Pháp đàm chiều 06-09-2013 tại Vũng tàu
14/ Pháp đàm buổi chiều ngày 06.09.2013 tại Vũng tàu.
Sarah: Sau buổi pháp đàm sáng nay, có một câu hỏi liên quan đến những lo lắng về những điều sẽ xảy ra trong tương lai. Achaan có nói rằng, ở khoảnh khắc lo lắng ấy đang có sự quên lãng đối với thực tại hiện giờ. Vậy mời Achaan nói kỹ hơn về điều này.
Achaan: Tương lai là gì? Khoảnh khắc này chẳng phải là tương lai của khoảnh khắc trước sao? Có thể lo lắng gì cho những khoảnh khắc trong tương lai? bởi vì khoảnh khắc này là quá khứ của khoảnh khắc tương lai rồi, chỉ thế mà thôi. Vậy bạn muốn quan tâm đến loại tương lai nào đây? Bởi vì cái nghe hiện giờ đã là tương lai của cái thấy trong quá khứ của khoảnh khắc trước. Chúng ta cần phải rất cụ thể, kể cả khi nói đến tương lai, khoảnh khắc tiếp theo sẽ là tương lai của khoảnh khắc này, chỉ có thế mà thôi. Liệu chúng ta có thể lo lắng về cái thấy và cái nghe trong tương lai? Không cần phải bận tâm, bởi vì mỗi khoảnh khắc đều đã được tạo duyên, và luôn luôn có các duyên cho từng khoảnh khắc. Nếu như không có duyên thì sẽ không có khoảnh khắc này. Cũng như vậy, nếu không có duyên sẽ không có khoảnh khắc tiếp theo. Bây giờ chúng ta đã hiểu về tương lai rõ hơn một chút, đúng không?
Khi nói ta lo lắng về tương lai, điều ấy thực chất là lo lắng về cái thấy và cái nghe trong tương lai. Những khoảnh khắc này là tương lai của những khoảnh khắc đã qua trong sáng nay. Cứ như vậy từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Nếu khoảnh khắc này là thiện pháp, nó sẽ tạo duyên cho thiện pháp ở những khoảnh khắc sau đó. Chúng ta có cần phải bận tâm đến cái gì khác không? Thay cho bận tâm đến những thứ ấy, chúng ta cần nên quan tâm đến việc hiện không có hiểu biết về khoảnh khắc hiện tại, để khoảnh khắc tiếp theo có thể có thêm hiểu biết.
Sarah: Khi chúng ta đang lo lắng cho bản thân, người thân, bạn bè trong tương lai, thì chắc chắn ở khoảnh khắc đó đang có lãng quên về thực tại đã được tạo duyên hiện giờ. Tuy nhiên ngay ở khoảnh khắc có những suy nghĩ như vậy thì bản thân những suy nghĩ đó cũng có thể trở thành đối tượng của hiểu biết, cũng như cái nghe, cái thấy, bất cứ thực tại nào cũng có thể trở thành đối tượng của hiểu biết đúng,
Achaan: Cái chết có thể tới bất cứ lúc nào, cái chết nên tới sau khi chúng ta lo lắng hay là sau khi chúng ta đã hiểu đúng? Về mặt chân đế, bạn nghĩ cái gì thực sự thuộc về bạn đây? Cái thân này có thuộc về bạn không? Cái thấy và cái nghe có thuộc về bạn không? Kể cả những thứ ấy đã không thuộc về bạn, thì làm sao có thể nghĩ rằng những chúng sinh khác cũng thuộc về bạn đây?
Sarah: Ngay trước buổi pháp đàm bắt đầu, cũng có một số nhận xét rằng đối với giới trẻ hiện nay, có thể sẽ rất thiếu kiên nhẫn khi nghe về việc phát triển hiểu biết cần đến nhiều thời gian như vậy. Họ có thể muốn đi tìm người thầy khác với những lời dạy khác để có được kết quả nhanh chóng hơn. Achaan đã trả lời về nhận xét đó rằng, vô minh và tà kiến luôn muốn tìm một con đường tắt.
Achaan: Có chánh tư duy và tà tư duy. Ở khoảnh khắc này đang có cái thấy, bạn muốn đi tới ai đây? Đi tới một người nào đó, hay tới giáo lý của Đức Phật giúp bạn hiểu về cái thấy? Nếu như không có chút ý niệm nào về sự phát triển hiểu biết về những gì đang xuất hiện hiện giờ, vậy khi nào và ở đâu khác bạn có thể hiểu được đây? Nếu bạn nghĩ đến việc tìm hiểu một cái gì đấy khác ngoài những thực tại đang xuất hiện hiện giờ thì bạn muốn hiểu là cái gì đây? Dù ở nơi nào và khi nào thì vẫn chỉ là những thực tại như chính hiện giờ. Nếu quay lưng lại với việc nghe và hiểu về những gì đang xuất hiện hiện giờ, bạn muốn biết gì đây? Dù bạn có ở nơi nào đi nữa thì vẫn có thấy, nghe, ngửi, nếm, suy nghĩ như hiện giờ mà. Vậy bạn sẽ quay lưng lại với những thứ đó hay tiếp tục nghe và hiểu đúng thêm một chút? Tại sao không nghĩ tới sự vô minh trong tương lai? Nếu như có cái hiểu đúng hiện giờ thì sẽ có bớt vô minh hay nhiều vô minh hơn trong tương lai?
Học viên 18: Con có đọc những bài viết của Achaan và con thấy có lợi lạc hơn cho sự hiểu biết. Con nghe một số bạn tham dự pháp đàm tại Sài Gòn nói lại là Achaan nói không phải ngồi thiền, con nghĩ điều này chắc là họ đã hiểu sai. Theo con hiểu thì Bà nhấn mạnh vào việc phải có cái hiểu biết đúng bất cứ khi nào hay đang làm việc gì, chứ không phải bà nói rằng không nên ngồi thiền. Con hiểu như thế có đúng không?
Sarah: Khi chúng ta nói đến ngồi thiền, thì về mặt thực tại nó là gì? Hiện giờ chúng ta cũng đang ngồi, và đang nghe Pháp. Đó có phải là ngồi thiền không?
HV 18: Thực tại của ngồi thiền là những nhận thức về những gì đang xảy ra xung quanh nhưng như nó là. Nó không có ý tưởng thêm bớt vào mà mình chỉ thấy giây phút hiện tại mình đang có cái nghe, cái thấy, đang có sự hiểu, và thậm chí những tà kiến hiện lên trong tâm thì mình cũng thấy đang sinh khởi trong tâm.
Sarah: Như chúng ta đã nói, ở mỗi một khoảnh khắc có một tâm kinh nghiệm một đối tượng. Những tâm đã sinh khởi và diệt đi rồi thì đã hoàn toàn biến mất, không bao giờ trở lại. Một tâm thấy hay nghe trong tương lại chưa sinh khởi thì vẫn chưa sinh khởi, như vậy chỉ có khoảnh khắc của thực tại hiện giờ mới có thể được hiểu, đúng không?
Như vậy, cái mà chúng ta gọi trong tiếng Pali là bhavana – sự phát triển tâm trí – chỉ có thể diễn ra bây giờ, bất kể chúng ta đang ngồi ở tư thế nào, bạn có đồng ý với điều này không? Sáng nay, chúng ta có nói rằng chỉ có hai loại thực tại, một là thực tại kinh nghiệm đối tượng và một thực tại không kinh nghiệm gì cả nhưng được kinh nghiệm, chẳng hạn cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác, cái nghe kinh nghiệm âm thanh, và sau đó thì có suy nghĩ về cái được thấy và cái được nghe, tất cả diễn ra một cách nhanh chóng. Thông thường, luôn có cái thấy, cái nghe và suy nghĩ trong suốt cả ngày nhưng chúng ta không có hiểu biết đúng về những thực tại ấy. Khi chúng ta thảo luận về những chủ đề này, có thể có thêm một chút hiểu biết sáng rõ hơn về đặc tính của các thực tại kinh nghiệm một cái gì đó và đặc tính của các thực tại không kinh nghiệm gì cả. Như vậy, chúng ta có thể thấy được rằng, không có gì có thể làm công việc quan sát, hay biết hay ngăn chặn những thực tại đang sinh khởi. Như vậy, cái gọi là bhavana mà Đức Phật đã dạy, theo cái hiểu của tôi, phải luôn bắt đầu với hiểu biết rằng tất cả các pháp đều là vô ngã. Như vậy, ý niệm về một sự quan sát chủ động nhiều khoảnh khắc tâm liên tiếp, hay ghi nhận sự sinh diệt v.v… không phải là bhavana theo nghĩa mà Đức Phật đã dạy, vì đằng sau nó có ý niệm về một tự ngã có thể làm công việc ấy một cách chủ động. Cái gọi là bhavana- sự phát triển tâm trí – luôn luôn là trong chính khoảnh khắc này, không phải là một nơi nào khác hay lúc nào khác, không phải là việc cố làm một cái gì đấy, hay trong một tư thế nào đấy.
Achaan: Có sự khác biệt nào giữa quan sát và hiểu không? Bất kỳ ai chưa có hiểu biết thì vẫn có thể cố gắng quan sát, nhưng liệu khi ấy có hiểu biết đúng về cái đang sinh khởi hay không? Nếu ta không biết chút nào về Giáo lý, liệu ta có thể quan sát gì hiện giờ không? Nếu như thiền có nghĩa là quan sát thì nó quan sát gì đây? Hiện giờ đây, nó quan sát gì? Hiện giờ chúng ta đang ngồi, cái gì có thể là đối tượng của sự quan sát đây? Sẽ quan sát gì nếu như chúng ta cho rằng thiền có nghĩa là quan sát? Hãy nói với người khác “bây giờ bạn hãy quan sát!”. Liệu bạn có thể quan sát khi người khác khuyên bạn hãy quan sát đi không? Tôi thực sự không biết đối tượng của quan sát đó là gì? Chẳng hạn như hiện giờ có sự xúc chạm, ở khoảnh khắc của sự xúc chạm, chỉ có cái cứng hoặc mềm, nóng hoặc lạnh xuất hiện mà thôi, và thông thường không có hiểu biết gì về những thực tại ấy, mà luôn có ý niệm rằng cái được chạm là một cái gì đó. Vậy thì nghĩa của từ quan sát là gì? Đối tượng của thiền là gì, những đối tượng có thể được quan sát ấy. Đối với tôi điều ấy rất mù mờ, không rõ ràng. Nghe như là ta đang làm một cái gì đó, ta đang quan sát, nhưng quan sát gì nhỉ? Tôi muốn nghe câu trả lời.
Học viên 12: Đối tượng bây giờ nó có thể là một số thứ.
Achaan: Chỉ một đối tượng thôi.
HV 12: Thân thức.
Achaan: Vậy thì thân thức là gì?
HV 12: Thân thức là một citta- tâm
Achaan: Ở khoảnh khắc quan sát thân thức, bạn làm gì? Bạn gọi (đặt tên) đó là thân thức hay là thế nào?
HV 12: Khi đọc Giáo lý thì tại khoảnh khắc kinh nghiệm đối tượng qua thân căn thì khi đấy sẽ có thân thức sinh khởi.
Achaan: Đó là kiến thức nhờ nghe, thế còn hiện giờ, chính hiện giờ đây thì tâm nào đang có ở đó? Đặc tính của tâm hiện giờ là gì? Hiện giờ có tâm, vậy đặc tính của tâm là gì để có thể được biết là không phải là tự ngã?
HV 12: Citta kinh nghiệm một đối tượng.
Achaan: Ở khoảnh khắc này đang có sự quan sát tâm, hay là đang có sự bắt đầu của hiểu biết rằng tâm là cái kinh nghiệm một đối tượng, chứ không phải là một ai đang kinh nghiệm? Vậy thì quan sát là gì? Và hiểu là gì?
HV 12: Ở một chừng mực nào đấy, thì rõ ràng có thể thấy được sự khác biệt giữa cái cứng, cái thân căn và cái thân thức.
Achaan: Khoảnh khắc của cái thấy hiện giờ, cái gì có thể được hiểu?
HV 12: Tại khoảnh khắc của cái thấy thì có thể là có cái hiểu rằng đối tượng thị giác và nhãn căn thì làm duyên cho nhãn thức sinh khởi, cả ba cái yếu tố ấy đều chỉ là vô ngã mà thôi.
Jonathan: Nếu quan sát là quan sát một đối tượng, một sắc hay danh mà ta đã chọn thì đâu là sự khác biệt giữa sự quan sát với hiểu biết đúng và sự quan sát không có hiểu biết đúng?
HV 12: Tất cả mọi người đều đồng ý là dù có thực hành hay hành thiền chánh niệm thì tất cả đều đồng ý phải có chánh kiến, có sự hiểu biết đi đầu.
Jonathan: Hiểu biết đúng mà bạn nói đến là chúng ta cần phải có đó là gì?
HV 12: Chánh kiến cao nhất là sự hiểu biết đúng về Tứ diệu đế, tại từng khoảnh khắc thì cần có hiểu biết về thực tại ở khoảnh khắc đó, đồng thời cũng phải có hiểu biết về nhân và quả, về thập nhị nhân duyên.
Jonathan: Đó là mức độ hiểu biết cao nhất, nhưng mức độ hiểu biết bắt đầu – nơi chúng ta đang là – thì là gì?
HV 12: Tại cái sự hiểu biết ban đầu thì nó là sự hiểu biết là cái nhãn căn và đối tượng thị giác làm duyên cho nhãn thức sinh khởi. Nhưng liệu ai có thể biết được là trong đại chúng thì đã có những người có sự hiểu biết sâu sắc hơn cái sự hiểu biết ban đầu đó.
Jonathan: Tôi đang cố liên kết câu trả lời của bạn với câu hỏi của tôi, có phải ý bạn muốn nói là khởi đầu của sự hiểu biết là hiểu biết về một pháp, từng thực tại một, đúng không?
HV 12: Vâng, hiểu biết ban đầu là yếu tố thực tại sinh khởi tại khoảnh khắc ấy, là về nhãn căn, nhãn thức, đối tượng thị giác.
Achaan: Hiện giờ ở khoảnh khắc của cái thấy thì cái gì xuất hiện?
HV 12: Tại khoảnh khắc nhãn thức sinh khởi, cái mà được kinh nghiệm là đối tượng thị giác, nhưng ngay lập tức cái mà được biết đến lại là sản phẩm của cái tưởng, mình nhìn thấy cái cốc hay cái chai.
Achaan: Tôi chỉ muốn hỏi về cái xuất hiện thôi, chứ không hỏi về suy nghĩ về nó.
HV 12: Tại khoảnh khắc của cái thấy, đối tượng thị giác được kinh nghiệm.
Achaan: Ở khoảnh khắc đang thấy đây thì cái gì xuất hiện nào? Chúng ta có cần phải nói gì về cái đó không, hay là nó đã xuất hiện với cái thấy rồi? Ở khoảnh khắc này, nhãn căn có xuất hiện không? Bởi vì nó chưa xuất hiện, nên làm sao có thể hiểu được rằng đó là một thực tại, không phải là một tự ngã? Ta cần phải rất trung thực để biết rằng ở khoảnh khắc này, đã thực sự có hiểu biết trực nhận về cái xuất hiện và được thấy, rằng đó không phải là một con người, hay một cái gì đó, mà chỉ là một đối tượng, một thực tại mà thôi. Cần phải có thời gian để trí tuệ có thể phát triển tới mức độ là bất cứ khi nào có cái thấy, chỉ có thực tại đó mà thôi chứ không có ai ở trong đó cả. Bằng việc hiểu rằng trong cái được thấy đó không có một ai cả, dần dần sẽ bắt đầu hiểu được rằng đó chỉ là đối tượng thị giác mà thôi. Bởi lẽ, không thể nào vừa mới nghe giảng về điều đó, chúng ta đã trực ngộ rằng, đúng là ở khoảnh khắc của cái thấy thì chỉ có đối tượng thị giác mà thôi, không có ai trong đó.
HV 12: Sau khi đã đọc Giáo lý của Đức Phật và nghe bà nhấn mạnh nhiều lần về nhãn thức, đối tượng thị giác, xúc chạm thì khi được hỏi về nhãn thức hay thân thức kinh nghiệm thì ngay lập tức nghĩ đến đối tượng thị giác, đối tượng xúc chạm nhưng thực ra nó chỉ là suy nghĩ thôi. Bà cũng nói đi nói lại là từ sự hiểu biết về mặt lý thuyết cho đến sự hiểu biết thực hành, từ từ từng chút một, rất là lâu. Nếu như lần này và lần sau nó vẫn chỉ là một cái suy nghĩ như thế thôi thì làm sao có được sự hiểu biết sâu sắc hơn?
Achaan: Đức Phật có dạy con đường phát triển hiểu biết không? Và con đường đó là gì?
HV 12: Dù mình có đọc hay nghe về tiến trình tâm, các đặc tính, biểu hiện, chức năng của các loại tâm và tâm sở thì không có dễ dàng gì để kinh nghiệm được điều đó, con nghĩ nhiều người đều có suy nghĩ là cần phải có sự hỗ trợ của Định và Niệm.
Achaan: Định có phải là yếu tố đầu tiên của Bát chánh đạo hay không? Và Đức Phật có nói về Chánh định và Tà định hay không?
HV 12: Chúng ta đều đồng ý rằng trong Bát chánh đạo thì Chánh kiến đi đầu, và bây giờ chúng ta đã có sự hiểu biết ở mức độ về mặt văn tuệ thì chánh kiến là như thế nào rồi.
Achaan: Điều trước tiên, hiểu biết đúng hay chánh kiến phải là chánh kiến về vô ngã.
HV 12: Như con hiểu Đức Phật có dạy về vô ngã tức là mọi thứ đều là do duyên.
Achaan: Vậy thì không thể kiểm soát được, không có ai kiểm soát cả. Có sự khác biệt giữa cái thấy chỉ thấy một đối tượng thị giác với cái thấy thấy con người đồ vật. Để có thể hiểu thực sự rằng đối tượng được thấy chỉ là đối tượng thị giác, chẳng phải cần rất nhiều thời gian hay sao? Hay là chúng ta nghĩ rằng ngay lập tức có thể thấy được trực tiếp như vây? Hiểu biết phải bắt đầu được vun bồi ở chính khoảnh khắc này, khi đối tượng thị giác đang xuất hiện và có sự hiểu đúng về nó, chứ không phải là ở khoảnh khắc chỉ có sự suy nghĩ về từ “cái thấy”. Khoảnh khắc chỉ nghĩ là “cái thấy không phải là một tự ngã” thì không phải là khoảnh khắc suy xét về một thực tại xuất hiện và ngay sau khi nó diệt đi thì không còn gì nữa cả.
Học viên 20: Xin Achaan hãy giải thích về thực tại suy nghĩ?
Achaan: Nếu không có suy nghĩ thì có thể biết được cái được thấy là gì không? Trong một giấc mơ, chúng ta có thể thấy rất nhiều thứ như thể ta thấy những thứ ấy thật, nhưng không hoàn toàn giống như cái ta thấy hiện giờ, chính vì vậy chúng ta mới gọi đó là giấc mơ, vậy khoảnh khắc của mơ đó là gì?
HV 20: Là suy nghĩ.
Sarah: Tôi nghĩ bạn (HV12) đồng ý rằng chỉ có các thực tại chân đế, vậy thì thực tại chân đế của cái mà chúng ta gọi là quan sát đó là gì nào? Chẳng hạn khi bạn nói quan sát đối tượng thị giác, nhãn thức, và nhãn căn, thì cái mà bạn gọi là quan sát đó là thực tại nào?
Bởi vì khi chúng ta nói đến thực tại hiểu, ta nói đến trí tuệ, khi nói đến thực tại hay biết, ta nói đến chánh niệm, chúng đều là các pháp hữu vi, sinh khởi do duyên. Khi chúng ta nói đến nói đến giấc mơ trong đó có thể có bất cứ cái gì, thực tại của nó là suy nghĩ. Vì vậy tôi hỏi bạn về sự khác biệt giữa quan sát và suy nghĩ.
HV 12: Con hiểu về quan sát là tại khoảnh khắc mà có cái thấy sinh khởi, ngay lập tức có cái nhớ đến những hiểu biết về cái được nghe và được đọc về đối tượng thị giác, nhãn thức. Nhưng cũng ngay lập tức biết đó là cái cốc hay cái chai, và cũng hiểu đó là sản phẩm của tâm sở tưởng.
Sarah: Vậy cái đó chỉ là suy nghĩ mà thôi. Và dù chúng ta gọi đó là suy nghĩ hay quan sát hay bất cứ cái gì khác, bất kể nghĩ về những thứ lạ kỳ như là trong một giấc mơ hay nghĩ về những thứ mà chúng ta đã được nghe như về nhãn căn và về đối tượng thị giác chẳng hạn, thực tại có thể được biết ở khoảnh khắc ấy chính là suy nghĩ. Nhưng khái niệm mà suy nghĩ nghĩ về thì không phải là thực. Vậy thì những thứ lạ kỳ mà chúng ta nghĩ đến trong một giấc mơ, hay khi chúng ta ngồi trên tọa cụ thiền, hay những ý niệm về con người và đồ vật hiện giờ, hay những câu chuyện về thực tại đều là các khái niệm, chúng không phải là thực và không phải là đối tượng của Trí tuệ. Cái duy nhất có thể được hiểu chỉ là những thực tại hiện giờ đang xuất hiện mà thôi. Ví dụ như: nghĩ, thích, không thích, cái thấy, đối tượng thị giác v.v.
HV 12: Đối tượng thị giác hay nhãn thức không dễ để kinh nghiệm trực tiếp, ngay sau khi nhãn thức sinh khởi thì suy nghĩ về sự hiểu biết về mặt lý thuyết, ngay sau đấy lại là cái biết về cái khái niệm, ngay sau đấy thì lại là một suy nghĩ về sự hiểu biết về mặt lý thuyết rằng cái cốc hay cái chai thì chỉ là kết quả của tâm sở tưởng nó làm cái chức năng của nó mà thôi.
Jonathan: Tôi nghĩ rằng có sự khác biệt giữa việc hiểu đúng về những gì chúng ta đã được nghe và ý niệm rằng có một ai đấy có thể theo một số bước thực hành nào đấy để cho trí tuệ sinh khởi. Khi chúng ta nghe về Giáo lý và chúng ta thảo luận về cái thấy, về đối tượng thị giác chẳng hạn, có thể có sự suy xét về điều được nói đến xem nó là gì ở khoảnh khắc hiện tại. Khi ấy, có thể có cái hiểu ở mức độ tư duy về thực tại đó. Nhưng nếu ta cho rằng nghĩ theo một cách cụ thể nào đó sẽ có thêm hiểu biết, suy nghĩ ấy bị thúc đẩy bởi ý niệm muốn có thêm chánh niệm. Điều ấy hoàn toàn khác với sự suy xét tự nhiên sinh khởi cùng hiểu biết đúng đắn về những gì được nghe.
HV 12: Con đã thực hành theo cách là những gì mà nó sinh khởi tại một khoảnh khắc đấy thì con xem xét trên nhiều góc độ, cùng một khoảnh khắc đấy thì có thể xem xét ở góc độ nội xứ hoặc ngoại xứ, hoặc ngũ uẩn, hoặc các giới.
Sarah: Bất cứ khi nào có sự cố gắng làm một cái gì đó, dù là đang ngồi tọa thiền và cố gắng tập trung vào một đối tượng, hay cố gắng nghĩ đến những kinh nghiệm theo nội xứ hay ngoại xứ, hay cố gắng tìm hiểu câu chuyện về các thực tại… đều là một dạng của giới cấm thủ. Bởi vì khi ấy nó bị thúc đẩy bởi một ý niệm có một ai đó đang cố gắng làm một cái gì đấy, chứ không phải là cái hiểu về cái đã được tạo duyên hiện giờ, chẳng hạn như suy nghĩ, là vô ngã mà thôi.
HV 12: Sao cô nghĩ rằng có ai đó cố gắng làm gì đấy? Có thể cũng có khi cái tâm tự nó làm công việc của nó và tại khoảnh khắc ấy, cũng không có ý niệm về ai đó làm cái gì đó sinh khởi.
Sarah: Bởi vì bạn đã mô tả cái xảy ra và cuối cùng bạn có nói đây chính là cái cách mà tôi đã làm.
Học viên 18: Về câu hỏi sự khác biệt giữa quan sát và hiểu biết, con trả lời thế này:
Khi ngồi thiền mình quan sát hay biết tất cả những cảm giác, âm thanh, mình để tâm hoàn toàn thư thả, hoàn toàn không có ý muốn gì. Sau một thời gian thiền thực hành như vậy, lúc đầu nó chỉ là quan sát trên đối tượng đến một cách hết sức tự nhiên, không biết là bao lâu thì hiểu biết có thể sinh khởi, nhưng đến một giai đoạn thì mình thấy là hóa ra chỉ có một đối tượng và một tâm hay biết liên tục liên tục như vậy và nó chỉ là một tiến trình tự nhiên, không có ai ở trong này cả. Giây phút mình hiểu là không có ai ở trong này cả thì có phải đến lúc đó là có chút hiểu biết ít ỏi. Như vậy quan sát là nền tảng để hiểu biết đằng sau nó xuất hiện. Giây phút hiểu hoàn toàn không có ai cả, hoàn toàn là tiến trình thì lúc đó sinh khởi một chút hiểu biết. Con hiểu như vậy thì có đúng không?
Achaan: Nếu như không có tâm thì liệu ta có thể nói tâm của tôi hay không?
HV 18: Con chưa rõ câu hỏi của Achaan, vì chúng ta còn sống thì chúng ta vẫn phải có tâm.
Achaan: Tại sao ta lại nói là chúng ta đang sống?
HV 18: Bởi vì chúng ta biết về đối tượng.
Achaan: Chúng ta hay chỉ là yếu tố kinh nghiệm cái sinh khởi do duyên mà thôi? Nếu không có cái hiểu về cái gì tạo duyên cho cái gì, sẽ luôn luôn có ý niệm về tôi. Giờ đây, chúng ta đang lắng nghe Giáo lý của bậc Giác ngộ, một người không phải chỉ suy nghĩ, quan sát và quán xét về những điều ây, mà là người đã thực sự xuyên thấu và giác ngộ về sự thực ấy ở bất cứ thời điểm nào. Có sự khác biệt giữa việc suy xét về những gì đã được nghe và khoảnh khắc liễu ngộ về điều ấy. Không có người nào có thể chứng ngộ chân lý cả, mà chính là một thực tại khác hẳn với vô minh và tà kiến. Mỗi lời của Đức Phật đều tới từ sự giác ngộ Tứ Thánh đế của Ngài. Tứ Thánh đế không chỉ là con số bốn, chúng ta cần phải hiểu thật cặn kẽ ý nghĩa của từng đế một. Thánh đế đầu tiên là khổ để, có dễ hiểu về khổ đế hay không?
Khổ để -dukkha sacca có nghĩa là gì? Là sự sinh diệt của thực tại ngay hiện giờ. Không phải chỉ là nghe rằng cái thấy sinh và diệt, hay cái nghe sinh và diệt, đó chỉ là suy nghĩ mà thôi. Đó không phải là khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp rằng bất cứ cái gì sinh khởi thì đều diệt đi trong một khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi. Chính vì thế mới nói đến ba mức độ của trí tuệ: mức độ tư duy tới từ việc nghe Pháp, trong đó về sự khác biệt giữa khổ và khổ đế. Lúc nghĩ đến việc các thực tại sinh và diệt không phải là lúc trực nhận về nó. Nhưng nếu không có hiểu biết (lý thuyết) về cái thấy và cái được thấy, sẽ không thể dẫn tới việc là xả ly một cách từ từ ý niệm cho rằng cái được thấy đó là một cái gì đó. Như vậy không thể chỉ nghe thôi mà ngay lập tức có thể kinh nghiệm được cái sinh và diệt, mà thực chất chỉ là nghĩ về nó và bắt đầu hiểu nó về mặt lý thuyết.
Như bây giờ, chúng ta đang nói về cái thấy, có ai hiểu được nó đúng như là chúng ta đã nghe về nó trong Giáo lý hay không? Trong một ngày, có rất nhiều khoảnh khắc không hề nghĩ đến sự sinh diệt của bất cứ cái gì, mà chỉ có suy nghĩ về cái xuất hiện như là con người hay đồ vật. Nhưng nếu không có thực tại không phải là tự ngã hay là ai cả (tức chánh niệm và trí tuệ) sẽ không thể nhớ lại được rằng cái đang được thấy hiện giờ không phải là một con người. Khi có cái ý niệm là có một ai đấy hay một cái gi đấy thì khi đó ý niệm về ngã đang có ở đó, cho cái sinh và diệt đó là một cái gì đó tồn tại kéo dài. Bởi chưa có sự chứng ngộ sự sinh diệt của thực tại cho nên vẫn có ý niệm về cái gì đó. Những gì được thấy hiện giờ là tướng của cái sinh và diệt, chúng xuất phát từ các thực tại sinh và diệt đi một cách nhanh chóng.
Trong một ngày, ý niệm về con người và sự vật sinh khởi nhiều hơn là hiểu đúng về thực tại xuất hiện. Chính vì vậy, kể cả ở thời Đức Phật còn tại thế, các vị tỳ kheo luôn luôn đi theo Đức Phật ở khắp mọi nơi chỉ để nghe Ngài giảng Pháp, để hiểu một cách rõ hơn và sâu sắc hơn. Khi Trí tuệ đã lớn mạnh hơn thì vô minh sẽ bớt dần đi. Sự dính mắc sẽ từ từ bớt đi dần, và trí tuệ hiểu tiến trình ấy diễn ra như thế nào. Ngày hôm nay đã có bao nhiêu khoảnh khắc chúng ta nghe Pháp đây? Có bao nhiêu khoảnh khắc có suy nghĩ về những câu chuyện về con người và mọi thứ mà không hề nhớ đến việc các thực tại đang sinh và diệt?
Nhờ học về từng thực tại ở từng thời điểm, chúng ta có thể biết được mức độ trí tuệ thực sự đang ở đâu. Vẫn chưa thể là mức độ hiểu được sự sinh diệt của thực tại khi vẫn có ý niệm về những thứ của tôi và những người thân của tôi, và chưa thể tận diệt được ý niệm về tự ngã. Chẳng hạn như hiện giờ, nếu ta rất trung thực, ta sẽ thấy rằng kể cả khi đang nghe về đối tượng thị giác, vẫn chưa phải là hiểu biết rằng đối tượng thị giác chỉ là đối tượng thị giác, rằng không có ai ở đó. Cần rất, rất lâu để có thể phát triển hiểu biết về điều ấy. Hãy nghĩ đến một đứa trẻ mới sinh. Nó có thấy không? Nó có biết cái gì được thấy không? Nó có biết mẹ và những thứ khác không? Nó vẫn chưa biết cho đến khi nó được thấy nhiều hơn nữa, và học được thêm về những đặc tính khác nhau trước khi có thể nói bập bẹ. Và nhờ có việc nghe những âm thanh khác nhau, nó có thể biết được âm thanh ấy có nghĩa là gì, và nhờ vậy nó có thể nói được. Khi lớn lên, nó có thể biết nói. Và bây giờ chúng ta đang nghe về đối tượng thị giác, một cách trung thực nào, liệu ai có thể thấy được đối tượng thị giác như nó là, rằng không có ai ở trong đó cả?
Đức Phật đã tích lũy rất nhiều bala mật, nếu không Ngài đã không thể hiểu được bất cứ thực tại nào ở bất cứ thời điểm nào. Để có thể hiểu được rằng cái thấy không phải là tôi thấy, và cái xuất hiện đối với cái thấy không phải là con người hay đồ vật thì cần rất nhiều thời gian. Cần phải có duyên để cho các mức độ hiểu biết khác nhau sinh khởi chứ không chỉ dừng ở mức độ lý thuyết. Đừng quên là có ba mức độ hiểu biết để có thể biết rõ mình đang ở mức độ hiểu biết nào. Hiện giờ có sự liễu ngộ sự sinh diệt của thực tại không hay là chỉ đang suy nghĩ về điều ấy thôi? Nhưng vì điều ấy là thực cho nên nó có thể được chứng ngộ – một ngày nào đó, nhưng không thể mong đợi đối tượng của trí tuệ sẽ là gì. Cũng tương tự như việc ai biết được khoảnh khắc tiếp theo là gì đây? Cái có thể được hiểu thì chỉ là bây giờ mà thôi. Ở khoảnh khắc của cái thấy, ta học về cái thấy được tạo duyên và về đối tượng được thấy. Ở khoảnh khắc của cái nghe chỉ có cái nghe, nó không phải là cái thấy. Và ta học về yếu tố kinh nghiệm âm thanh, không phải ai cả mà chỉ là một yếu tố được tạo duyên để sinh khởi và để nghe. Nếu không có nhĩ căn – cái có thể tiếp xúc với âm thanh, nếu không có âm thanh, không có nghiệp tạo duyên cho khoảnh khắc của cái nghe sinh khởi, sẽ không thể có cái nghe. Nhưng ở thời điểm nghiệp trổ quả để tạo duyên cho cái nghe sinh khởi, không ai có thể ngừng âm thanh sinh khởi, như bây giờ đây, chính bây giờ, các bạn có thấy không? Ta có thể hiểu điều Đức Phật nói, rằng, hiểu đúng về mặt tư duy trong hiện tại thể tạo duyên cho khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp một thực tại ở một thời điểm trong tương lai. Vì lẽ ấy, Đức Phật đã giảng về các thực tại và các duyên cho sự sinh khởi của từng thực tại. Có ba mức độ của hiểu biết và hiện giờ mức độ của hiểu biết là gì ? Chúng ta cần phải rất trung thực, ở mức độ nào?
HV 18: Mức độ lý thuyết
Achaan: Khi mức độ hiểu biết về mặt tư duy đủ vững vàng, nó có thể tạo duyên cho khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp, chứ không phải là do ta muốn kinh nghiệm điều ấy. Khi chúng ta theo những phương pháp khác nhau và cố gắng ghê gớm, điều ấy chứng tỏ không có hiểu biết thực sự về Giáo lý, và lại quên về vô ngã. Kết quả đúng cần phải tới từ nhân đúng, duyên đúng. Khi có một vài hiểu biết hiện giờ, rồi tiếp tục nghe, tiếp tục hiểu nó có thể tạo duyên khiến hiểu biết lớn mạnh từng bước một. Với hiểu biết, cũng thêm sự trung thực để hiểu rằng hiểu biết này vẫn chưa phải là hiểu biết trực tiếp về thực tại. Trí tuệ không thể sai. Vậy cái gì và khi nào là sự khác biệt giữa hiểu biết ở mức độ tư duy và hiểu biết trực tiếp? Sẽ có sự bắt đầu của một mức độ hiểu biết cao hơn, không chỉ là hiểu biết ở mức độ tư duy nữa. Nếu không có cái hiểu một cách rõ ràng Bát chánh đạo là gì, sẽ có ý niệm về ai đấy đang cố gắng làm một cái gì đấy, đi theo một con đường tắt. Nhưng con đường tắt đó chính là tà kiến, vì làm gì có con đường tắt để có thể hiểu được thực tại hiện giờ đang thấy và cũng đang sinh diệt? Bởi vì sự dính mắc về tự ngã vẫn còn chưa được tận diệt từng bước một hiện giờ. Vì vậy nó vẫn ở đó và nó đeo bám ta suốt dọc con đường, đó là một ông chủ lớn.
Vì vậy trí tuệ bao giờ cũng là trí tuệ hiểu về thực tại đang xuất hiện hiện giờ, từng chút một, kể cả khi hiểu biết vẫn chưa phải là cái hiểu trực tiếp. Khi nó đủ vững chãi, nó sẽ tạo duyên cho trí tuệ trực nhận, nhưng ta không thể lên kế hoạch và biết trước được. Nếu không quán triệt điều này thì ý niệm về ngã sẽ hướng chúng ta đi theo những con đường khác mà không biết cái gì đang ở đó. Nhưng khi có đủ duyên cho chánh niệm trực tiếp sinh khởi, trí tuệ sẽ hiểu tính chất của chánh niệm khi ấy, và nó cũng biết là khoảnh khắc ấy rất khác với khi chỉ là hiểu về mặt lý thuyết mà thôi. Và những cái đó đều là trí tuệ, nó không bao giờ sai cả, bởi vì nó hiểu và nó cũng biết được nhân duyên của mọi thứ. Nó biết là khoảnh khắc của hiểu biết trực tiếp khác với hiểu biết ở mức độ tư duy. Và nó sẽ biết rõ lúc nào thì nó đang phát triển và lúc nào thì không. Không phải luôn luôn có được cái hiểu trực tiếp trong một ngày, một tháng, một năm, và có thể trong cả một kiếp sống. Do vậy, chúng ta thấy được tầm quan trọng của các ba la mật kham nhẫn, chân thực, và quyết định, thực sự thấm nhuần rằng chẳng có cái gì khác ngoài thực tại hiện giờ có thể được xuyên thấu và hiểu. Nếu không, dính mắc và tà kiến sẽ quay lưng lại khoảnh khắc hiện tại. Nếu kham nhẫn không phải là kham nhẫn với sự phát triển hiểu biết, nó sẽ là gì đây? Lúc này, kham nhẫn là kham nhẫn để lắng nghe, bởi vì hôm nay có thể có một số hiểu biết và ngày mai thì có thể có thêm một chút hiểu biết nữa. Và đó là cách duy nhất để tận diệt sự dính mắc vào ý niệm về ngã, chỉ khi có khoảnh khắc hiểu về thực tại.
Ta nói về mơ và không mơ. Hiện giờ có phải là một giấc mơ không? Trong một giấc mơ, có con người, cảnh vật và cả những tình huống, đúng không? nhưng khi ấy không có sự xuất hiện của đối tượng thị giác. Ta có thể nói khi nào là một giấc mơ và khi nào thì không, hay là nói nó chỉ giống như một giấc mơ. Ở khoảnh khắc đối tượng thị giác xuất hiện, khi ấy có cái thấy, nếu như không có cái thấy thì đối tượng thị giác sẽ không thể xuất hiện. Trong giấc mơ thì không có cái thấy, đối tượng thị giác, cái nghe, âm thanh, mà chỉ có suy nghĩ về cái đã được kinh nghiệm mà thôi. Nó cũng giống hệt như bây giờ trừ điểm khác biệt là không có đối tượng của cái thấy và cái thấy.
Vậy thì có thể có thêm một chút hiểu biết rằng sau khi có cái thấy thì có suy nghĩ. Nếu không có sự suy nghĩ về hình dạng về tướng của cái đã xuất hiện, sẽ không thể có ý niệm nào về những gì được thấy hiện giờ. Nhưng có một thực tại không phải là pháp dẫn đầu trong việc kinh nghiệm một đối tượng, nhưng nó sinh khởi với mỗi khoảnh khắc kinh nghiệm đối tượng. Nó nhớ cái được thấy, nó nhớ âm thanh đã được nghe và về sau nó có thể nghĩ rất nhiều về đã được kinh nghiệm qua mắt và qua tai, nhưng nó không phải là khoảnh khắc thực sự của cái thấy, vậy thì cái thấy không phải là tự ngã, suy nghĩ cũng không phải là tự ngã, bất cứ cái gì xuất hiện cũng đều không phải là tự ngã, nó không phải là một thứ tồn tại kéo dài, và đấy là cách hiểu được vô ngã, không có ai ở trong đấy cả.
Học viên 20: Trong những khoảnh khắc không có cái nghe, không có cái thấy, không có cái ngửi, nếm, xúc chạm thì đó là khoảnh khắc của giấc mơ phải không ạ?
Achaan: Mơ là suy nghĩ, và hiện giờ có suy nghĩ. Nhưng sự khác biệt là có những khoảnh khắc của cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm trước khi có suy nghĩ về nó. Chúng ta có thể mơ về bất cứ thứ gì, nhưng khi chúng ta thức dậy thì những thứ dường như có thực trong giấc mơ ấy đã biến đi đâu rồi? Hệt như vậy, cả cuộc đời chỉ là những giấc mơ với những cái thấy và cái nghe xen kẽ giữa chúng mà thôi. Cái thấy được tạo duyên để thấy, nó diệt đi không bao giờ quay lại nữa. Vậy thì làm sao ta có thể tìm được cái thấy đã hoàn toàn diệt đi đây? Cũng như vậy, ta không thể tìm thấy những gì thuộc về giấc mơ một khi ta thức dậy. Những cái gì đã xảy ra trong cuộc sống này sẽ không còn được nhớ khi mà một kiếp khác bắt đầu.
Bạn đã tới từ đâu trên thế giới này? Cái gì đã đưa bạn đến thế giới này, tới chính thế giới này chứ không phải thế giới khác, với tư cách chúng sinh này chứ không phải chúng sinh khác? Những gì xảy ra trong cuộc sống này khác biệt với mỗi người. Nếu như không có duyên thì không gì có thể sinh khởi để trở thành cuộc sống. Khi không có hiểu biết về thực tại, sẽ luôn là “tôi”, nhưng “tôi” ở đâu? Cái thấy sinh và diệt, cái nghe sinh rồi cũng diệt, vậy thì “tôi” nằm ở đâu?
Ở khoảnh khắc của cái thấy này, liệu có nên hiểu biết về những thứ khác hay không? Nếu như không có cái thấy và nhãn căn, sẽ không thể có cái được thấy. Nhãn căn là một thực tại nhưng nó có xuất hiện và được biết hiện giờ không? Trong tất cả thực tại, chỉ có một thực tại có thể được thấy mà thôi. Ta nghe trong bóng tối hay là không? Kể cả khi ta nhắm mắt thì vẫn có cái nghe, vậy thì cái nghe là ở trong bóng tối; ngửi, nếm, xúc chạm trong bóng tối, suy nghĩ trong bóng tối. Bản chất của thế giới là rất tối, chỉ duy nhất ở những khoảnh khắc của cái thấy thì có ánh sáng mà thôi, nó có xuất hiện như nó là hay không? Đây đang là mức độ của hiểu biết về mặt lý thuyết, nhưng khoảnh khắc thực sự kinh nghiệm nó sẽ là khoảnh khắc của sự liễu ngộ, và khi đó sẽ chấm dứt ý niệm về tự ngã. Khi ấy, cái thấy xuất hiện chỉ là cái thấy, đối tượng thị giác xuất hiện chỉ là đối tượng thị giác, cái nghe xuất hiện chỉ là cái nghe, âm thanh xuất hiện chỉ là âm thanh, v.v. Chỉ có một đặc tính xuất hiện ở một thời điểm mà thôi. Trí tuệ hiểu được cái gì đã tạo duyên cho chính nó: bắt đầu từ sự phát triển hiểu biết về những thực tại hiện giờ, ý niệm về ngã được tận diệt một cách rất từ từ, không phải bởi kinh nghiệm trực tiếp mà bằng sự suy xét; sự suy xét ấy sẽ dẫn tới sự xả ly với bất cứ cái gì xuất hiện, và bây giờ nó đang phát triển.
Những cái đó được Đức Phật goi là hành uẩn, nhưng mọi người lại có cái ý niệm là có một cái ngã làm thay công việc của hành uẩn, đó chính là cái hiểu sai và con đường sai. Hiểu biết sai, tà kiến sẽ không thể hiểu được con đường chánh đạo. Nhưng khi có chánh kiến và trí tuệ, chúng sẽ biết được đâu là con đường chánh đạo và đâu là con đường phi đạo và rằng bản thân hiểu biết đúng cũng không phải tự ngã. Có năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn, không có cái nào gọi là ngã uẩn cả, nhưng dường như nó lại là thực do bởi tà kiến. Tà kiến là một thực tại không thể nào hiểu đúng rằng khoảnh khắc này không có cái ngã nào ở đó. Và nó là hành uẩn, không phải là thọ uẩn, thức uẩn, sắc uẩn, tưởng uẩn
Theo nghĩa đen, từ khandha là không gian, hư không. Âm thanh chưa sinh khởi thì không xuất hiện. Nhưng khi nó xuất hiện và là đối tượng của nghe, nó chỉ xuất hiện lúc ấy mà thôi, rồi cái kinh nghiệm và âm thanh cùng biến mất, như chưa từng có gì, giống như hư không. Vậy chúng ta dính mắc vào gì đây? Vào những thứ sinh và diệt và không bao giờ quay lại, và chúng ta vẫn tin rằng có cái gì đó trường tồn ở đấy. Với hiểu biết đúng, trí tuệ có thể phát triển một cách từ từ cho đến khoảnh khắc của sự giác ngộ mà không có sự mong cầu. Bất cứ khi nào có sự mong cầu, khi ấy có sự dính mắc. Khi chúng ta nghĩ rằng mình đang ngồi thiền, chẳng phải có sự mong cầu một cái gì đó hay sao? Và sẽ không có cái hiểu về những gì đang xuất hiện hiện giờ.
Những người ở thời Đức Phật có thể giác ngộ trong khi nghe Pháp giảng về các thực tại đã có thể xuyên thấu bản chất của thực tại ấy bởi mức độ tuệ giác rất phát triển. Nếu không có sự lắng nghe Giáo lý một cách cẩn thận và tôn kính liệu có thể có thêm hiểu biết rõ dần hơn về những gì đang xuất hiện hiện giờ không? Nghe để bớt đi sự dính mắc về những gì xuất hiện, để hiểu hơn về những gì đang xuất hiện, nếu không thấm nhuần sự vô ngã của tất cả các thực tại, sẽ không có duyên để cho hiểu biết trực tiếp về thực tại sinh khởi. Và trí tuệ luôn biết rõ sự khác biệt giữa khoảnh khắc có kinh nghiệm trực tiếp về thực tại và khoảnh khắc không có. Một số người nói tôi không thể nói về điều ấy vì nó vượt qua ngôn từ. Như vậy không đúng, vì Đức Phật đã dùng chính ngôn từ để dạy về điều ấy, nếu không sẽ không ai có thể hiểu một cách đúng đắn về những gì xuất hiện hiện giờ. Đừng chỉ tự nghĩ theo cách này hay cách kia, nói “do duyên” mà không biết cụ thể là những duyên nào, duyên để cho cái thấy sinh khởi không phải là duyên để cho trí tuệ sinh khởi, bởi vì trí tuệ không phải là cái thấy.
HV 20: Có phải đối tượng của tâm tham là những khái niệm về những thực tại vừa sinh và diệt đấy hay không?
Achaan: Tâm tham đã sinh khởi trước khi khái niệm về thực tại đó sinh khởi.
Sarah: Chẳng hạn, sau khi có cái thấy sinh khởi, trước khi biêt đó là gì thì đã có sự dính mắc rồi, nó nhanh lắm.
Tôi muốn nói thêm một chút về quan sát. Như chúng ta đã đề cập, mặc dù không cố ý làm gì đặc biệt, và rất tự nhiên, nhưng khi có sự suy xét lặp đi lặp lại, trí tuệ có thể sinh khởi về sau. Nhưng khi có ý niệm là có cái gì đấy để làm, thì lại chứng tỏ không có hiểu biết đúng về thực tại là vô ngã. Khi đó có ý niệm về một cái ngã có thể chủ động làm để đi đến kết quả, và như vậy sẽ không thể dẫn tới hiểu biết. Vì vậy, hiểu biết đúng phải có mặt trước tiên. Bất cứ sự phát triển tâm trí nào đều bắt đầu với hiểu biết đúng, chứ không phải là làm một cái gì đó với suy nghĩ rằng nó sẽ đem tới hiểu biết đúng.
Achaan: Vậy thì chúng ta cần phải hiểu một cách rất kỹ lưỡng, thế nào là thiền?
Vị sư 1: Đó là cái hiểu biết về bất cứ cái gì đang xuất hiện
Achaan: Cái hiểu thì hiểu cái xuất hiện hiện giờ. Khi chúng ta nghe Pháp, không phải ai cũng hiểu, nhưng ở khoảnh khắc hiểu thì đó là trí tuệ sinh khởi, không phải là đang hành thiền. Nghe thì chỉ là nghe thôi, không phải là hành thiền đúng không? Vậy thiền là gì nào? Nếu như chúng ta không biết ý nghĩa của từ ấy mà chúng ta sử dụng thì làm sao ta có thể hiểu được đây?
Giống như cái thấy, chúng ta dùng từ cái thấy nhưng cái thấy là gì? Tương tự như vậy, thiền là gì? Khi nói đến cái thấy là ta nói đến khoảnh khắc kinh nghiệm cái được thấy, vậy thì thiền là gì nào?
Học viên 12: Ở trong Kinh, Đức Phật có nhắc nhiều lần về bốn chi thiền , đó là những trạng thái rất cao của các thiện tâm và sự hiểu biết, có tầm có tứ.
Achaan: Tầm-vitakka là gì? Chúng ta nói đến thiền, đến tầm thì phải hiểu từng thứ một, cũng như là hiểu về cái thấy vậy.
HV 12: Tâm sở tầm chạm vào đối tượng.
Achaan: Chạm à? Vậy bây giờ tôi sẽ nói thêm một chút: ngay sau khoảnh khắc của cái thấy thì đã có tâm sở tầm sinh khởi rồi (chứ không phải chỉ trong thiền chứng –ND)
HV 12: Mọi tâm đều sinh khởi cùng bảy biến hành tâm sở.
Achaan: Trong bảy tâm sở đó thì có bao gồm tầm hay không?
HV 12: Không.
Achaan: Ở khoảnh khắc của cái thấy thì chỉ có cái thấy kinh nghiệm đối tượng, chỉ có một khoảnh khắc như vậy thôi, và nó rất khác với các khoảnh khắc khác, vì đó là khoảnh khắc chính xác của sự thấy, sau đấy nó diệt đi, tâm tiếp theo sau nó sinh khởi với tầm chạm vào đối tượng. Ở khoảnh khắc của cái thấy, rất khó có thể thấy được cái thấy là vô ngã. Kể cả khi bây giờ cái thấy đang thấy, làm sao có thể hiểu được trực tiếp về bảy tâm sở sinh khởi cùng với cái thấy đây? Trong bảy biến hành tâm sở có tâm sở xúc, vậy liệu có thể có cái hiểu về tâm thấy hay về những tâm sở đồng sinh với tâm ấy hay chưa? Những lời dạy về các tâm và tâm sở đều để chỉ cho chúng ta rằng, không có một cái ngã nào ở trong đó cả, chỉ có tâm, tâm sở và sắc mà thôi. Và khi tuệ giác sinh khởi, nó có thể lấy bất cứ cái gì làm đối tượng, hoàn toàn không có sự chuẩn bị nào hết, hiện giờ cái thấy có là đối tượng của hiểu biết trực tiếp hay không?
HV 12: Như Bà vừa nói, tâm và tâm sở Đức Phật có dạy và mình có nghe có học thì cũng chỉ là để hiểu thôi, chứ kinh nghiệm thì rất là khó. Chính vì thế con có nói là cần có sự hỗ trợ của định.
Achaan: Có thể có cái hiểu về câu chuyện về các thực tại, nhưng chưa thể có cái hiểu biết trực tiếp về thực tại là cái thấy. Hiện giờ, chúng ta đang nói về tâm sở tầm thì cần phải hiểu thêm về tâm sở tầm là gì. Nó không phải là một ai đấy mà là một thực tại. Đó là một thực tại, là một trong các tâm sở sinh khởi cùng với các tâm. Hiện giờ có tầm không? Nếu không có tâm nào thì sẽ không có cái thấy, nghe ,ngửi. Đức Phật dạy nhiều về các thực tại như vậy là để thấy rằng không có tự ngã nào trong đó. Các tâm sở tầm sinh khởi sau khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe có thể là vipaka-quả hoặc có thể là thiện hay bất thiện hoặc duy tác. Ở khoảnh khắc của suy nghĩ thì có tầm không?
HV 12: Có ạ.
Achaan: Nó có thể nghĩ về bất cứ thứ gì đúng không? Một cách đúng đắn hay là sai lầm? Làm thế nào để ta biết được nó nghĩ được một cách đúng đắn hay sai lầm đây?
HV 12: Nhờ có hiểu biết đúng
Achaan: Nếu như không có hiểu biết đúng thì sẽ không thể có tâm sở tầm là thiện. Ở khoảnh khắc của sự suy nghĩ, tâm sở xúc tiếp xúc với đối tượng và tâm sở tầm chạm vào đối tượng ấy. Hiện giờ tâm sở tầm có chạm vào cái thấy không?
Nếu không có trí tuệ thì liệu tầm có thể chạm vào thực tại là cái thấy không? Chánh tư duy (chi thứ hai của Bát chánh đạo, cũng là tâm sở tầm) luôn phải sinh khởi cùng với chánh kiến.
Sarah: Có một câu hỏi của Lukas, một cư sỹ người Ba- lan. Trước khi đọc câu hỏi, tôi sẽ giải thích một số thuật ngữ được nói trong đó, aramana có nghĩa là cảnh, ví dụ như: cái được thấy là cảnh của cái thấy; một thuật ngữ nữa là upanissaya nghĩa là cận y và từ paccaya có nghĩa là duyên; aramano upanisaya paccaya là cảnh cận y duyên. Câu hỏi là:
“Tại sao sân không phải được tạo duyên bởi cảnh cận y duyên, bởi vì cứ thấy một người Hippi thì tôi không thích, bất cứ khi nào thấy người theo phong cách Hippy thì lại có sân sinh khởi và điều này lại được tích lũy thêm nữa. Vậy tại sao chỉ có tham mới được tích lũy theo cảnh cận y duyên, chứ không phải sân được tích lũy theo duyên này?”
Achaan: Khi chúng ta thích cái gì thì chúng ta có muốn có thứ đó hay không? Khi chúng ta ghét cái gì thì chúng ta có muốn có thứ đó hay không? Trong ngày luôn có những thứ mà chúng ta muốn có, cái mà chúng ta thích, và nó sẽ tạo duyên cho việc cố gắng để có được những cái đó. Đó là ý nghĩa của cái gọi là aramano upanisaya paccaya– cảnh cận y duyên, nó là sự kêt hợp của hai loại duyên và cảnh duyên và cận y duyên.
Nếu như tôi cho bạn cái này thì bạn có lấy không? Chúng ta chỉ luôn muốn có cái mà chúng ta thích mà thôi, kể cả khi ăn cũng vậy. Việc nghe Pháp và suy xét về Pháp có phải là cảnh cận y duyên của bạn hiện giờ hay không? Bất cứ cái gì mà chúng ta làm để biết hay để hiểu v.v… thì đều là cảnh cận y duyên.
Sarah: Khi ấy thì nó có thể là cảnh duyên cho Trí tuệ ở khoảnh khắc đó.
Người phiên dịch: Có một câu hỏi từ một vị sư. Tại sao sự dính mắc ở khoảnh khăc hiện tại cũng là pháp chân đế?
Achaan: Vậy thế nào là pháp chân đế?
Người phiên dịch: Bản thân dính mắc cũng là pháp chân đế.
Achaan: Bất cứ cái gì cũng là pháp chân đế, nó sinh và diệt.
Jonathan: Nếu như có cái hiểu về thực tại đó chỉ là thực tại chân đế mà thôi, thì sẽ không có sự dính mắc, cho nên chỉ khi có hiểu biết đúng về thực tại đó thì mới không có sự dính mắc mà thôi.
Sadhu sadhu sadhu!
Pháp đàm sáng 06-09-2013 tại Vũng tàu
13/ Pháp đàm buổi sáng ngày 06.09.2013 tại Vũng Tàu.
Vị sư 1: Kính thưa Achaan, sau pháp đàm bốn ngày tại Sài Gòn vừa qua, có vài đạo hữu có hỏi, thường các vị đó có đi hành thiền ở Miến điện, các trường thiền dạy các vị là tu tập làm sao để giảm bớt tâm bất thiện, tăng trưởng tâm thiện và thấy nó có giá trị thiết thực, rât có ích trong đời sống, Vậy sao Achaan chỉ nói về cái thấy,cái nghe, sự xúc chạm, thì nó có lợi ích gì trong cuộc sống hàng ngày? Mong Achaan hãy chia sẻ thêm điểm này để mọi người có thêm đức tin.
Achaan: Hiện giờ có ai không thấy không? Vậy việc nói về điều ấy chẳng có ích gì hay sao? Hay là cần phải hiểu về điều khác? Chúng ta có cần nói về những gì khác ngoài những thứ đang xuất hiện hiện giờ hay không? Nếu chúng ta không nói về những thực tại đang sinh khởi, liệu có thể có cái hiểu rằng chúng là vô ngã hay không? Toàn bộ Giáo lý của Đức Phật đều nói về vô ngã. Không phải chỉ đơn giản nói rằng bây giờ tôi đã hiểu về vô ngã rồi. Thế còn cái thấy thì sao, cái thấy có phải là tôi không? Nếu không thẩm sát tất cả các kinh nghiệm hiện hữu thì ý nghĩa của việc nghiên cứu Giáo lý là gì? Thay cho việc hiểu cái đang xuất hiện hiện giờ, ta cứ hi vọng hiểu những thứ đang không xuất hiện. Nếu như bạn cứ cố gắng hiểu những thứ khác với cái đang xuất hiện thì điều ấy là không thể, bởi vì điều đó vẫn chưa xảy ra. Khi đọc giáo lý, chúng ta thấy rằng toàn bộ Giáo lý đều nói đến cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, và toàn bộ những thứ đó chính là cuộc sống. Nếu không thì cuộc sống là gì đây? Chúng ta có thể biết những thứ ngoài những gì mà chúng ta gọi là cuộc sống hay không? Nếu chúng ta không nghiên cứu Giáo lý từng từ một, một cách rất kính trọng và cẩn mực, thì làm sao có thể hiểu ai là Đức Phật đây? Chẳng phải Đức Phật biết về sự thực ở khoảnh khắc này hay sao? Đức Phật biết về tất cả, kể cả cái đang có thực xuất hiện hiện giờ và chỉ hiện giờ mà thôi. Đó là câu trả lời của tôi.
Vị sư 1: Cảm ơn Achaan
Achaan: Hiểu được cái thấy, suy nghĩ, cái nghe hiện giờ có dễ không? Chính vì thật không dễ có thể hiểu được các thực tại ấy, nên cần đến nhiều kiếp , thậm chí nhiều a tăng kỳ kiếp để có thể hiểu rằng cái thấy, cái nghe chỉ là các thực tại, sinh và diệt, không trường tồn. Dù chúng ta nghiên cứu gì đi nữa, toàn bộ Giáo lý vẫn là về hiện giờ, về khoảnh khắc hiện tại, mỗi một từ đều là như vậy. Vậy hiện giờ bạn muốn hiểu gì đây? mỗi từ đều liên quan đến chính bây giờ. Chúng ta được nghe nhiều – ở Thái lan, Miến điện, khắp thế giới – về từ thực hành, nó có nghĩa là gì và nó là gì? Hiểu biết đúng phải hiểu nghĩa của từ đó là gì, nếu không chỉ là suy nghĩ rằng mình đã hiểu nó mà thôi. Vậy thực chất nó là gì đây? Thực hành chính là sự hiểu biết đúng về bất cứ những gì xuất hiện ở bất cứ thời điểm nào. Nếu không phải như vậy thì đó sẽ không còn là Giáo lý của Đức Phật, bởi vì vào khoảnh khắc của cái thấy sẽ có vô minh.
Nếu Đức Phật ngồi ở đây thì Đức Phật sẽ nói gì đây? Liệu có ai đó sẽ hỏi Đức Phật nên thực hành như thế nào mà không có hiểu biết về mục đích của thực hành hay không? Chúng ta tới đây và có buổi pháp đàm này để có được hiểu biết về cái đang xuất hiện, chứ không phải về cái chưa xuất hiện. Vậy thì thực hành là gì? Có phải đó là tập một số bài tập nào đó, viết, đọc hay một cái gì đó chăng? Làm gì đó hay là thế nào? Vậy thế nào là sự thực hành?
Học viên 16: Chúng ta phải điều phục tâm và để điều phục tâm chúng ta phải ngồi thiền. Cái cuối cùng mà chúng ta đến là cái rỗng lặng.
Achaan: Vậy thì chúng ta sẽ chỉ nói từng từ một thôi để có thế hiểu được rõ. Liệu chúng ta có thể kiểm soát hay điều phục bất cứ cái gì hay không?
HV 16: Con thấy rằng, con đã thực hành trong một năm qua, con đã bắt đầu kiểm soát được phần nào tâm con bằng chính sự điều phục, không để nó khởi lên những diễn biến xấu.
Achaan: Khi không có hiểu biết về cái đang xuất hiện hiện giờ, khi ấy có phiền não không?
HV 16: Con hiện nay không còn thù hận ghét với ai và yêu thương mọi người.
Achaan: Trước hết tôi muốn biết, tâm là gì đã?
HV 16: Con hiểu tâm là mọi cái ý nghiệp mà mọi vọng tưởng do suy nghĩ.
Achaan: Khi không suy nghĩ thì có tâm không?
HV 16: Có ạ.
Achaan: Vậy ở khoảnh khắc không có suy nghĩ thì tâm khi ấy là gì?
HV 16: Chính là tâm chân như, tâm rỗng không.
Achaan: Nó ở đâu?
HV 16: Nó nằm ngay trong chính mình. Mình được hòa tan vào vũ trụ, lúc đó giữa ta và vũ trụ không còn phân hai.
Achaan: Vũ trụ là gì?
HV 16: Bằng những khoảnh khắc ngồi thiền con cảm thấy quanh ta là vũ trụ, chứ con không nghĩ cái gì xa xôi.
Achaan: Vũ trụ cứng hay mềm?
HV 16: Thực sự nó là mềm như không khí.
Achaan: Cái này mềm thì có là vũ trụ không?
HV 16: Không phải. Mỗi cái này chỉ là một thành phần của vũ trụ.
Achaan: Thế còn những thành phần khác của vũ trụ là gì?
HV 16: Đất, nước, gió lửa, không khí.
Achaan: Hiện giờ có đất không?
HV 16: Có
Achaan: Đất có thuộc về bạn không?
HV 16: Có
Achaan: Nó có sinh khởi không?
HV 16: Nó sinh và diệt.
Achaan: Làm thế nào để kinh nghiệm được cái đó?
HV 16: Mỗi một con người tự mình chứng thực điều đó, rất khó diễn giải
Achaan: Đất có thể được kinh nghiệm không?
HV 16: Có
Achaan: Vậy thì hiện giờ cái mà bạn gọi là đất mà đang được kinh nghiệm thì đó là gì?
HV 16: Chính là tâm của ta
Achaan: Ý của bạn là tâm có tính chất cứng hay sao? (Vì đất có tính chất cứng, mềm –ND)
HV 16: Tâm nó mềm.
Achaan: Cái mà ta gọi là mềm thì về bản chất cũng là ít cứng mà thôi.
HV 16: Tâm nó uyển chuyển và nó phù hợp với mọi hoàn cảnh.
Achaan: Hiện giờ đang có đặc tính cứng xuất hiện không?
HV 16: Có
Achaan: Cái gì đang kinh nghiệm đặc tính cứng?
HV 16: Cái cứng của con bây giờ là những chướng ngại đang đến với con. Nó mới chính là cái cứng và con lại phải dùng nó để chuyển hóa nó thành mềm.
Achaan: Hiện giờ ở khoảnh khắc của sự xúc chạm có hai loại thực tại, có đúng không?
HV 16: Đúng ạ.
Achaan: Thứ nhất là đặc tính cứng và thứ hai là cái kinh nghiệm đặc tính cứng. Nếu không có đặc tính cứng thì cái kinh nghiệm đặc tính cứng sẽ không thể sinh khởi. Vậy thì, không có ai cả ở khoảnh khắc kinh nghiệm đặc tính cứng, chỉ có hai thực tại: thực tại là đặc tính cứng và thực tại khác là cái kinh nghiệm đặc tính cứng. Cái cứng thì không biết gi cả, phải có một thực tại khác có tính chất là khi sinh khởi nó kinh nghiệm một cái gì đó kinh nghiệm nó. Khi xuất hiện đặc tính cứng thì đặc tính cứng là cái được kinh nghiệm. Đặc tính cứng chỉ xuất hiện ở khoảnh khắc có sự xúc chạm. Có phải là bạn chạm hay bạn cứng không? Có phải cái cứng hay sự xúc chạm đó là bạn hay không?
HV 16: Chỉ là xúc chạm
Achaan: Nhưng đặc tính cứng thì xuất hiện ở khoảnh khắc của sự xúc chạm. Vậy khi ấy có cái kinh nghiệm đặc tính cứng. Vậy bạn là người kinh nghiệm đặc tính cứng hay là đặc tính cứng được kinh nghiệm là bạn?
HV 16: Cả hai.
Achaan: Vậy thì cái cứng là bạn có phải không?
HV 16: Phải
Achaan: Vậy cái bàn (có đặc tính cứng) có phải là bạn không?
HV 16: Không
Achaan: Tại sao cái micro thì là bạn (HV 16 đang cầm micro) mà cái bàn thì không phải là bạn?
HV 16: Cái micro cũng không phải là con.
Achaan: Không có cái gì có thể gọi là mình, nhưng kinh nghiệm đang xuất hiện thì rất thực, đúng không? Vậy, ở khoảnh khắc có kinh nghiệm cái cứng đó, đó không phải là bạn. Dù là ở khoảnh khắc của sự xúc chạm, cái thấy, cái nghe hay suy nghĩ cũng vậy. Và đó chính là Giáo lý của Đức Phật: không có một ai cả, chỉ có cái kinh nghiệm và cái được kinh nghiệm, dù ở bất cứ thời điểm nào. Và bây giờ, cái thấy thì không phải là cái nghe, cũng không phải là suy nghĩ. Không có ai ở trong căn phòng này đúng không? Chỉ có cái kinh nghiệm và cái được kinh nghiệm đang xảy ra từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Và đó chính là lời dạy của Đức Phật về giây phút hiện tại. Đó có phải là sự thực hành của giáo lý Đức Phật không?
Chỉ nghe thôi có đủ không? Nếu không có cái hiểu hiện giờ, liệu có thể có cái hiểu thêm về sau được hay không? Mức độ hiểu biết xuất phát từ việc nghe, suy xét và hiểu được gọi là pariyati- pháp học trong tiếng Pali, và chỉ có Giáo lý của Đức Phật mới được gọi là pariyati. Khi chúng ta nghe những lời giải thích, chẳng hạn về cấu tạo của cái bàn này, đó không phải là giáo lý của Đức Phật. Đức Phật dạy về cái có thực hiện giờ, chỉ là cái kinh nghiệm và cái được kinh nghiệm mà thôi. Suốt cả ngày và suốt cả cuộc đời vẫn chỉ là vậy. Nhưng khi không có hiểu biết đúng, ngay lập tức sẽ có ý niệm “tôi thấy”, “tôi nghe”, “tôi suy nghĩ”. Nếu không có Giáo lý của Đức Phật, ai biết được rằng không có tôi? Luôn vẫn là tôi nghĩ, tôi thấy. Nhưng trên thực tế chỉ có cái kinh nghiệm và cái được kinh nghiệm mà thôi.
Trong cuộc sống hàng ngày thì cái gì được kinh nghiệm đây? Nếu không có trí tuệ hiểu biết đúng thì sẽ luôn luôn là một cái gì đấy, chẳng hạn, ở khoảnh khắc này của cái thấy, cái gì được thấy nào? Bất cứ khi nào có cái thấy thì phải có cái được thấy. Bản thân cái thấy thì không có hình dạng, không mùi, không vị, không cứng, cũng không mềm. Không ai có thể thấy được hình dạng của cái đang kinh nghiệm đối tượng hiện giờ. Nó chỉ sinh khởi để kinh nghiệm đối tượng được kinh nghiệm mà thôi. Liệu chúng ta có nên dùng thuật ngữ dài là “cái kinh nghiệm” hay không? Bây giờ trở đi, ta có thể thay thuật ngữ đó bằng một từ khác: tâm-citta. Ở Thái- lan, chúng tôi sử dụng rất nhiều thuật ngữ đến từ tiếng Pali, chúng tôi cũng dùng từ citta, nhưng nếu không dựa vào Giáo lý, cũng sẽ không thể biết được nó là gì, nó ở đâu và khi nào, mà chỉ có một ý niệm rất mù mờ về nó mà thôi, chỉ ở mức độ nghĩ là tôi có tâm, cái mà kinh nghiệm bất cứ thứ gì từ khi sinh ra đến khi chết đi. Nhưng khi được hỏi tâm là gì thì không ai có thể nói thêm gì hơn. Nhưng Đức Phật đã dạy chúng ta về mọi loại tâm. Cái thấy có sinh và diệt không? Chúng ta có thể nói rằng cái thấy là một loại tâm không? Nó khác với cái nghe, cái nghe thì lại là một loại tâm khác. Bất cứ cái gì sinh khởi cũng cần những duyên tương ứng để cho chúng sinh khởi. Cái thấy thì không thể sinh khởi nếu không có nhãn căn, mà chúng ta vẫn gọi là mắt. Nhưng ngay cả như vậy, mắt có khác với cái thấy không? bởi vì bản thân mắt không thể thấy. Nhưng nếu không có mắt thì cái thấy sẽ không thể sinh khởi. Mắt có thuộc về ai không? Câu trả lời là gì?
Jonathan: Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ nghĩ mắt của tôi.
Achaan: Chúng ta có mắt hay không? Tất cả mọi người sẽ nói là tôi có mắt, nhưng không ai biết được mắt sinh khởi như thế nào cả. Cái xuất hiện hiện giờ sinh khởi là bởi do duyên. Để có thể hiểu cuộc sống là gì thì cần phải rất nhiều thời gian. Chính vì thế Đức Phật đã phải thuyết giảng trong 45 năm. Nếu trí tuệ dễ phát triển như là đơn giản chỉ thực hành thôi thì Đức Phật đã không cần nhiều thời gian đến như vậy để dạy, Đức Phật biết được căn cơ của tất cả chúng sinh. Như bây giờ đang có việc nói về cái thấy, đó cũng vẫn chưa phải là khoảnh khắc kinh nghiệm cái thấy chỉ là một thực tại sinh khởi để kinh nghiệm. Sau khi chúng ta đã nghe rất nhiều về cái thấy, hầu hết trong ngày chúng ta quên mất sự thực cái thấy là gì ở khoảnh khắc của cái thấy. Vì vậy chỉ mới nghe về cái thấy có một lần, hai lần, hay 100 lần thì vẫn chưa đủ đâu, mà cần nghe cho đến khi hiểu biết trở thành sacca nana, để có trí tuệ trực nhân sinh khởi thực sự hiểu rằng cái thấy không phải là tự ngã. Khi hiểu biết nhờ việc nghe được thiết lập một cách chắc chắn, nó có thể tạo duyên cho khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp cái thấy hiện giờ là vô ngã, và đây chính là sự phát triển Tuệ giác.
Khi hiểu biết về giáo lý được thiết lập một cách chắc chắn thì pariyati – pháp học có thể tạo duyên cho khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp thực tại, và khoảnh khắc đó được gọi là patipati- pháp hành, chính vì vậy, từ patipati có nghĩa là pháp hành hay là bhavana (sự phát triển tâm trí), nó khác với nghĩa mà chúng ta vẫn thường hiểu về từ “thực hành”. Hiểu biết về con đường phát triển ở mức độ lý thuyết được gọi là sacca nana. Chừng nào chưa có hiểu biết được thiết lập vững chãi, chưa thể có được patipati, khoảnh khắc của pháp hành. Cái chưa sinh khởi sẽ sinh khởi từ hiểu biết đúng. Vậy thì câu hỏi đúng không phải là làm thế nào để tôi hiểu cái thấy, vì sẽ không có cách nào để phát triển hiểu biết mà không có việc nghe và suy xét về Giáo lý. Chính vì vậy, người không nghiên cứu Giáo lý một cách kỹ lưỡng nghĩ rằng mình có thể thiền để có thể thấy được cái thấy như nó là. Họ không biết rõ là cái gì có thể là đối tượng của hiểu biết đúng. Và họ tránh không hiểu cái đang xuất hiện hiện giờ. Họ mong muốn và hi vọng hiểu một cái gì đó khác, đó chính là cái hiểu biết sai- tà kiến, với tà kiến sẽ có sự thực hành sai hay nói cách khác là Tà đạo.
Trong Tam tạng có nói đến Bát chánh đạo và Bát tà đạo, và việc đi theo con đường nào sẽ tùy thuộc vào tích lũy của mỗi người. Ở thời của Đức Phật, mặc dù Ngài còn tại thế nhưng rất nhiều người đã không đến thăm và nghe Ngài giảng pháp. Chúng ta có tích lũy là chỉ muốn đạt được cái gì đó, muốn biết, muốn kinh nghiệm, muốn giác ngộ. Nhưng Giáo lý này thì lại chỉ ra con đường của sự xả ly, không thể có sự dính mắc trong đó. Đây chính là sự khác biệt giữa những lời dạy chân chánh và những lời dạy không chân chánh, bất cứ lời dạy chân chánh nào cũng chính là những lời của Đức Phật. Còn nếu những lời dạy làm duyên cho sự dính mắc nhiều hơn, đó sẽ không phải là lời của Đức Phật. Kể cả khi chúng ta đang nghe về Giáo lý hiện giờ, ở bất cứ khoảnh khắc hiểu biết nhỏ nào thì sự vô minh cũng giảm đi. Và hiểu biết sẽ dần xả ly với những dính mắc với tà kiến, với con đường sai. Điều ấy tùy thuộc vào nơi bạn quy y hay nương tựa. Bạn quy y Tam bảo hay là quy y ai đó? Chính vì vậy chúng ta cần phải rất chân thực trong việc hiểu Giáo lý, nếu không thì Đức Phật dạy một đằng ta lại nghĩ một nẻo. Bất cứ ai quy y Phật thì cần phải nghiên cứu Giáo lý và lấy Giáo lý làm nơi nương tựa, tức là quy y Pháp. Hoặc ai đó nói rằng, tôi xin nương tựa vào Đức Phật, nhưng nếu không có sự nghiên cứu, làm sao có thể gọi là quy y Phật được đây? Điều quý báu nhất trong cuộc đời của mỗi người là hiểu biết đúng. Chúng ta sẽ không thể hiểu được cuộc sống và tất cả những gì trong cuộc sống nếu như chúng ta không nghiên cứu Giáo lý của Đức Phật. chẳng hạn bây giờ cái thấy đang sinh và diệt luôn luôn, ai biết được điều ấy nào?
Pariyati- pháp học sẽ làm duyên cho patipati-pháp hành, bởi vì nghĩa của từ patipati là tiếp cận thực tại với hiểu biết đúng cùng chánh niệm. Chánh niệm sẽ không thể sinh khởi nếu không có duyên tương ứng để cho nó sinh khởi, đó chính là sự nghiên cứu về Giáo lý một cách đúng đắn, kiên cố. Có ba mức độ của việc nghiên cứu giáo lý, thứ nhất là việc nghe giáo lý rất cẩn thận để cái hiểu về những lời dạy ấy được thiết lập một cách vững vàng. Bất cứ khi nào chánh niệm thực sự sinh khởi, nó đều đến từ sự hiểu biết được thiết lập một cách đúng đắn từ pháp học, pháp học thì làm duyên cho pháp hành, pháp hành thì làm duyên cho pháp thành. Pháp thành là sự liễu ngộ tất cả những gì xuất hiện đúng như là đã được dạy, ở bất cứ thời điểm nào, kể cả ngay bây giờ đây. Nếu không rõ điều ấy, chúng ta sẽ đánh giá thấp mức độ của Trí tuệ có thể kinh nghiệm sự sinh diệt kể cả ngay bây giờ của thực tại, và khi ấy thì chưa phải là hiểu về Giáo lý một cách đúng đắn, chưa hiểu rằng vô minh và trí tuệ là hai thực tại hoàn toàn đối nghịch với nhau. Thông thường thì bất cứ khi nào không có Trí tuệ thì sẽ có vô minh và tham ái. Nếu bây giờ đang có hiểu biết sinh khởi, thì đó không phải là bạn hay bất kỳ ai, nó được tạo duyên từ việc nghe và suy xét một cách chân chánh. Nếu ai đó muốn có được hiểu biết đúng sinh khởi mà không có duyên cho điều ấy thì sẽ không thể, không gì có thể được kiểm soát, bởi vì tất cả các pháp đều do duyên.
Học viên 17: Làm thế nào để áp dụng hiểu biết này ở nơi làm việc?
Achaan: Làm thế nào ư? Phải bằng việc nghe và suy xét thêm nữa đã, khi có câu hỏi làm thế nào thì chẳng phải đang có tham ở đó hay sao? Kể cả khi chúng ta có những hành động nhỏ bé, như giơ tay để lấy cái gì đó. rất dễ có tham ở đó rồi. Vậy hàng ngày chúng ta đừng nghĩ đến việc làm thế nào để có thêm cái này hay bớt cái kia, mà hãy nhận ra rằng chúng ta đã có nhiều vô minh đến mức nào, từ kiếp này sang kiếp khác. Chỉ có cách là được nghe và suy xét thì dần dần hiểu biết được tích lũy sẽ làm giảm bớt đi sự vô minh.
Giáo lý của Đức Phật giống như ánh sáng bừng lên từ bóng tối. Mặc dầu giờ đây đang có ánh sáng, và chúng ta có thể thấy mọi thứ, nhưng nếu không có hiểu biết thì vẫn là bóng tối. Ánh sáng của hiểu biết hiện giờ vẫn còn rất mờ nhạt đúng không? Nó sẽ sáng dần và sáng dần thêm khi có thêm hiểu biết đúng, và nó sẽ hiểu hơn và hiểu hơn nữa về bất cứ cái gì đang xuất hiện, hiểu về thực tại đúng như nó là. Chẳng hạn hiện giờ đang có cái thấy đúng không? Nếu như không có cái thấy, sẽ không có cái gì xuất hiện như hiện giờ đúng không? Đã có bao nhiêu hiểu biết về cái đang xuất hiện hiện nay đây? Một câu hỏi đơn giản thôi, về mặt thực tại thì cái gì thực sự xuất hiện đây? Hiện giờ có cái thấy và cái xuất hiện là thực tại có thể được thấy, được kinh nghiệm bởi cái thấy. Nhưng thực tại được kinh nghiệm đó là gì đây? Đó là gì nào? Hiện giờ nó đang xuất hiện nhưng mà đó là gì?
Học viên 16: Hơi thở.
Achaan: Có ai có thể nhìn thấy được hơi thở không?
HV 16: Chúng ta không thể nhìn thấy hơi thở bằng mắt nhưng có thể cảm nhận hơi thở.
Achaan: Nhưng chúng ta đang nói về cái được thấy, bởi vì hiện giờ đang có cái thấy.
Học viên 18: Với cái nhìn thì mình sẽ thấy được đối tượng khác nhau, tùy thuộc vào mình đang chú ý vào đối tượng nào. Ví dụ con đang thấy Bà.
Achaan: Bạn nhắm mắt lại, bạn có nhìn thấy tôi nữa không? Vậy thì trên thực tế thì không phải thấy một người. Cái được thấy hiện giờ có thực không?
HV 18: Có
Achaan: Nó không phải là ai cả mà nó chỉ là một thực tại có thể được thấy mà thôi. Nếu như không có cái hiểu đó thì sẽ luôn có ý niệm là tôi thấy và cái được thấy đó sẽ là một cái gì đấy, một ai đó, ý niệm như vậy thì không còn là giáo lý của Đức Phật nữa. Bất cứ cái gì sinh thì đều diệt trong khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi, một cách rất nhanh chóng. Nhưng khi nó sinh diệt như vậy, nó tạo nên ý niệm về hình dạng và những thứ khác nhau. Bởi vì sự sinh diệt của thực tại thì vô cùng vi tế nên bất cứ khi nào thực tại được thấy, sẽ có ý niệm về hình và dạng của cái được thấy. Nhưng nếu không có thực tại ấy thì cũng không có hình, dạng, và không có ý niệm về một ai đó xuất hiện, và nếu nó không xuất hiện nhanh như vậy thì cũng không thể có ý niệm về một người nào đó. Các thực tại sinh và diệt tiếp nối nhau rất nhanh nên mới có ý niệm về hình dạng như thế – điều này được nói trong Tam tạng. Nhưng thực tại có thể được thấy không phải là ai cả, nó chỉ là một yếu tố có tính chất được thấy, chẳng hạn âm thanh thì không thể được thấy, vị không thể được thấy, cảm thọ không thể được thấy, tất cả các thực tại khác không thể được thấy. Cái là thật hiện giờ thì chỉ là cái được thấy mà thôi, không có ai ở trong đó, không có một cái gì ở trong đó. Hiểu như vậy có thể bớt được sự dính mắc vào ý niệm về một ai đó, về ngã. Để có hiểu biết đúng về vô ngã thì phải có hiểu biết đúng về từng thực tại như nó là, đó là ý nghĩa của từ phát triển tâm trí, bhavana, nhưng mọi người lại hiểu nhầm bhavana thành sự thực hành. Khi có ý niệm về sự thực hành là làm một cái gì đó, đó cũng là ý niệm về tôi, do không có hiểu biết đúng về các thực tại xuất hiện từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác.
Học viên 17: Trong kinh nghiệm của tôi thì không có ai kinh nghiệm cả
Achaan: Mọi lúc ư?
HV 17: Vâng
Achaan: Không có sự lãng quên chút nào hay sao? Cái thấy sinh và diệt, vậy “ai đó” là ai đây? Khoảnh khắc có cái thấy mà không thấy được sự sinh và diệt của cái thấy thì lúc đó lại có ý niệm về tôi thấy, vậy khi coi cái thấy đó là tôi là lúc không có hiểu biết. Nhưng cái sinh khởi đã diệt đi rồi, vậy thì “ai đó” có ở đâu đây? Nhờ có việc nghe và hiểu được đúng đắn về mặt lý thuyết, điều ấy có thể làm duyên cho khoảnh khắc hiểu được rõ hơn về sự vô ngã của thực tại được kinh nghiệm, và dính mắc giảm dần. Nói rằng tôi có bớt dính mắc rồi mà không hề có hiểu biết về cái đang xuất hiện hiện giờ là rất không hợp lý.
Vị sư 1: Có phải bất cứ lúc nào không có cái hiểu về sinh và diệt thì vẫn luôn luôn có cái tôi hiện hữu trong đó, không thể nào thoát ra được?
Achaan: Chắc chắn rồi.
HV 17: Mặc dù không có cái hiểu nhưng cũng không nhất thiết là có tà kiến về ngã ở thời điểm đó.
Achaan: Đúng vậy. Có sự dính mắc với cái cốc này không?
HV 17: Không nhiều
Achaan: Đó có phải là tôi không?
HV 17: Không.
Achaan: Khi chỉ có sự dính mắc vào cái được xúc chạm mà không có ý niệm về tôi ở trong đó, thì không phải là có tà kiến ở khoảnh khắc ấy, mà chỉ có tham hay dính mắc trong đó mà thôi. Có tám loại tâm tham, trong đó có bốn tâm tham hợp với tà kiến và bốn tâm tham không hợp với tà kiến. Nhưng ở ngay khoảnh khắc kinh nghiệm, không có thời gian để nghĩ xem loại tâm đó là gì. Không cần thiết nhớ về tên của tâm đó vì cái mà ta nhớ chỉ là ngôn từ mà thôi. Khoảnh khắc có sự dính mắc với một cái gì đó chính là thời điểm để biết rằng đó chỉ là sự dính mắc, là tham mà thôi chứ không phải là tôi. Như vậy để có thể hiểu các thực tại mà chúng ta đang nói về thì không phải chỉ nghe mà thôi. Chẳng hạn như, ở khoảnh khắc của cái thấy, hiểu về cái thấy không phải là suy nghĩ về câu chuyện của cái thấy, rằng có bao nhiêu tâm sở sinh khởi với cái thấy đây. Ngược lại, đó chính là thời điểm để bắt đầu hiểu rằng đó chỉ là tính chất thấy mà thôi, điều này hoàn toàn không dễ dàng chút nào. Chẳng hạn như bây giờ cái thấy thấy nhưng chúng ta lại nghĩ đến những thứ khác. Và khi có cái hiểu đúng thì trí tuệ sẽ hiểu rằng bây giờ mới là sự khởi đầu mà thôi, vẫn chưa có kinh nghiệm trực tiếp về sự sinh diệt của cái thấy. Như vậy, câu hỏi “làm thế nào để tôi có thể” thế này hay thế kia là sự dính mắc vào ý niệm về ngã, nhưng tham ái sẽ luôn luôn ở đằng trước, đằng sau, bên cạnh mà không hề được biết.
Sarah: Theo hiểu biết đúng, ở khoảnh khắc kinh nghiệm cái thấy thì chỉ có thực tại là cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác- cái được thấy. Chúng ta bắt đầu hiểu rằng không có tự ngã nào cả mà chỉ có các pháp, và các pháp này đều là do duyên tạo và không thể có sự kiểm soát về các pháp ấy bởi một cái ngã nào hết. Khi chúng ta cố gắng kiểm soát, ta có thể có cảm tưởng rằng mình không có phiền não. Giống như một bạn đã nói ở đầu pháp đàm hôm nay là bạn không còn thấy có tham và sân, nhưng thực chất, khi ấy bạn có ý niệm về một cái tôi có thể kiểm soát được, thì đó lại là bước cản lớn nhất, mối nguy hiểm lớn nhất. Triền cái này dẫn ta trên con đường tà đạo. Cái mà chúng ta đang quan tâm ở đây là sự phát triển của con đường chánh đạo để tà kiến không sinh khởi. Đức Phật đã nói rằng, đối với sự phát triển tứ niệm xứ và Bát chánh đạo, triền cái duy nhất chính là tà kiến và vô minh.
Achaan: Và ai là người có thể diệt được tà kiến một cách tuyệt đối đây?
Ai đó trả lời: Đức Phật.
Achaan: Và các vị thánh đệ tử của Đức Phật
Ai đó hỏi: Đức Phật là ai?
Achaan: Là người hiểu biết hơn tất cả mọi người ngồi đây và toàn bộ tam giới
HV 13: Liệu có ai đạt tới điều đó không?
Achaan: Sẽ không thể nhanh chóng như vậy, phải cần đến rất nhiều a tăng kỳ kiếp để có thể phát triển các ba la mật để đạt được mức độ trí tuệ của một vị Phật, có được sự thanh cao tối thượng, lòng từ bi tối tượng và trí tuệ tối tượng để có thể dẫn dắt những người khác cũng đi đến giác ngộ. Ở khoảnh khắc có cái hiểu về sự thực của cái thấy, liệu có ý nghĩ nào về người đã dạy cho ta về điều ấy hay không? Nếu không có người đã dạy cho ta sự thực ấy thì liệu ta có thể hiểu được hay không? Đây chính là cách để hiểu Đức Phật là gì, nếu không hiểu được những điều Ngài dạy trong Giáo lý thì sẽ không thể biết được Đức Phật là ai.
HV 13: Trên thực tế vì không có một ai cả cho nên cũng không có Đức Phật, chỉ có Trí tuệ ở mức độ cao thượng đó như Achaan vừa mô tả.
Achaan: Đúng, nhưng thực tại là mức độ trí tuệ, mức độ thanh cao và từ bi đó là có thực.
Sarah: Mặc dù Achaan nói đến Đức Phật cũng như các vị đệ tử của Đức Phật nhưng đó chỉ là ngôn ngữ để giao tiếp, để giải thích cái mình đang nói tới, theo chế định, chứ không phải là về mặt tuyệt đối. Trên bình diện tuyệt đối thì không có ai cả.
Achaan: Có thể có cái hiểu sâu hơn hiểu biết ở khoảnh khắc này không? Vậy chúng ta đến đây nghe Pháp, đàm luận về Pháp để làm gì nếu như ngày mai hiểu biết cũng vẫn thế, và có cần thiết nói về những điều chúng ta chưa thể hiểu được hay không? Rất cần thiết, để có thể thấy rằng có mức độ hiểu biết nhiều hơn mức độ mà chúng ta có thể hiểu hiện giờ. Chỉ để hiểu rằng có một mức độ tuệ giác siêu việt đủ để tạo duyên cho mức độ thanh cao và mức độ từ bi vô hạn mà chúng ta gọi với ngôn từ là Đức Phật. Để biết rằng đó là thiện pháp cao nhất, tối thượng nhất. Vậy những khi nào chúng ta dùng từ Đức Phật, cái mà thực sự được nói đến chính là điều đó mà thôi. Ngay cả các vị đệ tử lớn của Đức Phật cũng không có mức độ hiểu biết tương đương. Chính vì vậy mới phân ra Tam bảo. Nếu không có Đức Phật thì không có ai có thể giác ngộ được hết. Nếu không, sẽ không có ích gì khi phát triển các ba la mật để trở thành một vị Phật, nếu Đức Phật không có khả năng thuyết giảng và hoằng pháp để những người khác có thể có được cùng mức độ giác ngộ – cùng mức độ giác ngộ nhưng mà không cùng mức độ Trí tuệ như Ngài. Những gì Ngài chỉ dạy đủ để giúp cho những người nghe Pháp có tích lũy đầy đủ có thể giác ngộ.
Học viên 19: Chỉ có tà kiến mới là chướng ngại lớn nhất, vậy thì phải đắc được Thánh quả thứ nhất thì mới nên thực hành hay sao?
Sarah: Việc tận diệt tà kiến là một tiến trình vô cùng dài lâu, vô cùng từ từ, và như Achaan đã nói, sự phát triển hiểu biết cần phải trải qua nhiêu a tăng kỳ kiếp, vì thế có thể có rất nhiều tà kiến trong thời gian dài nữa. Chúng ta đã nói đến tà kiến lậu hoặc, là loại tà kiến về cái được kinh nghiệm sinh khởi ngay sau cái thấy và cái nghe. Khi có tà kiến sinh khởi, nó sẽ làm duyên cho sự thực hành sai lầm. Nhưng tại khoảnh khắc hiểu biết đúng như hiện giờ, khi chúng ta đang suy xét về những thực tại khác nhau thì ở những thời điểm ấy là sự thực hành đúng đắn. Như vậy, có thể có những khoảnh khắc sinh khởi cái hiểu sai và sự thực hành sai rồi lại xen kẽ với những khoảnh khắc của hiểu biết đúng và thực hành đúng. Dù ở đâu đi nữa, khi chúng ta được nghe về những thực tại kinh nghiệm một cái gì đó và những thực tại không kinh nghiệm gì cả, điều ấy có thể làm giảm dần ý niệm về một cái ngã có thể kiểm soát và có thể làm công việc thực hành. Đây là sự phát triển đúng đắn và trí tuệ có thể lớn mạnh dần. Vì vậy, không phải là đợi cho đến khi tà kiến hoàn toàn tận diệt mới bắt đầu thực hành đúng đắn như bạn nói.
HV 19: Thực hành mà con muốn nói tới là hành thiền, bởi vì các đệ tử của Đức Phật như ngài Xá lợi phất, Mục kiều liên trước khi đắc đạo cũng hành thiền, mặc dù các Ngài ấy đã được coi là có chánh kiến rồi nhưng định cũng không có, ví dụ ngài Mục Kiều Liên phải vất vả chiến đấu với hôn trầm, khi mà còn hôn trầm thì chưa thể có định được. Vậy thì có gì mâu thuẫn không khi mà bảo là có chánh kiến rồi thì cũng có chánh định luôn?
Achaan: Khi tà kiến đã được tận diệt, vẫn không có nghĩa là không còn bất thiện pháp nữa. Chính vì vậy chúng ta cần phải có hiểu biết rất kỹ càng về thiền, đó là gì nào?
HV 19: Thiền như ngài Ananda thì chắc là theo Tứ niệm xứ bởi vì khi Ngài đắc quả trong lúc ngài nằm xuống.
Achaan: Nằm xuống là một việc rất tự nhiên.
Người phiên dịch: Thế theo ý của anh, thiền là gì?
HV 19: Thiền có nghĩa là làm cái gì đấy.
Achaan: Làm cái gì đấy thì đó là gì?
HV 19: Ví dụ quan sát hơi thở, thân hành niệm tức là quán thân chuyển động.
Achaan: Đức Phật dạy những ai quán niệm hơi thở?
HV 19: Đức Phật và con trai ngài –La hầu la
Achaan: Có rất nhiều người muốn làm như Đức Phật đã làm, ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề, ngồi cả đêm. Nhưng liệu việc làm như thế có thể làm sinh khởi hiểu biết gì không, hay là vẫn có thể có hiểu biết dù không làm như thế? Nếu việc bắt chước theo Đức Phật có thể đưa đến giác ngộ thật thì Ngài đã bảo tất cả mọi người hãy ngồi hệt như Ngài. Thế còn về ngài Cấp cô độc thì sao? Ngài là một cư sỹ, khi giác ngộ, ngài đang làm gì? Và vua Tịnh phạm – cha Đức Bồ tát giác ngộ trong hoàn cảnh nào?
HV 19: Họ giác ngộ thì là Niết bàn
Achaan: Bạn có nghĩ Trí tuệ bị giới hạn hay không? Nó chẳng phải là vô ngã hay sao?
HV 19 : Nó vô ngã
Achaan: Vậy thì nó là vô hạn, và không ai có thể kiểm soát được.
HV 19: Không có ai nên không có ai có thể kiểm soát.
Achaan: Tất cả các thực tại hữu vi đều sinh và diệt
Học viên 13: Hiểu biết đúng thì vẫn sinh và diệt, ta hiểu biết đúng xong nó sinh diệt thì lại có những khoảnh khắc của vô minh.
Achaan: Đúng là như vậy, nhưng ngày hôm qua khi nghe pháp đàm bạn có hiểu một chút nào không?
HV 13: Có, có hiểu một số từ, ở một vài khoảnh khắc.
Achaan: Thế những hiểu biết ấy sau đó hoàn toàn mất đi hay sao?
HV 13: Có vài từ có thể nhớ được, một số từ khác đã quên mất.
Achaan: Các tâm sở có chức năng khác nhau, chẳng hạn tưởng (sanna) thì chỉ nhớ thôi chứ không làm nhiệm vụ suy nghĩ, như vậy suy nghĩ không phải là tưởng. Khi bạn nói “ôi tôi không thể nghĩ đến điều này”, đó là vì tầm (vitakka) đang chạm đến đối tượng khác, nhưng khi bạn nói rằng “tôi không thể nhớ được”, điều ấy có nghĩa là ở khoảnh khắc đó tâm và tâm sở nhớ đến thứ khác chứ không phải cái mà bạn muốn nhớ về. Chính vì vậy chúng ta phải nghiên cứu rất kỹ lưỡng, Đức Phật đã phải dạy 45 năm, các bạn đừng quên điều ấy, nếu những gì Ngài dậy có thể dễ dàng hiểu được thì Đức Phật có cần phải dạy đi dạy lại lâu đến vậy hay không? Nếu chúng ta không làm rõ ý nghĩa của từ “thiền” thì làm sao có thể có thêm cái hiểu? Khi bạn thiền thì bạn làm gì?
HV 19: Trong kinh có vài kỹ thuật, ví dụ quan sát cái cảm thọ.
Achaan: Và có cái hiểu về cái được quan sát không?
HV 19: Ở một mức độ thấp thì có.
Achaan: Hiểu về mức độ thấp là như thế nào?
HV 19: Mức độ hiểu đó là vô thường, mọi thứ đang thay đổi luôn luôn.
Achaan: Hiện giờ cái gì đang thay đổi?
HV 19: Bây giờ cái quan sát về hiện tại nó không được sắc bén như khi ngồi thiền.
Achaan: Khi sắc bén thì nó có thể hiểu được điều gì?
HV 19: Sắc bén thì nó thấy được có sự thay đổi, còn khi bị cuốn đi như đang nói chuyện thì không thể thấy được.
Achaan: Khi bạn thấy được sự thay đổi thì đó là sự thay đổi của cái gì?
HV 19: Về cảm thọ
Achaan: Loại cảm thọ nào?
HV19: Nó có nhiều loại, đôi khi thọ lạc, đôi lúc thọ khổ.
Achaan: Vẫn có ý niệm là tôi đang quan sát?
HV 19: Vâng, cái đó thì con không có ý kiến. Nhưng vẫn phải quay lại câu hỏi là khi nào thì có hành thiền? Bởi vì trong kinh thì các đệ tử của Đức Phật đều hành thiền, có phải là các vị đó đều đắc được quả thứ nhất rồi mới hành thiền sao?
Achaan: Tôi không hiểu tại sao thiền lại phải khác biệt với hiểu biết, bởi vì nếu như không có hiểu biết thì thiền là cái gì đây? Đối với tôi, hiểu biết với thiền (với nghĩa làm một cái gì đó -ND) không phải là một, bởi vì khi có ý niệm phải đi thiền, ngay khi ấy đã ý niệm về một cái ngã là ai đấy có thể khiến cho một số thực tại cụ thể sinh khởi, và điều đó không thể khiến hiểu biết đúng sinh khởi, vì ai có thể lựa chọn được đối tượng của trí tuệ đây?
HV 19: Con không thể trả lời được câu hỏi của Bà, cho nên con muốn hỏi câu hỏi khác. Đức Phật có dạy “Hãy tu chỉ và quán” thì nó là cái gì?
Achaan: Chúng ta hãy chỉ nói về từng thứ một để cho thứ ấy trở nên rõ ràng đã.
HV 19: Vâng.
Robert: Khi bạn nói ngồi thiền thì nó sắc nét hơn, vậy thì lúc bình thường thì dễ xao lãng hoặc ko tập trung hay sao?
HV 19: Lúc bình thường thì khó tập trung hơn vì ở đây liên quan đến yếu tố định.
Robert: Kể cả ngay bây giờ thì cũng vẫn có cái gọi là định bởi vì đó là một tâm sở sinh khởi cùng với tất cả các tâm, dù nhắm mắt hay mở mắt thì vẫn có định
HV 19: Đó là câu hỏi tiếp theo: định mà là ekaggata (tâm sở nhất tâm) đó thì nó phải khác với định của các tầng thiền?
Robert: Bạn có nghĩ rằng chúng ta cần có đắc thiền để có tuệ hay không?
HV 19: Đây sẽ lại là một câu hỏi khác
Sarah: Vậy thì bạn hãy trả lời câu hỏi của Achaan đi đã.
Robert: Mỗi tâm luôn sinh khởi cùng với tâm sở nhất tâm, nhưng tùy thuộc vào việc nó sinh khởi với tâm thiện hay bất thiện mà tâm sở nhất tâm thành thiện hay bất thiện. Không khó để tập trung vào một đối tượng nào đó nhưng khi ta cố tập trung vào một đối tượng cụ thể, rất dễ sẽ là tà định. Đó là cái bẫy rất lớn, do vậy không nên nghĩ rằng định là nền tảng cho Trí tuệ.
Achaan: Vậy thì bây giờ nó sẽ tùy thuộc vào quyết định của bạn, hiểu về cái đang xuất hiện hiện giờ hay là không?
HV 19: Con làm sao quyết định được.
Achaan: Hãy chỉ cần nghĩ xem là điều ấy có thể hay không? Nếu như điều ấy không thể thì Đức Phật đã không dạy mọi người phát triển hiểu biết về thực tại trong hiện tại, nhưng điều ấy không dễ dàng, nó không dễ như việc cứ ngồi và nghĩ về nó nhưng lại hoàn toàn không hiểu về cái đang xuất hiện. Nếu như bây giờ chúng ta đang ngồi đây mà không có hiểu biết đúng về những thứ đang xuất hiện thì làm thế nào có hiểu biết đúng khi chúng ta ngồi ở nơi khác đây? Bất cứ khi nào có ý niệm về ngã ở đằng sau thì lại có ý niệm “tôi có thể làm”, nhưng cái “tôi có thể” đó là gì? “Tôi” có thể làm cho cái thấy, cái nghe sinh khởi không? và có phải “tôi” tạo ra ý niệm về sự thực hành?
HV 19: Mọi người nhấn mạnh về ý niệm về ngã. Nếu có ý định phát triển ba la mật thì cũng là có ý niệm về ngã, vậy cũng là không đúng hay sao?
Achaan: Nếu như không có hiểu biết vì sao cần phải phát triển ba la mật thì phát triển ba la mật để làm gì đây? Bởi vì phải có hiểu biết thì mới hiểu được tại sao cần phải phát triển ba la mật, là bởi nếu không có các ba la mật thì sẽ không thể hiểu về các thực tại đang xuất hiện hiện giờ, do vô minh đã tích lũy trong thời gian rất dài rồi. Nhưng khi có sự vị kỷ, có ý niệm về ai đấy, có mối quan tâm về bản thân tôi thì khi đó sẽ không thể sinh khởi trí tuệ. Chính vì vậy, việc bố thí giúp giảm đi ham muốn giữ mọi thứ cho bản thân. Nếu ta không thể cho những người khác những gì mình có thì làm sao có thể từ bỏ ý niệm về ngã đây? Bởi vì sự dính mắc vào tự ngã còn mạnh hơn nhiều sự dính mắc vào đồ đạc, chính vì thế dana cũng là một ba la mật.
HV 19: Cái này thì con hiểu. Nhưng ý của con là nếu tất cả mọi thứ đằng sau có ngã thì mọi cái đó sẽ là hành động tà. Thì ngay trong tiền thân Đức Phật không muốn bố thí, nhưng sau đó Đức Phật nói tôi phải bố thì để cho thành thói quen. Hành động đó là ý niệm về ngã rất rõ ràng.
Achaan: Nhưng khi ấy Đức Phật – Bồ tát vẫn chưa giác ngộ và những phiền não ngủ ngầm vẫn còn
HV 19: Đúng vậy. Nhưng trước khi Đức Phật giác ngộ thì Ngài cũng thực hành thiền định rất là nhiều, vậy những thực hành thiền đó cũng là tà định hay sao?
Achaan: Sau khi Đức Phật đã giác ngộ rồi thì Ngài chỉ dạy về những gì đang xuất hiện hiện giờ, còn trước khi đức Bồ tát trở thành một vị Phật thì không phải là Ngài thực hành tà định, nhưng khi đó có suy nghĩ là cần phải có sự kiên nhẫn lớn lao để tích lũy các ba la mật tới một mức độ cao. Còn khi giác ngộ rồi thì Ngài chỉ dạy Bát Chánh đạo
HV 19: Vậy Đức Phật là trường hợp đặc biệt, nhưng sau khi giác ngộ, Đức Phật dạy cho ngài A-na-luật quán thiền ánh sáng, vì ngài đắc thiên nhãn thông.
Achaan: Khi nói đối tượng là ánh sáng thì nghĩa là gì?
HV 19: Ánh sáng bên trong.
Achaan: Nó là gì?
HV 19: Trong kinh Đức Phật miêu tả là ánh sáng, thấy các màu sắc bên trong.
Achaan: Đức Phật dạy những thứ đó là một thực tại, không phải là tự ngã, hay là dạy ngài A-na-luật dính mắc vào những thứ đó?
HV 19: Cái đó thì không thấy nói đến.
Achaan: Vậy thì bạn nên đọc thêm kinh để biết về điều ấy, chỉ một vài đoạn thôi thì không đủ.
HV 19: Vâng. Vậy con hỏi thêm một chút về Vi diệu pháp, vì nếu nó là tinh hoa của Giáo lý Phật thì tại sao lần kết tập thứ ba mới xuất hiện? Tại sao hai lần đầu lại không xuất hiện?
Achaan: Ở thời Đức Phật thì không nhất thiết phải gọi một cách riêng rẽ rằng cái này là Vi diệu pháp, bởi vì tất cả các Pháp đều là Vi diệu pháp.
HV 19: Nhưng hai lần kết tập đầu không hề được nói đến.
Achaan: Thời đó, Giáo lý được gọi là Pháp và Luật.Vậy thì Luật-Vinaya là gì? Và Pháp – Dhamma là gì nào? Nếu chúng ta không biết thì đấy vẫn chỉ là ngôn từ mà thôi. Nhưng có hai từ Pháp và Luật, và nghĩa của chúng là gì nào?
HV 19: Luật là những giới luật, Pháp là những lời dạy về pháp. Trong Kinh viết cả những tích Phật đã nói gì, đệ tử của Ngài đã nói gì.
Achaan: Luật không phải là Pháp hay sao? Hay Pháp không phải là Luật hay sao?
HV 19: Nếu mà Pháp hiểu theo nghĩa thực tại thì Luật chỉ là khái niệm, còn nếu hiểu pháp theo kiểu giáo lý thì pháp là luật.
Achaan: Nếu như không có các thực tại thì có thể có Luật không?
HV 19: Không thể. Bởi vì không có cuộc sống nếu không có thực tại.
Achaan: Vậy có thể giữ được giới luật mà không có hiểu biết về thực tại hay không?
HV 19: Các vị tỳ kheo thì con không biết, nhưng con có đọc bài kinh, các vị tỳ kheo nói về giới luật phi thời, các vị nói “sao phải giữ giới này, con thấy ăn tối cũng rất vui vẻ.”
Achaan: Nếu như ai đấy không có chút hiểu biết nào thì có thể giữ giới được không?
HV 19: Giữ được do bởi thói quen.
Achaan: Theo bạn thì không cần phải có hiểu biết đúng không?
HV 19: Hiểu biết thì sẽ tốt hơn.
Achaan: Sự khác biệt giữa những người làm việc thiện không có hiểu biết và có hiểu biết là như thế nào?
HV 19 : Tâm thiện hợp trí và tâm thiện không hợp trí.
Achaan: Có những người chỉ là cư sỹ thôi nhưng họ vẫn có thể phát triển hiểu biết đến mức độ giác ngộ, có những người có tích lũy trở thành tỳ kheo và họ giác ngộ khi là một vị tỳ kheo. Như vậy kể cả là cư sỹ hay vị tỳ kheo thì đều có thể có tích lũy để giác ngộ.
HV 19: Con nghe nói là cư sỹ thì chỉ có thể đắc đến quả thứ ba thôi, có phải không?
Achaan: Và sau khi người đó đạt được quả vị A la hán thì người đó thế nào?
HV 19 : Thì người đó sẽ xuất gia.
Achaan: Vậy thì mục đích để trở thành một vị Tỳ kheo là để đạt mức giác ngộ cao nhất, không giống như các cư sỹ, họ có thể tiếp tục sống ở cuộc đời tại gia và đắc quả vị thứ ba. Nhưng Giáo lý của Đức Phật thì luôn dẫn tới sự xả ly, dù đó là người xuất gia hay người cư sĩ. Vậy sự xả ly là với cái gì đây?
HV 19 : Với cái Tà kiến
Achaan: Và với vô minh và những dính mắc ở mức độ ấy.
Vị sư 1: Achaan vừa nói xả ly tà kiến, vậy thì tà kiến trong khoảnh khắc đó có thể được hiểu như là một thực tại không?
Sarah: Chắc chắn rồi, bởi vì tất cả các pháp đều cần phải được biết và được hiểu. Bất cứ thực tại nào, như tà kiến hay trí tuệ, cũng cần phải được hiểu như nó là khi chúng xuất hiện, nếu không chúng không thể được tận diệt. Như vậy, cái hiểu luôn hiểu cái gì sinh khởi ở hiện tại. Như hôm trước sư có nói sư đến để nghe pháp, thì trong việc đó cũng có ngầm mong muốn có gì đó cho bản thân, thì ngay ở khoảnh khắc đó cũng có thể có cái hiểu rằng cái sinh khởi đó là một thực tại chứ không phải là ai cả. Nó cần phải được hiểu khi nó sinh khởi còn nếu không thì sẽ không có cách nào tận diệt được.
Jonathan: Nó cần phải được biết nhưng nó không thể nào được biết bằng việc muốn biết.
Người phiên dịch: Lúc đầu sư có nói đến một số người bạn, khi họ thực hành và họ có giảm phiền não trong cuộc sống, con thấy có phiền não rất vi tế ở đằng sau bởi vì ở sau đó ngầm có một ý niệm về ngã: tôi giảm bớt phiền não cho bản thân, làm cái gì đấy cho bản thân.
Sarah: Sẽ có thêm cái ý niệm là “tôi phải chánh niệm cho bản thân”, thêm tâm từ cho bản thân, “tôi” phải hiểu biết ở đằng sau cái đó
Jonathan: Nếu như có cái ý niệm phải bớt đi phiền não, cũng đồng thời có ý niệm là “tôi” phải làm cái gì đó về nó
Sadhu sadhu sadhu!
pariyati, patipati, pativeda, Pháp- Luật, tà kiến, tà định, đức Phật
Pháp đàm chiều 04-09-2013 tại Sài gòn
12/ Pháp đàm buổi chiều ngày 04.09.2013 tại SG.
Vị sư 1: Khi nãy Achaan và cô Sarah nói về sự dính mắc, rằng tâm tham trong đời sống rất nhiều, phần lớn khoảnh khắc có vô minh và tâm tham. Chẳng hạn trong cái nhìn thì muốn thấy cái gì đó xem nó là màu xanh hay màu trắng, cái muốn đó có phải là tâm tham không?
Achaan: Tâm thấy sinh khởi và diệt đi ngay lập tức, tâm tiếp theo kinh nghiệm cùng đối tượng với nó nhưng đảm nhận một chức năng khác. Mỗi tâm có chức năng riêng của mình. Chẳng hạn, tâm đầu tiên của một kiếp sống sinh khởi và đảm nhận chức năng tiếp nối tử thức của kiếp trước và rồi diệt đi ngay lập tức. Sau khi thức tái tục này diệt đi, nó lại được tiếp nối bởi một tâm khác, tâm này không có chức năng nghe, thấy, nếm, ngửi, xúc chạm như bình thường, mà chỉ có chức năng tiếp tục duy trì mạng sống trong kiếp đó mà thôi. Ngay cả hiện giờ, giữa khoảnh khắc của cái thấy và cái nghe cũng có những tâm ấy xen kẽ và tiếp nối để duy trì được mạng sống trong kiếp này. Như vậy chúng ta có thể mô tả là có một dòng hữu phần (hay dòng hộ kiếp), và xen kẽ có cái thấy, cái nghe, suy nghĩ v.v sinh khởi. Từ không hề có một thực tại nào xuất hiện, sau đấy lại có một khoảnh khắc của cái thấy hay một cái nghe, rồi lại có những khoảnh khắc của các tâm hộ kiếp đó. Tâm sinh và diệt tiếp nối nhau rất nhanh. Một số tâm không kinh nghiệm đối tượng qua sáu căn. Một số tâm chỉ có thể có đối tượng thị giác là đối tượng mà thôi. Một số thì chỉ có thể có âm thanh là đối tượng. Những mô tả này chính là về hiện tại, nhưng tất cả trôi qua rất nhanh nên không ai có thể biết gì về nó. Chắc chắn cần phải có tâm trước khi có cái thấy, nhưng có ai biết được không? Phải có những tâm tiếp nối cái thấy, nhưng ai có thể biết được nào? Nhưng thường thì chỉ ở những khoảnh khắc bắt đầu có tham hay sân với đối tượng, chúng ta mới biết đến cái được kinh nghiệm.
Kể cả những mức độ phiền nào rất vi tế như lậu hoặc cũng có thể được tận diệt bởi trí tuệ. Nhưng trước khi trí tuệ có thể phát triển đến mức độ ấy, cần phải có hiểu biết ở mức độ tư duy nhờ nghe những lời dạy chân chánh về sự thực của tất cả những gì đang xuất hiện hiện giờ. Khi không được nghe Pháp, không có hiểu biết đúng, vô minh và dính mắc sẽ đi liền sau cái thấy. Nhưng nếu như có hiểu biết đúng, khi không có vô minh và dính mắc, trí tuệ có thể hiểu đúng về thực tại ở khoảnh khắc đó, và đó chính là sự phát triển của hiểu biết. Khi đó thay cho bất thiện sau cái thấy sẽ có thiện hợp trí. Ở khoảnh khắc của suy nghĩ, nếu ta chưa phải một vị A la hán thì hẳn sẽ phải là thiện hoặc bất thiện. Nếu không nghiên cứu Giáo lý thì ta sẽ không thể biết được loại tâm đang suy nghĩ đó là tâm gì. Kể cả bây giờ nếu như được hỏi là những suy nghĩ đó là gì, liệu ai đó có thể nói mình đang suy nghĩ như thế nào hiện giờ không? Bởi vì suy nghĩ sinh và diệt quá nhanh. Nhưng khi trí tuệ sinh khởi, nó có thể hiểu được đặc tính của cái xuất hiện trước đó. Còn bây giờ, mặc dù thực tại xuất hiện nhưng không có hiểu biết đúng về nó.
Tại sao chúng ta cứ nói đi nói lại mãi về cái thấy, cái nghe, hay cái cứng? Đó là bởi vì chúng đang xuất hiện hiện giờ. Nếu chúng ta nói về những thứ khác, sẽ không thể có duyên để hiểu về những gì đang xuất hiện, để có thể thấy được sự khác biệt giữa khoảnh khắc trước khi được nghe Pháp và sau khi nghe Pháp. Cái cứng xuất hiện nhiều hơn hay ít hơn trước đây, kể từ sau khi được nghe pháp? Dù là trước đó hay bây giờ, mặc dù đặc tính cứng được kinh nghiệm nhưng không có hiểu biết đúng. Bất cứ khi nào có sự xúc chạm, ví dụ cầm một cái gì đó lên, thì đã có ý niệm là tôi cầm một cuốn sách, chẳng hạn, chứ không phải là sự xuất hiện của đặc tính cứng. Vậy thì cái thực sự sinh khởi lại không xuất hiện (trở thành đối tượng nhận biết của tâm – ND). Bởi cái mà chúng ta xúc chạm luôn xuất hiện với tư cách là cái bàn, cái khăn v.v… Hay cái xuất hiện ở khoảnh khắc của cái thấy xuất hiện với tư cách là những bông hoa, hay cái bàn. Tuy nhiên, cái thực sự là đối tượng của cái thấy sinh và diệt trong thời gian vô cùng ngắn ngủi, được tiếp nối bởi rất nhiều suy nghĩ về nó, đó chính là lý do khiến đối tượng ấy không xuất hiện như nó là.
Cả cái cứng và cái kinh nghiệm đặc tính cứng đó là một phần của luân hồi, nếu không có những thứ đó thì có luân hồi hay không? Bất cứ cái gì xuất hiện trong ngày đều là một phần của luân hồi. Khi chúng ta nói về luân hồi, chúng ta dễ quên đi cái cứng, trong khi nó vẫn đang có ở đó, ngay bây giờ đây. Nó cần phải được biết đúng như nó là, rằng đó không phải là cái bàn, không phải là bông hoa hay bất cứ cái gì khác. Để bớt đi sự dính mắc về ý niệm về con người hay vạn vật, cần phải có hiểu biết về thực tại đúng như nó là. Cái cứng chỉ là cứng thôi, không có gì ở trong đó cả. Đối tượng thị giác chỉ là cái được thấy, không ai trong đó cả. Chỉ có âm thanh được nghe thôi, chứ không có ngôn từ trong đó. Nếu như không hiểu điều ấy, sẽ không thể có được khoảnh khắc hiểu được thực tại là vô ngã, vì vô minh đã có ở đó. Nó không thể hiểu được các thực tại như chúng là vì khi ấy, các thực tại xuất hiện cùng nhau theo khối, với hình và dạng. Chính vì thế nếu không có hiểu biết đúng về các thực tại chân đế, sẽ luôn luôn có ý niệm về một cái gì đó- đó chính là attanuditthi (tà kiến về ngã đối với những gì bên ngoài -ND).
Vì vậy nếu như không có Giáo lý của Đức Phật thì sẽ không ai biết tới, hoặc không ai hiểu được thực tại như nó là. Chỉ khi ấy mới hiểu được ơn đức của Đức Phật, ở khoảnh khắc đó mới có Buddhanusati. Buddhanusati không phải là khoảnh khắc tụng câu đó bằng tiếng Pali mà không hề biết Đức Phật đã giác ngộ về cái gì, khi ấy sẽ không có sự an tịnh và không có niệm ơn đức Phật. Nhưng nếu có hiểu biết đúng tại khoảnh khắc của cái thấy hiện giờ, thì cũng sẽ có cái hiểu về cội nguồn của hiểu biết ấy, là bậc Giác ngộ đã thuyết giảng cho chúng ta về thực tại. Khoảnh khắc có sự an tịnh cùng hiểu biết và sự ghi ơn đức Phật như vậy cũng là một loại samatha. Nếu sự an tịnh đó lớn mạnh dần, nó có thể đạt được mức độ của sự toàn định, khi tâm an trụ hoàn toàn, không rời khỏi đối tượng nữa. Khi ta nhận thức được đâu là con đường đúng và đâu là con đường sai, khi đấy có thể niệm ơn đức Pháp (Dhammanusati). Vì vậy từng từ trong Giáo lý cần phải được nghiên cứu. Nếu trí tuệ được phát triển, ngay sau khoảnh khắc của cái thấy có thể tâm thiện sinh khởi thay cho bất thiện, và nếu Tuệ giác được phát triển hơn nữa thì thay cho thiện và bất thiện có thể có tâm duy tác sinh khởi. Chỉ khi ấy thì mới hiểu được sự khác biệt giữa tâm thiện và tâm duy tác của một vị A la hán. Tâm thiện là tâm thiện đối với bất cứ ai vẫn còn phiền não. Do vẫn còn phiền não ngủ ngầm, tâm thiện đó vẫn còn năng lực tạo quả. Nhưng khi là tâm thiện mà không còn chút phiền não ngủ ngầm nào nữa, nó sẽ không còn năng lực để tạo quả. Đó là ý nghĩa của việc một vị A la hán sẽ không còn tái sinh.
Vị sư 1: Như Achaan nói khi có chánh niệm kinh nghiệm trực tiếp khoảnh khắc hiện tại, ngay khi đó thì phải phát sinh các chi trong Bát chánh đạo. Vậy trong khoảnh khắc kinh nghiệm thực tại đó, chức năng và biểu hiện của chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm là gì?
Achaan: Tất cả các chi của Bát chánh đạo đều là các tâm sở nhưng chúng khác nhau, chẳng hạn tâm sở chánh kiến thì đối nghịch với tà kiến. Khoảnh khắc thấy bông hoa, tà kiến sẽ cho rằng đó là một thứ thường hằng, tồn tại kéo dài, nhưng hiểu biết đúng thì biết rằng nó rất tạm bợ, rằng nếu không có cái thấy, nó sẽ không thể xuất hiện. Nhưng những gì diễn ra thực sự vi tế hơn nhiều, hiện giờ dường như là bông hoa đang xuất hiện với cái thấy, nhưng thật ra, có rất nhiều khoảnh khắc của cái thấy, khi ta biết đến bông hoa, cả cái thấy cũng như đối tượng của cái thấy đã diệt đi rồi. Nếu không có đối tượng thị giác (cảnh sắc) thì sẽ không thể có cái thấy. Nhưng khi cái thấy sinh khởi và thấy đối tượng thị giác thì đối tượng thị giác ấy vẫn chưa diệt đi bởi vì sắc có tuổi thọ dài hơn tâm. Chính vì vậy sắc đó vẫn là cảnh duyên cho những tâm khác sinh khởi kinh nghiệm nó vì nó vẫn chưa diệt đi. Vì những khoảnh khắc đó nó sinh và diệt và tiếp nối nhau rất nhanh cho nên ta hoàn toàn không hay biết gì về những tâm đó, cho đến khi bắt đầu thấy thích và không thích đối tượng đó, khi ấy mới bắt đầu nhận ra là có cái thích hay không thích đó sinh khởi. Đức Phật dạy chúng ta rất chi tiết về từng khoảnh khắc của tâm: tâm được tạo duyên như thế nào, có bao nhiêu tâm sở sinh khởi cùng với nó, chỉ để cho người nghe suy xét xem điều được nghe ấy có đúng không. Đó chính là hiểu biết đúng, là chánh kiến. Khi không có hiểu biết đúng sẽ có tà kiến. Khi hiểu biết đúng sinh khởi, nó biết cái gì là đúng và cái gì là sai. Sư có muốn hỏi thêm gì về chánh kiến không?
Vị sư 1: Achaan hãy chia sẻ thêm.
Achaan: Chánh kiến là một tâm sở, nó sinh và diệt, nhân gần để nó sinh khởi là được nghe chánh pháp và suy xét về những gì được nghe một cách chân chánh.
Về chi thứ hai của Bát chánh đạo, chánh tư duy, samma samkapa, nó cũng là một tâm sở, tâm sở này sinh khởi với hầu như tất cả các loại tâm, trừ những tâm được gọi là ngũ song thức. Ngũ song thức là năm cặp tâm quả, là quả của nghiệp: mỗi cặp bao gồm quả của nghiệp thiện và quả của nghiệp bất thiện. Khi nhãn thức diệt đi, ngay khoảnh khắc sau đó đã có tâm sở tầm sinh khởi. Trong một ngày, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt giữa cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, nó xảy ra rất nhanh như một tia chớp vậy. Bởi vì ngoài những thức đó ra, không có tâm nào khác có thể đảm nhận chức năng thấy hoặc chức năng nghe, một cái là quả thiện, một cái là quả bất thiện. Vì vậy chúng ta có thể hình dung rằng cái thấy hoàn toàn khác với những tâm khác. Đức Phật dùng thuật ngữ upatti để chỉ ngũ song thức. Ở khoảnh khắc của một trong ngũ song thức, tất cả các xứ đều phải có mặt cùng nhau ở thời điểm đó, chẳng hạn nhãn thức sinh khởi nương vào nhãn căn cùng đối tượng thị giác. Vậy, khoảnh khắc của cái thấy hoàn toàn khác với khoảnh khắc của những tâm khác, mặc dầu dường như bây giờ các tâm khác cũng đang thấy, như là tham hay sân cũng đang thấy. Nhưng trên thực tế đó là những tâm khác, chúng cũng kinh nghiệm đối tượng đó nhưng chúng không phải là cái thấy, chúng tiếp nhận đối tượng từ nhãn thức, bởi vì có tâm sở tầm ở đó. Rất khó để nói về các tâm sở, bất kể là tâm sở nào. Chúng ta đã nói rất nhiều về tâm, nhưng chừng nào đặc tính của thực tại đó chưa xuất hiện đối với hiểu biết đúng, ta vẫn chưa thể hiểu được nó một cách trọn vẹn. Chẳng hạn, nhãn thức sinh khởi cùng với bảy tâm sở khác nhau, không có thực tại nào trong đó là đối tượng được kinh nghiệm cho nên chúng không được biết. Nhưng tâm tiếp nối nhãn thức lại là một tâm sinh khởi cùng tâm sở tầm. Làm thế nào chúng ta có thể thực sự hiểu được điều ấy đây? Chúng ta mới chỉ hiểu được một khía cạnh của tâm sở, là khía cạnh mà chúng ta vẫn gọi là suy nghĩ. Tại sao mọi người lại suy nghĩ khác nhau? Đó là do bởi vitaka- tâm sở tầm. Tâm sở tầm đó sẽ chạm vào những đối tượng khác nhau, trong khi xúc chỉ làm nhiệm vụ xúc chạm mà thôi. Chức năng của phassa –xúc là chỉ xúc chạm, nếu không có vitaka thì đối tượng ấy sẽ không thể được biết sau khi có nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức v.v… sinh khởi . Chính vì vậy, các loại tâm sinh khởi sau mười tâm này phải có vitakka sinh khởi cùng. Ở khoảnh khắc của suy nghĩ thì có xúc không?
Ai đó trả lời: Có.
Achaan: Đúng là như vậy, nhưng nó có xuất hiện hay không? Nhưng ta vẫn biết được là mình đang suy nghĩ, sở dĩ như vậy bởi vì có đặc tính của tâm sở tầm xuất hiện, cái chỉ suy nghĩ về một đối tượng ở một thời điểm. Tất cả những tâm sở khác đều rất vi tế, rất khó nhận biết. Chẳng hạn thông thường, tâm sở tầm luôn sinh khởi cùng tâm sở tứ. Nói như vậy là để cho tất cả mọi người thấy rằng tất cả các thực tại đều là vô ngã, không ai có thể khiến một thực tại cụ thể trở thành đối tượng của chánh niệm – xúc không thể trở thành đối tượng của chánh niệm bằng ý chí. Vậy những gì chúng ta có thể biết được hiện giờ là gì nào? vẫn chưa có gì cả. Chỉ cần nghe và biết rằng hiện giờ đang có những thực tại ấy mà thôi, để tuệ giác có thể được phát triển đến mức độ bất cứ đối tượng nào cũng có thể trở thành đối tượng của nó, và mỗi một khoảnh khắc đều không thể mong đợi hay lên kế hoạch. Đó là ý nghĩa của từ vô ngã – không thể kiểm soát được.
Vừa rồi là lời mô tả về tâm sở tầm. Khi nó đi cùng với tâm sở chánh kiến, nó sẽ trở thành một chi của Bát chánh đạo mà chúng ta gọi là chánh tư duy. Chúng ta có thể nói rằng bất cứ khi nào có chánh kiến thì chánh tư duy cũng có ở đó. Nhưng vì chánh kiến vẫn chưa đủ mạnh nên tất cả những tâm sở sinh khởi cùng với tâm sở ấy đều chưa được nhận biết. Chúng ta có thể biết được tại sao tầm lại là một trong các chi của Bát chánh đạo, bởi vì chức năng của nó là nhấn vào đối tượng để chánh niệm có thể hay biết về đối tượng ấy, còn chánh kiến – trí tuệ có thể hiểu đúng đặc tính của đối tượng ấy. Có rất nhiều tâm sở khác nhau sinh khởi cùng với tâm và diệt đi cùng với tâm ngay bây giờ đây.
Sarah: Có một số người có thể thắc mắc là tại sao Achaan lại nhấn mạnh đến chánh kiến – Yếu tố đầu tiên của Bát chánh đạo nhiều đến như vậy. Bởi vì họ quen với những ý niệm như là: đầu tiên phải có tinh tấn trước hay chánh niệm trước rồi mới có hiểu biết, hay phải có chánh định trước rồi mới có trí tuệ sinh khởi. Nhưng chúng ta đã học từ mấy ngày hôm nay rằng, nếu không có chánh kiến sinh khởi để biết được rằng các thực tại đều là vô ngã thì các tâm sở đi cùng sẽ không thể là chánh được. Ở khoảnh khắc có chánh kiến sinh khởi, chánh tư duy – samma samkapa (vitakka –tầm) sẽ làm nhiệm vụ nhấn vào đối tượng và hỗ trợ cho trí tuệ hiểu rõ hơn về đối tượng ấy. Ở khoảnh khắc có chánh kiến thì chánh niệm cũng có ở đó, nó hay biết về đối tượng ấy một cách thiện. Nó hay biết về thực tại, về đối tượng mà không hề có ý niệm là đang phải cố gắng chánh niệm. Ở thời điểm có chánh kiến như vậy thì đồng thời cũng có mặt chánh tinh tấn, chánh tinh tấn khi ấy sẽ đảm nhận chức năng của mình là hỗ trợ chánh kiến hiểu đúng đối tượng. Khi ấy chánh định cũng sẽ có mặt, trụ trên đối tượng ấy một cách đúng đắn. Ở khoảnh khắc của sự giác ngộ, mức độ định của Chánh định (samadhi) tương ứng với các tầng thiền (jhana), vì đối tượng của tâm lúc đó là Niết bàn. Đó chính là lý do mà Achaan nhấn mạnh đến chánh kiến nhiều như vậy. Bởi vì bất cứ khi nào chánh kiến có mặt thì các tâm sở đồng sinh cũng sẽ thành chánh và nó hỗ trợ cho chánh kiến, nhưng trong tất cả các chi đó thì chánh kiến chính là yếu tố dẫn đầu. Đó chính là cái giúp chúng ta không đi lệch khỏi con đường đúng và cho rằng cần phải cố gắng theo một cách cụ thể đặc biệt nào đó, hay là cố gắng có chánh niệm.
Học viên 2: Mình nói rất nhiều về sự hiểu biết đúng đắn- trí tuệ, nó có những thang bậc khác nhau để chúng ta có thể đo được trí tuệ của chúng ta đến đâu không? vì rõ ràng chúng ta phải vun bồi nó từ từ, khi hành thiền minh sát thì các thiền sư hay nói về 16 tầng tuệ giác, cái đó có phải là bảng để chúng ta tham chiếu được hay không? Con được biết thì trong kinh điển thì chính Đức Phật không thuyết giảng về các tầng tuệ này mà nó chỉ xuất hiện trong Thanh tinh đạo.
Jonathan: Đúng như bạn vừa nói, tuệ giác phải phát triển một cách rất từ từ. Nó bắt đầu ở mức độ rất sơ khởi mà hiện giờ tất cả chúng ta đang ở đó. Nhưng kể cả ở giai đoạn đầu tiên đó. nó chỉ có thể sinh khởi khi có hiểu biết đúng về đối tượng của trí tuệ. Chính vì vậy chúng ta đã nói rất nhiều về những loại pháp khác nhau có thể sinh khởi trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Bước chuyển từ sự khởi đầu của phát triển tuệ giác đến các tuệ minh sát không thể diễn ra trong vòng một kiếp sống. Chúng ta đọc trong kinh điển Pali về các vị trưởng lão tăng, trưởng lão ni, về các kiếp quá khứ của họ thì thấy rằng phát triển trí tuệ cần đến nhiều đại kiếp. Rất nhiều người có thể có ý niệm rằng có thể đạt được tuệ giác vipassana bằng cách thực hành một số kỹ thuật nào đấy. Chúng ta rất dễ bị dụ vào những diễn giải đó bởi tâm tham cho rằng điều ấy là có thể. Với sự thực rằng Trí tuệ chỉ có thể phát triển một cách rất từ từ, chúng ta không nên có mong đợi rằng sẽ có sự chứng đắc nào đó chỉ trong một kiếp sống mà thôi. Khi có tham vọng đó nó sẽ trở thành một chướng ngại cho sự sinh khởi của chánh niệm và tỉnh giác.
Achaan: Thế bạn muốn nói đến tuệ giác vipassana nào để làm thước đo đây?
HV 2: Khi được nghe về các tầng tuệ giác thì chúng ta có thể dùng các thông tin ấy để làm thước đo hay không? Bởi vì con không hiểu nên con muốn hỏi Achaan, chứ con nghĩ mình cũng chưa có được cái Tuệ giác nào.
Achaan: Vậy thì trước hết chúng ta hãy tìm hiểu xem, thế nào là tuệ minh sát?
HV 2: Con cũng chưa được nghiên cứu nhiều, tầng tuệ đầu tiên là tầng tuệ phân biệt danh sắc, tầng tuệ thứ hai là Tuệ nhân quả, tuệ ba là tuệ diệt thì có cũng chỉ hiểu như vậy, khi hành thiền thì thỉnh thoảng con cũng có một vài trải nghiệm nhưng con không chắc đó có phải là Tuệ giác hay không?
Achaan: Trước hết hãy xác định thế nào là tuệ minh sát, chứ chưa cần phải nói đến từng tầng tuệ.
HV 2: Tuệ minh sát là một cái hiểu rõ pháp như nó là.
Achaan: Hiểu về cái mà chúng ta đang nói hiện giờ thì có phải là tuệ minh sát không?
HV 2: Chắc chắn đúng là như vậy.
Sarah: Chẳng hạn bây giờ ta đang nói về rất nhiều về cái thấy là một danh kinh nghiệm một đối tượng. Đối tượng thị giác là một đối tượng được thấy, nó không phải là con người, không phải là đồ vật hay bất cứ cái gì có hình dạng, mà chỉ là cái được thấy mà thôi. Như vậy thì có thể có một vài sự suy xét chân chánh về cái thấy và đối tượng thị giác. Nhưng đó vẫn chưa phải là hiểu biết trực tiếp về cái xuất hiện. Trí tuệ trực nhận khác hẳn với suy nghĩ về những thực tại ấy. Nếu không có hiểu biết trực tiếp về cái xuất hiện thì cũng không thể nào cố gắng để hay biết về chúng, và khi ấy vẫn chưa phải là sự bắt đầu của Tứ niệm xứ. Trừ phi ta có được hiểu biết về pariyati- pháp học một cách hoàn toàn đúng đắn và không còn ý niệm về một ai đấy có thể cố gắng chánh niệm, chúng ta chưa thể nói đến sự phát triển Tứ niệm xứ (sự hay biết trực tiếp về thực tại). Và nếu chưa có những căn bản ấy thì cũng chưa có gì để mà phấn khích vội. Vì cần phải có chánh niệm hay biết trực tiếp về tất cả các loại thực tại nhiều lần trước khi có thể có xuất hiện được tuệ thứ nhất là Tuệ phân biệt danh sắc. Khi đó sẽ có sự phân biệt một cách rõ ràng sự khác biệt giữa đặc tính của danh và đặc tính của sắc, chứ không phải chỉ là suy nghĩ về những thứ ấy như hiện giờ.
HV 2: Đây là câu hỏi cho Sarah và Jonathan, tôi rất ngưỡng mộ trí tuệ của hai vị và tôi được biết hai vị đã học theo Achaan hơn 40 năm. Tôi cũng muốn hiểu về Vi diệu pháp. Tôi muốn hỏi là hai vị chỉ học theo lời Achaan dạy hay hai vị có nghiên cứu chính xác cả 7 cuốn vi diệu pháp hay không?
Achaan: Có phải ý bạn muốn nói rằng những điều tôi nói không đúng theo Tam Tạng?
HV 2: Không phải thế, những lời Achaan giảng rất ngắn gọn và dễ hiểu cho những người mới như con, nhưng trong thời gian ngắn ngủi như thế này thì đương nhiên nó chỉ mang đến một phần kiến thức nhỏ thôi, còn nếu giả sử con muốn tập trung vào học vi diệu pháp một cách nghiêm túc thì con có cần học kỹ cả bảy cuốn vi diệu pháp hay không?
Jonathan: Tất cả những lời của Achaan luôn luôn chính xác theo Tam tạng kinh điển. Achaan luôn khuyến khích chúng ta khảo cứu những điều này ở trong Tam tạng kinh điển. Như bạn biết tôi và Sarah cũng có diễn đàn trên mạng và trao đổi về pháp với nhiều người với những nền tảng đa dạng. Những cuộc thảo luận trên mạng này không có sự có mặt của Achaan. Những gì chúng tôi đề cập cũng được phản biện và tính chính xác của chúng được tham chiếu tới Tam tạng kinh điển để kiểm chứng. Với bản thân tôi, tôi cũng muốn chia sẻ là tôi không dựa vào lời nói của người khác mà tôi phải tự kiểm chứng.
Sarah: Đối với tôi, tôi cũng giống như các bạn, đã hỏi rất nhiều, suy xét rất nhiều và luôn kiểm tra đối chiếu với kinh điển để có thể suy xét và tìm ra cái gì là đúng.
Achaan: Thực chất, đó không phải là những lời của tôi. Những lời chân lý về bản chất của thế giới là Phật ngôn. Chính Đức Phật đã nói rằng tất cả lời chân lý đều là những lời của Ngài. Nhưng ai có thể nói lại Phật ngôn về chân lý như vậy mà không có sự nghiên cứu đây? Vậy thì tất cả lời nói đúng đắn đều là lời nói của Đức Phật. Không phải là lời nói của riêng ai, không phải là lời nói của riêng tôi.
Sarah: Tất cả những gì chúng ta đã thảo luận trong vài ngày qua – về các thực tại, về vitakka, về các lậu hoặc, các ách, các chi của Bát chánh đạo hay nghiệp đạo, v. v. , tất cả các chi tiết ấy các bạn có thể tìm thấy trong Tam tạng kinh điển. Tất cả các thực tại ấy là vô ngã, và khi hiểu như vậy thì nơi chốn không phải là vấn đề. Sự phát triển hiểu biết phải rất tự nhiên. Mặc dù chúng tôi đã phải làm việc rất nhiều và sống xa nơi Achaan sống, nhưng tất cả những điều ấy không phải là sự cản trở cho việc nghiên cứu Giáo pháp, cản trở duy nhất chính là tà kiến không thể thấy được con đường đúng đắn.
Jonathan: Để trả lời câu hỏi của bạn là liệu có cần phải đọc một cuốn sách cụ thể nào không, thì điều quan trọng nhất là chúng ta được gần gũi một bậc thiện trí, là người có thể giúp chúng ta có cái hiểu đúng đắn về Giáo pháp. Bởi nếu chúng ta đọc sách mà không có nền tảng hiểu biết đúng ngay từ ban đầu, chúng ta có thể hiểu sai những ý đề cập trong cuốn sách đó, và như vậy sẽ không giúp cho chúng ta có được hiểu biết đúng và đi trên con đường đúng. Khi Đức Phật thuyết pháp, Ngài thường thuyết pháp cho những đối tượng là những người đã có mức độ tuệ giác rất cao, đủ chin muồi cho giác ngộ. Với những người như chúng ta, do mức độ tuệ giác còn rất ít ỏi, chúng ta cần được nghe những lý giải về những gì Đức Phật đã thuyết giảng cho các vị đệ tử khi ấy bởi người có hiểu biết đúng về những lời dạy ấy, những lý giải ấy không sẵn có trong Kinh.
Achaan: Tôi nghĩ rằng điều quan trọng không phải là ai nói mà là điều người ấy nói ra có đúng hay không.
Vị sư 1: Hôm qua Achaan có hỏi mọi người, cái cứng có phải là uẩn không? Đáp là nó là uẩn, Achaan lại hỏi tại sao nó là uẩn, vì nó sinh diệt. Achaan có hỏi cái cứng sinh diệt nó có khổ không? Mọi người đáp là khổ, Achaan lại hỏi vậy tại sao nó lại khổ? Nhưng chưa có câu trả lời, vậy nhân đây Achaan hãy trả lời cho mọi người được biết.
Achaan: Cái sinh khởi và lại diệt đi ngay lập tức thì để làm gì đây? Và lại lặp lại rồi lặp lại nữa thì để làm gì đây? Nó thật là một sự bất toại nguyện lớn lao, nó cứ sinh và diệt, và không ai có thể làm ngưng sự vận hành như vậy của các thực tại. Cái mà ta cho là ta, thân ta hay tự ngã có sinh và diệt ngay lập tức hay không? Không. Chính vì vậy (vẫn còn chìm đắm trong những ý niệm như vậy -ND) nên vẫn còn cảm thấy dễ chịu, vì rằng, khi ấy vẫn có suy nghĩ là dù điều gì xảy ra đi nữa thì cũng không làm sao cả, một ngày nào đó mọi sự sẽ tốt hơn.
Đó là lý do vì sao ở thời Đức Phật, các vị tỳ kheo thường được hỏi: tại sao vị này lại trở thành vị tỳ kheo và câu trả lời là để thấy dukkha. Điều ấy có nghĩa rằng dukkha không dễ thấy và hiểu. Bây giờ thì chẳng có cái gì là dukkha cả, bởi vì không có cái gì dường như đang sinh và diệt hiện giờ. Nhưng trên thực tế khi thực sự liễu ngộ rằng không có con người và mọi thứ, mà chỉ có những thực tại sinh và diệt mà thôi, khi ấy chẳng phải là dukkha hay sao? Để làm cái gì đây, cứ sinh rồi diệt , rồi biến mất hoàn toàn, như vậy không khổ hay sao? Chúng ta có thể nói đó là một sự đau khổ- dukkha vĩ đại bởi vì không có cách nào chữa lành nó cả.
Sarah: Và theo nghĩa tối hậu thì tất cả thực tại như chánh niệm, trí tuệ hay tâm thiền thì cũng đều là khổ, vì chúng đều sinh và diệt và không có gì đáng để bám víu vào.
Học viên 5: Người tu tập luôn luôn hiểu nhầm về sự tinh tấn. Mấy ngày học vừa qua Achaan nói về cái tinh tấn không giống lâu nay như chúng con vẫn nghĩ. Nếu tinh tấn cố gắng làm cái gì đó, cái đó hoàn toàn là ảo tưởng về bản ngã. Achaan hãy dạy cho chúng con tinh tấn như thế nào mới gọi là Chánh tinh tấn?
Achaan: Chánh tinh tấn là chánh khi nó sinh khởi cùng với tâm thiện, và đặc biệt khi nó đi kèm với chánh kiến.
HV 5: Làm thế nào để có chánh tinh tấn?
Achaan: Không ai có thể làm gì cả vì nó cũng là một pháp hữu vi do duyên tạo, nó là vô ngã. Chánh tinh tấn luôn sinh khởi cùng với chánh kiến, cho nên đừng lo lắng về việc làm thế nào để có chánh tinh tấn vì bất kỳ khoảnh khắc nào có chánh kiến thì chánh tinh tấn đã có ở đó rồi. Hiện giờ có tinh tấn hay không?
HV 5: Có ạ
Achaan: Tinh tấn có sinh khởi với cái thấy không?
HV 5: Dạ, có
Achaan: Không phải đâu. Không cần phải có tinh tấn thì vẫn thấy được. Bởi vì đó là khoảnh khắc của sự hội tụ giữa nhãn căn, nhãn thức và đối tượng thị giác, chừng ấy đã tạo duyên cho cái thấy sinh khởi rồi. Vì không thể có sự sinh khởi của tâm nếu không có các tâm sở cho nên cần phải có bảy tâm sở để cho cái thấy sinh khởi, trong đó không có tinh tấn. Hiện giờ có ai phải cố gắng để thấy không? Cái thấy đã sinh khởi do duyên rồi
HV 5: Ý con muốn nói là trên cái thấy đó có sự hiểu đúng trên cái thấy chứ không phải con nói là cố gắng trên cái thấy.
Achaan: Khoảnh khắc của nhãn thức sinh khởi không sinh khởi cùng với tinh tấn, đó là sự thực. Khi tâm là bất thiện nhưng không có tham và sân mà chỉ có si ở đó thôi thì có tinh tấn không?
HV 5: Không ạ.
Achaan: Có đấy. Bất cứ khi nào có tâm bất thiện, mặc dù không có tham, sân nhưng vẫn có tinh tấn ở đấy rồi. Có ai ở đây phải cố gắng để không hiểu không? Dường như chúng ta không cần phải cố gắng, nhưng thực ra để có vô minh sinh khởi ở khoảnh khắc không hiểu, vẫn cần phải có sinh khởi tâm sở viriya-tinh tấn. Ai có thể biết được điều này? Đó là trí tuệ từ sự giác ngộ của chính Đức Phật. Bởi vậy, nếu chúng ta không nghiên cứu kỹ, chúng ta sẽ theo các ý niệm riêng của mình mà thôi, vì chúng ta không biết rõ về tâm, về tinh tấn, hay các thực tại khác.
Jonathan: Điều mà Achaan vừa giải thích về viriya – tâm sở tinh tấn không phải là ý niệm thông thường hay chế định về cái mà chúng ta gọi là nỗ lực hay cố gắng, hay là cố làm một cái gì đó. Nó là một tâm sở, nó hoàn toàn vô ngã, không thuộc về ai.
HV 5: Trong lúc mình tu tập, không cần phải làm gì hết chỉ cần có sự hiểu đúng thôi ạ. Tại sao Đức Phật lại dạy Bát chánh đạo như trong Kinh Đức Phật có nói hãy tinh tấn ngăn ngừa ác pháp chưa sanh, tinh tấn trong tứ chánh cần thì sao ạ?
Sarah: Ở khoảnh khắc của thiện thì có sự ngăn ngừa bất thiện ở đấy rồi đúng không? Ở khoảnh khắc có chánh niệm về đặc tính cứng, khi ấy có thể có bất thiện nào tại khoảnh khắc đó không? Bởi vì ở khoảnh khắc của tâm thiện đó, cũng có chánh tinh tấn ở đó, nó ngăn ngừa bất thiện ngay khi ấy nên không phải làm gì đó thêm. Chính vì vậy khi Đức Phật nói đến chánh tinh tấn trong kinh, Đức Phật nói hãy nỗ lực, hãy cố gắng, nhưng đó chỉ là theo cách nói chế định mà thôi. Về bản chất, Ngài nói đến chánh tinh tấn đi kèm với chánh kiến, chúng là các pháp vô ngã. Ngay ở khoảnh khắc này, khi chúng ta đang nghe pháp và có hiểu biết đúng thêm một chút, dù ở mức độ tư duy, thì ở khoảnh khắc đó cũng có chánh tinh tấn ngăn ngừa những bất thiện ở chính khoảnh khắc đó. Ngay khi có ý niệm ta phải cố gắng nỗ lực, cố gắng chánh niệm thì đã có tà tinh tấn sinh khởi cùng với tâm bất thiện. Như vậy chúng ta cứ cần phải ghi nhớ rằng, tâm sở tinh tấn là chánh tinh tấn đã sinh khởi ở khoảnh khắc có hiểu biết đúng rồi, chứ không cần nỗ lực hay làm thêm cái gì đó đặc biệt. Vậy hãy quên đi ý niệm rằng có một cái ngã nào đó nỗ lực hoặc làm một cái gì đó.
HV 5: Dạ, con hiểu rồi, cảm ơn ạ.
Học viên 2: Nếu chánh kiến sinh khởi thì có tất cả chi của Bát chánh đạo đi kèm, thế thì Đức Phật phải dạy 8 chi làm gì? Tại sao không gọi là Nhất chánh đạo, học một thứ thôi cho đơn giản.
Achaan: Liệu chánh kiến có thể sinh khởi một mình không?
Jonathan: Nó được gọi là Bát chánh đạo bởi vì khi tâm đạo sinh khởi thì ở đó có tám chi, chứ không phải bởi vì ở đó có tám thứ phải làm. Khi chúng ta nói rằng bất cứ khi nào có chánh kiến thì đã có chánh tinh tấn ở đó rồi, thì ý ở đây là: không cần phải phát triển chánh tinh tấn như là một thứ riêng rẽ với chánh kiến. Khi ấy, chúng ta hiểu rằng con đường Bát chánh đạo về thực chất chỉ là một khoảnh khắc của tâm sinh khởi, trong đó có những tâm sở bao gồm trí tuệ, tinh tấn cùng những chi khác.
Sarah: Và vì chánh kiến không thể sinh khởi và đảm nhận chức năng của mình mà không có sự hỗ trợ của các chi kia.
Achaan: Khi có chánh kiến, nó hiểu về vô ngã. Các thực tại không thể sinh khởi một mình mà cần các thực tại khác trợ duyên cho nó sinh khởi. Có nhiều hơn là bảy tâm sở sinh khởi cùng với trí tuệ nhưng những tâm sở kia không được tính là các chi của Bát chánh đạo. Từ Đạo có nghĩa là gì?
HV 2: Là con đường
Achaan: Dẫn tới đâu?
HV 2: Đạo là con đường dẫn đến sự diệt khổ.
Achaan: Thế có thể đi trên con đường đó mà không hiểu gì cả không?
HV 2: Không thể.
Học viên 12: Phát triển con đường Bát chánh đạo là phát triển dần dần, Vậy có phải là bất cứ khi nào có duyên để phát triển một trong các yếu tố đó, thì mình sẽ phát triển cái yếu tố đó, có phải không?
Achaan: Đối tượng của Bát chánh đạo là gì?
HV 12: Niết bàn.
Achaan: Tứ diệu đế không chỉ có một mà thôi. Niết bàn là diệu đế thứ mấy? Trước đó thì là gì nào?
Học viên 2: Trước đó là nguyên nhân về khổ.
Học viên 12: Là sự thật về khổ.
Achaan: Thế nào là khổ?
HV 12: Theo con hiểu chấp thủ vào ngũ uẩn là khổ. Con muốn Bà giải thích về khổ theo nghĩa chấp thủ vào ngũ uẩn là khổ, như thế nào là sự hiểu biết đúng về những điều Đức Phật dạy trong kinh về 11 yếu tố mà Đức Phật dạy là khổ như sinh, già, bệnh, chết…
Sarah: Tôi nghĩ rằng cả hai bạn đều chưa trả lời vào câu hỏi của Achaan về đối tượng của con đường đạo là gì, khi con đường đạo đang được phát triển thì đâu là đối tượng của con đường đạo? Câu trả lời cho câu hỏi này là tất cả các thực tại hữu vi đều là đối tượng của con đường Bát chánh đạo trước khi diệu đế thứ ba được chứng ngộ (Diệt đế hay Niết bàn).
Achaan: Theo nghĩa tuyệt đối thì thế nào là dukkha?
HV 12: Do sự sinh và diệt của mọi pháp.
HV 2: Tôi không nghĩ vậy, tôi nghĩ bản thân sự sinh diệt của pháp không có vấn đề gì cả mà tà kiến về cái sinh và diệt đó mới dẫn đến khổ.
Achaan: Chúng tôi nghĩ rằng, điểm này cần phải được làm rõ, bây giờ bạn hãy nói đến từng cái khổ mà bạn vừa kể đến, từng cái một.
HV 12: Khi nói khổ là bởi vì mọi thứ đều sinh và diệt nên nó khổ. Với con, điều đó dường như chỉ là suy nghĩ về mặt logic thôi.
Achaan: Nếu như không có sự sinh khởi thì có thể có sự diệt đi của thực tại không?
HV 12: Nếu nó không sinh thì không có diệt và cũng không có khổ.
Achaan: Tại sao các vị tỳ kheo ở thời Đức Phật đã xuất gia chỉ để thấy Khổ?
HV 12: Bởi vì Đức Phật đã nói ngũ uẩn thủ là Khổ.
Achaan: Một thực tại sinh và rồi lại diệt đi hoàn toàn không bao giờ trở lại, cứ như vậy thì cái đó không phải là khổ hay sao?
HV 12: Có những khi rất chánh niệm và thấy mọi thứ nó sinh và diệt rất là nhiều thì khi đấy thấy rất mệt và lúc đó đúng là thấy rất là khổ.
Sarah: Có phải ý của bạn là nó chỉ khổ khi nó được hiểu là nó sinh và diệt thôi hay sao? Chẳng hạn như hiện giờ đang có cái cứng, nó đang sinh và diệt nhưng không có cái hiểu về điều đó thì có khổ không?
Achaan: Khi bạn nói như vậy là bạn khổ thôi, chứ không phải là cái hiểu của tuệ giác về khổ, đó không phải là cái hiểu của panna. Bạn cho cảm thọ khổ đó là diệu đế hay sao?
HV 12: Không ạ.
Achaan: Chỉ có tuệ giác khi hiểu được sự sinh diệt của thực tại thì nó hiểu về khổ, còn khi có ý niệm là mình khổ thì khi đó chỉ là thọ khổ thôi chứ không phải là cái hiểu trực tiếp về sự sinh diệt của thực tại.
Sarah: Liệu Tuệ giác có mệt khi nó hiểu thực tại hay nó hiểu về sự sinh diệt của thực tại hay không?
HV 12: Không.
Achaan: Vậy thì đó không phải là panna. Chỉ có tuệ giác mới có thể thấy được sự sinh và diệt, cho nên cái mà bạn gọi là sự sinh diệt đó không phải là sự sinh diệt của thực tại, cái chỉ xảy ra một cái ở một thời điểm. Nếu trí tuệ mệt thì chúng ta có nên có trí tuệ không?
HV 12: Con không nói là trí tuệ mệt ạ.
HV 12: Câu hỏi lúc nãy là phát triển con đường Bát chánh đạo, nếu có duyên để phát triển bất cứ một trong tám yếu tố trong Bát chánh đạo, thì sẽ phát triển yếu tố đấy. Đó có phải là phát triển dần dần không?
Achaan: Không có người nào phát triển Bát chánh đạo mà chỉ có Trí tuệ phát triển mà thôi.
Sarah: Phát triển dần dần có nghĩa là bắt đầu ngay bây giờ, ở khoảnh khắc hiểu về thực tại, hiểu đúng về con đường phát triển của hiểu biết, không có ai ở đó. Khi có ý niệm rằng ai đó hay tùy thuộc vào nhân duyên mà một trong các chi của Bát chánh đạo sẽ được phát triển, thứ nhất là ở đó có ý niệm về một ai đó phát triển Bát chánh đạo, thứ hai là không có hiểu biết đúng về sự phát triển Bát chánh đạo thực sự là gì,
HV 12: Ví dụ trường hợp nếu tiếp xúc với đối tượng nào đó mà có thể dẫn đến sân hoặc si. Ở cái khoảnh khắc đó với sự hiểu biết đúng thì sẽ là phát triển Tứ chánh cần tức là làm cho bất thiện pháp chưa sinh không sinh khởi, bất thiện pháp đã sinh không phát triển, thiện pháp chưa sinh thì sinh khởi, thiện pháp đã sinh thì tăng trưởng.
Jonathan: Chánh tinh tấn là một trong những chi của Bát chánh đạo, nó sinh khởi cùng các chi khác, chúng ta không chọn để làm chánh tinh tấn đó, bất cứ khi nào có tâm thiện thì đã có tinh tấn là thiện rồi. Bất cứ khi nào tâm là thiện thì tâm sở tinh tấn đó sẽ đảm nhận chức năng mà bạn vừa đề cập tới, hoặc một trong số các chức năng đó. Chẳng hạn như ở khoảnh khắc của giữ giới thì khi đó chánh tinh tấn sẽ làm nhiệm vụ ngăn ngừa bất thiện pháp sinh khởi, chứ không phải là việc cố gắng làm cái gì đó khi có tham hay sân.
HV 12: Tại khoảnh khắc ấy có thể có cái thực hành, cái phát triển về Tứ chánh cần, tức là không để cho bất thiện pháp sinh khởi, hoặc để cho thiện pháp sinh khởi và tăng trưởng. Ở khoảnh khắc đó chỉ có chánh tinh tấn thôi, chứ không có được chánh kiến là cái sự hiểu biết về Tứ đế.
Sarah: Khi đến thời điểm để cho cái thấy sinh khởi vì có cái duyên cho cái thấy sinh khởi thì nó sẽ sinh khởi. Khi đến thời điểm để cho sân sinh khởi bởi vì có duyên cho nó sinh khởi thì nó sẽ sinh khởi. Khi có những con người hay chúng sinh có duyên để cho tâm từ sinh khởi thì tâm từ sẽ sinh khởi. Ở khoảnh khắc đó, có thể không có hiểu biết nhưng mà tâm là tâm thiện. Ở khoảnh khắc đó có tinh tấn là thiện cùng với tâm đang là tâm từ, chứ không phải là một ai đấy cố gắng có tâm từ hay có sự thân thiện, không ai có thể khiến cho tinh tấn sinh khởi. Tinh tấn sinh khởi cùng tâm thiện là thiện, nhưng nó không phải là chánh tinh tấn của con đường Bát chánh đạo.
HV 12: Bây giờ chúng ta đang thảo luận, phát triển con đường Bát chánh đạo thì phải phát triển cả 8 yếu tố đó đồng thời cùng lúc thì là như thế nào? Bởi vì như thế kia là chỉ có 1 yếu tố, đâu có đủ hết các yếu tố khác.
Jonathan: Chúng ta đang không nói đến khoảnh khắc của Bát chánh đạo ở tâm đạo, tức là tâm siêu thế khi cả tám chi cùng có mặt, mà chúng ta đang nói đến những khoảnh khắc phát triển con đường Bát chánh đạo, có thể gọi là Bát chánh đạo hiệp thế, thì ở khoảnh khắc của Bát chánh đạo hiệp thế, có năm hoặc sáu chứ không phải cả tám chi đều sinh khởi một lúc.
HV 12: Dường như phát triển từng yếu tố thì còn dễ dàng một chút, chứ nếu bảo là phát triển đồng loạt thì không có dễ dàng, dù là không đủ cả tám yếu tố.
Jonathan: Khi có hiểu biết đúng về các pháp thì tự các chi đó sinh khởi cùng nhau, chứ không cần phải có chúng ta phát triển chúng một cách riêng biệt. Ở khoảnh khắc của Bát chánh đạo hiệp thế, có ít nhất các tâm sở như chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định sinh khởi cùng với nhau, và có thể với một trong ba tâm sở tiết chế: chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp, nếu như có cơ hội để cho một trong ba tâm sở này sinh khởi (vì cả ba không bao giờ sinh khởi cùng nhau trong Bát chánh đạo hiệp thế).
Achaan: Bạn nói là bạn muốn cố gắng phát triển chánh tinh tấn?
HV 12: Không phải là con mà đó là công việc của tâm.
Học viên 9: Con hiểu Khổ là sự vận hành của 12 nhân duyên, mà bắt đầu là do vô minh. Nếu như chấm dứt được nhân duyên thì sẽ không có khổ?
Achaan: Thế nào là dukhha- khổ? Chúng ta dùng từ này rất nhiều, nhưng nó là gì đây? Chúng ta đang nói đến dukhha là một trong tam tướng mà vẫn chưa thể được biết, được hiểu hiện giờ, hay là chúng ta nói về cái khổ trong cuộc sống hàng ngày của mình? Cái mà chúng ta đang nói đến ở đây, là dukkha trong Tứ diệu đế, là khổ đế. Bạn có mệt không? Cái mệt đó có phải là dukkha không? Chính xác hơn là, bất cứ cái gì, trong đó bao gồm cả cái mệt này, đều sinh và diệt, và đó là khổ. Bất cứ cái gì sinh và diệt là khổ, đó là ý nghĩa tuyệt đối của dukkha. Nếu như không có kinh nghiệm trực tiếp về sự sinh diệt của thực tại hiện giờ, thì liệu ta có thể gọi đó là thánh đế thứ nhất không? Chính vì vậy, chưa cần phải nói về mức độ dukkha mà hiện giờ chúng ta vẫn chưa thể thấy được, mà cần phải bắt đầu với việc hiểu về thực tại khi chúng xuất hiện. Bởi vì, ngay cả ở tuệ đầu tiên của minh sát tuệ –tuệ phân biệt danh sắc, vẫn chưa có cái hiểu về khổ – dukkha, vì lúc đó chưa có sự xuyên thấu sự sinh diệt của thực tại.
Sarah: Có ba loại khổ: thứ nhất là loại khổ sinh khởi cùng với thọ khổ khi chúng ta đau đớn hay buồn rầu, cái đó gọi là dukkha-dukkha (khổ khổ), rất dễ nhận biết ; thứ hai là loại khổ được biết đến với sự diệt đi của thọ lạc và thọ hỷ, kể cả những thứ dễ chịu cũng sinh và diệt, nó không kéo dài, vì vậy cũng là khổ và được gọi là viparinama dukkha (hoại khổ); thứ ba, là khổ do sự sinh diệt của tất cả các thực tại hữu vi, được gọi là hành khổ (sankkhara dukkha). Kể cả khi chưa có giáo lý của Đức Phật, mọi người vẫn biết rất rõ về khổ khổ, tức cái khổ của thọ khổ, người ta cũng biết hơn một chút về hoại khổ, cái khổ của trạng thái dễ chịu nhưng không kéo dài. Nhưng chỉ khi Đức Phật ra đời và giảng về thực tại, người ta mới biết được về Hành khổ, chính là loại dukkha nói đến trong Tứ Thánh đế, là một mức độ dukkha rất sâu sắc mà chỉ có trí tuệ ở mức độ chứng nghiệm về sự sinh diệt của thực tại mới hiểu được.
Học viên 1: Theo hiểu biết của con về khổ thì có hai cách hiểu về Khổ. Khổ theo cách nghĩ thông thường là không có nhà cửa, không có thứ đồ mà họ muốn có thì là khổ, đấy là do sự dính mắc với các đối tượng là các sắc. Thứ hai Khổ mà Đức Phật nói đến trong Tứ diệu đế, là cái khổ trong bản chất của các pháp, tại sao có cái khổ này, là do tính chất vô thường của tất cả các pháp. Hình thành rồi tan hoại thì dẫn đến cái khổ đó.
Sarah: Sẽ không thể hiểu được ý nghĩa thâm sâu của loại khổ thứ ba này nếu như không bắt đầu từ các thực tại hiện giờ như cái thấy, cái nghe, cái cứng v.v., và chỉ nhờ sự phát triển hiểu biết về các thực tại đang xuất hiện hiện giờ, đến một lúc nào đấy, có thể có được tuệ giác xuyên thấu sự sinh diệt của thực tại, khi ấy cái hiểu về dukkha- khổ đế mới thực sự được chứng nghiệm.
Ai đó hỏi: Hôm qua Bà nói sắc chẳng hạn như cái cứng, cái mềm đều sinh và diệt do vậy nó đều là khổ. Nhưng theo con thì sắc không biết cái gì cả. Vậy thì làm sao nó có thể là khổ? Chỉ có sự dính mắc vào cái sinh và diệt đó thì mới là khổ.
Achaan: Cái cứng là một thực tại là sắc và nó không biết gì cả, nhưng nó cũng sinh và diệt giống như các thực tại hữu vi khác, chúng vô thường, vậy nếu chúng ta dính mắc vào cái sinh và diệt đi và không bao giờ quay trở lại, đó là khôn ngoan hay xuẩn ngốc đây? Thánh đế thứ nhất hay sự thật về khổ không phải nói về thọ khổ đâu.
Sadhu sadhu sadhu!
Pháp đàm với các sư ngày 04-09-2013
11/ Pháp đàm với các sư buổi chiều ngày 04.09.2013 tại SG.
Vị sư 1: Khi không có cái hiểu thì luôn luôn có sự cố gắng. Thậm chí khi sư đến gặp Achaan , sư vẫn có ý niệm là đến để có thêm sự hiểu biết cho chính mình.
Achaan: Sẽ vẫn là như vậy cho đến khi tà kiến về ngã được tận diệt hoàn toàn. Trong Tam tạng có cụm từ giới cấm thủ (silabata paramassa), có nghĩa là sự chấp thủ vào những sự thực hành sai trái, kể cả với những người đã hiểu được Giáo lý. Bởi bất cứ thứ gì sinh khởi đều do duyên, chừng nào còn ý niệm về ngã, chừng ấy sẽ còn những khoảnh khắc có ý muốn cố gắng. Kể cả hiện giờ, có thể đang có ý định chánh niệm. Hiểu biết đúng có thể thấy được rằng điều đó là không đúng, bởi vì ý định –cetana không phải là một chi của Bát chánh đạo. Hiểu biết đó sẽ làm duyên cho sự buông bỏ ý định chánh niệm, hay cố làm một cái gì đó. Chỉ một vị Tu đà hoàn mới hoàn toàn tận diệt giới cấm thủ, nhưng panna- trí tuệ sẽ giúp ta quay về con đường đúng, vì nó biết rằng đó là sai lầm, và như vậy sẽ cứ phải bắt đầu, rồi bắt đầu lại, để hiểu một cách vững vàng hơn rằng bất cứ cái gì xuất hiện đều do duyên. Sẽ cần một thời gian rất dài để có thể có được hiểu biết kiên cố, gọi là sacca nanna, nhờ có trí tuệ biết và thấy mỗi khi ditthi – tà kiến sinh khởi.
Như vậy thì đừng mong đợi một kết quả nhanh chóng là có thể tận diệt ngay được những ý niệm về ngã. Đó chỉ là chức năng của trí tuệ, chứ không phải là của một ai đấy, hay một tự ngã. Chính hiểu biết đó sẽ giúp ta xa rời tà kiến rằng mình là có thể làm cái gì đó, theo những ý niệm riêng của mình. Ở khoảnh khắc có sự hay biết về đặc tính cứng, thay cho việc gọi chung chung là “bất cứ thực tại nào”, thì phải rất chi tiết, bởi cái được kinh nghiệm khi đó là đặc tính cứng. Trước khi được nghe Giáo lý về thực tại, không hề có ý niệm rằng kể cả đặc tính cứng thôi cũng cần phải được nhận biết. Vì nó cũng giống như các thực tại khác, đều sinh và diệt, tuệ giác không lựa chọn một đối tượng cụ thể. Trí tuệ thực sự xảy ra rất tự nhiên, nó sinh khởi do duyên chứ không phải do ai đó cố gắng.Trong một ngày có rất nhiều khoảnh khắc kinh nghiệm đặc tính cứng, ở đây chúng ta đang nói về một thực tại có thể áp dụng cho tất cả thực tại khác. Hiện giờ đặc tính cứng đang xuất hiện bình thường như mọi lúc. Không ai có thể thay đối đặc tính của cái cứng khiến nó trở nên cứng hơn hay mềm hơn, nó chỉ như nó là ở khoảnh khắc nó xuất hiện nhanh chóng đó. Vậy không phải là việc cố gắng tập trung vào nó. Hiểu biết đúng sau khi nghe pháp có thể hiểu được thực tại đó với đúng đặc tính của nó, tức là không phải là tự ngã. Nếu ở khoảnh khắc này, ai đó cố gắng tập trung vào nó hay cố gắng chánh niệm về đặc tính cứng thì đó không phải là chánh niệm đúng đắn, bởi vì chỉ có trí tuệ mới có thể hiểu thực tại đó mà thôi. Tà kiến về ngã có thể sinh khởi cùng với sự hoan hỉ về điều đó (khi cố gắng chánh niệm- ND), nhưng đó không phải là trí tuệ cùng chánh niệm thực sự sinh khởi một cách tự nhiên. Cái xuất hiện hiện giờ xuất hiện một cách không hề mong đợi, đó là cách mà pháp vận hành. Cần phải có các ba la mật để hỗ trợ cho sự phát triển hiểu biết ở tất cả các mức độ khác nhau.
Ví dụ, trong một ngày, đặc tính cứng xuất hiện như thường lệ, nhưng nhờ có việc đã được nghe đi nghe lại nhiều lần, hiểu biết bắt đầu biết rằng không phải là tôi hay biết mà là hay biết biết đặc tính cứng đó. Lúc khởi đầu, đó mới chỉ là suy nghĩ mà thôi. Chúng ta có thể thấy rằng trong một ngày ta có thể nghĩ đến nhiều thứ khác nữa, vậy thì cái gì làm duyên cho việc suy nghĩ về đặc tính cứng đây? Cần phải có duyên để suy nghĩ về đặc tính cứng đó sinh khởi, thay cho suy nghĩ về thứ khác, và ở khoảnh khắc đó, suy nghĩ cũng không phải là tự ngã. Nhưng lúc ban đầu, không thể có suy nghĩ về vô ngã ngay lập tức. Trí tuệ sẽ học cách hiểu bất cứ cái gì xuất hiện một cách từ từ. Trí tuệ tự nó biết, ta không cần phải hỏi người khác hiện giờ hiểu biết của mình ở mức độ nào.
Cũng như vậy đối với bất kỳ thực tại nào đang xuất hiện. Chúng ta đã được nghe rất nhiều lần rằng, hiện giờ chỉ có đối tượng thị giác đang được thấy mà thôi. Mặc dù chúng ta đã nghe vô cùng nhiều lần rồi, nhưng vẫn chưa ai thấy được đối tượng thị giác. Nhưng đến một lúc nào đấy, một cách không mong đợi, nó bắt đầu nghĩ chỉ về cái đó mà thôi, và khi đó ta hiểu được chi thứ hai của Bát chánh đạo, đó là Chánh tư duy- tâm sở tầm – vitakka. Thông thường chúng ta nghĩ đến vitakka trong sự gắn kết với suy nghĩ. Nhưng thực chất, nó có thể sinh khởi trước khi cái mà chúng ta vẫn gọi là suy nghĩ sinh khởi. Và bây giờ, ngoại trừ khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe, luôn có vitakka nhưng không được nhận biết, tất cả đều trong bóng tối chừng nào tuệ giác vẫn chưa sinh khởi.
Trong thế giới của các thực tại, mọi thứ đều sinh khởi trong bóng tối. Vì chỉ có duy nhất một căn môn là nhãn căn qua đó đối tượng thị giác mới được thấy, và như vậy có rất nhiều khoảnh khắc của bóng tối. Khi không có đối tượng thị giác, mọi thứ đều tối. Một thứ còn tối hơn nữa là vô minh. Vô minh không biết cái gì đang có ở đó, và chúng ta sống trong thế giới của vô minh. Chính vì thế, mặc dù có cái thấy nhưng không có hiểu đúng về cái thấy như nó là. Cái thấy sinh khởi do duyên. Nó sinh khởi và rồi diệt đi, chỉ thế mà thôi. Các tâm khác thì sinh khởi trong bóng tối. Hãy nghĩ đến cái xuất hiện là đối tượng thị giác chỉ là đối tượng thị giác. Mỗi khi chúng ta nhắm mắt lại, đối tượng thị giác sẽ không thể được thấy. Nhưng có tưởng nhớ về cái được thấy, và có suy nghĩ về cái được thấy, giống như trong một giấc mơ. Trong giấc mơ thì không có đối tượng thị giác, nhưng vẫn có suy nghĩ về cái được thấy. Cái đó cần phải được hay biết, nhưng vô minh thì đâu có biết được đâu. Nhờ có việc nghiên cứu Giáo lý và suy xét về nó ngày càng nhiều hơn, ta có thể hiểu rằng trên thực tế thì ta sống trong bóng tối nhiều hơn là trong ánh sáng. Vì cái thấy sinh và diệt luôn luôn, nên thế giới dường như là sáng, nhưng khi các thực tại xuất hiện như nó là (không phải chỉ riêng cái thấy, mà còn các thực tại khác nữa – ví dụ như sự kinh nghiệm đặc tính cứng), không phải luôn là sáng . Và vì chỉ có một đối tượng ở một thời điểm thôi, nên ở khoảnh khắc của kinh nghiệm đặc tính cứng, làm sao mà không tối được đây? Nhưng kể cả trong bóng tối thì trí tuệ vẫn có thể hiểu, dù là trong bóng tối hay không trong bóng tối, nó có thể hiểu bất cứ cái gì xuất hiện. Vậy thực tại kinh nghiệm (tâm) tối hay không tối đây? Ta có thể nói hiện giờ ta đã hiểu tâm như nó là hay chưa? Bởi vì khi nó xuất hiện, nó xuất hiện trong bóng tối. Khi nó xuất hiện, không có hình và dạng, nó chỉ kinh nghiệm đối tượng được kinh nghiệm mà thôi. Khi đó thì ta mới thực sự hiểu được ý nghĩa của từ “thế giới- thế gian”: không có gì cả, rồi có một cái gì đó, rồi lại không gì cả. Nếu không có gì sinh khởi, liệu ta có thể nói rằng có thế giới hay không? Nếu không có gì sinh khởi thì không có thế giới, nhưng bất cứ khi nào có cái gì đó sinh khởi thì đó là thế giới, dù đó là gì đi nữa. Chính vì vậy ý nghĩa của thế gian là cái sinh và diệt. Chỉ có duy nhất một thực tại không sinh diệt, vượt lên trên thế gian, đó là Niết bàn. Nếu không nghiên cứu, ta sẽ cho rằng đó là một nơi chốn rất đẹp đẽ, rất yên bình và hạnh phúc. Nhưng nếu như vậy, nó lại là một thế giới rồi, nhưng nó thực chất là siêu thế chứ không phải là thế gian. Nếu Đức Phật không dạy về Niết bàn thì có ai có thể biết về Niết bàn không?
Vị sư 1: Achaan nói rằng hiểu biết phát triển bởi biết đặc tính của thực tại một cách từ từ. Vậy sự khác biệt giữa đặc tính của thiện và bất thiện, đặc tính của lạnh và nóng về mặt tối hậu?
Achaan: Bằng lý thuyết, chúng ta biết rằng tính chất của thực tại là khác nhau, chẳng hạn như về tâm: một số tâm là thiện, một số là bất thiện, một số là quả và một số là duy tác (không phải thiện hay bất thiện). Lúc khởi đầu chưa hiểu được thực tại là pháp thì chưa thể biết được ngay lập tức tính chất của các thực tại ấy. Nếu chưa có hiểu biết về từng thực tại riêng biệt thì chưa thể hiểu được thực tại này là thiện, và thực tại kia là bất thiện. Hiểu biết về tất cả các các pháp cần phải được phát triển, nhưng chưa thể hiểu ngay lập tức nó là thiện hay bất thiện, hãy chỉ cần bắt đầu hiểu rằng nó không giống như bất cứ cái gì trước đây, nó chỉ là một đặc tính, không phải là cái bàn, cái ghế hay những thứ mà trước đây ta vẫn nghĩ. Ở khoảnh khắc này, đặc tính cứng xuất hiện nhưng nó không thực sự rõ ràng, bởi vì cũng có những thực tại khác xuất hiện, và chưa sinh khởi thực tại có đặc tính hay biết (tức là chánh niệm – ND). Khi chánh niệm sinh khởi, sẽ khác với lúc bình thường, mặc dù chỉ chút xíu mà thôi. Chẳng hạn ở khoảnh khắc có sự xúc chạm hiện giờ, vẫn chưa có cái hiểu về đặc tính cứng, nhưng ở khoảnh khắc có chánh niệm, chỉ có đặc tính cứng xuất hiện mà thôi. Khi đó ta không cần phải nói là chánh niệm đang hay biêt về nó, nhưng đặc tính của cái cứng thực sự xuất hiện như nó là. Đây là sự khác biệt giữa cuộc sống hàng ngày có hiểu biết và cuộc sống hàng ngày không có hiểu biết, và cũng là sự khởi đầu của hiểu biết đã khác với hiểu biết thuần tùy tư duy. Kể cả sự kiện ấy cũng có thể trở thành đối tượng của sự dính mắc ngay lập tức. Vì vô minh vẫn còn đó, dính mắc còn đó và ý niệm về ngã còn đó. Duy nhất chỉ có trí tuệ mới có thể thấy được sự khác biệt. Nếu không, nó sẽ lại rơi vào cái bẫy của sự dính mắc. Tham ái là một ông chủ rất quyền lực. Kể từ khoảnh khắc ta mở mắt, có ai thấy ông chủ không? Chúng ta cử động, chúng ta làm mọi thứ đều do ông chủ.
Như vậy trí tuệ cứ phát triển từ từ tiếp tục cho đến khi nó hiểu được thực tại như nó là, nhiều hơn và kỹ hơn. Chỉ có trí tuệ mới có thể tận diệt được tà kiến và vô minh mà thôi. Chỉ đến khi tâm siêu thế kinh nghiệm Niết bàn mới tận diệt hoàn toàn dính mắc vào ý niệm về ngã, hoàn toàn loại bỏ không bao giờ trở lại. Khoảnh khắc không muốn có tham thì lúc đó tham đã có mặt rồi. Làm thế nào thoát khỏi nó đây? Chỉ có hiểu biết đúng mới có thể thấy một cách rõ ràng hơn. Và trí tuệ không hoài nghi về các đối tượng đã được hiểu. Nhưng tuệ giác vẫn còn chưa đủ để hiểu rằng bản thân hoài nghi đó cũng không phải là tự ngã. Dù trong kiếp sống này hay trong kiếp sống khác, tham và si vẫn là những ông chủ lớn. Chúng ta đã là nô lệ của tham từ rất lâu rồi, vậy làm sao để tham từ bỏ nô lệ của chúng đây? Chỉ có trí tuệ mới có thể làm điều ấy, một cách từ từ cho đến khi tham hoàn toàn tận diệt.
Vị sư 1: Vậy thì ý niệm về tham hay sân chỉ là suy nghĩ của chúng ta và tại khoảnh khắc mà nó sinh khởi thì nó chỉ sinh khởi mà thôi?
Achaan: Thực tại là vô ngã và trí tuệ có thể hiểu được điều ấy. Thông thường, sẽ có ý niệm “tôi thích” hoặc “tôi bực”, nhưng khi tham sinh khởi thì có sự dính mắc, khi dosa sinh khởi thì sự khó chịu, những đặc tính ấy khác nhau, nếu không sẽ không thể phân biệt được rằng lúc này tôi tham và lúc này tôi sân.
Vị sư 1: Nhưng cái đó có thể là ở khoảnh khắc sau. Còn trong khoảnh khắc đó thì chỉ là sinh khởi.
Achaan: Khi sân sinh khởi thì ta có cần phải gọi nó là sân chưa? Sân là một thực tại có đặc tính riêng và chức năng riêng của nó, đó cũng là một loại pháp. Hiểu biết đúng bắt đầu hiểu được từng thực tại là pháp cho đến khi tất cả các pháp đều chỉ là vô ngã mà thôi.
Vị sư 1: Khi Bà nói nó là thực tại thì có phải ý rằng đó là như nó là hay không?
Achaan: Đúng như vậy. Ví dụ sân thì không phải là tham, nó có đặc tính riêng.
Vị sư 1: Khi chúng ta nói tham và sân thì thường có xu hướng nghĩ rằng đó là xấu, nhưng tại khoảnh khắc cái mà là tham và sân thì nó không có cái ý niệm đó, mà nó ở khoảnh khắc sau.
Achaan: Ở khoảnh khắc có sự suy nghĩ, suy nghĩ đó có thể sinh khởi với tham hoặc sân. Nhưng suy nghĩ chỉ làm nhiệm vụ suy nghĩ, không phải là tham cũng không phải là sân. Tâm làm nhiệm vụ kinh nghiệm đối tượng không phải là suy nghĩ, không phải là tham hay sân. Mỗi thực tại có chức năng riêng của chúng, mỗi thực tại như tâm và tâm sở đều sinh khởi để đảm nhận chức năng riêng của chúng. Ở khoảnh khắc có một âm thanh rất lớn làm chói tai, dù ta vẫn chưa biết đó là âm thanh gì thì đã có sân với âm thanh đó rồi, như vậy, lúc có sân sinh khởi cùng với suy nghĩ, nhưng có lúc nó không sinh khởi cùng với suy nghĩ.
Vị sư 1: Khi nói về sân và tham hay khi nghĩ về chúng, thì thường là có sự phản ứng nghĩ rằng nó là cái không tốt, nó là cái chướng ngại, nhưng có lúc lại nghĩ rằng chúng chỉ là các pháp tự nhiên. Tại sao lại như vậy?
Achaan: Do duyên. Có rất nhiều loại duyên khác nhau, về cơ bản thì có hai mươi tư loại duyên hệ, nếu tính những loại duyên phụ thì còn nhiều hơn nữa.
Vị sư 1: Khi Achaan nói đến kinh nghiệm khoảnh khắc hiện tại thì điều đó có thưởng xảy ra trong ngày? hay là nó xảy ra rất lâu, có thể nhiều năm cũng chưa thể thấy được nó.
Achaan: Ý sư là kinh nghiệm cùng với hiểu đúng về thực tại?
Vị sư 1: Đúng.
Achaan: Phải nói rõ là với hiểu biết đúng, bởi vì lúc nào cũng có tâm kinh nghiệm đối tượng, kể cả ở khoảnh khắc ngủ say, khi đó tâm hộ kiếp vẫn đảm nhận nhiệm vụ duy trì sự sống. Khi kiếp sống đó kết thúc, sẽ không còn tâm sinh khởi cùng với thân đó nữa. Ngay sau khi tâm cuối cùng trong kiếp sống đó diệt đi, lại có những tâm khác sinh khởi tiếp nối mà không có sự gián đoạn. Mỗi tâm sẽ làm duyên cho tâm tiếp nối theo phương thức vô gián duyên, ngoại trừ tâm tử của một vị Arahat. Đó được gọi là Đại Niết bàn hay Bát Niết bàn. Với các tâm còn lại, bất cứ tâm nào diệt đi cũng lại tạo duyên cho tâm tiếp theo. Nếu như hiện giờ không có tâm sinh khởi thì sẽ không có cái thấy, không có con người, không có gì xuất hiện cả.
Vị sư 1: Cái hiểu đúng sinh khởi nhiều lần trong ngày hay phải mất thời gian rất lâu và khó khăn? Có nhân duyên nào mà có thể xảy thường trong ngày hay nhiều ngày sau đó.
Achaan: Ông chủ lớn đang có ở mặt ở đó. Hiện giờ tham đang sinh khởi và nó trăn trở khi nào, bao lâu, được nhiều không? Nếu hiểu biết đúng sinh khởi, nó chỉ biết là nó sinh khởi và tại thời điểm đó nó biết rất rõ điều ấy, còn bất kể khoảnh khắc hiểu biết tiếp theo sẽ sinh khởi vào khi nào thì không quan trọng, vì điều ấy tùy thuộc vào nhân duyên, không quyết định được. Mời Sarah nói thêm về các ách hay xiềng xích (yoga).
Sarah: Như chúng ta đã nói từ trước, các loại xiềng xích (ách, gông) như vô minh, tham ái và dính mắc trói buộc chúng ta trong vòng luân hồi. Chẳng hạn bây giờ có thể có một chút hiểu biết về mặt tư duy về thực tại. Chúng ta có thể cảm thấy phấn khích về điều đó và cho rằng có sự hoan hỉ ở trong đó. Liệu có thể có tham thọ hỷ mà chúng ta đã tích lũy từ lâu trong đó? Cái đó giống như một cái bẫy. Nếu chúng ta băn khoăn liệu có thể có thêm những khoảnh khắc hiểu biết hay không vào ngày mai, đó đã là một cái ách to hơn rồi. Khi chúng ta bắt đầu phân vân, liệu đây có phải là cái hiểu về đối tượng thị giác v.v… đó lại là cái ách nữa. Khi lại tiếp tục hỏi liệu bao lâu nữa ta sẽ lại có thêm hiểu biết ấy, thì đó lại là thêm ách, thêm cái bẫy tiếp theo. Thay cho việc tiếp tục bị chìm đắm trong những câu chuyện về con người và mọi thứ, chúng ta có thể bị chìm đắm trong những câu chuyện về cái cứng, về cái thấy, đối tượng thị giác và v.v. Ở những khoảnh khắc đó có tâm tham hợp với tà kiến về ngã và mong muốn có thêm hiểu biết cho bản thân ra. Đây không phải là mục đích của việc phát triển hiểu biết đúng. Mục đích tốt nhất của sự phát triển trí tuệ không phải là để cho bản thân, cho thế giới, hay cho một người nào đó, mà chỉ cho chính trí tuệ đó mà thôi. Ngay lúc đầu, sư có nói một câu rất trung thực rằng, đến đây nghe Achaan giảng cũng bị thúc đẩy bởi ý niệm về ngã và mong muốn cho bản thân; đó cũng đều là những thực tại hữu vi mà thôi, là sự dính mắc vào việc muốn có hiểu biết. Đó cũng là vô ngã. Như vậy, tất cả những gì ở khoảnh khắc này, ví dụ như dính mắc, hay xiềng xích mà chúng ta vừa nói tới, đều có thể trở thành đối tượng của hiểu biết. Bất cứ thực tại nào, bất cứ pháp nào đều có thể là đối tượng của hiểu biết đúng, kể cả những dính mắc đã đưa chúng ta đi vào con đường sai.
Achaan: Chúng ta có thể nói về một số những khía cạnh khác nhau của phiền não, nếu không thì chúng ta sẽ không thể nhận ra là chúng ta có nhiều phiền não đến mức nào. Mỗi người chỉ có một tâm ở một thời điểm, ai biết được có những gì ở trong đấy đã được tích lũy, bao nhiêu bất thiện và bao nhiêu thiện, cùng với những thực tại khác, tùy thuộc vào khoảnh khắc mà nó sinh khởi mà thôi. Vậy nếu không có những gì đã tích lũy thì sẽ không còn những phiền não nữa, nhưng một khi nó đã sinh khởi và diệt đi thì tâm tiếp theo sẽ mang theo tích lũy vừa xảy ra, cứ tiếp tục như vậy trong mỗi khoảnh khắc của tâm. Kể cả ở khoảnh khắc của sự tái sinh (trong kiếp cuối), Đại Bồ tát cũng chưa tận diệt được hết phiền não. Mặc dù vẫn còn phiền não dưới dạng ngủ ngầm nhưng những Ba la mật của Ngài còn mạnh mẽ hơn.
Ta có thể thấy những gì mà chúng ta đang tích lũy hôm nay, dù là thiện pháp hay bất thiện pháp, đều không phải là tôi mà chỉ là những tích lũy trong tâm được chuyển tiếp từ tâm này sang tâm khác. Chính những tích lũy hiểu sự thật mới đưa chúng ta tới đây. Nhưng bên cạnh đó, cũng có tất cả những tích lũy bất thiện. Chính vì vậy khi trí tuệ vẫn chưa đủ, ta vẫn nghe Pháp chỉ vì cho bản thân mình mà thôi. Khi đó sẽ có ý niêm tôi sẽ nghe, tôi sẽ hiểu. tôi sẽ chứng đắc, v.v. Đấy là một khía cạnh của phiền não gọi là ách mà cô Sarah vừa đề cập tới.
Hôm trước, chúng ta có nhắc tới 3 nhóm phiền não: ngủ ngầm, lụt và ách (xiềng xích, gong, cùm). Asava- lậu hoặc là những ô nhiễm đã được tích lũy, ủ men, và chúng sẵn sàng tiết ra bất cứ lúc nào. Ngay ở khoảnh khắc của cái thấy, nếu đó là thời điểm để cho một loại phiền não sinh khởi thì nó sẽ lập tức sinh khởi. Không ai có thể biết được mức độ đó của phiền não, nó rất vi tế. Chỉ những loại phiền não mạnh hơn như thế thì chúng ta mới có thể nhận biết được mà thôi. Chỉ có Đức Phật mới có năng lực biết được cả những phiền não dưới dạng ngủ ngầm của chúng sinh. Đó chính là cái chúng ta gọi là phiền não ngủ ngầm. Nó vẫn tiềm ẩn trong tâm nhưng chưa sinh khởi, nó chỉ chờ đợi ở đó để có dịp sinh khởi mà thôi. Đó là loại phiền não vi tế nhất. Asava lậu hoặc cũng vi tế, bởi vì nó sinh khởi mà ta không biết, còn ngủ ngầm thì hoàn toàn không sinh khởi. Nếu không có ngủ ngầm thì chẳng còn phiền não nào cả. Từ chỗ không có gì cả, nhưng do nó tồn tại dưới dạng ngủ ngầm, khi có cơ hội để nó sinh khởi thì nó lại sinh khởi. Dường như chỉ có một cái lỗ rất nhỏ để nó có thể thoát ra, cái lỗ nhỏ đấy chính là asava – lậu hoặc. Có một cụm từ dùng để chỉ các vị A la hán, đó là người đã đoạn tận các lậu hoặc, khi các lậu hoặc đã được tận diệt bởi tâm đạo. Thay cho việc nói rằng các phiền não đã được tận diệt, ta cũng có thể nói là đoạn tận lậu hoặc. Có bốn loại lậu hoặc: thứ nhất là dục lậu hoặc – khi nào thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm thì lậu hoặc này ở đó; cùng với nó có thể có tà kiến lậu hoặc cho rằng cái được kinh nghiệm là một cái gì đó tồn tại kéo dài; cũng có thể có hữu lậu hoặc ở đó nữa; và lậu hoặc căn bản nhất là avijja asava- vô minh lậu hoặc, luôn có ở khoảnh khắc của bất thiện. Do vô minh mà có tham, và mỗi khi có sân thì cũng có vô minh ở đó, vô minh đứng đằng sau tất cả bất thiện. Vậy tâm mang theo nhiều bất thiện đến mức nào, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Và nó lại dày thêm, dày thêm ở mỗi khoảnh khắc bất thiện sinh khởi. Như vậy, đừng nghĩ ta có thể sớm trở thành một vị Tu đà hoàn mà không có hiểu biết thực sự phát triển. Mỗi khi lậu hoặc sinh khởi thì nó giống như là một trận lụt, giống như biển cả cứ rộng thêm và rộng thêm nữa. Ta cảm thấy rất khó khăn khi bơi qua đại dương đó khi nó càng ngày càng xâm lấn nhiều hơn. Một loại phiền não nữa là ách hay xiềng xích. Đó là một cái ách, gông, cùm hay xiềng xích giữ chúng ta ở một chỗ khiến ta không thể di chuyển được, giống như một cái khung tranh vậy, khung tranh giữ ta ở đó không thể thoát ra khỏi, như bị dính chặt vào. Khi có những ý niệm như “làm thế nào” hay “liệu tôi có thể”, thì lúc đó không thể thoát ra khỏi cái ách đó. Cũng có thể ví nó như việc một người bị cùm ở trong một căn phòng, căn phòng đó lại bị khóa kín, và cửa nhà cũng bị đóng chặt. Vậy nếu không có trí tuệ thì không thể nào thoát khỏi mấy ông chủ là tham, tà kiến và vô minh.
Kể cả khi ta đã tạo được các thiện pháp ở mức độ cao như đắc thiền, nó cũng giống như một sợi dây thôi, nó cho ta đi xa một đoạn nhưng vẫn bị kéo về, rồi lại bị nhốt vào căn phòng đó và lại bị khóa cửa lại. Hãy hiểu điều đấy để thấy được giá trị và ơn đức lớn lao của Đức Pháp, cái giúp chúng ta thoát khỏi vòng xiềng xích của những phiền não ấy. Khi đọc về cuộc đời của những vị đệ tử của Đức Phật, chúng ta thấy các vị ấy đã phát triển tuệ giác trong nhiều đại kiếp, bắt đầu từ hiểu biết về mặt tư duy. Kể cả từ pháp, sáng nay chúng ta đã nghe nhiều lần, nhưng bây giờ có cái hiểu nào về pháp hiện khởi ở đây hay không? Nếu ta không được nhắc nhở thường xuyên, thì suy nghĩ lại cứ nghĩ sang những chuyện khác, luôn luôn suốt cả ngày. Chính vì vậy Đức Phật đã thuyết giảng trong 45 năm, từ sáng đến trưa, đến chiều và cả tối nữa cho bất cứ ai có cơ hội nghe Ngài thuyết giảng, và Ngài vẫn tiếp tục thuyết giảng kể cả ngay trước khi nhập diệt.
Vị sư 1: Chúng ta sống trong vô minh dày đặc, vì thế để có chánh niệm nhận ra đặc tính của thực tại thì rất là khó khăn.
Achaan: Chính vì lẽ đó mới cần nhấn mạnh đến hiểu biết đúng. Thông thường chúng ta vẫn hay nhắc đến chánh niệm, nhưng mấu chốt là, khi có hiểu biết đúng sẽ có chánh niệm ở đó. Bình thường chánh niệm cũng có trong bố thí, trì giới, nhưng chánh niệm của Bát Chánh đạo phải đi kèm với hiểu biết đúng. Còn khoảnh khắc muốn có chánh niệm thì sẽ có xiềng xích ở đó, nó không thể sinh khởi từ việc muốn có mà phải từ việc hiểu. Khi hiểu biết về mặt lý thuyết vẫn chưa đủ vững vàng đến mức độ sacca nana, nó không thể tạo duyên cho chánh niệm sinh khởi. Chính vì vậy chánh niệm không nên là đối tượng của mong muốn, dính mắc, mà nó cần phải là đối tượng của hiểu biết đúng. Khi không có hiểu biết đúng thì chánh niệm cũng sẽ trở thành đối tượng của sự dính mắc. Khi có đủ hiểu biết đúng, sẽ thấy chẳng có gì cần phải làm về nó, bởi vì tất cả các pháp sinh khởi do duyên và chỉ do duyên mà thôi. Hiện giờ cái thấy được sinh khởi do duyên, cũng như vậy chánh niệm cũng sinh khởi do duyên. Cách tốt nhất là không nghĩ về việc có nó, hãy hiểu thôi! Đấy là cách duy nhất để giúp chúng ta xa rời các ông chủ kia.
Sadhu sadhu sadhu!
Pháp đàm sáng 04-09-2013 tại Sài gòn
10/ Pháp đàm buổi sáng ngày 04.09.2013 tại SG
Học viên 13: Trong Kinh có nhắc đến các vị chư thiên đến gặp Đức Phật để hỏi pháp, vậy các vị chư thiên cũng có cái thấy, cái nghe như mình hay là không?
Sarah: Tôi không biết rõ là các vị chư thiên đó thấy được cái gì, nhưng chắc chắn là các vị có thể nghe nên các vị mới đến nghe Đức Phật giảng pháp .
Achaan: Bạn có nghĩ rằng các vị chư thiên bị mù không?
HV 13: Con không có suy nghĩ đấy, con chỉ thắc mắc
Achaan: Không ai biết vì ở đây không có ai là chư thiên cả
HV 13: Cái thấy cái nghe, các thực tại có phải nương vào cái gì để sinh khởi không?
Sarah: Để có cái thấy sinh khởi thì, trong cõi này cần phải có nhãn căn và đối tượng thị giác thì nhãn thức mới có thể sinh khởi. Các vị chư thiên có thể nghe thì các vị ấy cũng có thể thấy. Tôi băn khoăn là tại sao bạn lại quan tâm đến các vị chư thiên này?
HV 13: Các pháp sinh khởi thì phải có nơi nương cho nó sinh khởi phải không?
Sarah: Ở trong cõi này thì tất cả các tâm như nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức, tỉ thức, thân thức phải có các sắc tương ứng, như nhãn căn, nhĩ căn, thiệt căn, tỉ căn và thân căn. Đối với các tâm ngoài ngũ song thức này, chúng cần nương vào cơ sở vật chất khác, được gọi là tâm cơ hay là ý căn (hadaya dathu)
HV 13: Tức là các pháp phải có nơi tựa để sinh khởi, các pháp sinh và diệt nhưng cũng không hẳn là sinh và diệt hoàn toàn mà còn có nghiệp để lại?
Sarah: Tất cả các pháp bao giờ cũng sinh và diệt một cách hoàn toàn. Hôm qua chúng ta có nói về các xu hướng được tích lũy như thế nào, và cái này tạo duyên cho cái kia. Nhưng với những loại tâm như cái thấy, cái nghe… chúng ta không gọi đó là xu hướng tích lũy, chúng không nằm trong các phiền não ngủ ngầm vì chúng là quả của nghiệp. Khi ta nói về tham, sân, si hay trí tuệ thì khi đó chúng ta nói về các xu hướng được tích lũy. Khi tâm tham sinh khởi chẳng hạn, nó diệt đi ngay lập tức, nhưng xu hướng của tham vẫn được tích lũy dưới dạng ngủ ngầm (anussaya). Loại duyên hệ để chỉ sự tích lũy như vậy được gọi là cận hành duyên. Mặc dù tâm tham đã sinh khởi tận diệt hoàn toàn nhưng nó vẫn là yếu tố tạo duyên cho các tâm tương tự sinh khởi về sau.
HV 13: Mỗi một pháp sinh và diệt thì nó vẫn để lại dấu vết. Giống như bàn chân đặt xuống thì vẫn còn vết bàn chân. Như vậy là các pháp sinh và diệt nhưng để lại nghiệp và các pháp thì phải có một nơi để nó nương thì mới sinh được. Thế thì nghiệp cũng phải có nơi để nương thì nó mới tích lũy được?
Sarah: Như hôm qua có nói, nghiệp về mặt bản chất chính là tâm sở cetana. Cetana là một tâm sở sinh khởi với tất cả các loại tâm. Vậy khoảnh khắc cetana sinh khởi với nhãn thức, nơi cetana, tâm và các tâm sở đồng sinh khác nương vào chính là nhãn căn. Tất cả những tâm sinh khởi trong tiến trình của nhãn căn và cũng như của tiến trình ý môn sau đó cùng nương vào một loại sắc là tâm cơ hay ý căn. Khi chúng ta nói về nghiệp theo một cách chế định, dưới dạng một câu chuyện thì sẽ rất là khó hiểu. Nhưng khi ta nhận thấy được rằng khoảnh khắc của cái thấy hiện giờ và tất cả những khoảnh khắc sau đó đều sinh khởi do duyên và đều là vô ngã thì ta sẽ thấy được điều này rõ ràng hơn một chút.
Học viên 5: Con muốn hỏi về quả của nghiệp và cái tạo nghiệp. Ví dụ những quả trổ như bị động đất, cháy nhà hay bị gì đó mà mình phải chịu thì đó là quả của nghiệp. Nhưng ví dụ một người làm cái gì đó phạm vào năm giới thì là tạo nghiệp hay là do cái nghiệp mà người đó phải làm những việc đó như là đánh cá chẳng hạn.
Jonathan: Nếu chúng ta muốn sử dụng những thuật ngữ như nghiệp và quả của nghiệp thì ta cần rất chi tiết về ý nghĩa thực sự của chúng. Như chúng ta đã nói, cái mà ta gọi là nghiệp là một tâm sở sinh khởi cùng với tâm và đảm nhận chức năng riêng của nó, đó là tâm sở cetana. Khi ta nói lời thô tháo, khi ấy tâm sinh khởi cùng với tâm sở sân. Nhưng chính tâm sở cetana đi cùng với nó mới là cái tạo nên nghiệp. Nghiệp là nhân, còn vipaka là quả của nghiệp. Quả thực chất là một cái tâm kinh nghiệm đối tượng dễ chịu hoặc khó chịu thông qua ngũ quan. Khoảnh khắc nghe một âm thanh khó chịu là quả của nghiệp, là kết quả của nghiệp bất thiện đã tạo trong quá khứ.
Achaan có giải thích là khoảnh khắc đầu tiên của một kiếp sống cũng là tâm quả và là quả của nghiệp quá khứ. Những nghiệp được tập hợp trong nghiệp đó sẽ tạo nên các quả mà chúng ta nhận được qua ngũ căn trong cả một kiếp sống, và cả tử thức của kiếp sống đó (được tạo bởi cùng một nghiệp đã tạo ra thức tái tục –ND) . Nhưng chúng ta cũng biết là ngoài việc có những kinh nghiệm qua ngũ quan thì con người sinh ra ở những hoàn cảnh khác nhau. Chẳng hạn sinh ra giàu có hay nghèo khổ, trong một gia đình tử tế đàng hoàng hay một gia đình không có hạnh phúc, một số người thành công trong nghề nghiệp của mình nhưng có người thì luôn gặp điều thiếu may mắn trong sự nghiệp. Cái này được gọi là tám ngọn gió đời: được, mất, khen, chê, vinh, nhục, hạnh phúc và khổ đau. Đấy là một cách nói chung chung về quả của nghiệp, chứ không theo nghĩa mà chúng ta bàn về quả của nghiệp ở đây. Khi nói về xã hội nơi ta sinh trưởng hay thảm họa thiên nhiên mà chúng ta phải ghánh chịu, đó vẫn là cách nói về quả của Nghiệp quá khứ một cách chung chung. Nhưng cái mà chúng ta quan tâm nhiều hơn là các thực tại đang được kinh nghiệm ở khoảnh khắc này. Chúng ta sẽ thấy rằng, mặc dù những điều kiện ở bên ngoài có thể rất khác nhau, có thể có những đối tượng dễ chịu và khó chịu được kinh nghiệm thông qua các căn khác nhau, sẽ có thích và không thích về những gì đang được kinh nghiệm, tức là tham và sân. Đó là những thực tại có thực ở khoảnh khắc này. Nhưng những thứ mà chúng ta vẫn mô tả như hoàn cảnh thông thường trong cuộc đời thì không phải là những thực tại như hiện giờ.
Sarah: Cần phải rất chi tiết. Khi nói một người làm nghề đánh cả chẳng hạn thì ở khoảnh khắc người đó giết một con cá thì khi đó có nghiệp bất thiện được tạo, nhưng ở những khoảnh khắc khác trong ngày, không phải lúc nào bất thiện cũng sinh khởi. Họ cũng có những khoảnh khắc của cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm hay chăm sóc gia đình của mình, giống hệt như chúng ta mà thôi. Khi có một trận động đất, không phải ai cũng là nạn nhân của động đất ấy. Có thể có những quả khác nhau đối với mỗi người, có người sẽ chết, có người bị thương nhưng việc cái gì được kinh nghiệm ở thời điểm ấy tùy thuộc vào quả của mỗi người, nó khác nhau.
HV 5: Hôm qua nói về danh kinh nghiệm sắc. Riêng về phần danh thì con vẫn chưa hiểu, nhất là phần danh kinh nghiệm danh. Xin bà giảng rõ thêm.
Achaan: Để chúng ta có thể hiểu được thực sự nghiệp và quả của nghiệp thì không chỉ cần nên nói về những khái niệm ấy mà còn cần phải thấy về những gì đang sinh khởi hiện giờ. Nếu không biết về những gì đang sinh khởi hiện giờ thì ta không thể hiểu những khái niệm ấy một cách sâu sắc. Chẳng hạn, hiện giờ đang có cái thấy, ở khoảnh khắc đầu tiên cái thấy (nhãn thức) thấy đối tượng được thấy, đó là quả của nghiệp, nhưng sau đó, khi có suy nghĩ về cái được thấy thì đó không còn là quả của nghiệp nữa. Để hiểu được ba vòng nghiệp luân, phiền não luân và quả luân, chúng cũng phải được hiểu ngay tại khoảnh khắc này, ngay bây giờ đây.
Chẳng hạn chúng ta biết rằng cái thấy thì là quả. Nghiệp thì tạo ra nhãn căn, hiện giờ, ở đây tất cả chúng ta đều đang có nhãn căn. Nhãn căn được tạo duyên bởi nghiệp, nó sinh khởi là do nghiệp. Các sắc được tạo duyên bởi những yếu tố khác nhau: một số bởi nghiệp, một số thì bởi tâm, một số bởi nhiệt độ và một số bởi dưỡng chất. Sắc thì không kinh nghiệm gì cả, nhưng các sắc thần kinh được tạo duyên bởi nghiệp để làm cơ sở (căn) cho vipaka (tức là một trong ngũ song thức) sinh khởi, chẳng hạn sắc nhãn căn là cơ sở cho vipaka là nhãn thức sinh khởi . Không ai có thể làm cho nhãn căn sinh khởi. Nếu hiện giờ không có nhãn căn sinh khởi thì không thể có cái thấy được. Nhãn căn là một loại sắc được tạo duyên bởi nghiệp (hay sắc do nghiệp sinh). Khi tới thời điểm để quả được khởi sinh thì sẽ có đối tượng để làm duyên cho nhãn thức sinh khởi, để có cái thấy như hiện giờ. Như vậy cái thấy hiện giờ đây là quả của nghiệp. Vậy, nghiệp không chỉ tạo ra cái kinh nghiệm, nó cũng tạo ra sắc nữa. Kammaja rupa– sắc do nghiệp sinh được tạo ra bởi nghiệp nhưng không phải là quả của nghiệp , không phải là vipaka. Sắc do nghiệp sinh không phải là quả (vipaka), mà chỉ có yếu tố kinh nghiệm một cái gì đấy mới là vipaka- quả của nghiệp. Bởi lẽ sắc không kinh nghiệm gì cả, cho nên nó không thể được gọi là quả của nghiệp, cái mà cần phải kinh nghiệm một cái gì đó, như thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm..
Bằng việc hiểu kỹ điều này thì tuệ giác có thể dần dần thấy được rằng ở bất cứ khoảnh khắc nào của cái thấy thì đều không có ai cả, nó chỉ là một khoảnh khắc của quả của nghiệp mà thôi. Ở khoảnh khắc của cái nghe, cái nghe cũng là quả của nghiệp, nhưng nhĩ căn thì được tạo duyên bởi nghiệp nhưng không phải là quả của nghiệp, không phải là vipaka. Như vậy thì danh mới là nghiệp và kết quả của nó cũng là danh thì được gọi là vipaka. Kết quả của nó mà là sắc thì không được gọi là quả -vipaka mà chỉ là được tạo duyên bởi nghiệp mà thôi. Bây giờ, tấm thân này từ đầu tới chân được cấu tạo bởi những sắc khác nhau, do những duyên khác nhau. Nhãn căn nằm ở giữa mắt, chính vì vậy ta không thể nhìn từ đằng sau bởi vì không có nhãn căn ở đằng sau lưng. Có ai có thể thay đổi được điều ấy không, tức là để cho nhãn căn của chúng ta sinh khởi ở đằng sau lưng ấy? Và bởi vì các chúng sinh khác nhau có những kết quả của nghiệp khác nhau, nên một số loài thú vật lại có nhãn căn sinh khởi những nơi khác. Vậy, không có nhãn căn thì có thể có cái thấy được không? Vì cái thấy là quả của nghiệp nên khi một nghiệp bất thiện thì đối tượng được thấy đó sẽ là một đối tượng bất khả ái, chẳng hạn như tiếng sấm, có ai thích tiếng sấm không? Nó có khả ái không? Nhưng khi đến thời điểm nghiệp phải trổ quả, nó sẽ tạo duyên cho cái nghe sinh khởi và kinh nghiệm âm thanh đó, không thể nào tránh được. Chẳng hạn như ngay bây giờ không thể tránh được việc thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm.
Như vậy bây giờ có thể không còn hoài nghi về khoảnh khắc của quả, về khoảnh khắc của thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và về khoảnh khắc đầu tiên của mỗi kiếp sống – cái cũng là quả. Không ai có thể có sự lựa chọn ở đây. Ai đưa chúng ta đến thế giới này, để trở thành con người này? Đó chính là kamma, là nghiệp. Nếu các bạn không còn gì thắc mắc về quả của nghiệp thì chúng ta sẽ đi đến thảo luận về vòng phiền não luân.
Trong một kiếp sống, không phải chỉ có quả mà thôi. Hàng ngày đều có cái thấy nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và đó là quả. Sau khoảnh khắc của những kinh nghiệm đó, bắt đầu sinh khởi những khoảnh khắc của tham, sân, si hay vô tham, vô sân, vô si tùy thuộc vào sự tích lũy. Chẳng hạn như khi nhiều người thấy cùng một thứ; một số thích cái được thấy và một số thì không thích cái được thấy, điều ấy là không thể tránh khỏi, tùy thuộc vào tích lũy mỗi người đã có với đối tượng cụ thể đó. Các pháp có thể được hiểu bất cứ lúc nào nếu là thời điểm chín muồi để trí tuệ hiểu về pháp đó, ở đây hoặc ở kia, ngày hôm nay hoặc ngày mai.
Ngay sau khi có cái thấy, có ai biết được rằng ngay lập tức đã có tham, sân và suy nghĩ về cái được thấy? Kể cả ở khoảnh khắc có suy nghĩ “tôi thấy một bông hoa” thì đã có rất là nhiều tâm sinh và diệt để có được ý niệm là “đây là một bông hoa”. Khoảnh khắc nghĩ về bông hoa đó thì không phải là vipaka-quả nữa. Chúng ta có thể nhớ rằng trong cuộc sống hàng ngày, các khoảnh khắc của cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm là quả (vipaka) và cái tiếp nối sau đó không phải là quả mà là suy nghĩ. Như vậy là có sáu thế giới, hay sáu cánh cửa giác quan để kinh nghiệm các đối tượng. Liệu suy nghĩ có thể thấy được không?
Ai đó trả lời: Không
Achaan: Liệu nghe có thể thấy được không? Và bây giờ ta đã hiểu được cuộc đời của mình là gì rồi. Chỉ có quả của nghiệp, rồi phiền não, và rồi lại tạo nghiệp. Sáng nay khi chúng tôi ăn sáng, thức ăn rất ngon và một số người nói, ôi tham, nhưng tham thì không phải là quả đúng không? Cái thấy thấy, nhưng tích lũy thì sẽ nói rằng “ồ cái này ngon quá”. Ai không có phiền não đây?
Ai đó trả lời: Chỉ có vị A-la-hán)
Achaan: Chỉ có những vị A-la-hán thì mới không còn phiền não nữa, cho nên thế giới hiện giờ của chúng ta thì ai cũng có phiền não – tham, sân và si. Nhưng các vị A la hán cũng thấy như mọi người, nhưng sau khi cái thấy sinh khởi, sẽ không có phiền não sinh khởi đối với vị ấy. Nhưng những người mà không phải là A-la-hán sẽ có phiền não sau khi có cái thấy sinh khởi. Tùy thuộc vào tích lũy mà có những lúc có thể có thiện pháp sinh khởi sau cái thấy, điều ấy cũng không thể tránh khỏi, tùy thuộc vào duyên. Tất cả mọi người đều muốn có nhiều thiện pháp chứ không muốn có nhiều bất thiện pháp, nhưng làm sao điều ấy có thể xảy ra mà không có duyên cho nó? Nhưng bằng việc tìm hiểu và nghiên cứu kỹ hơn nữa thì những hiểu biết đúng sẽ tạo duyên cho các lời nói và hành động đúng đắn, nhờ thấy được hiểm họa của bất thiện và của việc thiếu hiểu biết kể từ khi sinh ra. Ở khoảnh khắc này có quả – vipaka không?
Ai đó nói: Có
Achaan: Có phiền não không? Có nghiệp không? Nghiệp gì hiện giờ đây?
Trả lời: Đủ mọi loại nghiệp.
Achaan: Như vậy thì quá là chung chung, chúng ta cần phải rất chi tiết, nếu chỉ cần nói chung chung “tất cả là pháp” là xong thì ai cũng là A la hán hết rồi! Nếu nói là có nghiệp thì nghiệp đó là gì?
Trả lời: Đây là nghiệp thiện.
Achaan: Cụ thể là gì?
Trả lời: Đó là hiểu biết đúng
Achaan: Đúng như vậy, đó là loại nghiệp tốt nhất, bởi vì nếu chúng ta không được nghe pháp thì sẽ không thể nào có hiểu biết được rằng không có ai ở đây cả mà chỉ có các thực tại mà thôi. Các khoảnh khắc của cái thấy, nghe ngửi nếm xúc cham là quả được tiếp nối bởi các phiền não và rồi nghiệp, không có gì khác ngoài những thứ đó. Nếu không có sự suy xét chân chánh thì liệu có thể có hiểu biết đúng hay không? Vì vậy chỉ nghe thôi thì không đủ mà cần phải có sự suy xét từng từ Đức Phật đã nói.
Vậy ta hãy quay về với một từ thôi, từ pháp –dhamma. Điều này tùy thuộc vào mức độ hiểu biết của người nghe. Một số không hề có ý niệm pháp là gì, trong tiếng Pali, dhamma có nghĩa là cái có thực. Vì vậy, ở khoảnh khắc nghe pháp, người đã có tích lũy hiểu biết đúng sẽ hiểu về ý nghĩa thực sự của từ pháp – là cái có thực, và hiểu biết ấy sẽ mang lại sự hoan hỉ, piti. Chỉ một từ thôi, nhưng khác hẳn với những từ khác, và nó làm tăng thêm mối quan tâm để tiếp tục nghiên cứu thêm, để hiểu một cách kỹ lưỡng hơn, sâu sắc hơn chứ không chỉ hời hợt. Chính vì vậy những người đã có tích lũy hiểu biết thì sẽ lại tiếp tục nghe và nghiên cứu, suy xét, tiếp tục và tiếp tục. Bởi vì chân lý có thể được liễu ngộ chỉ có ở bây giờ mà thôi, vì vậy sự vun bồi trí tuệ phụ thuộc vào hiểu biết về những gì xuất hiện hiện giờ. Nếu không thì Đức Phật đã không thuyết giảng về những thứ bình thường trong cuộc sống của chúng ta như cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, thiện và bất thiện… Tất cả những cái đó đang là ngay bây giờ đây.
Tuệ giác cần phải được phát triển tiếp tục để hiểu thực sự ý nghĩa của lời nói rằng mọi thứ đều sinh và diệt, rằng không gì còn lại, như là hư không vậy. Sinh và diệt cũng là ý nghĩa của từ Khandha (uẩn), một thực tại không biết sinh từ đâu và không biết diệt đi đâu, nó như là hư không vậy, không hơn không kém. Nhưng vô minh sẽ tạo duyên cho thực tại dính mắc, bởi vì nó không hiểu được sự thật ấy. Khoảnh khắc của sự giác ngộ thì hoàn toàn khác với những khoảnh khắc mà mọi thứ đều sinh và diệt. Đây là mức độ Tuệ giác vô cùng cao cả, và nó có thể xuyên thấu được bất cứ thực tại nào đang xuất hiện. Nếu không có hiểu biết đúng thì sẽ thật vô ích khi chỉ nghe theo hay đi theo, hay làm một cái gì đó, những thứ ấy không tạo ra hiểu biết. Mọi thứ bây giờ đều đang rất thật nhưng nếu không có hiểu biết đúng về chúng sẽ không thể có sự giác ngộ, nếu không thì trí tuệ hiểu cái gì đây?
Từ Khanda- Uẩn có nghĩa là gì? Tất cả mọi người ở đây đều hiểu từ khanda, chúng ta đã nói về Khanda rồi đúng không? Từ không gì cả một thứ sinh khởi và rồi diệt đi chẳng còn gì nữa. Làm sao ta có thế sở hữu được những thực tại chỉ được tạo duyên để sinh khởi rồi lại diệt đi, vì vậy tất cả các pháp đều là vô ngã.
Sarah: Quay trở về với câu hỏi danh kinh nghiệm danh, thì như ta đã nói, ở khoảnh khắc của cái thấy, cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác-một loại sắc, sau đó, lại có các tâm khác sinh và diệt, và cuối cùng thì có suy nghĩ về cái được thấy với tham hoặc sân. Trong tiến trình qua nhãn môn, tất cả các tâm sinh khởi trong tiến trình ấy lấy đối tượng là sắc đó, tức là đối tượng thị giác. Sau đó trong tiến trình của ý môn, bắt đầu có khái niệm về cái được thấy là gì cùng với sự dính mắc hay khó chịu với cái được thấy, với hình dạng hoặc màu sắc của cái được thấy, chẳng hạn bông hoa này.
Trong sự phát triển của hiểu biết, nếu hiểu biết đã được phát triển hơn thì có thể có hiểu biết về các thực tại thay cho việc bị cuốn vào suy nghĩ về bông hoa hay con người như thường lệ. Có thể có sự suy xét chân chánh về các thực tại như tham, sân hay những thực tại khác mà ta nói đến. Nhưng ở mức độ tư duy, vẫn chỉ khái niệm về thực tại làm đối tượng của suy nghĩ ở khoảnh khắc đó. Khi hiểu biết được phát triển, thực tại ấy sẽ được tiếp cận gần hơn thay cho việc chỉ hoàn toàn là khái niệm về thực tại đó. Chẳng hạn bây giờ tham là thực, nó có đặc tính riêng. Nó có thể là đối tượng của hiểu biết trực tiếp ngay sau khi nó diệt đi. Nó là danh, lúc ấy nó sẽ là đối tượng của Tâm- danh, danh kinh nghiệm danh, đây chỉ là một ví dụ thôi.
HV 5: Khi nhìn một bông hoa, tâm sinh khởi bất thiện là đặt cho bông hoa đó là xấu, đẹp, thích hoặc không thích. Nếu lúc đó có một cái tâm hiểu được đây là chỉ thực tại, chỉ là hình và màu, thì lúc đó nó cắt được phiền não và thanh lọc, thì chặp tâm đó có phải là chánh niệm không ạ?
Sarah: Hiện giờ thì chúng ta đang nghe nhiều về thực tại khác nhau, về sự dính mắc vân vân, nhưng thực ra đấy vẫn chỉ là những suy nghĩ rằng đây là thực tại. Nhưng chỉ có trí tuệ mới có thể biết được chính xác liệu đây có phải là trí tuệ về thực tại hay không mà thôi. Nếu như có sự phân vân hay hoài nghi liệu như thế có phải là chánh niệm hay hiểu biết hay không thì chắc chắn là ở khoảnh khắc đã qua đó vẫn chỉ là suy nghĩ về thực tại, và thực tại ngay khi đó lại là suy nghĩ hợp với hoài nghi. Khi ta có mong muốn được biết liệu cái này có phải là Trí tuệ hay không, khi đó thực tại thường là tham -mong muốn một kết quả nào đó.
HV 5: Trong một tiến trình tâm bất thiện, có khoảnh khắc tâm thiện nó đan xen để ngăn chặn tâm bất thiện đó. Con hiểu như vậy không đúng sao ạ?
Sarah: Trí tuệ cùng với chánh niệm có thế sinh khởi bất cứ lúc nào. Hôm qua Achaan đã nói là ngay sau khoảnh khắc của cái thấy thì đã có thể có tham hay sân, thì cũng như vậy, ngay sau khoảnh khắc của tham hay sân, cũng có thể có khoảnh khắc của Trí tuệ và chánh niệm sinh khởi để có hiểu biết đúng đặc tính của cái vừa xuất hiện. Kể cả những khoảnh khắc ta rất buồn và đang khóc, ngay lúc ấy có thể có khoảnh khắc sinh khởi của trí tuệ và chánh niệm hiểu về thực tại đang xuất hiện. Chính vì vậy trong các bài kinh, đặc biệt kinh Đại niệm xứ, Đức Phật có nói về tất cả các loại tâm, và rằng kể cả các tâm bất thiện đều có thể trở thành đối tượng của chánh niệm tỉnh giác.
HV 5: Khi có phiền não sinh khởi, có tâm chánh niệm ghi nhận, nhưng nếu mình không để cho nó tự nhiên mà mình suy nghĩ là đang có chánh niệm, như vậy là mình không chánh niệm trong hiện tại mà chỉ đang trong tư duy, suy nghĩ mà thôi, phải không?
Jonathan: Như chúng ta đã nói hôm qua, muốn có chánh niệm là tham, cố gắng chánh niệm cũng là tham. Hiểu biết hay trí tuệ thì đơn thuần hiểu về cách thức của mọi thứ như nó là mà thôi. Khi nghe Đức Phật giảng Pháp hay nghe về những gì Đức Phật đã thuyết giảng, và có sự suy xét về những gì được nghe, điều ấy có thể làm duyên cho chánh niệm sinh khởi. Vì vậy chúng ta không nên nghĩ đến việc thử làm cách này hay cách kia. Khi chúng ta thực sự hiểu rằng hiểu biết hay sự suy xét chân chánh về các thực tại có thể làm duyên cho chánh niệm cùng Trí tuệ trực tiếp kinh nghiệm thực tại, khi đó chúng ta sẽ được giải thoát khỏi ý niệm là cần phải làm gì đó để có tuệ giác. Khi chúng ta hiểu rằng bất cứ pháp nào cũng có thể là đối tượng của hiểu biết đúng, của trí tuệ, chúng ta sẽ không phải lo lắng đến việc liệu là danh hay sắc được kinh nghiệm. Chúng ta không cần phải nghĩ đến việc sẽ phải có chánh niệm trên một số loại thực tại cụ thể nào đó, phải thay đổi bất cứ điều gì về thực tại hiện giờ. Chúng ta hiểu rằng chánh niệm có thể có bất cứ thực tại nào làm đối tượng.
Sarah: Nếu như muốn hay biết một đối tượng cụ thể hay cố gắng hay biết về đối tượng cụ thể thì đó vẫn là một sự trói buộc – xiềng xích (yogha) mà Achaan đã nói tới, và lại là một loại xiềng xích nặng nề vì chưa đựng tà kiến trong đó. Bởi vì khi ấy sẽ luôn luôn có sự dính mắc vào ý niệm về ngã, vào phiền não của tôi, vào chánh niệm của tôi.
Học viên 14: Ví dụ sau cái thấy mà tâm nhận biết là có sự dính mắc vào đối tượng và khi đó có buông bỏ sự dính mắc luôn, thì ở khoảnh khắc đấy có phải là có sự hiểu biết không?
Sarah: Ai buông bỏ?
HV 14: Ở khoảnh khắc mà tâm nhận biết, có sự dính mắc vào đối tượng, và khi đó tâm có sự buông bỏ dính mắc đó.
Jonathan: Hẳn ở đây phải có một mong muốn buông bỏ hoặc một ý niệm cho rằng buông bỏ thì tốt hơn, bởi vì thông thường, phản ứng tự nhiên là không muốn buông bỏ, vậy ở đằng sau nó chắc chắn là có ý niệm về sự thực hành buông bỏ. Như vậy chắc chắn là có sự mong muốn thay đổi mọi thứ và mong muốn không có sự dính mắc sau cái thấy, thay cho việc trí tuệ thực sự sinh khởi và hiểu về cái được thấy.
Sarah: Đây chính là ý mà Achaan muốn ám chỉ khi nói Đạo là con đường của sự xả ly, không phải là con đường của sự dính mắc. Chúng ta có thể suy xét liệu Đạo là con đường của sự hiểu biết hay là con đường của việc cố gắng buông bỏ.
Achaan: Khi bạn nói buông bỏ thì buông bỏ là gì?
HV 14: Khi tâm nhận thấy sự dính mắc vào đối tượng, và thấy đó là bất thiện.
Achaan: Từ bỏ cái gì?
HV 14: Từ bỏ sự dính mắc vào đối tượng.
Achaan: Liệu ai có thể từ bỏ sự dính mắc vào đối tượng nếu không có hiểu biết đúng sinh khởi ở ngay tại khoảnh khắc đó hay không?
Học viên 2: Không. Bởi vì khi mình nhận ra là muốn buông bỏ thì pháp dính mắc đó nó đã diệt rồi.
Học viên 14: Tức là khi đó chỉ có sự suy nghĩ thôi sao?
Sarah: Suy nghĩ với mong cầu.
Jonathan: Mặc dù ở đó có mong cầu, nhưng điều khiến nó nguy hiểm hơn chính là ý niệm cho rằng đó là cách thức phát triển hiểu biết.
Achaan: Hiện giờ bạn thấy gì?
HV 14: Đối tượng thị giác ạ.
Achaan: Nếu bạn nói buông bỏ, sẽ là buông bỏ đối tượng được thấy hay là buông bỏ ý niệm về bông hoa đây?
HV 14: Như vậy Bà muốn khuyên con là chỉ cần hay biết tâm bất thiện thôi ạ?
Achaan: Không, tôi chỉ muốn bạn hiểu thôi, hiểu đúng những gì được nói tới. Tôi muốn bạn hiểu được rõ rang, đúng đắn từng thứ một, ngay cả cái từ buông bỏ. Chẳng hạn ta nói đến đối tượng của cái thấy, hiện giờ mọi người đang thấy con người, bàn ghế v.v, về mặt thực chất thì nó chỉ là những ý niệm xuất phát từ cái được thấy. Đức Phật không chỉ dạy mọi người chỉ suy nghĩ không, mà phải hiểu thực sự những lời của Ngài. Ở khoảnh khắc của hiểu biết đúng, vô minh bớt đi một chút nhưng phải rất từ từ. Khi trí tuệ vẫn chưa hiểu thì sẽ không thể buông bỏ gì cả. Như vậy sự buông bỏ ấy sẽ tùy thuộc vào trí tuệ chứ không vào ai đấy nghĩ rằng tôi buông bỏ. Nhưng khi có kinh nghiệm rằng đối tượng thị giác không phải là cái gì đó hay ai đó, hiểu biết đúng ấy sẽ từ từ được phát triển. Hôm nay dường như có chút hiểu về đối tượng thị giác qua khái niệm về nó. Nhưng đó sẽ vẫn chỉ là suy nghĩ thôi, chừng nào con đường đạo chưa thực sự bắt đầu. Nó chưa phải là Đạo bởi vì hiểu biết đúng còn vô cùng nhỏ bé. Chẳng hạn, ở khoảnh khắc này, nếu có một chút hiểu biết nào đó thì lúc đó có chánh niệm. Nhưng hiện giờ đặc tính của chánh niệm đã xuất hiện đối với trí tuệ hay chưa để trí tuệ hiểu được nó? Đã có ai có thể biết được rằng sati- chánh niệm không phải là tự ngã, không phải là ta không? Chúng ta không nên nghĩ về những từ như chánh niệm hay giác ngộ, mà chỉ cần có hiểu biết chút xíu nhờ việc nghe một chút xíu và thêm nữa, thêm nữa. Hiểu biết về mặt tư duy hay lý thuyết chưa thể phân biệt được đối tượng thị giác và bông hoa. Liệu hiện giờ có ai có hiểu biết thực sự rằng không có ai cả ngoài đối tượng thị giác hay không? Chẳng hạn, bây giờ chúng ta nói về đối tượng thị giác và đối tượng thị giác thì đang xuất hiện, nhưng không ai có thể nói rằng đó không phải là một bông hoa. Thế còn những khoảnh khắc khác, đi ra khỏi căn phòng này thì sao? Rất có thể đó chỉ là suy nghĩ rằng đây không phải là bông hoa mà chỉ là đối tượng thị giác thôi, phải không? Vậy thì vẫn chưa phải là mức độ của tuệ giác có thể buông bỏ đâu. Và buông bỏ cái gì đây? Cái cần buông bỏ là ý niệm cái gì đó từ một đối tượng thị giác mà chúng ta vẫn cho là một con người hay một cái gì đó. Ngày nay, mọi người cho rằng họ có thể làm cái gì đó, tạo ra một con đường tắt để kinh nghiệm ngay lập tức sự sinh diệt của thực tại. Nhưng con đường là lối tắt đó về bản chất chính là con đường của vô minh, vì nó không hiểu đúng những gì đang xuất hiện. Nếu không có hiểu biết đúng, làm sao nó có thể là con đường chánh đạo đây? Nếu không có hiểu biết đúng, đó là con đường của vô minh và tà kiến. Sẽ không có phỉ lạc sinh khởi ở khoảnh khắc nghe những lời Đức Phật dạy. Ở thời Đức Phật, có những người cần đến 60 năm để nghe và hiểu được những lời Đức Phật đến mức độ giác ngộ, và có những người khác chẳng giác ngộ gì cả. Vậy làm sao chúng ta nghĩ rằng ngày nay chúng ta có thể dễ dàng giác ngộ đây? Chúng ta cần phải rất trung thực để thừa nhận rằng nếu chưa có hiểu biết về khoảnh khắc hiện giờ một cách đúng đắn, sẽ không có con đường dẫn tới giác ngộ. Nếu không hiểu về những gì đang xuất hiện hiện giờ thì trí tuệ hiểu về gì đây? Những gì đang xuất hiện thì rất thực và có thể được hiểu. Còn những gì không xuất hiện thì không thể được hiểu. Nếu không nghe thì có thể có sự buông bỏ được không?
HV 14: Không, vì khi con nghe bà giảng về Nghiệp và quả thì con thấy rất sợ bởi vì tiến trình bất thiện mà nó xảy ra thì nó đã tạo nghiệp rồi.
Achaan: Khi bạn nói là sợ thì sợ là gì?
HV 14: Đó là sân- dosa.
Achaan: Để có thể giác ngộ, không thể nào bảo rằng chỉ hiểu một số thứ này và không cần hiểu một số thứ kia, mà mọi thứ phải được hiểu một cách kỹ lưỡng, sâu sắc. Chừng nào không có cái hiểu về sợ hãi thì nó cứ sinh khởi rồi lại diệt đi, và sự vô minh về thực tại còn đó, cho nên nó lại có ý niệm “tôi sợ”. Chúng ta không cần phải đi ra ngoài để tìm xem “tự ngã” ở đâu, mà chính là bây giờ đây. Khi chúng ta đã đọc và nghiên cứu thật nhiều thì chúng ta sẽ thấy rằng pháp luôn luôn là bây giờ, không có xa đâu cả. Nhưng khi có vô minh thì mặc dù mọi thứ đang có ở đây, chúng không thể được hiểu.
Học viên 2: Trong các cuộc trao đổi vừa rồi có nói rất nhiều đến các khái niệm và thực tại. Nhưng liệu chúng ta có thể sống một cuộc sống bình thường khi ta không có khái niệm hay không? Khi mà có một sự hiểu đúng mà có thể từng bước nhìn nhận ra thực tại như nó là nhưng bên cạnh đó vẫn tiếp tục xây dựng những khái niệm để chúng ta tiếp tục sống cuộc đời bình thường của mình, hiểu như vậy có đúng hay không?
Achaan: Không ai có thể sống mà không có khái niệm, nhưng trí tuệ biết rõ cái gì là cái gì, còn nếu không thì sẽ luôn luôn có sự vô minh trong suốt cuộc đời của chúng ta. Tại sao nói rằng không ai có thể sống mà thiếu khái niệm và rằng trí tuệ biết rõ cái gì là cái gì, tại sao lại như vậy? Bởi vì các pháp là như thế, rất tự nhiên, không ai có thể thay đổi. Tiến trình tự nhiên xảy ra là: ở khoảnh khắc của cái thấy, nhãn thức kinh nghiệm đối tượng thị giác, đối tượng thị giác là sắc, và tuổi thọ của nó dài gấp 17 lần tuổi thọ của tâm, vì thế nó được kinh nghiệm bởi 17 tâm khác nhau và rồi diệt đi. Sau đó, dù sắc ấy đã diệt đi rồi, nhưng ý niệm về sắc ấy sẽ được chuyển sang tiến trình tiếp theo, tâm suy nghĩ về nó và lấy khái niệm về cái được thấy làm đối tượng, nhờ vậy biết được khái niệm về cái được thấy đó là gì.
Đức Phật có phân biệt được những người khác nhau, nơi chốn và các sự kiện không? Đức Phật vẫn biết được tất cả những thứ đó, vì đó là tiến trình tự nhiên của các pháp. Sau khi cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác thì tưởng (sanna) sinh khởi cùng với cái thấy sẽ đánh dấu và ghi nhớ cái được thấy, và rồi sẽ nhận ra đó là cái gì. Sau khoảnh khắc rất ngắn ngủi đó, lập tức sẽ có một ý niệm, ta không cần đặt tên tiến trình đó là gì, nhưng nó có khái niệm về cái gì đó, dù là chưa có ngôn từ. Chẳng hạn những con chó con mèo vẫn nhận ra mọi thứ mặc dù không có ngôn từ. Tức là trước khi có suy nghĩ bằng ngôn từ, thì đã có suy nghĩ về hình và dạng, và đó là suy nghĩ về nimitta, tức là tướng của thực tại. Sự sinh diệt của thực tại tạo duyên cho sự xuất hiện của hình và dạng, là tướng (nimitta) của thực tại vừa được nhận biết và điều ấy bây giờ đang xẩy ra rất nhiều. Vậy chúng ta đang sống trong thế giới của nimitta, của tướng, đúng không? Luôn luôn là như vậy, tướng của con người này, tướng của bông hoa kia. Điều đó chỉ ra rằng các thực tại sinh và diệt nhanh tới mức nào, và đó pháp vận hành như vậy. Không ai có thể thay đổi gì cả, pháp thì vẫn là pháp. Chỉ có trí tuệ mới hiểu, chứ không có tôi hay cái tự ngã nào có thể làm được công việc ấy. Nếu không thì chúng ta sẽ không thể biết được panna-trí tuệ là gì. Ta có thể cho rằng mình có thể khiến cho tuệ giác sinh khởi, nhưng bất cứ cái gì sinh khởi đều cần có những duyên tương ứng. Vậy trong một ngày sẽ có bao nhiêu tà kiến và bao nhiêu sự thực hành sai lầm nếu như không có hiểu biết đúng đây?
Học viên 15: Con rất thích với câu của Achaan dạy là: kinh nghiệm khoảnh khắc hiện tại. Bây giờ con thực hành như thế này thì con muốn biết là có đúng hay không để con áp dụng. Ví dụ con buồn ngủ, đầu tiên có sự hay biết là buồn ngủ, hay biết sự nặng của mi mắt hay biết cái tâm suy nghĩ là buồn ngủ rồi, nhưng trước mặt Achaan đáng kính thì không được ngủ gật, và hay biết được sự vật lộn, hay biết sự thúc giục đứng lên, hay biết có âm thanh, hay biết có sự tác ý, tất cả sự ấy thì luôn có sự hay biết. Thực hành thế đúng chưa? Đó là cách để kinh nghiệm khoảnh khắc thực tại không?
Achaan: Khi bạn mô tả bạn thế này thế kia thì bạn ở đâu, bạn là gì?
HV 15: Lúc bấy giờ, khởi đầu thì phải là mình, nhưng một lát sau đó là sự hay biết về cảm giác nặng ở mi mắt hay biết là có một suy nghĩ chạy là đang nghe Achaan giảng, không được ngủ gật.
Sarah: Khi kinh nghiệm về cái cứng xuất hiện thì chỉ đặc tính của nó xuất hiện, hay có ý niệm là cái cứng ở mắt, ở cái bàn hay ở chân?
HV 15: Không phải là cái cứng mà nó là sự nặng ở mi mắt.
Người phiên dịch: Vâng, cứng hay nặng thì là do cách dùng từ thôi. Nếu là nặng thì nó nặng ở mắt hay ở đâu? Nghĩa là có ý niệm về nơi chốn hay không?
HV 15: Chỉ là sự nặng nó muốn trĩu xuống và sự hay biết là nó muốn trĩu xuống.
Sarah: Khi đó thực ra chỉ là suy nghĩ về cái nặng thôi. Trong suốt cả một ngày, đều có danh và sắc sinh khởi, luôn luôn. Khoảnh khắc cái cứng thực sự xuất hiện, sẽ không thế có ý niệm gì, đó chỉ là một thực tại xuất hiện qua thân căn mà thôi. Chẳng hạn như khi buồn ngủ hoặc đói, ở khoảnh khắc đó vẫn chỉ là thức kinh nghiệm một đối tượng, ví dụ như cảm thọ. Sau đó có suy nghĩ rằng tôi buồn ngủ, tôi không nên ngủ v.v… Suy nghĩ thì luôn có thể sinh khởi và suy nghĩ về bất cứ điều gì. Vấn đề ở đây không phải là tôi nên làm cái này hay tôi nên làm cái kia, mà để hiểu rằng đó là các thực tại hữu vi mà thôi. Nếu không thì sẽ luôn luôn có những ý niệm là tôi phải làm cái này hay tôi phải làm cái kia. Trong khi thực tế là chỉ có cái thực tại đang xuất hiện và có thể được hiểu hay không hiểu mà thôi.
Học viên 1: Achaan rất nhấn mạnh là để có hiểu biết thực sự thì cần phải chi tiết một cách tường tận từng từ một. Nói về cái thấy chẳng hạn, thì khi đối tượng thị giác tiếp xúc với nhãn căn thì nó sẽ làm khởi sinh nhãn thức, nhưng nhãn thức nó không đi một mình mà bao giờ nó cũng sinh khởi cùng thọ, tưởng và tác ý. Như vậy cùng với nhau chúng hình thành tứ danh uẩn, và tứ danh uẩn này kết hợp với nhãn căn, nhãn căn và đối tượng thị giác là sắc uẩn, sắc uẩn này kết hợp với tứ danh uẩn thành ngũ uẩn. Tại sao lại tách thọ và tưởng thành uẩn riêng biệt, và chúng vận hành như thế nào để tạo thành ngũ uẩn?
Jonathan: Tôi hiểu câu bạn hỏi là tại sao tưởng và thọ lại là hai uẩn riêng biệt?
HV 1: Đúng vậy.
Jonathan: Khi Đức Phật giảng pháp, Ngài giảng theo nhiều cách khác nhau. Đôi khi Đức Phật xếp các thực tại thành khanda- uẩn, đôi khi thì lại xếp theo giới (dhatu), hay là theo xứ (ayatana), hay xếp theo Tứ niệm xứ (satipathana). Mỗi cách xếp như vậy đều giúp chúng ta hiểu Giáo pháp theo một cách khác nhau. Trong cách phân chia thành ngũ uẩn, có để riêng tưởng và thọ thành những uẩn riêng biệt để nhấn mạnh. Thọ uẩn là một cetasika –tâm sở rất quan trọng, chúng ta rất dễ dính mắc, bận tâm vào cảm thọ dễ chịu và khó chịu được kinh nghiệm. Sanna-tưởng thì cũng là một tâm sở quan trọng vì nó đánh dấu và ghi nhớ đối tượng. Thọ xuất hiện rất thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nhưng sanna thì không thường xuyên như vậy (trở thành đối tượng của tâm). Việc hiểu tại sao chúng lại được xếp thành hai loại uẩn riêng thì không quan trọng bằng những việc chúng là những thực tại rất quan trọng. Nhưng quan trọng nhất thì vẫn là thực tại đang xuất hiện hiện giờ và có thể là đối tượng của chánh niệm.
Achaan: Con người muốn có gì rất nhiều trong ngày? Câu mà chúng ta nói khi gặp nhau là gì, “bạn có khỏe không?” Con người muốn có cái gì? Muốn có thọ lạc. Chính vì vậy Đức Phật dạy về các uẩn là ngũ uẩn thủ. Và ta muốn kinh nghiệm gì trong ngày? Chúng ta muốn thọ, nhưng câu trả lời ở đây là sắc. Ta có thể có thọ lạc mà không có kinh nghiệm về sắc không? Sắc là một đối tượng mà chúng ta mong muốn có, bởi vì nếu không có sắc sẽ không có kinh nghiệm qua ngũ quan, sau khi kinh nghiệm qua ngũ quan thì mới có suy nghĩ về những gì được kinh nghiệm. Có ai thích thọ khổ hay ưu không? Nhờ có sắc nên mới có những cảm thọ dễ chịu mà ta dính mắc vào, dù là qua ngũ quan hay ý môn, đó là lý do mà sắc cũng rất quan trọng. Đức Phật cũng dùng từ sắc uẩn thủ.
Nếu thức ăn mặc dù rất ngon nhưng trông không ưa nhìn thì sẽ không thích, cho nên cũng cần phải có phần trình bày đẹp đẽ nữa. Đôi khi có đồ ăn ngon, trình bày đẹp, nhưng nếu có âm thanh du dương lại còn dễ chịu hơn nữa. Vậy sắc không bao giờ đủ cả. Dù chúng ta có làm bao nhiêu việc thiện chăng nữa, nghiệp ấy vẫn đưa chúng ta tái sinh đến các cõi có ngũ uẩn, trong đó có sắc. Và chúng ta có thể dính mắc với sắc một cách mạnh mẽ đến mức có thể tạo các nghiệp bất thiện chỉ để có được sắc mà ta muốn có. Những người muốn trở nên giàu có thì mục đích để làm gì đây? để có được những sắc mà họ muốn. Nếu ta không có được cái mình muốn thì giảu có để làm gì? Nếu có thật nhiều tiền ở trên một hòn đảo hoang thì có thể làm gì đây? quanh đi quẩn lại chỉ có cùi dừa và nước dừa mà thôi, lúc đấy thì sẽ muốn có những cái cụ thể hơn là tiền, đúng không? Nếu như không có sự suy xét, chúng ta không thể thấy được mình dính mắc với cái loại sắc làm đối tượng cho thị giác chừng nào. Có những người dính mắc với cái được thấy, một số thì lại dính mắc với âm thanh được nghe, chẳng hạn như tiếng nhạc du dương, một số lại dính mắc với mùi nước hoa, một số lại thích hương vị ngon. Tôi nghĩ rằng tất cả mọi người thì đều có những dính mắc, hệt như là trẻ con vậy, và đó là những đối tượng của ngũ quan hay gọi là ngũ dục, tức là sắc uẩn, cái làm duyên cho thọ uẩn.
Nếu không có sanna – tưởng ghi nhớ lại những thứ đó thì ta sẽ không bị rắc rối gì cả. Tưởng luôn nhớ mọi thứ: đồ ăn ngon ở đâu nhỉ? dù nó ở một nơi rất xa xôi, nhưng cũng phải đến bằng được. Vậy ai có thể từ bỏ được sự dính mắc vào các đối tượng ngũ dục đây? Vâng, chỉ có vị Thánh bất lai.
Đừng coi thường sự dính mắc của chúng ta vào những đối tượng ngũ quan. Sự dính mắc ấy thì có thể thực sự được tận diệt bằng tuệ giác, nhưng một cách rất từ từ, bắt đầu từ hiểu biết đúng. Nếu không có hiểu biết đúng thì sẽ có vô minh cho rằng mọi thứ là trường tồn. Ai có thể biết được căn cơ của những người khác, rằng người này thích cái này hay thích cái kia, nhưng mình tự biết rõ bản thân mình hơn. Dù là thiện pháp hay bất thiện pháp thì hiểu biết đúng có thể hiểu đúng những thực tại đó như nó là, chỉ là pháp, không phải là tự ngã. Nếu không thì sẽ không có sự tận diệt của bất thiện được. Ý niệm về ngã có thể nghĩ rằng mình sẽ có thể có được hiểu biết từ cách thực hành này hay cách thực hành kia. Nhưng hãy thử xem hiểu biết về cái thấy và cái nghe hiện giờ thì sao? Đây chính là điểm khởi đầu của Tuệ giác ở mức độ cao hơn.
Trong các uẩn, không phải chỉ có sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn mà hành uẩn cũng rất quan trọng, ở những thời điểm khác nhau. Thế còn sự dính mắc đối với thức uẩn, thực tại kinh nghiệm đối tượng thì sao đây? Nếu không có thức uẩn thì sẽ không có sự dính mắc, đúng không? Không có thế giới nào xuất hiện hết cả. Có uẩn nào không phải là đối tượng của dính mắc hay không? Tất cả các uẩn đều là đối tượng của chấp thủ, dính mắc. Khi có sự dính mắc với sự thực hành sai trái và tà kiến thì là uẩn nào? Đó là Hành uẩn- sankhara khandha. Đó là thực tại nào trong hành uẩn đây?
Trả lời: Tham và tà kiến
Achaan: Hiện giờ chúng ta đang sống trong thế giới của nimitta (tướng) có đúng không? Đây là lời nhắc nhở rằng, ở khoảnh khắc không có cái hiểu về thực tại, thì cái mà chúng ta tưởng lầm là cái gì đấy hay con người nào đấy chỉ là nimitta mà thôi.
Học viên 2: Hôm qua có trao đổi quan trọng về ý nghiệp là chỉ có tâm sở tác ý thì mới tạo nghiệp. Lấy ví dụ có người đi lên núi, ngồi trong cốc, không nói chuyện với ai, không làm việc bất thiện nào nhưng trong tâm người ấy thì có nhiều ý nghĩ ác chẳng hạn muốn hại người này người kia. Vậy thì người đó có tạo nghiệp hay không? Con có xem sách Vi diệu pháp để tìm mối liên quan giữa tâm và tâm sở nhưng nó phức tạp quá. Nên con muốn nhờ Achaan giải thích thêm?
Sarah: Chúng ta sắp hết thời gian nên tôi chỉ đưa ra vài ví dụ đơn giản mà thôi. Như đã nói ở phần trước, một người đánh cá không phải lúc nào cũng có tác ý sát sinh. Một phần nhiều thời gian có thể họ cũng chỉ nghỉ ngơi trên thuyền và có tham sinh khởi khi nghĩ đến bữa ăn trưa của mình, giống như chúng ta vậy. Có lúc họ có thể nghĩ đến việc bắt cá và cố gắng bắt cá nhưng không thành công. Mặc dù ở thời điểm đó, tác ý là đánh bắt cá để sát sinh, nhưng do không thành công cho nên chưa trở thành nghiệp đạo, tức là sẽ tạo quả trong tương lai. Để là nghiệp đạo sát sinh thì cần phải có 4 yếu tố: 1. biết có một chúng sinh có mạng sống là đối tượng để sát sinh; 2.có tác ý sát sinh; 3.có hành động sát sinh; và 4. chúng sinh đó bị chết. Chỉ đến khi đó nghiệp đạo mới hoàn toàn trọn vẹn và sẽ tạo quả về sau. Nếu chưa hội đủ các yếu tố đó, mới chỉ có nghiệp là ý nghiệp bất thiện ở các mức độ khác nhau mà thôi. Cũng tương tự như vậy, chúng ta có thể nghĩ đến việc lấy một bông hoa này đem về nhà, nhưng hành động ấy không xảy ra, thì nó cũng giống như là trong một giấc mơ trong đó mình làm những hành động bất thiện. Có rất nhiều ví dụ như vậy có thể được thấy trong cuốn Chú giải Bộ pháp tụ, nhưng toàn bộ chi tiết vi tế về nghiệp và quả của nghiệp chỉ có thể được hiểu trọn vẹn bởi Đức Thế tôn mà thôi. Điều quan trọng là hiểu được các thực tại hiện giờ là thiện hay bất thiện, còn chúng ta sẽ không bao giờ có thể đoán ra được kết quả của nó sẽ thế nào. Hiểu về thực tại hiện giờ là thiện hay bất thiện thì quan trọng hơn là lo lắng về kết quả của cái đã xảy ra rồi, bởi vì khi lo lắng như vậy luôn luôn là sự dính mắc vào ý niệm về “tôi” và “của tôi”.
Sadhu sadhu sadhu!
ba vòng luân, buông bỏ, giới, nghiệp, nghiệp đạo, ngũ uẩn, quả