. Ở đây hay ở đâu, khi có cái hiểu, thì đều là trường học cả. Có người đến gặp tôi và nói: xin bà hãy giải thích cho tôi từ nàymàtôi không thể hiểu được, tôi sắp có kỳ thi để trở thành giảng viên về Vi diệu pháp. Tôi đã không nói gì. Đó chỉ là học về ngôn từ mà thôi. Thật vô nghĩa nếu cô ấy dạy học mà không có cái hiểuđúng đắn. Kể cả mục tiêu của việc học Giáo pháp là để làm gì? Chúng ta chỉ muốn, muốn và muốn, muốn biết cái này, cái kia… Đó cũng không phải là sự thật trong Giáo lý.

Mai: Càng ngày chúng con càng nhận ra, thật may mắn nhường nào cho chúng con có Achaan giảng giải về Giáo lý.

Achaan: Bởi vì sự thật không nằm trong sách vở. Toàn bộ Giáo lý đều nói về những gì hiện giờ, luôn là hiện giờ, từng khoảnh khắc đều khác biệt do duyên. Đó là lý do vì sao chúng ta cần tìm hiểu hết sức cẩn trọng, với lòng cung kính. Từng từ [của Giáo lý] đều mang đến một cuộc sống mới, hiểu biết mới mà chúng ta chưa từng có trước đây.

: Achaan cho con hỏi, có bao nhiêu nghiệp (kamma) làm duyên cho một tâm sinh khởi?

Achaan: Cần phải nói chi tiết về duyên hệ.

: Con mới chỉ đọc đến chương II của cuốn 24 Duyên hệ.

Achaan: Chương nào không quan trọng, nếu dính mắc vào ngôn từ, bạn sẽ lại phải giở sách ra xem… Câu hỏi đặt ra là, liệu có gì có thể tự nó sinh khởi không? Đó là câu hỏi đầu tiên trước khi đi đến những câu hỏi tiếp theo về duyên hệ.

: Không có ạ

Achaan: Không thể có. Khi một tâm sinh khởi, phải có những duyên cho chúng sinh khởi, ta biết trong đó có tâm sở. Vậy tâm là gì, tâm sở là gì? Chúng khác nhau như thế nào? Chúng sinh khởi cùng nhau nhưng không phải là một. Vậy tâm và tâm sở khác nhau như thế nào? Đó là cách tự suy xét.Cần hết sức kỹ lưỡng. Nếu không ta cứ nói tâm khác với tâm sở, nhưng chúng khác nhau ra sao? Chúng sinh khởi cùng nhau, kinh nghiệm cùng một đối tượng và diệt đi cùng một lúc, nhưng chúng vẫn khác nhau. Trước khi nói về nghiệp, ta cần hiểu về các thực tại là tâm, tâm sở và sắc. Ai tới Hiệp hội cũng muốn nghe cái mà họ thích, nhưng họ chẳng biết gì về nó cả. Như về nghiệp chẳng hạn, nghiệp là gì? Trước khi nói về duyên – có rất nhiều duyên – và ta phải hiểu về từng duyên một. Vậy nghiệp là gì? Nếu không biết thì sẽ không thể lý giải vì sao nghiệp lại tạo duyên cho tâm, và cho loại tâm nào, chứ không phải mọi loại tâm đâu. Đầu tiên chúng ta cần hiểu sự khác biệt giữa tâm và tâm sở, để hiểu đó là loại duyên nào. Vậy sự khác biệt giữa tâm và tâm sở là gì, vì chúng sinh khởi cùng nhau, kinh nghiệm cùng một đối tượng và diệt đi cùng một lúc?

Thái: Đó là các thực tại khác nhau, tâm dẫn đầu trong việc kinh nghiệm đối tượng còn tâm sở là các thực tại khác sinh khởi cùng tâm và thực hiện các chức năng riêng của chúng.

Achaan: Tại khoảnh khắc có cái thấy, cái gì thấy?

: Cái thấy – tâm

Achaan: Tâm là pháp dẫn đầu trong việc kinh nghiệm đối tượng. Bất cứ khi nào tâm sinh khởi, phải có rất nhiều tâm sở sinh khởi cùng, cái này làm duyên cho cái kia. Nhưng tâm dẫn đầu trong việc kinh nghiệm. Như vậy tâm là thực tại sinh khởi chỉ để kinh nghiệm đối tượng. Còn các tâm sở, mỗi cáicó đặc tính, chức năng riêng của chúng. Chẳng hạn phassa cetasika (tâm sở xúc) là gì? [trả lời: là xúc ạ]. Bạn có biết xúc không, ở khoảnh khắc này? …Vì vậy tâm là pháp dẫn đầu, nó thực hiện chức năng thấy trong khi các tâm sởkhông thể thấy. Tâm sinh khởi trước tâm thấy – pancadvaravajjana citta (ngũ môn hướng tâm) chỉ làm phận sự hướng đến cái đã in dấu lên nhãn căn, nhưng nó không “thấy”, nó mở đường cho các tâm khác sinh khởi và kinh nghiệm đối tượng. Nếu không có ngũ môn hướng tâm, các tâm thấy, nghe, ngửi, nếm… không thể sinh khởi. Ngaybản thâncác tâm,nhưngũ môn hướng tâm, tâm thấy, tâm nghe, tiếp nhận tâm, suy đạt tâm, xác định tâm… đều là tâm, nhưng mỗi cái đều thực hiện các chức năng khác nhau. Đó là lý do vì saocáctâm sinh khởi ngay trước hay ngay sau tâm thấy vẫn không thể thấy. Bên cạnh tâm – là pháp dẫn đầu, còn có các pháp khác cũng trợ duyên cho tâm để thấy đối tượng, như tâm sở xúc (phassa). Chúng ta nghĩ đến những điều này nhờ có tâm sở xúc chạm vào đối tượng, ta thấy cái này nhờ có xúc, ta nghe từ này nhờ có xúc. Xúc là một tâm sở biến hành, nó sinh khởi để chạm vào đối tượng nhưng không thể thấy đối tượng. Mỗi tâm sở đều có tính chất và chức năng riêng.

Còn “nghiệp” là gì? Bạn muốn biết về “nghiệp duyên”, vậy trước hết“nghiệp” là gì?

: Nghiệp là một thực tại…

Achaan: Ở Pháp đàm Đài Loan, có người đến từ truyền thống Bắc truyền, người từ Theravada,… nhưng tất cả mới chỉ biết về ngôn từ. Ngôn từ thì giống nhau. Như từ “patisandhi” hay tái tục, họ dùng chung từ đó để nói về cùng một thứ, nhưng cái hiểu thì thực sự khác. Như hiện giờ, nếu chỉ biết rằng có các thực tại tối hậu là tâm, tâm sở và sắc thì chưa đủ,mà cần có thêm hiểu biết hơn nữa. Sự khác biệt giữa các thực tại ấy là gì? Chúng sinh khởi để kinh nghiệm cùng một đối tượng, tại cùng một khoảnh khắc… Vậy sự khác biệt là gì? Tâm sở xúc (phassa) không thấy, nó chạm vào đối tượng. “Thọ” (vedana) cũng khác với tâm, cái là pháp dẫn đầu trong việc nhận biết đối tượng, chỉ thấy, chỉ nghe,… Nghiệp là gì? Nghiệp có thực không? Nếu không biết nghiệp là gì thì cũng không thể biết nghiệp có thực hay không. Nghiệp là gì?

Thanh Tâm: Nghiệp là tâm sở tư (cetanā  cetasika)

Achaan: Có nghiệp hiện giờ không? Vì sao?

: Có ạ, vì tư sinh khởi với mọi tâm.

Achaan: Đó là loại nghiệp gì? Nghiệp đó là loại duyên gì?…  Đó làđồng sinh nghiệp duyên-Sahajātakammapaccaya. “Sahajata” nghĩa là sinh khởi cùng nhau [đồng sinh], “cetanā ” (tư tâm sở) đồng sinh với mỗi tâm. “Saha” là cùng nhau, “jata” là sinh khởi. Vìtư(cetanā)sinh khởi cùng với mỗi tâm nên nó làm duyên theo phương thức đồng sinh nghiệp duyên*– sahajātakammapaccaya. Khi tâm là thiện hay bất thiện, nó có thể cho quả về sau, khi ấy tư (cetanā )làm duyên theo phương thức dị thời nghiệp duyên*-nānākkhaṇikakammapaccaya. Như vậy có hai loạinghiệp duyên (kammapaccaya): Đồng sinh (sahajāta)và dị thời (nānākkhaṇika). Không chỉ cần biếtngôntừ, mà cần phải hiểu vì sao. Sahajata – sinh khởi cùng với mọi loại tâm và nānākkhaṇika kamma – chỉ nói đến tâm thiện hay bất thiện. Cái thấy không thể cho quả về sau vì bản thân nó chỉ là quả, do nghiệp tạo duyên. Còn loại cetanā  (tư tâm sở) là nghiệp (kamma) có thể cho quả về sauthìlà nānākkhaṇikakamma – dị thời nghiệp,nghĩa là có thể cho quả ở thời điểm khác, không phải ở cùng một thời điểm như sahajātaka

Thanh Tâm: Nghĩa của từ “nānākkhaṇika” là gì ạ?

Achaan: Có nghĩa là cho quả về sau chứ không phải cùng một lúc như sahajātaka. Sahajātaka có nghĩa là sinh khởi cùng nhau. Cái thấy là tâm quả có cetanā  (tác ý tâm sở) sinh kèm, vậy lúc ấy có loại nghiệp gì?

Thanh Tâm: Nó không cho quả về sau, nó là sahajātakamma.

Achaan: Nhưng khi tư tâm sở sinh khởi cùng với nghiệp thiện hay nghiệp bất thiện, lúc đó nó là nānākkhaṇika kamma, vì nó có thể cho quả về sau. Ở khoảnh khắc này có quả của nghiệp, nó đang cho quả hiện giờ, không phải ở thời điểm tạo nghiệp, vì vậy nghiệp tạo ra quả ấy chính là dị thời nghiệp.

: Ở khoảnh khắc của quả, khi ấy có nghiệp hay không ạ?

Achaan: Có cetanā  khi thấy không? Có bao nhiêu tâm sở đồng sinh với cái thấy?… Trước khi nói về paccaya (duyên hệ), chúng ta cần hiểu về tất cả vì Paccaya(Bộ Duyên Hệ)là cuốn sau cùng trong Tạng Vi Diệu Pháp.

Mai: Đó là lý do vì sao chúng con chưa học đến phần duyên hệ [cười]

Achaan: Nhưng chúng ta có thể học ở bất cứ thời điểm nào. Chẳng hạn khi nói về cái thấy, hẳn phải có cetanā sinh khởi cùng cái thấy, và nếu nói về cetanā ở khía cạnh nghiệp, ta có thể nói nó là đồng sinh nghiệp duyên-sahajātakammapaccaya. Như vậy ta học về một loại duyên – sahajāta, bất cứ cái gì sinh khởi cùng nhau, làm duyên cho nhau qua sự đồng sinh chính là sahajāta. Có bao nhiêu tâm sở đồng sinh với cái thấy? … Nếu không biết điều này,  chúng ta không thể nghĩ về duyên hệ. Cứ học từng chút một thôi, còn hơn là biết mọi thứ mà chẳng hiểu gì cả. Học ngay từ bây giờ. Bất cứ cái gì cùng sinh khởi đều là sahajāta.

Thái: Cho tôi hỏi Lý được không, vì sao bạn muốn biết về nghiệp như vậy?

: Vì tôi vừa nghe phần pháp đàm ở Đà Lạt, Achaan nói về tâm tái tục. Tôi nghe rằng, việc được tái sinh làm người là quả của một nghiệp thiện… Chúng ta đã tạo rất nhiều nghiệp thiện và bất thiện trong các kiếp trước, nhưng tại sao lại là nghiệp thiện cho quả ở khoảnh khắc tái sinh để thành người mà không phải là chó mèo, hay con vật nào đó…?

Achaan: Đó là những câu hỏi vì sao, như thế nào… nhưng vẫn là bao quanh“bạn”.Chủ đề này không phải là điểm trọng yếu. Điểm trọng yếu là nếu không có gì sinh khởi, sẽ không có thế giới, không có ta, không có bạn,… Nhưng khi bất cứ thực tại nào sinh khởi,bởi vô minh, chúng ta đều cho đó là cái gì đó, nhưng nó không phải là cái đó vì bất cứ cái gì sinh khởi đều diệt ngay lập tức, không bao giờ trở lại và luôn mới. Vì vậy hãy học để hiểu thực chất không có tôi, không có gì cả, vì từ chỗ không có gì rồi có gì rồi lại không có gì cả, ngày hôm qua không phải là hôm nay và hôm nay không phải là ngày mai. Mọi thứ đều đổi thay, không có gì trở lại. Sự thật không có “tôi”. Đó là điểm cốt yếu. Đó là lý do vì sao học về duyên hệ cũng chỉ là để hiểu rằng từng khoảnh khắc đều không thể bị cho là cái gì đó kéo dài, trường tồn được. Không nên chỉ là muốn học, muốn đọc, muốn hiểu về cái này, cái kia… Vậy còn những điều này thì sao? Nghiệp không phải là tự ngã, nó là tâm sở. Để hiểu về nghiệp, có cách nào khác để hiểu thực tại của nghiệp, mà không chỉ nói về nó?

Thái: Hiểu cái sinh khởi hiện giờ để hiểu hơn về nghiệp.

Achaan: Bạn có thể làm cho nó sinh khởi được không? Bằng việc hiểu từng chút một, sẽ dần quay về hơn với sự thật ở khoảnh khắc này, và vì vậy có thể hiểu về vô ngã, không thể kiểm soát, dù cho bạn muốn chừng nào đi nữa thì vẫn không thể làm cho nó sinh khởi bằng ý muốn. Có nghiệp hiện giờ không?

Phương: Ôi con xin lỗi, con cảm thấy như là mình đang học một ngôn ngữ hoàn toàn mới vậy vì con chưa từng được nghe về những khái niệm này, nhưng con thực sự cảm kích những lời giải thích của Achaan cũng như câu hỏi của chị Lý.

Achaan: Điều đó rất khó vì nó không chỉ nằm trong sách vở mà là ở hiện giờ,từng thứ một.Như cái thấy chẳng hạn. Có cái thấy hiện giờ, vì vậy cũng có cả cetanā  đang sinh khởi. Nhưng loại duyên nào khiến cho cetanā  sinh khởi cùng cái thấy? Cứ như vậy, tiếp tục, tiếp tục,… cho đến khi bạn hiểu rất rõ lời dạy của Đức Phật, trước khi có duyên cho chánh niệm trực tiếp – satipathana (tứ niệm xứ). Hãy kiên nhẫn, hãy suy xét kỹ lưỡng cho đến khi có thể hiểu, dù mỗi lần chỉ rất ít ỏi. Như hiện giờ cái thấy đã diệt đi, cho đến khi có gì đó xuất hiện như lúc này thì không thể đếm nổisố lượng cái thấy đã sinh và diệt. Bạn thấy không, ngay khi mở mắt, có rất nhiều thứ hiện diện nhưng hẳn phải có thực tại sinh khởi – đó làcáckalāpa (tổ hợp sắc). Từng kalāpa đều được duyên bởi kamma (nghiệp) hay citta (tâm) hay utu (thời tiết) hay ahara (dưỡng chất).

_____________

*Tư tâm sở là năng duyên (pháp làm duyên). Tâm, các tâm sở đồng sinh và sắc do tâm sinh khi ấy là sở duyên (pháp được làm duyên)

 

 

 

,

PHÁP ĐÀM SÁNG 30/09/2019 tại Hà nội – Phần II

Có người nói rằng những gì trao đổi ở đây chỉ là lý thuyết. Bên cạnh đó phải có thực hành mới được Câu hỏi đặt ra là thực hành là gì?

Người hỏi:   Là làm việc gì đó theo lời đức Phật dạy.

Sarah:          Vậy đức Phật dạy chúng ta làm gì?

Người hỏi:   Hiểu đúng và làm cho đúng.

Người dịch:   Chú có thể cho ví dụ cụ thể được không ạ?

Người hỏi:     Là nghe theo Giáo lý, hiểu đúng.

Người dịch:   Cụ thể là gì ạ?

Người hỏi:     Là hiểu đúng Giáo lý của đức Phật.

Sarah:           Theo lời đức Phật thì ai là người có thể có hiểu biết đúng? Có phải là mình hay ai đó có hiểu biết đúng không?

Người hỏi:      Không ai cả, tất cả là pháp do duyên sinh.

Sarah:             Vậy chẳng hạn như bây giờ nếu hiểu biết đúng sinh khởi thì đó có phải là thực hành không?

Người hỏi:       Đó cũng là thực hành.

Sarah:              Hiểu biết luôn phả ilà hiểu về khoảnh khắc này, không cần phải nghĩ đến một thời điểm khác hay một nơi chốn khác cho hiểu biết, hiểu biết đúng về khoảnh khắc này là quan trọng đúng không?

Người hỏi:        Bất kể pháp nào do duyên sinh không phải lúc này hay lúc khác mà đúng thì đều tốt cả, không nhất thiết chỉ là lúc này.

Người dịch:      Ý của bà Sarahlà thực tại lúc này mới là cái có thể được hiểu, chứ không phải là thực tại chưa sinh khởi, nghĩ đến một thời điểm khác hay một nơi khác.

Người hỏi:        Vâng.

Sarah:              Ở khoảnh khắc này, khi có cái hiểu thế nào là trí tuệ và trí tuệ có đối tượng là gì, liệu ta có thể nói nó là sự khởi đầu của thực hành?

Người hỏi:        Không ạ.

Sarah:              Tại sao lại không?

Người hỏi:   (suy nghĩ)

Sarah:              Bởi lúc nãy chú có nói rằng thực hành là làm theo lời dạy của Đức Phật là hiểu về hiện giờ, và rằng hiểu hiện giờ không phải là mình mà là pháp do duyên sinh,có đúng không?

Người hỏi:        Đúng

Sarah:              Dựa theo định nghĩa của chú về thực hành thì khi có cái hiểu đúng, dù là ít ỏi, thì đó là thực hành, phả ivậy không?

Người hỏi:        Đúng

Sarah:              Như vậy nhờ có việc nghe Pháp, thảo luận về cá cpháp chân đế khác nhau, có cái hiểu đúng những gì được nghe, dần dần sẽ có cái gọi là “thực hành”,có đúng không?

Người hỏi:        Đúng

Sarah:               Như vậy biết thêm về các pháp chân đế đang diễn ra hiện giờcó hữu ích không?

Người hỏi:        Có hữu ích

Sarah:               Chú đã được nghe về danh pháp và sắc pháp. Danh pháp là các thực tại kinh nghiệm, nhận biết, còn sắc pháp thì không kinh nghiệm, nhận biết gì cả. Chú có thể đưa ra một số ví dụ về danh pháp hay sắc pháp hiện giờ không?

Người hỏi:         Không ạ

Sarah:               Thông thường chúng ta vẫn nghĩ về các hình ảnh chế định như cái micro, con người, cái ghế, cái bàn,…Nhưng vì chúng ta quan tâm đến trí tuệ và các đối tượng của trí tuệ, chúng ta đã biết đó chỉ làcác phápchế định, hay những khái niệm mà thôi. Hiện giờ có cái thấy không?

Người hỏi:          Có

Sarah:                 Cái thấy có phải là pháp không?

Người hỏi:          Có

Sarah:                 Là chú thấy hay ai đang thấy?

Người hỏi:          Chỉ là thấy thôi.

Sarah:                 Như vậy, cái thấy là một pháp, cái thấy không phải là mình, nó là một pháp. Vậy cái thấy thấy cái gì?

Người hỏi:           Thấy những đối tượng trong này.

Sarah:                  Bình thường chúng ta nghĩ rằng cái được thấy là những bông hoa hay cái ly, hay những người bạn ngồi đây… Thực chất cái được thấy chỉ là đối tượng thị giác, tức là cái được thấy qua mắt, còn việc biết đó là bông hoa hay con người thì diễn ra trong suy nghĩ. Như vậy cái thấy là pháp, đối tượng thị giác là pháp, nhưng những bông hoa hay cái bàn chỉ là các khái niệm được nghĩ về mà thôi. Còn cái nghe, hiện giờ có cái nghe không?

Người hỏi:            Có

Sarah:                   Là ai đang nghe? 

Người hỏi:            Không ai đang nghe cả.

Sarah:                   Vậy cái nghe hiện giờ nghe cái gì?

Người hỏi:            Nghe âm thanh.

Sarah:                   Cũng giống như cái thấy, khi cái nghe sinh khởi nó chỉ nghe âm thanh, nó không thấy tiếng nói hay tiếng động cụ thể nào đó mà chỉ nghe âm thanh mà thôi. Chúng ta học về sự thật của cuộc sống để hiểu rằng trong thế giới tối hậu, thực tế chỉ có các thực tại sinh khởi, không phải là một thế giới đối tượng của suy nghĩ với những con người ở đó, không phải là tôi đang thấy, đang nghe hay thấy những bông hoa hay cái ly, chỉ có là các pháp sinh khởi và diệt đi. Nếu chúng ta không được nghe những lời giảng của Đức Phật về những pháp chân đế ấy và thảo luận kỹ càng về chúng, liệu những hiểu biết về các pháp hiện giờ mà chú gọi là “thực hành” đó có thể phát triển được không?

Người hỏi:             Không ạ

Sarah:                   Đó là mục đích chính của những buổi Pháp đàm, để cùng nhau tìm hiểu về những thứ có thực, về các pháp chân đế mà Đức Phật đã giác ngộ, khác với thế giới của suy nghĩ, nơi chúng ta đang sống trong vô minh. Hiểu về các pháp trong cuộc sống tại khoảnh khắc này có khó không?

Người hỏi:              Khó ạ

Sarah:                    Như vậy chú đang tán thán ơn đức của Đức Phậtvà Giáo lý của Ngài, chỉ ra rằng Giáo lý ấy vô cùng thâm sâu, vi diệu như chính Ngài đã nói. Giáo lý ấy rất khó để hiểu chứ không phải dễ dàng được nắm bắt hay “thực hành”.

Jonathan:                Nếu chúng ta chưa từng nghe sự thực về pháp chân đế, về những gì là thực ở khoảnh khắc này the tự mình có thể khám phá ra được không?

Người hỏi:               Không ạ.

Jonathan:                Như vậy chúng ta cần phải nghe những lời dạy của Đức Phật, và phải được nghe rất chi tiết, có nhiều khía cạnh khác nhau cần phải hiểu. Dù thực hành bao nhiêu đi nữa-theo nghĩa mà mọi người vẫn nói về thực hành, thì cũng không thể đưa tớ ihiểu biết về những gì Đức Phật đã giác ngộ. Vì vậy những lời dạy cuả Đức Phật cần phải được nghe, không chỉ một lần mà cần rất nhiều lần,và suy xét lặp đi lặp lại về những gì đã được nghe. Nhờ những lời dạy đó mà có cái hiểu đúng về những gì đang xuất hiện hiện giờ với đúng bản chất của chúng, nó hoàn toàn khác với việc cố tập trung vào thứ gì đó với mục đích để hiểu nó. Khi cố tập trung vào cái gì đó, thực ra chỉ là tập trung vào ý niệm về một cái gì đó chứ không  phải là cái hiểu về pháp đang xuất hiện một cách tự nhiên. Vì vậy mỗi khi chúng ta cố để hiểu hay chọn lựa đối tượng nào đó, đó không phải khoảnh khắc của trítuệ, bởi khoảnh khắc của trítuệ là khoảnh khắc sinh khởi một cách tự nhiên với một đối tượng xuất hiện tự nhiên không chọn lựa.

Người hỏi:              Cho tôi được hỏi,những lời dạy của Đức Phật phải được nghe đi nghe lại và suy xét nhiều lần, vậy sự say xét đó là lấy kinh nghiệm của mình hay lấy cái học hỏi nào để suy xét như thế nào cho đúng, thế nào là sai? Đó là kinh nghiệm thực tại của mình hay thế nào? Bởi nói suy xét thôi thì nó vẫn thế nào ấy.

Jonathan:                 Đây là một câu hỏi rất hay, bởi một số người cho rằng suy xét giống như một công việc mà mình chủ động làm vào một số thời điểm cụ thể, như là ngồi suy ngẫm. Nhưng như vậy vẫn là một hình thái của sự thực hành theo quan niệm thông thường. Nhưng sự suy xét mà Đức Phật đã thuyết giảng là sự suy xét phát sinh từ mối quan tâm đến những gì đã được nghe,và vì thế những khoảnh khắc suy xét đó diễn rất tự nhiên khi có những trao đổi với nhau như thế này, hoặc vào bất cứ thời điểm nào khác trong ngày khi chúng ta nghĩ lại về những gì đã được nghe (không phải là nghĩ một cách bâng quơ, mà là với sự suy xét).

Băn khoăn của chú là: sự suy xét là dựa trên kinh nghiệm của mình hay thế nào?;thì câu trả lời ở đây là: suy xét về những lời dạy của đức Phật xem có đúng với thực tế của các pháp đang diễn ra hiện giờ hay không. Như vậy suy xét không phải là chọn lấy một chủ đề rồi ngẫm nghĩ về nó, tìm cách phân tích nó, mà là xem xét xem những lời mà ta đã được nghe từ mô tả của đức Phật về thực tại có đúng như những gì đang diễn ra ở khoảnh khắc này hay không. Ví dụ như lời dạy của đức Phật về việc cái thấy chỉ kinh nghiệm đối tượng thị giác, rồi sau đó có suy nghĩ về hình dạng và từđó hình thành ý niệm về những con người khác nhau. Hay về cái nghe: cái nghe lại là một thực tại khác, nó kinh nghiệm đối tượng khác với cái thấy, vàcũng tương tự như cái thấy, cái nghe chỉ nghe âm thanh, còn ý nghĩa của âm thanh thì được biết trong suy nghĩ. Vậy chúng ta có thể suy xét xem những mô tả đó có đúng với thực tế hay không, cái mà thông thường chúng ta vẫn nhận thức theo một khối, không có sự tách rời. Chẳng hạn cho rằng cái thấy thấy ngay con người, hay cái nghe là “tôi”đang nghe, chứ không phải đó là những khoảnh khắc tâm khác nhau. Vậy những lời Đức Phật theo đó cái thấy và cái nghe là hai thứ khác nhau có đúng không? Cái thấy có thấy luôn con người hay không? Hay chắc chắn ý niệm con người được biết trong suy nghĩ v.v…? Sự suy xét đó có thể diễn ra vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, cả khi chúng ta đang đánh răng hay có một hoạt động nào đó. Ta không cần dành ra một khoảng thời gian cụ thể để suy xét về pháp.

Chú có thấy sự khác biệt giữa một bên là suy xét một cách rất tự nhiên về những gì mà Đức Phật đã giảng, và bên kia là chọn ra một thời điểm nào đó để suy xét dựa trên những kinh nghiệm của mình? Trong cuộc sống, có lúc ta nghĩ đến thứ gì đó mà không hề có ý định cho việc ấy. hay có lúc đang làm việc này nhưng lại nghĩ sang thứ khác. Hoặc bất chợt nhớ đến câu nói của ai đó hay nhớ đến một sự việc đã xảy ra trước  đó.  Cũng như vậy,sự suy xét có thể sinh khởi bởi mối quan tâm mà ta có với những gì đã từngđược nghe liên hệ với khoảnh khắc hiện tại. Nó diễn ra một cách rất tự nhiên mà không cần phải lên kế hoạch sắp xếp từ trước. Không có sự cố tình lựa chọn chủ đề hay thời điểm, nó diễn ra do bởi duyên tương ứng của nó.

Người hỏi:                Con đồng ý ạ.

Sarah:                       Về câu hỏi suy xét dựa trên kinh nghiệm của mình: nếu ta chưa từng được nghe Pháp, chưa từng có cái hiểu về những gì được nghe thì cái gọi là kinh nghiệm của chúng ta thật không đáng tin cậy. Đức Phật nói là hãy quy y Pháp,chứ không nói quy y kinh nghiệm của bản thân. Bởi kinh nghiệm của bản thân thì cho chúng ta thấy rằng có một cái “tôi”thấy bông hoa và kinh nghiệm những thứ khác nhau, hay kinh nghiệm của bản thân cho thấy “tôi bảo được con cái phải làm theo ý mình”,…Kinh nghiệm của bản thân mình xuất phát từ rất nhiều vô minh và tà kiến. Giống như khi chúng ta ngủ đêm và mơ, sau đó đến buổi sáng khi tỉnh dậy thì nhận ra là đó chỉ là giấc mơ, cũng như vậy,khi được học về sự thật của các pháp,chúng ta chợt nhận ra tất cả những gì trước đây chúng ta cho là thực hóa ra chỉ là giấc mơ, một giấc mơ giữa ban ngày. Học Giáo pháp làm cho chúng ta thức tỉnh. Vì vậy cần phải lắng nghe và suy xét rất nhiều lần bởi ý niệm về ngã trong chúng ta bắt rễ rất sâu dầy. Nếu chúng ta không đượcnghe từ lời giảng của đức Phật về sự vắng mặt của một tự ngã thì ta sẽ không bao giờ tự nghiệm được ra rằng thực chất không có một cái tôi nào cả. Chính vì vậy đức Phật nói rằng được nghe chánh Pháp, được  gần gũi bậc thiện trí, được đàm luận về Pháp là phước lành tối thượng.

Người hỏi:                 Nói kinh nghiệm ở đây là kinh nghiệm qua lời dạy của Đức Phật. Như Đức Phật nói là tai chỉ nghe âm thanh nhưng thực tế thì tai không thể nghe âm thanh mà chúng ta lại đặt vấn đề là ai nói hay ai nghe,… ý nói kinh nghiệm là kinh nghiệm như vậy. Thực tế là tai nghe âm thanh, mắt nhìn đối tượng, thực tế là mình gán luôn tên vào đó mà không thấy được đó là sắc, là cứng hay là mềm mà chúng ta hiểu nó là như thế.

Sarah:                       Việc mọi người nghe lời nói, hay thấy bông hoa là việc bình thường, nhưng khi được nghe lời dạy của Đức Phật thì có thể có sự suy xét rằng sự thực thì không phải là như thế. Dù ta chưa hoàn toàn kinh nghiệm đúng như sự thật,nhưng có sự khởi đầu nhận ra rằng sự thật không giống như những gì mình từng nghĩ, đó là sự khác biệt giữa được  nghe Pháp và không được nghe Pháp.

Jonathan:                  Chúng ta chỉ hiểu về mặt tư duy là như vậy, chứ không cố để không nghĩ về ý nghĩa của âm thanh sau khi nghe, hay cố để chia tách giữa cái thấy và nghĩ về cái được thấy,bởi nếu như vậy nó lại là một hình thái của sự thực hành,có phải không? Hiểu trực tiếp thực tại cần nhiều thời gian, không thể mong đợi nó diễn ra ngay lập tức, kinh nghiệm đúng như lời Đức Phật đã mô tả. Chính vì vậy nên ta nói tới sự suy xét, một suy xét không chủ ý, tự nhiên vun bồi qua thờii gian, và tầm quan trọng của việc được nghe về mô tả của đức Phật về sự thật, không phải chỉ một lần mà nhiều lần. Thực chất hiểu biết lúc đầu chỉ thuần túy là hiểu về mặt tư duy mà thôi. Ví dụ,chúng ta được nghe phân tích về cái nghe và âm thanh.Nếu không được nghe Giáo lý thì ta đương nhiên cho rằng mình nghe nghĩa của âm thanh, nhưng bằng tư duy chúng ta có thể  hiểu rằng bản thân âm thanh không có nghĩa gì cả, cái nghe chỉ nghe âm thanh còn ý nghĩa của âm thanh lại được biết đến trong suy nghĩ. Rõ ràng sự thật ấy khác với những gì chúng ta nhận thức về thế giới nếu không được nghe Giáo pháp của Đức Phật. Như vậy, chúng ta bắt đầu nhận thức được rằng có một sự thật nào đó ta chưa hiểu rõ và cần được hiểu hơn nữa.Nhưng ta cũng không thể đẩy nhanh quá trình phát triển của hiểu biết, nó cần có thời gian.

Sarah:                    Khi Đức Phật giảng về phát triển tứ niệm xứ, tứ niệm xứ có đối tượng là pháp chân đế. Nếu mình không biết pháp chân đế là gì thì làm sao có thể có trí tuệ hay chánh niệm sinh khởi hiểu các pháp chân đế ấy. Nếu quan tâm đến sự phát triển của tứ niệm xứ và để hiểu rõ các pháp chân đế là gì,cần phải có sự lắng nghe, thảo luận, và suy xét để hiểu rằng các đối tượng ấy khác với các khái niệm chế định, nếu không sẽ không thể có tứ niệm xứ sinh khởi trực tiếp kinh nghiệm các pháp chân đế.

….

Người hỏi:              Con kính thưa ông bà, kính thưa toàn thể pháp hội trước khi con đặt ra câu hỏi của mình cho phép con được nói lời tri ân đến Achaan, ông bà và các bạn đạo hữu trẻ đã dày công tổ chức các buổi pháp đàm để cho con có được cái hiểu đúng lời dạy của Đức Phật. Thứ hai, cháu xin gửi lời cảm ơn bác Hùng, bác đã có một câu hỏi vô cùng thiết thực cho những người cao tuổi, bố mẹ cháu ở nhà cũng có những suy nghĩ như vậy. Hôm nay được ông bà giải thích dưới ánh sáng của Đức Phật,con thấy mọi thứ vô cùng rõ ràng và đem lại cái hiểu rất sâu sắc. Đó là cuộc sống thực hiện nay. Nó giải tỏa được rất nhiều mối lo lắng mà chính những mối lo lắng này là nguyên nhân gây ra mọi rắc rối trong cuộc sống. Một lần nữa con xin được tri ân ông bà đã giải thích dưới ánh sáng của Giáo lý.

Câu hỏi của con là: trong hai hoàn cảnh, ví dụ như: một người bố thí để xây dựng công trình nào đó, việc làm   này được ghi tên vào bảng vàng và được thông báo ở mọi nơi để mọi người cùng biết; một việc bố thí nữa cũng lớn lao nhưng lại không được ghi tên vào bảng vàng hay bia đá. Hai loại bố thí này có gì khác nhau và có được gọi là bố thí ba la mật hay không ạ?

Jonathan:               Như chúng ta đã biết, chúng ta thường nói ở các Pháp đàm về những pháp khác nhau sinh khởi ở những thời điểm khác nhau. Khi chúng ta nói về một tình huống dài như bố thí rồi được khắc tên vào bảng vàng ở chùa thì đó là một câu chuyện rất dài rồi. Bởi vì trong đó bao gồm rất nhiều thực tại và khoảnh khắc khác nhau nên mình không thể mong biết và phân tích hết được những khoảnh khắc đó. Nhưng điều chúng ta đã từng nói và đề cập tới mà rất hữu ích để hiểu về chủ đề này, đól à:giá trị của một hành động phụ thuộc vào phẩm chất của tâm tại thời điểm thực hiệnhành động đó,chứ không phải là bản thân hành động đó. Một việc là thiện khi tâm sinh khởi làm việc đó là thiện. Quá trình bố thí bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau:mua vật thí,mang vật thí đến tặng cho người cần nhận,rồi sau đó nữa, có rất nhiều khoảnh khắc khác nhau với nhiều pháp sinh khởi khác nhau. Một điểm nữa chúng ta đã nói, đó là: những tâm đó sinh khởi do duyên của chúng chứ không do ý chí của chúng ta. Điểm chính mà chúng ta đã tập trung nói trong những buổi pháp đàm vừa qua là về sự phát triển hiểu biết về bản chất của các pháp, không chỉ một số trạng thái tâm nhất định, mà tất cả các pháp khác nhau trong cuộc sống. Chúng ta cũng có nói về những tích lũy về thiện hay bất thiện sinh khởi tùy thuộc vào tích lũy riêng của mỗi cá nhân. Hiểu về bản chất hay tính chất của thực tại đó khi chúng xuất hiện là điều lợi ích nhất mà chúng ta nên suy xét đến, bởi một cách tự nhiên khi hiểu biết về pháp chân đế tăng trưởng thì tự nó nó sẽ làm thanh tịnh hóa những khoảnh khắc của thiện pháp sinh khởi trong cuộc sống.

Sarah:                      Nói ngắn gọn,một sự bố thí cúng dường rộng rãi, hào phóng thì dù được ghi tên lên bảng vàng hay không cũng không có gì khác biệt. Cũng tương tự như vậy, sự cúng dường nhỏ bé dù được ghi nhận hay không được ghi nhận, được viết vào sổ công đức hay không, ghi bia đá hay không cũng không có sự khác biệt nào cả, quan trọng là phẩm chất của tâm khi làm việc đó. Nếu có cái hiểu ở khoảnh khắc làm công việc bố thí đó rằng nó chỉ là tâm, chỉ là pháp chứ không phải là tôi” bố thí, tôi bố thí nhiều hay ít, hiểu biết đó sẽ là sự khởi đầu của bố thí ba la mật. Như Đức Phật đã nói trong các loại thí, như cúng dường cho chùa chiền, bố thí tiền bạc của cải cho người khác,v.v….thì Pháp thí – sự chia sẻ hiểu biết về Giáo pháp cho những người khác là sự bố thí cao thượng nhất,và bất kể là bố thí nhiều hay ít, bố thí cái gì đi nữa thì yếu tố quyết định nằm ở tác ý và phẩm chất tâm ở thời điểm bố thí.

Hết buổi sáng ngày 30/9/2019

———

, ,

PHÁP ĐÀM SÁNG 30/09/2019 tại Hà nội – Phần I

 

Người tham dự: Kính thưa pháp hội, con xin phép được phát biểu: Trước tiên con rất lấy làm cảm kích trước lời dạy của hai vị thầy đã không quản đường xa để đến đây giảng pháp và giúp chúng ta trong mấy ngày hôm nay. Qua hai ngày lắng nghe con thấy có mấy điều như lời nhắc nhở của bác Jon: Trong việc tìm hiểu Giáo Pháp thì có ba loại:1. Tìm hiểu vì ngườ ikhác, 2. Tìm hiểu vì bản thân và 3. Tìm hiểu vì hiểu biết. Achaan cũng từng nói trí tuệ sẽ làm việc theo cách của nó. Tâm Bạch cũng nhắc nhở nếu mình cố làm cái gì đó thì đằng sau đó đã là cái tôi, một cái ngã nào đó rồi, động cơ của nó xuất phát từ ngã. Ba ý này hoàn toàn tương đồng nhau, bởi các pháp do duyên sinh. Vì vậy mình cứ lắng nghe để thu thập, bản thân sự hiểu biết sẽ dẫn chúng ta đến hành động của chính chúng ta mỗi ngày. Không cố bỏ công việc, cũng không cần cố để bỏ những thú vui để tập trung vào nghiên cứu Giáo pháp, cứ để sự lắng nghe và suy xét dần dần tự làm nhiệm vụ của nó, đến một lúc nào đó nó sẽ hướng dẫn người cư sĩ tại gia hay các vị xuất gia hướng đến giải thoát theo bản thân cái cách mà trí tuệ nó làm.  Trí tuệ sẽ làm công việc của nó, khi ấy chúng ta sẽ nhận ra rằng: cần phải nhẫn nại, nhẫn nại với sự hiểu biết ít ỏi của bản thân mình, sự nhẫn nại này có thể sẽ hơi lâu, nó lâu hơn một đời người.

Sarah: Vừa rồi là lời mở đầu rất hay, nó dẫn chúng ta đến những câu hỏi căn bản.  Bây giờ sẽ là thời gian để dành cho các câu hỏi của các bậc phụ lão cũng như các vị xuất gia.

Người hỏi:  Thưa Thầy, thưa cô chú Jon và Sarah, được sự động viên cổ vũ của mọi người tôi xin đưa ra những thắc mắc của mình mà lâu nay tôi vẫn chưa được giải tỏa. Tôi có hai câu hỏi:

1.Trước đây cũng có lần tôi phát biểu, mục đích ban đầukhi đi học Giáo pháp của tôi là để xem nội dung học là gì mà lại thu hút các bạn trẻ, trong đó có con gái tôi và bạn bè của cháu,như thế. Dần dần tôi nghe nhiều hơn và cảm nhận được những điều hay của Giáo pháp, nhưng tôi chưa hiểu được mục đích của việc học Giáo pháp, tôi từng nghĩ học Giáo pháp để rèn rũa bản thân, bỏ tham sân si và để mình trở nên tốt hơn.  Tuy nhiên qua những gì được trao đổi suốt hai ngày qua, các vị thầy đã chỉ ra rằng nếu học để cho mình, vì mình thì đó là tà kiến. Con rất phân vân vậy không biết việc học là để làm gì? Vì ai?  Con đường đi đến là thế nào? Theo anh Giao vừa nói thì việc học sẽ tự thấm dần, nó như kim chỉ nam, hướng suy nghĩ hành động của mình theo duyên mà đi. Tôi chưa hiểu lắm về những điều này, kính mong thầy cô giảng giải giúp.

2.Trong dịp kỉ niệm 47 năm ngày cưới của vợ chồng tôi thì con gái tôi tặng bố mẹ một lời chúc: chúc ba mẹ có bốn đồng-đồng giới, đồng thí, đồng tín và đồng tuệ.Xin được quý thầy cô và các đạo hữu giải thích giúp.

Sarah: Cũng như anh Giao có nói lúc mở đầu buổi Pháp đàm, khi chúng ta bắt đầu tìm hiểu Giáo pháp hay còn gọi là “tu tập”, thường mục đích là để có thêm một cái gì đó cho bản thân, chẳng hạn như có từ tâm hơn, bớt sân hơn,… tóm lại mục đích là để được một cái gì đó cho bản thân– “tìm hiểu vì bản thân”. Hoặc như bác nói, do tò mò muốn xem con gái tìm hiểu điều gì, có tốt không… Hoặc vì đó là một thành viên trong gia đình nên mình cũng làm theo cho được sự hòa hợp, hay bởi vì trong con mắt của xã hội thì đó là một việc làm tốt… Những xuất phát điểm như vậy chính là “tìm hiểu vì người khác”. 

Còn theo đức Phật, lý do thực sự để tìm hiểu Giáo pháp là để hiểu đúng, chỉ để hiểu đúng mà thôi.

Chúng ta có nhiều mục tiêu trong cuộc sống: kiếm sống, thu vén cho gia đình, xây dựng nhà cửa và các trách nhiệm khác nhau. Chúng ta thường bận bịu với đủ các mối quan tâm và nghĩa vụ trong cuộc sống, có rất nhiều thứ mà chúng ta cần phải làm trong cuộc đời này. Nhưng ta cần phải đặt câu hỏi: “cái gì là lợi ích nhất cho cuộc đời này?” để đến khi nhắm mắt, chúng ta thấy rằng cuộc đời này đã được sống một cách có ích, trong khi cái chết có thể tới bất cứ lúc nào. Tất cả những thứ chúng ta cho là quan trọng như nhà cửa, gia đình, những món ăn mà mình đã nấu, những thứ mà mình đã gây dựng,… tất cả sẽ mất đi hoàn toàn khi cuộc đời này chấm dứt, thậm chí là cũng chẳng nhớ gì về chúng cả. Cũng như bây giờ chúng ta không biết được kiếp trước chúng ta đã sống trong căn nhà nào, những người thân, quyến thuộc của mình là ai? Ăn những món ăn gì?… Mọi thứ sẽ bị quên lãng khi cuộc đời này chấm dứt… Nhưng hiểu biết thì sẽ được tích lũy, đó là thứ quý giá duy nhất của cuộc đời còn lại để mang tới kiếp sau, tích luỹ từ kiếp này sang kiếp khác. Như vậy cuộc đời dù dài hay ngắn thì thứ quý báu nhất vẫn là hiểu biết về sự thật, sự thật của cuộc sống, sự thật diễn ra từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác.

Sự thật -chân lý mà Đức Phật đã thuyết giảng cho chúng ta là: tất cả các khoảnh khắc thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, hay suy nghĩ tự diễn tiến mà không có một con người hay tự ngã nào đằng sau đó, chỉ là những khoảnh khắc kinh nghiệm, khoảnh khắc này tiếp nối khoảnh khắc khác. Với hiểu biết dần phát triển về sự thật của mỗi khoảnh khắc, ý niệm về một cái tôi hay tự ngã sẽ dần dần suy giảm. Thực chất, cái tôi này được chúng ta coi quan trọng hơn cả những thứ khác như nhàcửa, người thân trong gia đình…Việc tìm hiểu Giáo pháp có mục đích duy nhất là để hiểu sự thật của cuộc sống ngày một sâu sắc hơn,và tiến trình hiểu biết này phải được diễn ra một cách tự nhiên như trong lời dẫn nhập câu anh Giao lúc nãy.  Bởi nếu chúng ta tìm hiểu Giáo pháp với ý niệm mình là người đang học pháp,là người đang cố tập trung vào đề mục này, v.v…thì ngay ở đó đã có sự dính mắc vào ý niệm về ngã– “tôi”-có-thể-làm, “tôi”-có-thể-thấy…, ta có thể thấy rằng đó không phải là hiểu biết đúng về Giáo pháp của Đức Phật. Như vậy chúng ta sống một cách tự nhiên mà không cố để làm gì đó để trí tuệ hay hiểu biết sinh khởi, các pháp sẽ diễn tiến theo duyên của nó.

Đức Phật có nói về hai loại hạnh phúc: loại hạnh phúc thứ nhất là loại hạnh phúc mà ai cũng thường nghĩ, đó là hạnh phúc khi được ở bên người thân, được quây quần bên con cháu, thưởng thức ẩm thực mỹ vị, cùng vui vẻ bên những người bạn, hay có thời gian tụ họp với nhau đi chùa, v.v…Đó là những hạnh phúc thông thường mà người đời biết đến và cho là định nghĩa về hạnh phúc.  Nhưng thực tế,hạnh phúc này thường sinh kèm với dính mắc, nó luôn ngắn ngủi, dễ bị mất đi. Khi chúng ta mất đi ngôi nhà của mình, người thân của mình, hay những khoảnh khắc vui đùa đã qua, … khi đối tượng mà chúng ta dính mắc vào không còn thì thay vào cảm giác hạnh phúc sẽ là sự đau khổ và mất mát. Bởi hạnh phúc này gắn liền với sự mất mát nên Đức Phật nói rằng đây là loại hạnh phúc đưa đến khổ đau, đến mọi rắc rối trên thế gian. Loại hạnh phúc thứ hai mà Ngài nói tới là loại hạnh phúc gắn liền với hiểu biết về sự thật, là niềm vui sinh từ trí tuệ. Đây là loại hạnh phúc sâu sắc hơn rất nhiều, nó xa lìa với những ý niệm về mình và tự ngã, nó không bị đe dọa bởi sự mất mát và không dẫn tới khổ đau.

Sở dĩ chúng ta ngồi đây hôm nay cùng nhau đàm đạo về Pháp và có những khoảnh khắc hiểu biết sinh khởi là bởi trong quá khứ chúng ta đã từng có sự tìm hiểu và lắng nghe Giáo pháp, và chính nhờ hiểu biết đó mà lại có duyên để cùng nhau nghe Pháp và có cơ hội để phát triển hiểu biết hơnlên. Càng nghe Pháp thì hiểu biết đó càng tăng trưởng và khi chúng ta rời khỏi cõi đời này,hiểu biết đó được mang tới những kiếp sau, nơi nó sẽ tiếp tục được vun bồi và trở nên vững mạnh,vững mạnh hơn.

Jonathan:    Tôi cũng muốn bày tỏ rằng tôi đánh giá cao những chia sẻ chân tình của bác cũng như rất trân trọng mối quan tâm của bác với Giáo pháp. Những gì bác mô tả, như cô Sarah đã nói,phản ánh chân thực động cơ mà đa phần chúng ta đều có khi đến với Giáo pháp, đó là cho bản thân mình, muốn mình trở thành con người tốt hơn, minh triết hơn. Nhưng khi chúng ta đã tìm hiểu kỹ hơn lời dạy của Đức Phật, chúng ta biết được rằnghiểu biết hay trí tuệ sẽ làm thanh tịnh mọi loại thiện pháp.Nhờ đó,khi không có hiểu biết sinh khởi thì các khoảnh khắc thiện pháp khác nhau trong cuộc sống sẽ ít bị ô nhiễm bởi ý niệm về ngã bao quanh nó, Như vậy bản thân chúng ta cũng có sự kiểm chứng ở một mức độ nhất định về những lời dạy của Đức Phật trong cuộc sống qua trải nghiệm ấy.

Tôi cũng trân trọng lời dẫn nhập từ ái và đúng đắn của anh Giao. Tôi đã nghe cẩn thận tất cả những gì anh nói, cho đến đoạn anh nêu lên một ý rằng dù với những người kinh doanh hay với những người học Pháp thì mọi thứ đều phải làm với trí tuệ. Trước đó anh đã chỉ ra một cách đúng đắn rằng trí tuệ chỉ làm công việc của nó, nó chỉ sinh khởi khi có đủ duyên chứ không sinh khởi chỉ bởi vì ta muốn hay cố để có nó. Khi đã nói như vậy thì không cần nói thêm rằng chúng ta cần phải có thêm trí tuệ trong cuộc sống thường nhật. Không có nghĩa là điều ấy không thể xảy ra,nhưng nếu chúng ta hiểu các duyên để trí tuệ sẽ sinh khởi là gì thì sẽ không bị lạc lối sang những suy nghĩ muốn có thêm trí tuệ.

Một trong những duyên quan trọng để trí tuệ sinh khởi là được nghe Pháp và suy xét chân chánh về ý nghĩa của những gì được nghe, và đó là những gì chúng ta đã làm trong những buổi Pháp đàm trong những ngày vừa qua. Tuy nhiên khi nào những yếu tố ấy sẽ làm duyên cho trí tuệ sinh khởi, chúng ta không thể biết trước được, cũng như không thể tiên đoán trí tuệ khi đó sẽ lấy đối tượng là pháp nào. Những gì tốt nhất mà chúng ta có thể làm là suy xét về nhừng lời dạy của Đức Phật và để trí tuệ phát triển theo nhịp độ tự nhiên của nó.

Sarah: Khi chúng ta dùng những từ như ta cần phải, nên thế này, …nó rất dễ xuất phát bởi ý niệm “tôi”-có-thể-làm. Khi ta nói “cần phải có trí tuệ sinh khởi nhiều hơn”, hay “trong lúc làm việc cần phải có trí tuệ” rất dễ là ý niệm về ngã đằng sau đó, và ta đã quên đi là các pháp sinh khởi do duyên.

Về câu hỏi thứ hai của bác:  Tôi nhớ rằng khi tôi và Jonathan làm lễ thành hôn, chúng tôi cũng nhận được lời chúc phúc từ một vị sư.trong đó vị ấy có nhắc đến một bài kinh, nội dung bài kinh đó nói về điều kiện để cho một cặp vợ chồng có thể gặp nhau trong kiếp sau đó là cần phải có bốn yếu tố tương đồng, đó là đồng giới, đồng tín, đồng thí và đồng tuệ.  Hôm qua có câu hỏi về nghiệp nào đưa đến kết quả nào. Thông thường,khi nói về nghiệp và quả của nghiệp mọi người hay nói dưới những ngôn từ chế định, nhưng chúng ta cần suy xét xem dưới góc độ chân đế, thực tại của nó là gì? Trong ngôn ngữ chế định,ta nói rằng chúng tôi chia sẻ Pháp với các bạn.Thực tế thì, trí tuệ sinh khởi nơi tôi không thể được chia cho các bạn.Với Đức Phật cũng thế thôi, Ngài không thể đem trí tuệ của mình chia cho người này hay người kia, bởi những gì trong dòng tâm của người này không thể được chuyển sang dòng tâm của người kia. Tương tự, chia phước không có nghĩa là chúng ta lấy phước của mình mang ra chia cho một ai đó, vì điều ấy là không thể, mà chỉ đơn thuần là chúng ta nhắc đến thiện pháp mà bản thân đã làm để người khác có cơ hội biết tới điều ấy và sinh khởi tùy hỷ, khi ấy có phước lành nơi họ. Cũng tương tự như vậy khi nói đến bốn yếu tố tương đồng nhau trong đời sống vợ chồng là giới, tín, thí, và tuệ.  

Chú thích: chủ đề này được đức Phật thuyết giảng trong Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Bốn Pháp, phẩm Nguồn Sanh Phước, V. (55) Xứng đôi

Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn

Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.

Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.

– Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.

Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều sở cầu
.

Hôm qua chúng ta có bàn về việc khi trí tuệ được phát triển,nó tự phát huy ảnh hưởng, nó tác động đến cách chúng ta làm việc, đến cuộc sống cũng như hành xử của ta với những người xung quanh. Ví dụ như, để chuẩn bị cho những buổi Pháp đàm này, có rất nhiều thiện pháp đã sinh khởi: bạn Mai đã sửa soạn chuẩn bị cho Pháp đàm, thu xếp các bữa ăn chu đáo, cũng như đảm bảo nhà luôn ngăn nắp gọn gàng. Cùng với những người khác, mỗi người một tay một chân góp sức cho pháp đàm. Đó là bởi tín tâm cũng như nhận thức về tầm quan trọng của phát triển hiểu biết. Trong những buổi pháp đàm như thế này chúng ta cũng có thể thấy có rất nhiều thiện pháp sinh khởi nơi mọi người… Tôi cũng muốn đăc biệt nhắc đến anh Sơn, mặc dù không có mặt ở đây nhưng anh đã cũng ủng hộ cúng dường các bữa ăn trưa, cũng như góp chi phí tổ chức khiến cho pháp đàm được thành công tốt đẹp.

Tôi muốn nói những điều ấy để chỉ ra rằng mọi người cùng nhau tìm hiểu Giáo pháp, xuất phát từ niềm tin vào giá trị của hiểu biết về sự thật của cuộc sống. Trong kinh điển có nói về những thân bằng quyến thuộc, bạn bè cùng nhau tụ họp để nghe PPP, và nhờ vậy tạo ra được những cộng trú ấm cúng, hòa thuận, đem lại bao lợi ích không chỉ cho kiếp này mà còn cho nhiều kiếp sau. Đức Phật có giảng về 38 pháp hạnh phúc, chúng ta có phước lành vì trong 38 pháp ấy chúng ta có được rất nhiều. Đức Phật có nói rằng một trong những điều đó là được nghe Pháp và đàm đạo về Pháp. Một phước lành nữa là gần gũi bậc thiện trí để cùng nhau chia sẻ và tìm hiểu Giáo pháp. Những phước lành này có giá trị lợi ích và ý nghĩa hơn rất nhiều so với những ý niệm thông thường của thế gian về hạnh phúc hay những thứ cần có. Điều ấy không có nghĩa là trong đời sống gia đình hay trong các mối quan hệ với mọi người không còn có những lúc mâu thuẫn, cãi cọ hay những thời điểm khó khăn. Tuy nhiên khi hiểu về Giáo pháp, chúng ta sẽ biết được điều gì thực sự là quý giá nhất trong cuộc đời-đó chính là hiểu biết.Vì vậy, chúng ta dành thời gian cho việc chia sẻ hiểu biết ấy, và luôn cố gắng hỗ trợ, giúp đỡ lẫnnhau khi có thể.

Hôm qua chúng ta cũng nói về việc hiểu biết sẽ khiến một người trở nên biết cảm thông hơn. Vì vậy, khi chúng ta chia sẻ Pháp, có thể có những người có những quan điểm hay mối quan tâm khác với mình, ta sẽ không cố để thuyết phục họ nghĩ giống chúng ta, ta hiểu tích luỹ của mỗi người là khác nhau, và vì vậy dễ chấp nhận và cảm thông với họ.

Người hỏi:   Cảm ơn Pháp đàm đã cho tôi lời động viên. Do không theo dõi từ đầu nênnhững gì tôi sắp nói ra có lẽ sẽ lạc đề nhưng tôi mong mọi người thông cảm. Đó là những băn khoăn của riêng tôi nhưng tôi nghĩ nó cũng là của đa phần những người già như tôi, mong các vị hiểu. Người già rất thận trọng khi cuối đời ở với con cái. Từ khi sinh con ra bố mẹ như hai ngọn núi Thái Sơn, chăm sóc cho con, và con cũng tiếp nhận điều đó, cái gì cũng đúng, cái gì cũng nghe theo, rồi dần dần theo thời gian thì ngọn núi lụi dần, thấp dần xuống. Đến đỉnh cao con trưởng thành thì bố mẹ lại là trở ngại với con, hoặc lại càng ngày càng thận trọng hơn khi sống với con. Một nhu cầu cần trao đổi với con cũng phải thận trọng. Ví dụ: ở tuổi của chúng tôi là phải nghĩ đến hậu vận về sau, đến khi nằm xuống thì đặt ở đâu? Ai lo? Làm thế nào để khỏi bị động? Nhưng con nó bàng quang, trong khi mối lo đó chính là điều tôi lo cho các con. Tôi biết khi chết đi rồi thì ai muốn làm gì thì làm, nhưng mà đó là những nỗi niềm của người cha, người mẹ, lo lắng cho các con.  Nhưng con lại coi đó là bình thường, gặp đâu xử lý đấy, trong vòng 15 phút. Thời đại công nghệ cái gì cũng dễ dàng. Nhưng với chúng tôi, chúng tôi quan niệm như vậy là không có đạo lý.  Hôm nay tôi mới đi thăm một người bạn của mình, cũng là một người bà con. Vị này là một giáo sư có tên tuổi, khi gặp nhau chúng tôi chỉ cầm tay nhau và khóc, chúng tôi đồng cảm với nhau ở chỗ đều là những người già sắp ra đi hoặc đã đi thử một lần (là tai biến mạch máu não) nhưng không đi được bởi vẫn suy nghĩ và lo lắng cho các con chưa thành gia thất. Như vậy ý tưởng này có đúng không? có cần có con, có cháu để nối dõi tông đường không? Tôi đặt ra câu hỏi đó vì một số lớp trẻ bây giờ quan niệm rằng chỉ sống trên đời như vậy rồi thôi còn khi chết đi rồi là hết. Tôi không đồng tình với quan điểm như vậy, ý tưởng như vậy là bỏ hết gia phong, gia tộc. Nếu nói dựa trên khoa học thì ADN còn tiếp, bây giờ công nghệ khoa học đã tìm ra những ADN tốt để tạo ra những con người thông minh,như vậy có nghĩa là bố mẹ phải có thông minh, ông bà phải thông mình thì mới tạo ra những người con tốt, có trí tuệ. Vậy tôi xin dừng lại ở đây, mong ông bà giải đáp những thắc mắc của tôi.

Jonathan: Sáng nay chúng ta đã nói về ý niệm mạnh mẽ về bản thân, về những gì bản thân mình quan tâm.Chúng ta có thể thấy rằng mối bận tâm với bản thân đó sẽ dẫn dắt khiến chúng ta lo lắng không chỉ về khi còn sống mà cả về lúc chết đi. Thực tế là, ta không kiểm soát được việc mọi người sẽ làm gì khi chúng ta ra đi và phải mai táng, cũng như không ai có thể kiểm soát được những gì diễn ra hiện giờ. Tuy nhiên, lo lắng, bận tâm về những thứ như vậy nằm trong bản tính của chúng ta và sự lo lắng đó là thực. Tôi biết rằng mấy ngày trước bác chưa tham dự. Trong những ngày ấy, chúng tôi đã nói rất nhiều về các pháp chân đế và rằng, toàn bộ Giáo lý của Đức Phật là để hiểu về bản chất của các pháp tại mỗi khoảnh khắc. Đức Phật nói rằng các thực tại hay các pháp chân đế đó đều sinh và diệt theo duyên của chúng. Một số người có xu hướng lo lắng về những chuyện đã qua trong quá khứ, có những người lại lo lắng về những gì diễn ra hiện giờ và cũng có những người lo lắng về gì sẽ xảy ra trong tương lai, tất cả phụ thuộc vào tích lũy riêng của mỗi người. Cũng có một số khác lại không bận tâm đến tương lai -đó là tích lũy riêng của họ. Tôi không nói trường hợp này tốt hơn hay tệ hơn trường hợp kia, mà chỉ nói về những trường hợp khác nhau,và những trường hợp khác nhau ấy đưa đến các thực tại khác nhau.  Đôi khi chúng ta mong muốn cuộc sống hiện giờ khác đi để mình không phải lo lắng về điều gì đó, và dù có lo lắng như thế nhưng lúc chúng ta xem tivi hay bận nghĩ ngợi hoặc làm gì đó khác thì những lo lắng đó không tồn tại. Đó là minh hoạ cho thấy rằng các pháp diễn ra một cách tự nhiên và thực tế là ta không có sự kiểm soát nào về những gì xảy ra trong cuộc sống.

Sarah: Chúng ta hãy nói thêm về cái chết và những gì Đức Phật giảng về cái chết.Theo nghĩa sâu xa thì mỗi khoảnh khắc hiện giờ đều đang chết đi bởi ở mỗi khoảnh khắc tâm sinh khởi rồi diệt đi hoàn toàn, cũng giống như cái chết vậy. Như vừa nãy tôi đã nói, suy nghĩ với hạnh phúc sinh khởi, nó không kéo dài,nó diệt đi- chết đi, nó có thể được tiếp nối bởi những suy nghĩ với đau khổ hay buồn chán, và rồi những suy nghĩ ấy cũng diệt đi. Như vậy theo nghĩa tối hậu thì trong mỗi khoảnh khắc đều có cái chết. Cũng tương tự như vậy, đến thời điểm cuối cùng của cuộc đời này, khi tử thức sinh khởi và diệt đi, ngay lập tức sẽ có thức tái tục tiếp nối và bắt đầu một kiếp sống mới. Như vậy theo nghĩa chế định thì có một người chết đi nhưng theo nghĩa tối hậu, chỉ đơn thuần có một tâm diệt đi và được tiếp nối bởi một tâm khác sinh khởi trong một kiếp sống khác. Cái còn lại chỉ là phần sắc thân. Như chúng ta đã nói, nơi cái gọi là thân có những sắc được duyên bởi nghiệp,ví dụ như sắc nhãn căn, sắc nhĩ căn hay thân căn. Khi cuộc đời này chấm dứt,nghiệp không còn làm duyên cho các sắc đó sinh khởi nữa nên sẽ không còn các sắc do nghiệp sinh như nhãn căn, nhĩ căn hay thân căn,và theo chế định,ta nói rằng người ngày đã chết.Do đó,phầnthi hài còn lạivề bản chất chỉ là các sắc do nhiệt sinh, giống như các vật chất vô tri, không còn là con người mà chúng ta vẫn biết trước đó nữa.

Khi ta chạm vào xác chết hay thi hài, nó cũng cứng như chạm vào cái bàn này,vào một vật vô tri, bởi sắc do nghiệp sinh đặc trưng nơi chúng sinh có mạng sống không còn nữa.  Thức nơi người mà chúng ta gọi là người thân của mình đã tái tục ở một nơi khác rồi theo duyên nghiệp, không biết ở nơi nào. Khi chúng ta nhìn vào thi hài và cảm thấy buồn đau, thực chất dòng tâm thức của người quá cố đã theo duyên trôi chảy mà bắt đầu ở một nơi khác, một gia đình, một ngôi nhà khác hoặc một cõi khác, mà chúng ta không biết cụ thể là ở đâu. Vì vậy sự buồn đau than khóc lúc đó không dành cho người quá cố nữa mà cho chính sự mất mát của bản thân mình, chúng ta đã mất đi một người thân và giờ đây than khóc cho chính cảm giác mất mát ấy. Điều tốt đẹp nhất người sống có thể thể hiện với người đã ra đi không phải là việc làm gì đó với một nghi lễ nào đó với thi hài này, bởi như ta đã nói thi hài này chỉ như một vật chất vô tri. Điều đáng quý hơn sẽ là việc người còn sống có thể tưởng nhớ lại những điều tốt đẹp, những thiện pháp nơi người quá cố và mong người quá cố bắt đầu cuộc sống mới an lành.

Nếu những người thân còn lại trong gia đình đã được học Giáo pháp, đã tạo được nhiều thiện pháp và phát triển hiểu biết về sự thật của cuộc sống thì đó là cách tuyệt vời nhất để báo hiếu những người sinh thành ra mình, hơn cả những lễ nghi hình thức.  Trong khi làm theonhững thủ tục truyền thống thì họ vẫn có thể phát triển hiểu biết, đó là phước lành thực sự, cao thượng hơn rất nhiều.

Liên quan đến việc cần thiết duy trìnòi giống hay gia tộc, Đức Phật đã dạy rằng chúng ta đã trải qua vô vàn kiếp sống trong vòng sinh tử luân hồi, và trong vô số những kiếp sống đó thì tất cả những người xung quanh đây rất có thể đã từng là người thân trong gia đình chúng ta, là cha, là mẹ, là con, là thân bằng quyến thuộc.là bạn hữu của chúng ta. Vì vậy thực tế ta có vô số cha mẹ và vô số con cái. Vì vậy có thể có sự tôn trọng, tử tế, từ ái với tất cả những người xung quanh mình chứ không chỉ với những người thân trong gia đình mình.

Jonathan:    Tôi rất thích ẩn dụ về ngọn núi Thái Sơn của bác về hình ảnh bậc cha mẹ trong mắt con cái,bởi ở một khía cạnh nào đó,nó rất tương đồng với hành trìnhđiển hình của mỗi chúng ta trong cuộc đời. Khi còn trẻ chúng ta nghĩ rằng tất cả những người xung quanh đều phụ thuộc vào chúng ta. Nhưng khi chúng ta có tuổi hơnvà có thêm thời gian và sự từng trải để chiêm nghiệm, chúng ta nhận ra mọi thứ khác với những gì mình từng nghĩ, và rằng tất cả những gì mình dự định, trù bị cuối cùng đều diễn ra không giống như đã lên kế hoạch. Những người mà trước đây chúng ta cho rằng phụ thuộc vào mình giờ đã trưởng thành hơn, có những mối quan tâm riêng của họ, còn bản thân chúng ta, càng có tuổi thì lại càng phải dần từ bỏ những thú vui của cuộc sống và những gì mà ta gắn bó. Và đến khi cái chết tới thì chúng ta mất tất cả: tất cả những gì mà ta nghĩ mình từng có hay từng biết. Đây chỉ là những suy xét rất thông thường của thế gian, tuy nhiên suy ngẫm về những thực tế ấy cũng có ích lợi.

Chẳng hạn như,chúng ta thường quan tâm đến hình thức của mình,đến kiểu tóc, đến hình dáng và màu sắc của móng tay…Nhưng khi chúng ta tới tiệm cắt tóc thì những phần tóc cắt rồi rớt xuống đất trở nên hoàn toàn vô nghĩa: chúng ta không còn quan tâm đến chúng nữa, chúng ta chỉ quan tâm đến những gì còn lại trên đầu, những gì còn lại trên người mình thôi. Khi cuộc đời này chấm dứt, thân thể chúng ta cũng giống như những mớ tóc còn lại trên sàn của tiệm cắt tóc mà thôi. Tóc đã bị cắt cũng giống như cái thân này đã bị rời đi, hoại đi bởi thức, vì vậy cũng không cần lo lắng về điều gì sẽ xảy ra với thân thể của chúng ta khi chết.  Nó sẽ còn tồn tại trong một thời gian và rồi sẽ tan hoại, phân hủy như chúng ta biết. Chúng ta đều hiểu điều ấy về mặt lý thuyết nhưng vẫn lo lắng, mà bản chất chính là lo lắng về việc những người khác sẽ nghĩ như thế nào về ta. Tuy nhiên hình ảnh của chúng ta trong lòng người khác cũng chỉ là những thứ rất tạm bợ, chúng ta cũng không kiểm soát được hình ảnh của mình trong con mắt của người khác. Mặt khác, nếu con cái của chúng ta là những người đã phát triển những phẩm chất thiện thì ta có thể tin tưởng rằng họ sẽ tưởng nhớ về ta một cách đúng đắn.

Sarah: Cái chết cũng giống như việc ngủ say và rồi thức dậy ở một đất nước, một thế giới khác, chẳng còn liên quan gì đến nơi cũ nữa, chẳng còn bận tâm đến mớ tóc đã rớt xuống còn lại trên sàn nhà. Còn hình ảnh ngọn núi lùn đi, đó là mẫu số chung cho tất cả. Nó gợi tôi nhớ đến mẹ của tôi mấy năm trước, khi bà đã yếu đi rất nhiều, bắt đầu lãng trí và không còn khả năng tựlo cho bản thân mình nữa, tôi có nói với bà rằng mẹ cần phải làm việc này hay việc kia đi, nghe vậy bà bỗng nhiên bật dậy và nói rằng chính bà mới là người sẽ bảo tôi phải làm gì chứ không phải là ngược lại. Một tình huống phổ biến ở mọi nơi….Tôi cũng phảinói với bà rằng bà nên tập từ bỏ ý nghĩ quen thuộc rằng mình mới là người biết và chỉ dẫn cho các con cần phải làm gì, đó là một thực tế cần phải chấp nhận…

Những câu hỏi và những vấn đề bác đưa ra rất hữu ích cho mọi người, đó là những điều tưởng như bình thường nhưng lại khác khi được nghe giải thích dưới nhãn quan của Giáo lý Đức Phật.

———

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

, ,

Translate »