Khảo cứu pháp chân đế – CHƯƠNG 3: TRÌNH BÀY VỀ PHÁP CHÂN ĐẾ I (TÂM VÀ TÂM SỞ)- (CITTA VÀ CETASIKA)
Chương 3
Trình bày về pháp chân đế (I) (Tâm và Tâm sở – Citta và Cetasika)
Tâm (citta) là pháp dẫn đầu trong việc nhận biết những gì xuất hiện, như cái thấy hoặc cái nghe. Tâm được phân chia thành 89 loại và trong một cách khác thì được chia thành 121 loại[1].
Tâm sở (cetasika) là một loại pháp (dhamma) khác sinh khởi cùng với tâm, kinh nghiệm cùng một đối tượng với tâm, diệt cùng tâm và sinh khởi ở cùng một căn với tâm. Mỗi tâm sở có một đặc tính riêng và đảm nhận một chức năng riêng. Có tất cả 52 loại tâm sở. Sắc (rūpa) là pháp không biết hay không kinh nghiệm gì cả, như màu sắc, âm thanh, mùi và vị. Có tất cả 28 loại sắc. Niết bàn là một pháp – nơi chấm dứt phiền não và khổ đau. Niết bàn không có nhân làm cho nó sinh khởi. Niết bàn không sinh không diệt.
Tâm chân đế pháp – Citta Paramattha
Khi chúng ta thấy màu sắc thì mắt không tự thấy, mắt chỉ là một duyên cho sự sinh khởi của cái thấy. Cái thấy là tâm (citta). Khi âm thanh in dấu (tác động) lên tai thì âm thanh và tai không kinh nghiệm gì cả, tai không phải là tâm. Pháp nghe âm thanh, kinh nghiệm âm thanh chính là tâm, vì vậy tâm chân đế pháp (citta paramattha[2]) chính là pháp kinh nghiệm màu sắc, âm thanh hay các đối tượng khác. Các pháp chân đế (paramatthadhamma) là thực và đều là abhidhamma[3]– pháp vi diệu, đều vô ngã và nằm ngoài sự kiểm soát, phụ thuộc vào các duyên tương ứng. Ngay nếu một vị Phật chưa ra đời và khám phá chân lý thì pháp vẫn sinh và diệt bởi các duyên riêng và có đặc tính riêng của chúng. Chúng ta đọc trongTăng Chi Bộ Kinh (Chương ba pháp, phẩm 11 – 16, mục 134 – Xuất hiện) như sau:
“Này các Tỳ kheo, dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp quyết định tánh, tức là: “Tất cả các hành là vô thường”. Vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ, sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: “Tất cả các hành là vô thường”.
Này các Tỳ kheo, dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp quyết định tánh, tức là: “Tất cả các hành là khổ”. Về vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ, sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: “Tất cả các hành là khổ”.
Này các Tỳ kheo, dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp quyết định tánh, tức là: “Tất cả các pháp là vô ngã”. Về vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ. Sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: “Tất cả các pháp là vôngã”.
Đức Phật Toàn giác là vị thầy tối thượng, bởi Ngài đã tự chứng ngộ bản chất của tất cả các pháp. Ngài chứng ngộ sự thật rằng, các pháp là vô ngã, không phải là chúng sinh, không phải là con người và rằng chúng không thể bị kiểm soát bởi bất cứ ai.
Từ “abhi” có nghĩa là “vi diệu” hay “thù thắng”. Abhidhamma có nghĩa là pháp có sức mạnh, vì nó là vô ngã, nằm ngoài sự kiểm soát của bất kỳ ai. Khi Đức Phật giác ngộ, Ngài đã thuyết giảng tất cả các pháp (dhamma) mà Ngài xuyên thấu, Ngài giảng về tính chất của chúng và các duyên hệ khiến chúng sinh khởi. Đức Phật tôn kính Pháp mà Ngài đã xuyên thấu. Chúng ta đọc trong Tương Ưng Bộ Kinh (Phần 6, Chương 6, Phẩm thứ nhất, Mục 2 – Cung kính) rằng Đức Phật, ngay sau khi giác ngộ, khi còn ngự lại ở Uruvelā, đã suy xét xem liệu Ngài có thể đảnh lễ ai, nhưng Ngài không thể tìm được ai trên thế gian thành tựu hơn Ngài về giới, định, tuệ, về sự giải thoát hay hiểu biết về sự giải thoát. Sau đó ta đọc:
Với pháp này, Ta đã Chánh đẳng giác, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ Pháp này
Đức Phật không dạy rằng Ngài kiểm soát các pháp mà Ngài đã hoàn toàn chứng ngộ. Ngài tuyên bố rằng kể cả Ngài cũng không thể khiến cho ai đó có thể đắc được đạo quả, kinh nghiệm niết bàn và giải thoát khổ đau. Ngài dạy rằng, chỉ có sự thực hành Pháp mới là nhân duyên cho một người có thể chứng nghiệm tâm đạo và tâm quả, kinh nghiệm niết bàn và thoát khổ.
Pháp chân đế (paramatthadhamma) hay vi diệu (abhidhamma) không phải là pháp nằm ngoài khả năng ta có thể hiểu, bởi lẽ pháp chân đế (paramatthadhamma) là thực tại. Chánh kiến, hay hiểu biết đúng, là biết được các đặc tính của pháp chân đế như chúng là. Tâm là một pháp chân đế sinh khởi và nhận biết những đối tượng khác nhau, chẳng hạn như màu, âm thanh, mùi, vị, đối tượng xúc chạm và những thứ khác, tùy thuộc vào loại tâm nào sinh khởi. Chẳng hạn, tâm sinh khởi và thấy màu sắc qua mắt là một loại tâm. Tâm sinh khởi và nghe âm thanh qua tai là một loại tâm khác. Tâm sinh khởi và kinh nghiệm cái lạnh, nóng, cứng, mềm, căng, chùng qua thân căn là một loại tâm khác. Tâm sinh khởi và suy nghĩ, nhận biết các đối tượng khác nhau qua ý căn lại là một tâm khác nữa. Tất cả những gì xảy ra đều tùy thuộc vào loại tâm sinh khởi và vào các yếu tố làm duyên tương ứng tạo nên sự sinh khởi của các loại tâm khác nhau.
Tại khoảnh khắc tâm nhìn thấy một cái gì đó, sẽ không chỉ có tâm thấy, hay chỉ có đối tượng được thấy, mà cần phải có cả đối tượng được thấy (đối tượng thị giác cũng như tâm thấy (nhãn thức). Bất cứ khi nào có một đối tượng được thấy, tức màu sắc, đương nhiên phải có một thực tại nữa là tâm thấy. Tuy nhiên, nếu ta chỉ quan tâm đến đối tượng được thấy, ta sẽ không thấy được sự thực, rằng đối tượng được thấy chỉ có thể xuất hiện bởi vì tâm sinh khởi và đảm nhận chức năng thấy đối tượng đó. Khi ta nghĩ về một chủ đề riêng biệt hay câu chuyện nào đó, chính do một tâm đang suy nghĩ về khái niệm hay ngôn từ ở những khoảnh khắc đó. Khi tâm sinh khởi, nó kinh nghiệm một cái gì đó và cái được biết bởi tâm đó được gọi bằng tiếng Pāli là ārammaṇa (cảnh).
Thuật ngữ “cảnh” (“ārammaṇa” hay “ālambana”) trong Giáo pháp của Đức Phật toàn giác (Sammāsambuddha) nói đến cái được biết bởi tâm. Khi tâm sinh khởi và thấy cái xuất hiện qua mắt, nó là đối tượng của tâm tại thời điểm đó. Khi tâm sinh khởi và nghe âm thanh, âm thanh là đối tượng của tâm tại thời điểm đó. Khi tâm sinh khởi và kinh nghiệm mùi, mùi là đối tượng của tâm tại thời điểm đó. Cũng như vậy, tâm nếm, tâm kinh nghiệm lạnh, nóng, mềm, cứng, căng hay chùng qua thân căn hay tâm suy nghĩ về các chủ đề khác nhau… bất cứ cái gì được kinh nghiệm hay nhận biết bởi tâm đều là đối tượng (cảnh) của tâm tại thời điểm đó. Bất cứ khi nào có tâm thì phải có một đối tượng cùng với tâm. Mỗi khi tâm sinh khởi, nó phải kinh nghiệm đối tượng, sẽ không thể có tâm không biết (không kinh nghiệm) gì cả. Không thể chỉ có một mình tâm – pháp nhận biết một cái gì đó, nếu không có đối tượng, tức là cái được nhận biết bởi nó.
Tâm là thực tại nhận biết một đối tượng, nó không chỉ tồn tại trong đạo Phật hay cõi người. Tâm nghe, thấy… là pháp chân đế, nó là phổ quát và không thuộc về ai. Nếu ai đó có ý niệm về người này thấy hay người kia nghe, thì đó là do vẻ bề ngoài của hiện tượng và do ký ức của người ấy. Nếu không có vẻ bề ngoài và không có ký ức, chúng ta sẽ không cho rằng tâm thấy là người này thấy hay tâm nghe là người kia nghe. Tâm là một pháp chân đế. Dù ai là người thấy hay người nghe thì tâm thấy chỉ thấy cái xuất hiện qua mắt, tâm nghe chỉ nghe âm thanh qua tai. Tâm thấy không thể kinh nghiệm âm thanh và tâm nghe không thể kinh nghiệm cái xuất hiện qua mắt. Không ai có thể có khả năng thay đổi đặc tính và bản chất của một pháp chân đế.
Tâm, một pháp chân đế sinh khởi và nhận biết đối tượng bởi những duyên tố tương ứng (yếu tố làm duyên). Nếu không có các duyên tố, tâm không thể sinh khởi. Chẳng hạn, nếu âm thanh không sinh khởi và in dấu (hay tác động) lên nhĩ căn thì tâm nghe (nhĩ thức) không thể sinh khởi được. Nếu mùi không sinh khởi và in dấu lên tỷ căn (tức là khứu giác) thì tâm kinh nghiệm mùi (tỷ thức) không thể sinh khởi. Các loại tâm khác nhau chỉ có thể sinh khởi bởi những duyên tố thích hợp cho sự sinh khởi của những loại tâm đó. Có 89 loại tâm khác nhau và trong một số trường hợp đặc biệt là 121 loại. Để tâm sinh khởi, không phải chỉ có một duyên tố mà cần nhiều duyên tố. Chẳng hạn, tâm thấy sinh khởi cần có những điều kiện như là mắt, hay sắc nhãn căn[4], và sắc là đối tượng thị giác hay màu sắc, cái xuất hiện qua mắt.
Tâm là pháp chân đế khác với sắc (rūpa). Các pháp chân đế không phải là sắc đều là danh (nāma). Tâm, tâm sở và niết bàn đều là danh pháp, còn sắc là sắc pháp[5].
Tâm sở chân đế pháp- Cetasika Paramattha
Khi tâm sinh khởi và nhận biết một đối tượng, một loại danh pháp khác đồng sinh khởi vớitâm và kinh nghiệm cùng đối tượng với tâm. Danh pháp đó là tâm sở (cetasika). Các ví dụ về tâm sở là sân hận, tham ái, hỷ lạc, ưu sầu, keo kiệt, ghen tuông, từ ái hay bi mẫn. Các pháp ấy là tâm sở chân đế pháp, chứ không phải là tâm chân đế pháp.
Các trạng thái như sân hận, tham ái, hỷ lạc hay ưu sầu đều là các pháp có thật, chúng không phải là tự ngã, là chúng sinh hay con người. Chúng là các pháp luôn sinh khởi cùng tâm. Nếu không có tâm, các tâm sở như sân, tham, ưu không thể sinh khởi. Có tất cả 52 loại tâm sở chân đế pháp. Sân (dosa) là một loại tâm sở với đặc tính thô tháo và hung tợn. Tham ái hay dính mắc (lobha cetasika) là một loại tâm sở khác, với đặc tính dính mắc, không buông bỏ, khao khát đối tượng đang được kinh nghiệm. Như vậy, ta thấy các tâm sở không giống nhau và mỗi loại tâm sở là một pháp khác biệt, với đặc tính riêng của chúng. Chúng không chỉ có đặc tính riêng mà còn có các biểu hiện và cận nhân cho sự sinh khởi của chúng khác nhau.
Tâm chân đế pháp và tâm sở chân đế pháp là các danh pháp đồng sinh và đồng cảnh. Tâm sở đồng sinh đồng diệt với tâm, kinh nghiệm cùng đối tượng và sinh khởi cùng một căn với tâm (đồng căn). Như vậy, bất cứ khi nào tâm sinh và diệt, tâm sở cũng sinh và diệt. Tâm chân đế pháp và tâm sở chân đế pháp không thể tách rời, chúng không sinh diệt mà không có nhau.
Tuy nhiên, chúng là hai loại chân đế pháp khác nhau. Tâm đóng vai trò lãnh đạo trong việc nhận biết đối tượng, còn các tâm sở khác nhau sinh khởi cùng với tâm, kinh nghiệm cùng đối tượng với tâm, nhưng mỗi pháp lại có một đặc tính và chức năng khác nhau trong việc kinh nghiệm đối tượng. Bởi lẽ mỗi tâm sinh khởi lại đi kèm với một số lượng tâm sở khác nhau, do những khác biệt ấy mà tâm có tổng cộng 89 loại, hoặc 121 theo cách tính với một số trường hợp đặc biệt. Mỗi loại tâm lại khác biệt, bởi tâm nhận biết các đối tượng khác nhau, chúng có các chức năng khác nhau và sinh kèm bởi các tâm sở khác nhau. Chẳng hạn, một số tâm có đối tượng là cái xuất hiện qua mắt, số khác có đối tượng là âm thanh. Một số tâm đảm nhận chức năng thấy, một số tâm đảm nhận chức năng nghe. Một số tâm đi kèm với tham tâm sở (lobha cetasika), một số tâm lại đi kèm với sân tâm sở (dosacetasika).
Khi mọi người có thể tiếp nhận Giáo lý, lắng nghe lời giảng về Vi diệu pháp và thẩm sát các pháp chân đế xuất hiện với trí tuệ (paññā) đã được tích lũy trong quá khứ, tại khoảnh khắc ấy, họ có thể xuyên thấu bản chất thực sự của pháp chân đế. Vì vậy vào thời Đức Phật còn tại thế, khi Đức Thế Tôn, bậc vô song về khả năng giáo hóa, vừa kết thúc bài Pháp, đã có nhiều người đã giác ngộ và kinh nghiệm niết bàn. Những người ấy nghe Pháp, hiểu và thẩm xét chân lý và thấy được các pháp chân đế xuất hiện tại khoảnh khắc đó như chúng là. Chẳng hạn, khi Đức Phật giảng rằng nhãn thức (tâm đảm nhận chức năng thấy) là vô thường, họ có chánh niệm – tỉnh giác (sati-sampajañña, sati[6]và paññā) và trong khi thấy, họ biết được bản chất thật sự của tâm thấy đó; họ chứng nghiệm rằng đó chỉ là danh pháp, không phải là tự ngã, là chúng sinh hay con người. Khi nghe, họ có chánh niệm – tỉnh giác và biết được đặc tính của pháp đang nghe. Khi trí tuệ xuyên thấu đặc tính vô thường, sự sinh diệt và bản chất bất toại nguyện của pháp chân đế xuất hiện tại khoảnh khắc đó, dính mắc và tà kiến cho các pháp chân đế là ngã, là thường, là lạc có thể được loại bỏ.
Vì vậy, ta cần phải hiểu một cách đúng đắn rằng, Giáo pháp mà Đức Phật đã chứng ngộ và thuyết giảng, được kết tập và truyền tụng dưới tiêu đề Tam Tạng (Tipiṭaka), là đề cập tới bản chất thực sự của các pháp. Khi chúng ta đã nghiên cứu pháp chân đế và hiểu chúng là gì, chúng ta cần thẩm xét các pháp chân đế đang xuất hiện để có thể chứng ngộ bản chất thật sự của các đặc tính của chúng. Bằng cách ấy, hoài nghi và vô minh về các đặc tính của các pháp chân đế có thể được loại bỏ.
Khi nghiên cứu các pháp chân đế với mục đích có thêm hiểu biết về chúng, ta cũng phải thẩm sát xem những nhân khác nhau nào dẫn tới quả khác nhau nào. Đó chính là cách để hiểu thấu đáo bản chất của chúng. Chẳng hạn, ta nên biết liệu cái thấy với cái nghe có là một hay không. Ta cần phải biết chúng giống và khác nhau ở điểm nào. Quả là pháp thấy và pháp nghe cùng là tâm chân đế pháp, hay là thức. Tuy nhiên, chúng là các tâm (thức) khác nhau, vì các duyên tố cho sự khởi sinh của chúng là khác nhau. Tâm thấy, hay nhãn thức, phụ thuộc vào đối tượng thị giác xuất hiện qua mắt, đối tượng này in dấu lên nhãn căn (cakkhuppasāda); điều ấy tạo duyên cho sự sinh khởi của nhãn thức. Trong khi ấy, tâm nghe, hay nhĩ thức, phụ thuộc vào âm thanh in dấu lên nhĩ căn (sotappasāda); điều ấy tạo duyên cho sự sinh khởi của nhĩ thức. Như vậy, nhãn thức và nhĩ thức có các chức năng khác nhau tùy thuộc vào các duyên tố khác nhau.
[1] Điều này sẽ được giải thích rõ về sau.
[2] Thuật ngữ Pāli “paramattha” xuất phát từ “parama” (cao nhất, tối thượng) và “attha” có nghĩa là “nghĩa”. Paramattha dhammas có nghĩa là các pháp chân đế, hay thực tại theo nghĩa tối hậu.
[3] Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) là tên của phần thứ ba của Tam Tạng (Tipiṭaka), có nghĩa là “Thắng Pháp”, Pháp chi tiết. Nó đề cập tới các thực tại tối hậu, khác với các thực tại chế định. Thực tại tối hậu, hay paramattha dhamma, cũng có thể được gọi là “Vi Diệu Pháp”.
[4] “Cakkhu” có nghĩa là “mắt”, và “pasāda” có nghĩa là độ nhạy, hay “căn”. Sắc nhãn căn (cakkhu pasāda rūpa) có khả năng tiếp nhận sự in dấu của màu.
[5]Bộ Pháp Tụ (Dhammasaṇgani), Quyển III, phần II, §1309-1310.
[6] Sati là tâm sở chánh niệm. Chức năng của nó sẽ được giải thích sau.
Achaan Sujin, Bánh Chánh đạo, chân đế, paramatha dhamma, đạo Phật
Khảo cứu pháp chân đế – CHƯƠNG 2: ĐỨC PHẬT
Chương 2
Đức Phật
Đức Phật – Bậc toàn giác, Bậc Ứng cúng đã bát niết bàn (parinibbāna) giữa hai cây Sāla trong rừng Sāla, tại nơi mai táng cho người Malla thuộc xứ Kusināra. Kể từ đó, các chúng sinh trên thế giới này không còn cơ hội được nghe Giáo lý được giảng trực tiếp từ Ngài nữa. Tuy nhiên, Đức Phật đã để lại Pháp (Dhamma) và Luật (Vinaya) mà Ngài đã thuyết làm vị thầy của chúng ta và đại diện cho Ngài sau khi nhập diệt1.
Mức độ tôn kính mà mỗi người Phật tử dành cho Giáo pháp vi diệu của Đức Phật cũng tương ứng với mức độ kiến thức và hiểu biết về Pháp và Luật ấy của họ. Nếu ai đó được chiêm ngưỡng dung nhan hiển lộ sự hoàn mỹ của Đức Phật, được lắng nghe Giáo pháp trực tiếp từ Ngài, được chạm vào nẹp y của Ngài và đi sau Ngài từng bước nhưng không hiểu Giáo pháp thì người ấy cũng không thấy được Đức Phật. Những ai thấy và hiểu được Giáo pháp thì người ấy được gọi là người thấy Như Lai2.
Có ba mức độ hiểu biết về Giáo lý của Đức Phật, tức là Giáo pháp mà Bậc toàn giác đã dạy, đó là:
- Pariyatti (Pháp học): là mức độ hiểu biết lý thuyết về Giáo pháp và Giới luật.
- Paṭipatti (Pháp hành): là mức độ thực hành; là sự phát triển hiểu biết về Giáo lý với mục đích để đạt được giác ngộ qua đó phiền não sẽ được tận diệt và khổ sẽ được chấmdứt.
- Paṭivedha (Pháp thành): là sự xuyên thấu và chứng ngộ trực tiếp Giáo lý qua đó các phiền não được tận diệt và chấm dứt khổ đau.
Câu nói của Đức Phật rằng “ai thấy Pháp là thấy Như Lai” là nói đến việc thấy và chứng ngộ Giáo lý mà Đức Phật đã giác ngộ. Đó chính là Pháp – bao gồm chín pháp siêu thế (lokuttaradhamma)3. Sự chứng ngộ trực tiếp ở mức độ pháp thành (paṭivedha) là kết quả của sự thực hành (paṭipatti), cũng là sự phát triển hiểu biết về Giáo pháp. Mức độ của paṭipatti (pháp hành) lại phụ thuộc vào pariyatti (pháp học), là sự nghiên cứu về Giáo pháp và Giới luật. Việc nghiên cứu này là nơi chúng ta nương nhờ, đó chính là con đường từng bước dẫn tới Giáo pháp ở mức độ pháp hành (paṭipatti) và sau đó đến mức độ pháp thành (paṭivedha).
Giáo pháp của Đức Phât đã được gìn giữ bằng trí nhớ và lưu truyền nhờ truyền thống tụng đọc. Nó đã được tụng đọc theo sự ghi nhớ những gì được nghe từ các bậc A la hán đệ tử, những người đã thiết lập ba phần của Giáo lý được gọi là Tam Tạng (Tipiṭaka) tại kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ nhất được tổ chức sau khi Đức Phật nhập diệt tại Rājagaha (Vương Xá). Giáo pháp đã được tụng đọc bằng trí nhớ và lưu truyền như vậy cho đến khi nó được lưu thành văn bản vào thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên. Pháp và Luật được quy tụ bởi các vị A la hán đệ tử ở kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ nhất bao gồm ba phần, đó là:
- Tạng Luật (VinayaPiṭaka)
- Tạng Kinh (SuttantaPiṭaka)
- Tạng Vi Diệu Pháp (AbhidhammaPiṭaka)
Tạng Luật (Vinaya Piṭaka) chứa đựng những quy tắc ứng xử cho các vị tỳ kheo để họ có thể sống cuộc đời phạm hạnh (brahmacariya4) hoàn hảo đến mức độ cao nhất. Tạng Kinh (Suttanta Piṭaka) bao gồm những nguyên lý của Giáo pháp được thuyết giảng cho những người khác nhau ở những nơi khác nhau. Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka) nói đến bản chất của các pháp, về các thực tại và các mối duyên hệ giữa nhân và quả của chúng.
Đức Phật đã chứng ngộ được bản chất thật của tất cả các thực tại và những mối duyên hệ nhân quả giữa chúng. Đức Phật đã giảng Pháp mà Ngài đã chứng ngộ để giúp các chúng sinh khác trong thế giới này. Với trí tuệ vô song, sự thanh cao và lòng từ vô hạn, Ngài đã giảng Pháp từ khi giác ngộ cho đến khi nhập niết bàn. Đức Phật đã vun bồi các ba la mật để có thể trở thành Bậc Toàn giác, Bậc A la hán, Bậc Chánh đẳng giác5. Ngài đã có được những thành tựu phi thường (sampadā)6, đó là “thành tựu về nhân” (hetu), “thành tựu về quả” (phala) và “thành tựu về khả năng cứu độ chúng sinh” (sattupakāra)7
“Thành tựu về nhân” là sự thành tựu về các nguyên nhân đúng, tức là các ba la mật cần thiết để có thể giác ngộ và trở thành một vị Phật toàn giác. “Thành tựu về quả” là sự chứng đạt của bốn quả, hay kết quả, như sau:
- Thành tựu về trí tuệ (ñāṇasampadā). Đó là trí tuệ sinh khởi cùng với tâm đạo tại thời điểm giác ngộ8. Trí tuệ này là nền tảng và nguyên nhân sâu xa của sự toàn giác và của thập lực9 (dasabala) của Ngài.
- Thành tựu về sự xả ly (pahānasampadā). Đó là sự tận diệt hoàn toàn tất cả các phiền não cùng với những xu hướng ngủ ngầm hay những tiền khiên tật (vāsanā). Tiền khiên tật được thể hiện qua thân và khẩu, nó có thể khó coi hay khó nghe và được tích lũy từ nhiều kiếp. Sự đoạn trừ các loại tiền khiên tật này chỉ có được ở một vị Phật toàn giác10.
- Thành tựu về năng lực (ānubhāvasampadā). Đó là khả năng để đạt được cái mình muốn có.
- Thành tựu về sắc thân (rūpakāya sampadā). Bao gồm những đặc tính trên thân hiển lộ các phẩm chất cao thượng mà Ngài đã tích lũy trong các tiền kiếp11. Ngoài ra những đặc tính ấy rất dễ nhìn, khiến người ta ấn tượng và mang đến cho họ niềm hoanhỷ.
Khi nguyên nhân, tức là sự thành tựu về các ba la mật, đã được hoàn mãn, nó sẽ làm duyên cho sự thành tựu về quả, cho sự giác ngộ và trở thành một vị Phật Chánh đẳng giác (Sammāsambuddha). Ngài đã trở thành vị Phật Chánh đẳng giác và chấm dứt khổ đau nội tại của vòng sinh tử luân hồi không phải cho bản thân. Ngài đã bồi bổ các ba la mật để có thể đạt được giác ngộ và chứng quả chánh biến tri để có thể dạy Giáo pháp cho các chúng sinh trên thế giới này, để họ cũng được thoát khổ. Nếu như Đức Phật đã bồi bổ các ba la mật chỉ để tận diệt phiền não và thoát khổ cho bản thân thì Ngài đã không được gọi là Đức Phật Chánh đẳng giác (hay Toàn giác)
Có hai loại Phật: Phật Toàn giác (Sammāsambuddha) và Phật độc giác (Paccekabuddha)12.
Một vị Phật toàn giác là người đã tự mình chứng ngộ bởi trí tuệ sâu sắc của bản thân, thấy được sự thực về các pháp chưa từng được nghe13 và đã chứng được chánh biến tri về các pháp đó, cũng như những năng lực thần thông.
Một vị Phật độc giác (Pacceka Buddha) là người cũng tự mình đạt được chân lý về tất cả các pháp mà Ngài chưa từng được nghe, nhưng không đạt được chánh biến tri cùng các thần thông.
Như vậy, nhân – hay sự vun bồi đầy đủ các ba la mật mang đến quả là việc đạt được Phật quả một cách tương ứng. Nhân và quả khác nhau giữa trường hợp của vị Phật độc giác và vị Phật toàn giác.
Thành tựu thứ ba của một vị Phật liên quan tới khả năng cứu độ chúng sinh (sattupākara). Đó là sự thành tựu về việc luôn trợ giúp cho các chúng sanh của thế giới này bởi khả năng và nỗ lực của Ngài cho việc ấy. Ngài muốn giúp đỡ cả những người xấu như Đề Bà Đạt Đa (Devadatta)14. Trong trường hợp những người tuệ căn chưa đủ mạnh, Đức Phật đợi đến thời gian chín muồi để có thể dạy dỗ họ. Ngài dạy Giáo pháp với mục đích duy nhất là giúp mọi người thoát khổ, không chút mong muốn mang lại danh dự hay của cải nào cho bản thân.
Khi Đức Phật Toàn giác đã hoàn mãn những thành tựu về nhân và quả, Ngài sẵn sàng giúp đỡ những người có thể tiếp nhận Giáo lý của Ngài để thoát khổ, và đó là thành tựu về sự cứu độ chúng sinh. Vì vậy, Ngài là bậc Toàn giác, bởi Ngài đã thành tựu cả ba loại thành tựu về nhân, về quả và về sự cứu độ chúng sinh.
Chính vì thế, Giáo pháp mà Đức Phật Toàn giác thuyết giảng là Giáo pháp mà Ngài đã xuyên thấu khi đạt được giác ngộ. Với sự giác ngộ, tất cả các phiền não được đoạn diệt. Đức Phật dạy Giáo pháp mà Ngài đã tự mình giác ngộ để những ai thực hành đúng đắn cũng có thể thoát khỏi phiền não.
Những người đệ tử Phật cần phải thẩm xét và nghiên cứu chân lý nơi Giáo pháp mà Đức Phật đã giác ngộ để tìm ra sự thật chính xác là gì. Sự thật mà Đức Phật đã chứng ngộ khác như thế nào với sự thật của thế giới quy ước?
Đức Phật đã chứng ngộ chân lý thông qua sự giác ngộ của mình và thuyết giảng cho các đệ tử, để họ cũng có được hiểu biết và thực hành Giáo pháp một cách đúng đắn cho đến khi họ cùng chứng ngộ chân lý ấy. Sự thật mà Đức Phật đã thuyết giảng là: tất cả những gì sinh khởi chỉ là pháp – dhamma15, là thực tại không phải là ngã, không phải là một chúng sinh hay con người. Tất cả các pháp đều sinh khởi bởi có các duyên cho chúng sinh khởi, như tham, sân, trạo hối, cảm thọ ưu, cảm thọ hỷ, sự ghen tuông, sự bủn xỉn, lòng từ bi, cái thấy, cái nghe,… Tất cả đều là các loại pháp khác nhau. Có các loại pháp khác nhau là vì chúng sinh khởi bởi những duyên khácnhau.
Chúng ta nhầm lẫn cho rằng tham, sân và các pháp khác sinh khởi là ta, là chúng sinh, là con người, và đó chính là tà kiến, là hiểu biết sai lầm. Đó là tà kiến bởi lẽ những pháp ấy sau khi sinh khởi thì lại diệt đi, biến mất, chúng đều có tính chất luôn thay đổi từ khi sinh ra cho đến khi chết đi. Lý do khiến chúng ta cho đó là ta, là tự ngã, là chúng sinh, là con người chính là vô minh về thực tại, về các pháp.
Bất cứ khi nào thấy, ta lại cho cái thấy, mà về bản chất chỉ là một thực tại, là ta. Ta dính mắc vào ý niệm “tôi thấy”. Khi nghe, ta cho rằng pháp (dhamma) đang nghe là ta, ta dính mắc vào ý niệm “tôi nghe”. Khi ngửi, ta cho rằng pháp ngửi đó là ta và ta lại dính mắc vào ý niệm “tôi ngửi”. Khi nếm, ta cũng cho rằng pháp nếm đó là ta, ta dính mắc vào ý niệm “tôi nếm”. Khi kinh nghiệm đối tượng xúc chạm qua thân căn, ta cho rằng pháp kinh nghiệm đó là ta, ta dính mắc vào ý niệm “tôi kinh nghiệm”. Khi nghĩ về các chủ đề khác nhau, ta cho rằng pháp suy nghĩ đó là ta, ta dính mắc vào ý niệm “tôi nghĩ”.
Sau khi giác ngộ sự thật về tất cả các pháp, Đức Phật đã dạy chân lý ấy cho các đệ tử của mình để họ có thể hiểu các pháp là vô ngã, không phải là chúng sinh hay con người. Ngài dạy về pháp chân đế (paramatthadhamma) – mỗi pháp đều có một đặc tính riêng không thể thay đổi. Đặc tính của các pháp chân đế không thể được thay đổi bởi bất kỳ ai, dù người ấy có biết về chúng hay không, dù người ấy gọi chúng bằng tên gọi theo bất kỳ ngôn ngữ nào, hay không gọi tên chúng đi nữa thì đặc tính của chúng vẫn luôn như vậy. Pháp sinh khởi vì có những điều kiện phù hợp cho sự sinh khởi của chúng và rồi diệt đi ngay. Như Đức Phật đã nói với Ngài Ānanda16: “Cái gì sinh, cái gì đã tồn tại bởi duyên thì cũng sẽ diệt”.
Bởi vô minh, chúng ta hiểu sai và cho các pháp sinh và diệt là ta, là chúng sinh, là con người. Đó là nguyên nhân ngày càng có tham ái, dính mắc hơn với địa vị, xuất thân, gia đình, màu da của mình,… Trên thực tế, cái ta thấy chỉ là các màu sắc khác nhau sinh khởi qua mắt, không phải là ngã, không phải là con người, không phải là chúng sinh. Âm thanh được nghe không phải là ta, không phải là con người, không phải là chúng sinh. Cái xuất hiện qua các căn chỉ là những loại pháp khác nhau sinh khởi bởi các duyên tương ứng của chúng.
Tà kiến cho rằng các pháp là ta, là ngã, là con người, là chúng sinh có thể so với việc nhìn thấy một ảo ảnh. Những người đang đi trên sa mạc có thể nhìn thấy ảo ảnh về nước ở trước mặt họ nhưng đến khi tới nơi thì toàn bộ ảo ảnh đó biến mất, vì trên thực tế không có nước. Hình ảnh mà họ thấy chỉ là một ảo ảnh thị giác mà thôi. Hiểu biết sai lầm cho các pháp là ta, là chúng sinh, là con người cũng như vậy, nó được tạo ra bởi vô minh, bởi ngã tưởng và tà kiến.
Những từ như “chúng sinh”, “con người”, “nữ”, “nam”… chỉ là những khái niệm được sử dụng để nói về cái mà ta thấy hoặc nghe. Hơn nữa, một điều hiển nhiên là những màu sắc khác nhau, âm thanh khác nhau, mùi vị khác nhau, nóng, lạnh, cứng, mềm, sự căng, chùng…, tất cả sự đa dạng về các đặc tính ấy, không thể xuất hiện nếu không có các pháp kinh nghiệm chúng, tức là cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, sự kinh nghiệm nóng, lạnh, cứng, mềm, căng, chùng, sự hay biết những thứ khác nhau và suy nghĩ.
Tất cả các pháp có thể kinh nghiệm mọi thứ khác nhau (như pháp kinh nghiệm màu sắc; pháp kinh nghiệm âm thanh; pháp kinh nghiệm mùi vị; pháp kinh nghiệm nóng, lạnh, cứng, mềm, căng, chùng; pháp biết được ý nghĩa của những thứ khác nhau và pháp suy nghĩ về những chủ đề khác nhau) được Đức Phật toàn giác gọi là tâm (citta).
[1] Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya), Phần II, Số 16, Kinh Đại Bát Niết Bàn.
[2]Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya), Phần II, Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka), Quyển III, Chương V, Số 3. “Như lai” (Tathāgata) là một danh hiệu của đức Phật.
[3] Có tám loại tâm siêu thế chứng ngộ niết bàn là pháp siêu thế. Có bốn giai đoạn giác ngộ, với mỗi giai đoạn, có hai loại tâm siêu thế là tâm đạo và tâm quả. Điều này sẽ được giải thích kỹ hơn trong các phần sau.
[4] Cuộc đời phạm hạnh (brahma cariya) là cuộc sống của người phát triển tứ niệm xứ, phát triển hiểu biết đúng về các thực tại, để trở thành bậc A la hán.
[5] Đức Phật toàn giác, người tự mình chứng ngộ và có thể dậy chân lý cho những người khác.
[6] Theo Abhidhammattha-vibhāvinī-ṭíkā.
[7] “Satta” là chúng sinh và “upakāra” là giúp đỡ.
[8] Tâm đạo là tâm siêu thế kinh nghiệm niết bàn và tận diệt phiền não. Tâm này được đi kèm với trí, và được gọi là trí đạo (magga-ñāna).
[9] Các năng lực này là trí tuệ toàn hảo của Ngài, chẳng hạn như trí biết nghiệp và quả của nghiệp, trí phân tích giới (dhātu), trí phân tích các uẩn (khandha), các căn, trí biết được căn cơ của các chúng sinh, túc mạng minh (trí nhớ được tiền kiếp), thiên nhãn minh (trí biết được sự sinh diệt của các chúng sinh), lậu tận minh (trí biết được sự tận diệt của mọi phiền não) (Trung Bộ Kinh, No12, Đại Kinh Sư Tử Hống)
[10] Kể cả các vị A la hán, những người không còn phiền não, vẫn có thể có các hành xử không tao nhã, chẳng hạn như nói nhanh hay chạy, do các tích lũy quá khứ. Những hành xử ấy không được tạo duyên bởi tâm bất thiện, vì các vị ấy đã hoàn toàn tận diệt phiền não.
[11] Xem thêm Trường Bộ Kinh (Số 30, Ba mươi hai tướng tốt của bậc Đại Nhân).
[12] Nhân Chế Định (hay Nhân Thi Thuyết) (Puggala Paññatti), Chương I, Phân chia các loại người theo Một, § 28-29. “Pacceka” xuất phát từ tiếng Pāli “paṭi eka” (tự mình). “Eka” có nghĩa là “một mình”
[13] Trong kiếp ấy [VDH]
[14] Người này đã cố giết hại Đức Phật vài lần.
[15] “Dhamma” có nhiều nghĩa; nó không chỉ có nghĩa là “Giáo Pháp”. Trong bối cảnh này, “dhamma” có nghĩa là “tất cả những gì là thật, thực tại”
[16] Trường Bộ Kinh , Số 16, Kinh Đại Bát Niết bàn, chương V, § 144.
********
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, chánh niệm, paramatha dhamma, vipassana
Khảo cứu pháp chân đế – LỜI GIỚI THIỆU + CHƯƠNG I
Lời giới thiệu
“Khảo cứu pháp chân đế” là một kiệt tác được viết bởi Achaan Sujin Boriharnwanaket, với sự kham nhẫn và trạng thái khẩn cấp tu niệm, nhằm giúp mọi người có được hiểu biết đúng đắn về thực tại. Cuốn sách giải thích một cách chi tiết về tâm (citta), tâm sở (cetasika) và sắc (rūpa). Toàn bộ cuốn sách toát lên tâm từ rộng lớn. Achaan Sujin nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại rằng, hiểu biết về mặt lý thuyết, tức là chỉ biết tên của các thực tại, sẽ không đủ, mặc dầu nó là nền tảng của hiểu biết trực nhận. Mục đích thực sự của việc nghiên cứu Giáo pháp là thấy rằng: chính khoảnh khắc này đây là pháp, là vô ngã. Tất cả các thực tại cần phải được biết bây giờ, khi chúng sinh khởi, để tà kiến về ngã có thể được tận diệt.
Các trích dẫn từ Kinh bằng tiếng Anh hầu hết được lấy trong ấn phẩm của Pāli Text Society (P.T.S).
CHƯƠNG I. KINH ĐIỂN VÀ CÁC CHÚ GIẢI
Phật ngôn – Pháp và Luật mà Đức Phật đã thuyết giảng bao gồm chín thể tài, đó là Kinh (Sutta), Ứng Tụng (Geyya), Biện Giải (Veyyākaraṇa), Kệ Tụng (Gāthā), Cảm Hứng Ngữ (hay Tự Thuyết) (Udāna), Phật Thuyết Như Vậy (Như Thị Ngữ) (Itivuttaka), Tiền Thân Đức Phật (Bổn Sanh) (Jātaka), Vị Tằng Hữu (Abbhuta) và Phương Quảng (Vedalla)[1].
Kinh (Sutta)[2] bao gồm tất cả các bài thuyết Pháp, như Hạnh Phúc Kinh (Mangala Sutta), Tạng Luật (Vinaya Piṭaka[3]) và Nghĩa Tích (Niddesa).
Ứng Tụng (Geyya) bao gồm tất cả các bài kinh có kệ (gāthā), như Thiên có kệ (Sagāthā-vagga) trong Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya).
Biện Giải (Veyyākaraṇa), bao gồm tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka), các bài kinh không có kệ và những lời dạy của Đức Phật không nằm trong tám thể tài còn lại.
Kệ Tụng (Gāthā) bao gồm Pháp Cú (Dhammapada), Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā) và Trưởng Lão Ni Kệ (Therigāthā) và các phần của Kinh Tập (Sutta-nipāta) không được gọi là “Kinh” và hoàn toàn dưới dạng kệ.
Cảm Hứng Ngữ (hay Tự Thuyết – Udāna) bao gồm tám mươi hai bài kinh với kệ được tụng bởi Đức Phật, với cảm hứng do trí và hỷ.
Như Thị Ngữ (hay Bổn Sự – Itivuttaka)[4] bao gồm một trăm mười bài kinh bắt đầu với “Phật Thuyết Như Vậy” (tiếng Pāli là “Vuttaṃ h’etaṃ Bhagavatā”)
Tiền Thân Đức Phật (hay Bổn Sanh Jātaka) bao gồm năm trăm năm mươi câu chuyện về các tiền kiếp của Đức Phật và các đệ tử của Ngài, bắt đầu với Chuyện Pháp Tối Thượng (Apaṇṇaka Jātaka)
Vị Tằng Hữu (Abbhuta) bao gồm các bài kinh liên quan tới những điều diệu kỳ và tuyệt hảo.
Phương Quảng (Vedalla) bao gồm các bài kinh hỏi – đáp có kết quả là sự sinh khởi trí tuệ và hoan hỷ, chẳng hạn như Kinh Tiểu Phương Quảng (Cullavedalla Sutta)
Phật ngôn bao gồm tám mươi tư ngàn pháp uẩn. Đại đức Ānanda học tám mươi hai ngàn pháp uẩn từ Bậc Thiện Thệ và hai ngàn pháp uẩn từ các vị tỳ kheo, phần lớn là từ Đại đức Sāriputta (Xá Lợi Phất). Mỗi chủ đề là một pháp uẩn. Như vậy, một bài kinh về một chủ đề sẽ là một pháp uẩn. Khi có các câu hỏi và trả lời, mỗi câu hỏi là một pháp uẩnvà mỗi câu trả lời lại là một pháp uẩnkhác.
Khi kinh điển được chia thành Tam Tạng (Tipiṭaka), chúng được xếp làm ba phần, bao gồm: Tạng Luật (Vinaya), Tạng Kinh (Suttanta) và Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)
Tạng Luật bao gồm năm quyển, đó là:
- Yết Ma Và Truyền Giới Pháp (Parivāra)
- Đại Phân Tích (Mahāvibhaṅga)
- Phân Tích Tỳ Kheo Ni (Bhikkhunī-vibhaṅga)[5]
- Đại Phẩm (Mahāvagga)
- Tiểu Phẩm (Cullavagga)
Chú giải cho Tạng Luật là Samantapāsādikā.
Cuốn Tạng Kinh bao gồm năm bộ Nikāya, đó là Trường Bộ (Dīgha Nikāya)[6] (hay Đối Thuyết Của Đức Phật)[7], Trung Bộ (Majjhima Nikāya)[8], Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya)[9], Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya)[10] và Tiểu Bộ (Khuddaka Nikāya)[11]
Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya) là tập hợp các bài kinh dài (“dīgha” có nghĩa là “dài”) bao gồm ba mươi tư bài kinh. Bộ này lại được chia làm ba phẩm (vagga)[12]:
- Phẩm Giới Uẩn (Sīla-kkhandha-vagga) (“sīla” có nghĩa là “giới”, còn “khandha” có nghĩa là “uẩn”, “nhóm”)
- Đại phẩm (Mahā-vagga) (“mahā” có nghĩa là “đại”, “lớn”)
- Phẩm Pāṭika (Pāṭika-vagga), gọi theo tên bài kinh đầu tiên; Pāṭika là một tên riêng.
Chú giải của bộ này là cuốn Sumaṅgalavilāsinī.
Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya) là tập hợp các bài kinh có độ dài trung bình (“Majjhima” có nghĩa là “trung”) và bao gồm một trăm năm mươi hai bài kinh. Bộ này được chia làm ba phần, tiếng Pāli gọi là “paṇṇāsa”, có nghĩa là “năm mươi”. Hai phần đầu tiên gồm năm mươi kinh mỗi phần, còn phần thứ ba gồm năm mươi hai kinh. Chúng được gọi như sau:
- Mūla-paṇṇāsa (“mūla” có nghĩa là “gốc rễ”), bao gồm năm phần, mỗi phần mười bài kinh.
- Majjhima-paṇṇāsa, bao gồm năm phần, mỗi phần mười bài kinh.
- Upari-paṇṇāsa (“upari” có nghĩa là “trên” hoặc ‘về sau”), bao gồm năm phần, trong đó bốn phần có mười bài kinh và phần thứ năm có mười hai bài kinh.
Chú giải của bộ này là Papañcasūdanī.
Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya) là một nhóm các bài kinh [theo chủ đề] (“saṃyutta” có nghĩa là “tương ứng, liên kết”) được chia thành năm phần (thiên), đó là:
- Thiên Có Kệ (Sagāthā-vagga) (“gāthā” có nghĩa là “kệ, với kệ”) bao gồm mười một chương (tương ưng)
- Thiên Nhân Duyên (Nidāna-vagga) (“Nidāna” có nghĩa là “nguồn gốc” hoặc “nguyên nhân”), bao gồm chín tương ưng
- Thiên Uẩn (Khandha-vagga) (bàn về ngũ uẩn), bao gồm mười ba tương ưng.
- Thiên Sáu Xứ (Saḷāyatana-vagga) (“Saḷāyatana” có nghĩa là “sáu xứ”), bao gồm mười tương ưng.
- Thiên Đại Phẩm (Mahā-vagga), bao gồm mười hai tương ưng.
Chú giải của bộ này là cuốn Sāratthappakāsinī.
Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya) bao gồm các bài kinh được xếp theo số lượng các chủ đề pháp (pháp số) đề cập tới trong mỗi bài. Chúng được xếp theo thứ tự tăng dần, từ một đến mười một. Tổng cộng có tất cả mười một chương (Nipāta). “Chương một Pháp” bao gồm tất cả các bài kinh với một loại chủ đề và cứ như vậy cho tới “Chương mười một Pháp”. Chúng bao gồm như sau:
- Eka-nipāta (“eka” có nghĩa là “một”), Chương Một Pháp
- Duka-nipāta (“duka”, xuất phát từ “dve” (hai) có nghĩa là “đôi”), Chương Hai Pháp
- Tika-nipāta, Chương Ba Pháp
- Catuka-nipāta, Chương Bốn Pháp
- Pañcaka-nipāta, Chương Năm Pháp
- Chaka-nipāta, Chương Sáu Pháp
- Sattaka-nipāta, Chương Bảy Pháp
- Aṭṭhaka-nipāta, Chương Tám Pháp
- Navaka-nipāta, Chương Chín Pháp
- Dasaka-nipāta, Chương Mười Pháp
- Ekādasaka-nipāta, Chương Mười Một Pháp
Chú giải của Tăng Chi Bộ Kinh là cuốn Manorathapūranī.
Ngoài bốn Nikāya này, còn có Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya), bao gồm các lời dạy của Đức Phật. Kinh này gồm các bộ sau:
- Kinh Tiểu Tụng(Khuddakapāṭha)[13]
- Kinh Pháp Cú(Dhammapada) [14]
- Kinh Phật Tự Thuyết (Cảm ứng ngữ) (Udāna)
- Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka)
- Kinh Tập (Suttanipāta)
- Chuyện Thiên Cung (Vimānavatthu)
- Chuyện Ngạ Quỷ (Petavatthu)
- Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā)
- Trưởng Lão Ni Kệ (Therigāthā)
- Chuyện Tiền Thân Đức Phật (Jātaka)
- Đại Nghĩa Tích (Mahā-Niddesa) (“niddesa” có nghĩa là “mô tả, trình bày”)
- Tiểu Nghĩa Tích (Cūḷa-Niddesa) (“Cūḷa” và “Culla” có nghĩa là “nhỏ, tiểu”)[15]
- Đạo Vô Ngại Giải (Paṭisambhidāmagga)
- Thánh Nhân Ký Sự (Apadāna)[16]
- Phật Tông (Buddhavaṃsa)
- Hạnh tạng (CariyāPiṭaka)
Các chú giải của Tiểu Bộ Kinh là các cuốn sau:
- Paramatthajotikā, chú giải cho Tiểu Tụng (Khuddakapātha) và Kinh Tập (Suttanipāta)[17]
- Dhammapadaṭṭhakathā, chú giải cho Kinh Pháp Cú (Dhammapada)
- Paramatthadīpanī, chú giải cho các cuốn Kinh Phật Tự Thuyết (Cảm Ứng Ngữ) (Udāna), Kinh Phật Đã Thuyết Như Vậy (Itivuttaka), Chuyện Ngạ Quỷ (Petavatthu), Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā), Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā), Hạnh Tạng (CariyāPiṭaka) và Chuyện Thiên Cung (Vimānavatthu)[18]
- Jātakatthavaṇṇanā, Chú giải cho Tiền Thân Đức Phật (Jātaka)[19]
- Saddhammapajjotika, Chú giải cho Đại Nghĩa Tích (Mahā-Niddesa) và Tiểu Nghĩa Tích (Cūḷa-Niddesa)
- Saddhammappakāsinī, Chú giải cho Đạo Vô Ngại Giải (Paṭisambhidāmagga)
- Visuddhajanavilāsinī, Chú giải cho Thánh Nhân Ký Sự (Apadāna)
- Madhuratthavilāsinī, Chú giải cho Phật sử (Buddhavaṃsa).
Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka) bao gồm bảy bộ sau:
- Bộ Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī), với Chú giải là Aṭṭhasālinī[20]
- Bộ Phân Tích (Vibhaṅga), với Chú giải là Xua Tan Si Ám (Sammohavinodanī)[21].
- Bộ Chất Ngữ (Giới Thuyết) (Dhātukathā)
- Bộ Nhân Chế Định (hay Nhân Thi thuyết-Puggalapaññatti)
- Bộ Ngữ Tông (hay Những điểm dị biệt – Kathāvatthu)
- Bộ Song Đối (Yamaka)[22]
- Bộ Duyên hệ (Paṭṭhāna)[23]
Chú giải cho năm bộ sau là cuốn Pañcappakara-ṇatthakathā[24]
Đa số các chú giải cho Tam Tạng tới từ tay của nhà Chú giải vĩ đại Buddhaghosa[25]. Ngài đã dịch các Chú giải cổ sang tiếng Pāli, tập hợp và sắp xếp các tài liệu từ các Chú giải cổ được viết bằng tiếng Tích lan (Sri Lanka). Các Chú giải này, cuốn Mahā-Atthakathā, Mahā-paccarī và Kuruṇḍi có từ thời Trưởng lão Mahinda, con trai của Hoàng đế Asoka (A dục), người đã tới Sri Lanka để hoằng pháp.
Lại nữa, có các phụ chú giải, tiếng Pāli là “ṭīkā” chú thích cho các chú giải. Chúng bao gồm: Sārattha Dīpanī, phụ chú giải cho Samantapāsādikā, là chú giải của Tạng Luật; Sārattha Mañjūsā, phụ chú giải cho Tạng Kinh; Paramatthapakāsinī, phụ chú giải cho Tạng Vi Diệu Pháp; ngoài ra còn có các anuṭīkā (“anu” có nghĩa là “dọc theo”), là các chú thích về nghĩa từ và các thuật ngữ trong Phụ chú giải. Ngoài các tác phẩm đã được kể trên, có một số tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu Giáo pháp đã được soạn bởi các bậc Trưởng lão[26] đủ năng lực để nối tiếp Giáo pháp. Đó là các tác phẩm sau:
- Mi Tiên Vấn Đáp (Milindapañha), được soạn vào khoảng năm 500 Phật Lịch (43 trước C.N).
- Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), một bách khoa toàn thư về Đạo Phật, soạn bởi Buddhaghosa vào khoảng năm 1000 Phật lịch (457 sau C.N).
- Vi Diệu Pháp Toát Yếu (Abhidhammattha Saṅgaha), soạn bởi Đại đức Anuruddha khoảng năm 1000 Phật lịch (457 sau C.N)[27].
- Sārattha Saṅgaha, soạn bởi Đại đức Nanda khoảng năm 1000 Phật lịch(457 sau C.N).
- Paramattha Mañjūsa, một phụ chú giải cho Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), soạn bởi Đại đức Dhammapāla.
- Saccasaṇkhepa (Có nghĩa là “Trình bày sự thật”), soạn bởi Đại đức Dhammapāla.
- Abhidhammattha-vibhāvinī-ṭīka, một phụ chú giải cho Vi Diệu Pháp Toát Yếu (Abhidhammattha Saṅgaha), soạn bởi Ngài Sumangala của Tích Lan (Sri Lanka).
- Moha Vicchedanī, lý giải Bộ Pháp Tụ và Bộ Phân Tích, soạn bởi Đại đức Kassapa của Tích Lan, khoảng năm 1703 Phật lịch (năm 1160 sau C.N)
- Mangalattha Dīpanī, lý giải Hạnh Phúc Kinh (Mangala Sutta), thuộc Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha, số 5), soạn bởi Đại đức Sirimangala ở Chiangmai (Thái lan)[28].
Chú thích
[2] Thuật ngữ Pāli “Sutta” có nghĩa là “cái được nghe” (Phật ngôn được nghe).
[4] Trong Chú Giải Bộ Pháp Tụ, con số là một trăm mười hai.
[5] P.T.S đã chỉnh lý và dịch hai cuốn này thành ba phần, gọi là Sutta Vibhaṅga (Phân tích giới bổn).
[6] Nikāya có nghĩa là “thân” hay “tập hợp”.
[7] Bản tiếng Anh của P.T.S được dịch với tựa đề là “Đối Thuyết Của Đức Phật”.
[8] Bản tiếng Anh được in làm ba tập.
[9] Bản tiếng Anh được in làm năm tập.
[10] Bản tiếng Anh được in làm năm tập.
[11] Bộ này bao gồm mười sáu phần đã được chỉnh lý in thành ba tập, nhưng vẫn có phần chưa được dịch sang tiếng Anh.
[12] Các phần này được xuất bản bằng tiếng Pāli, nhưng chưa có bản tiếng Anh.
[13] Đã được dịch sang tiếng Anh và hiệu đính bởi P.T.S thành một tập cùng với bản dịch của chú giải của nó, cuốn Minh Họa Ý Nghĩa Tối Hậu.
[14] Có nhiều bản dịch tiếng Anh của tài liệu này.
[15]Đại Nghĩa Tích (Mahā-Niddesa) và Tiểu Nghĩa Tích (Cūḷa-Niddesa) chưa được dịch sang tiếng Anh
[16] Cuốn này chưa được dịch sang tiếng Anh
[17] Chú giải cho Kinh Tiểu Tụng (Khuddakapātha) đã được dịch sang tiếng Anh, nhưng chú giải cho Kinh Tập (Sutta Nipāta) thì chưa được dịch sang tiếng Anh.
[18] Các bản đã được dịch sang tiếng Anh gồm: Chú giải Cảm Hứng Ngữ, Chú giải Chuyện Thiên Cung, Chú giải Chuyện Ngạ Quỷ, Chú giải Trưởng Lão Ni kệ
[19] Trong bản tiếng Anh của Tiền Thân Đức Phật có thêm một phần của Chú giải.
[20] In làm hai tập.
[21] In làm hai tập.
[22] Yamaka có nghĩa là “đôi”. Bộ này chưa được dịch ra tiếng Anh.
[23] Một phần của Bộ Duyên Hệ đã được dịch ra tiếng Anh. Ngoài ra cũng có cuốn “Hướng dẫn tìm hiểu Bộ Duyên Hệ” (Guide to Conditional Relations) gồm hai tập của U Narada (Miến điện) lý giải một phần của Bộ này. Hiện này cuốn sách này đã hết lưu hành.
[24] Mới chỉ có Chú giải của Bộ “Những Điểm Dị Biệt” được dịch sang tiếng Anh, với tựa đề “Chú Giải Đối Ngữ” (Debates Commentary).
[25] Ngài sống vào thế kỷ thứ năm Tây lịch, và ngự tại Đại tu viện Anurādhapura, Srilanka
[26] Thera (trưởng lão) là bậc huynh bá trong hàng xuất gia, là vị tỳ kheo đã được thọ giới từ ít nhất mười năm.
[27] Ấn bản của P.T.S đề xuất rằng niên đại của cuốn này nằm trong giai đoạn thế kỷ 8 đến thế kỷ 12 sau C.N
[28] Tôi cũng có thể thêm vào danh sách này cuốn Nettippakaraṇa, được dịch sang tiếng anh là Hướng dẫn (The Guide) bởi nhà xuất bản P.T.S và Peṭakopadesa (có nghĩa là Disclosure of the Pitaka – Hé mở về Tạng) vẫn chưa được dịch ra tiếng Anh. Theo truyền thống, những cuốn này được biên soạn bởi một trường phái có nguồn gốc từ đại đức Mahā-Kaccana (Đại Ca Chiên Diên), một trong các bậc đại đệ tử của Phật. Dhammapāla đã viết một chú giải về cuốn Netti, có thể vào thế kỷ thứ 5 sau C.N
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, paramatha dhamma, sati, Thực tại, vi diệu pháp, vipassana