Tag Archive giới

TUYỂN TẬP PHÁP ĐÀM VỚI ACHAAN SUJIN – TẬP II. CHƯƠNG VIII: GIỚI – THẬP THIỆN

CHƯƠNG VIII: GIỚI – THẬP THIỆN

 

Pháp đàm tại Hội an, chiều ngày 18/05/2014

Người hỏi: Con xin hỏi câu hỏi thứ hai. Để hiểu Pháp, chúng ta phải hiểu từ việc thiện của mình, nghĩa là mình làm việc thiệnthìmới có thể hiểu được Pháp. Vậy, để phát triển tâm thiện và phân biệt thiện và bất thiện phải như thế nào ạ?

Achaan Sujin: Thiện có phải là một pháp không?

Người hỏi: Dạ, phải ạ

Achaan Sujin: Hiện giờ có thiện hay không?

Người hỏi: Dạ, có.

Achaan Sujin: Vậy thiện không phải là bạn, đúng không? Thiện chỉ là một thực tại có tính chất thiện.

Người hỏi: Dạ.

Achaan Sujin: Hiện giờ có bất thiện không?

Người hỏi: Dạ, không chắc.

Achaan Sujin: Khi không có cái hiểu thì khi đó có bất thiện, akusala. Từ sáng đến giờ cógì nhiều hơn? Thiện hay bất thiện?

Người hỏi: Dạ, thiện nhiều hơn.

Achaan Sujin: Ai nghĩ rằng từ sáng đến giờ mình có nhiều thiện pháp hơn bất thiện pháp,xin mời giơ tay! Bạn nghĩ là từ sáng đến giờ không có bất thiện đúng không? Hay là bạn không chắc chắn bất thiện là gì?

Người hỏi: Dạ, chắc là vậy ạ.

Achaan Sujin: Tất cả những pháp như không hiểu (vô minh), dính mắc, tà kiến, hay tham, sân, si đều là bất thiện. Thiện có sinh khởi cùng khoảnh khắc của cái thấy không? Liệu cái thấy có thể là thiện không?

Người hỏi: Dạ, không

Achaan Sujin: Cái thấy sinh và diệt, và tiếp theo cái thấy là gì?

Người hỏi: Dạ, suy nghĩ.

Achaan Sujin: Có sự dính mắc với cái thấy và cái được thấy. Sau khi có âm thanh, có cái nghe rồi lại có sự dính mắc với âm thanh và cái nghe. Nếu không có khoảnh khắc hiểu đúng về thực tại thì còn lại sẽ là gì?

Người hỏi: Còn lại là bất thiện.

Achaan Sujin: Thiện có phải là nghiệp không?

Người hỏi: Dạ, phải.

Achaan Sujin: Có thể nói một cách chi tiết, chính xác hơn là sự dính mắc hay tham đối với cái thấy hay đối tượng của cái thấy chưa phải là nghiệp, nhưng nó là duyên để sinh khởi những nghiệp sẽ được tạo về sau. Chính vì vậy,chúng ta cần phải hiểu rất rõ những mức độ khác nhau của bất thiện. Ở khoảnh khắc của hiểu biết đúng, khoảnh khắc đó có phải là nghiệp thiện không?

Người hỏi: Dạ, phải.

Achaan Sujin: Như vậy,bạn sẽ bắt đầu hiểu được hơn khoảnh khắc nào là thiện pháp và khoảnh khắc nào là bất thiện pháp.

Người hỏi: Nhân đây, concũng muốn hỏi thêm một vấn đề nữa. Con hay có suy nghĩ muốn làm được nhiều việc thiện, vậy tâm mong muốn làm nhiều việc thiện đó cũng gọi là tâm tham?

Achaan Sujin: Có những lúc ta nghĩ đến việc giúp đỡ người khác nhưng có phải lúc nào ta cũng làm việc đó không hay chỉ nghĩ đến việc làm đó thôi?

Người hỏi: Dạ, nghĩ.

Achaan Sujin: Ở khoảnh khắc có suy nghĩ đến việc làm điềutốt giúp đỡ người khác thì khoảnh khắc đó có tâm thiện nhưng vì khi đó chưa có hành động qua thân và khẩu nên chưa gọi là nghiệp.

Người hỏi: Nhưng nó có được gọi là tâm tham không?

Achaan Sujin: Ai có thể nói gì về khoảnh khắc đó? Nó tùy thuộc vào tác ý khi đó.Chẳng hạn, ở khoảnh khắc định bố thí, tâm khi đó muốn bố thí vì không dính mắc với món đồ mà ta có thể bố thí,hay chỉ vì bản thân mình mà thôi? Nếu ta muốn có được một cái gì đó nhờ việc cho đi, khi ấycó gọi là thiện pháp hay không? Hay khi ta lựa chọn việc bố thí với những người mình thân thích như bạn bè, người thân, hay đối với thú nuôi trong nhà?

Người hỏi: Theo con, việc lựa chọn đối tượng là không nên.

Achaan Sujin: Nhưng liệu ở khoảnh khắc đó bạn có thể ngăn có sự dính mắc với người thân hay những con thú nuôi trong nhà hay không?

Người hỏi: Hình như là không.

Achaan Sujin: Thế còn giữa mẹ với con thì sao? Khi một người mẹ nuôi con, chăm sóc con cái với sự yêu thương, săn sóc, đó có phải với tâm từ, thiệnhay không?

Người hỏi: Dạ, có

Achaan Sujin: Có chắc không? Bởi vì từ, metta,  không thể làm duyên cho dính mắc và buồn đau.

Người hỏi: Con nghĩ tùy thuộc vào tâm, tâm mỗi người khác nhau.

Achaan Sujin: Cái gì biết được sự khác biệt giữa thiện và bất thiện?

Người hỏi: Chỉ có sự hiểu biết thôi ạ.

Achaan Sujin: Đúng rồi. Nếu không hiểu rõ,nó sẽ trở thành sự mong cầumà thôi. Hiện giờ có tham không?

Người hỏi: Dạ, có

Achaan Sujin: Hiện giờ tham dính mắc với cái gì?

Người hỏi: Dạ, muốn có sự hiểu biết.

Achaan Sujin: Bạn nghĩ rằng mình có thể hiểu biết mà không có sự lắng nghe và suy xét hay không?

Người hỏi: Dạ, không thể.

Achaan Sujin: Bạn thực sự muốn hiểu biết từ bên trong hay chỉ nghĩ đến việc có hiểu biết mà thôi?

Người hỏi: Nó không sâu nhưng nó cũng có, không sâu làmình phải chắc chắn có hiểu biết đó nhưng phải có hiểu biết để phát triển cái tâm của mình.

Achaan Sujin: Những gì hiện đang không xuất hiện có thể là đối tượng của sự nhận biết hay không?

Người hỏi: Không phải đối tượng thì không thể nhận biết được.

Achaan Sujin: Trí tuệ có thể hiểu bất cứ cái gì xuất hiện.Có cái thấy, liệu cái thấy có nên là đối tượng của hiểu biết không? Hiện giờ đang có cái nghe, liệu có nên có hiểu biết về cái nghe không? Vậy bất cứ cái gì xuất hiện nên là đối tượng của hiểu biết, đúng không?

Người hỏi: Dạ.

Achaan Sujin: Chính vì  lý do đó mà chúng ta nói về những thứ xuất hiện hiện giờ, vì nó có thể làm duyên cho hiểu biết. Nếu bạn có hiểu biết về nghiệp ở ngay khoảnh khắc này thì đó là nghiệp thiện. Đây là hiểu biết về mặt tư duy về thế nào là nghiệp thiện ngay tại khoảnh khắc này,và đó là một mức độ của trí tuệ. Tuy nhiên, mức độ của hiểu biết đó không phải mức độ củahiểu biết trực tiếp về đặc tính của tâm thiện. Trước khi có được trí tuệ trực tiếp xuyên thấu bản chất thực sự của thực tại, cần rất nhiều hiểu biết được tích lũy từ việc nghe và suy xét.

Sarah: Bạn đã nói rằng trong lúc nghe Pháp buổi sáng, có lúc bạn chú ý đến bài Pháp, có lúc lại chú ý đến chuyện khác, điều này chứng tỏ có sự bận tâm, mong muốn sự việc xảy ra khác đi. Nhưng khi bận tâm “giá như mình không bị lơ đễnh đến vậy”,  ngay lúc đó có thể có hiểu biết về bản chất của thực tại ở khoảnh khắc đó. Việc không có sự chú tâm hoàn toànvào những gì được nghe xảy ra rất tự nhiên và thông thường, như Achaan Sujin đã nói, nó chỉ là pháp mà thôi. Phát triển hiểu biết cũng là quá trình vun bồi sự  xả ly đối với bất cứ cái gì xuất hiện, dù ta có thích hay không thích nó. Chẳng hạn,hiện giờ có thể có sự nghi hoặc, phân vân, không rõ,….Một đặc tính nào đó ngay hiện giờ để có thể được biết, được hiểu, nhưng ngay ở khoảnh khắc muốn hay biết, muốn chú ý hay muốn một cái gì khác với cái đang là, ta đã đi xa khỏi con đường Chánh Đạo. Vì khi đó đang có ý niệm về một cái tôi muốn sự việc khác đi, muốn có chánh niệm, muốn có sự tập trung.

Cácpháp là vô ngã, chính vì vậy,chúng ta không thể khiến các pháp sinh khởi theo một cách cụ thể mà mình mong muốn. Hiện giờ đang có cái thấy, khi cái thấy sinh khởi, nó là quả của nghiệp.Thông thường,sau khi cái thấy sinh khởi,nó sẽ được tiếp nối bởi sự dính mắc vào đối tượng được thấy,và nólàbất thiện.Tùy thuộc vào tích lũy mà cái sinh khởi tiếp nối sau cái thấy sẽ là thiện hay bất thiện. Do vậy, cũng có thể có hiểu biết sinh khởi biết rằng pháp đang xuất hiện chỉ là pháp mà thôi và không có sự cố gắng để thay đổi điều đó, không cố gắng để có sự tập trung hơn. Càng có hiểu biết sẽ càng bớt bận tâm đến việc đó là thiện hay bất thiện, bởi vì sự bận tâm đến việc thay đổi cái đang là sẽ tạo ra hiệu ứng ngược lại thay cho phát triển thêm thiện pháp.

Người hỏi: Tôi muốn hỏi rõ thêm một chút về vấn đề này. Khi bận tâm đến thiện bất thiện thì sự bận tâm đó là do lo lắng, nó là bất thiện pháp.Nhưng ngược lại, nếu có hiểu biết về hiểm họa của bất thiện thì khi đó nó là thiện pháp chứ không phải bất thiện pháp có đúng không?

Sarah: Suy nghĩ bận tâm đến việc “khi nghe Pháp không có sự chú ý là thiện hay bất thiện, và nếu là bất thiện thì nó không tốt và mong muốn nó khác đi” là suy nghĩ mang tính chất bất thiện, vì nó là sản phẩm của sự mong cầu. Ngược lại, nếu có hiểu biết về bản tính bất thiện của pháp có mong muốn, chẳng hạn,khi mình muốn mọi việc khác đi, ngay khi đó nếu có hiểu biết về tính chất bất thiện, biết rằng điều đó không mang lại lợi ích thì khi đó nó lại là thiện vì nó mang lại lợi ích.           

Jonothan: Và đương nhiên cũng phải nhấn mạnh thêm rằng, biết được một suy nghĩ thế này là thiện hay bất thiện là một điều vi tế, do vậy,không dễ dàng để đưa ra định nghĩa thế này là thiện và thế kia là bất thiện.Nó là một thực tại cần phải được hiểu vì nó rất vi tế. Thông thường do sự tích lũy, chúng ta có nhiều tham với việc muốn có suy nghĩ là thiện, đó là một tích lũy. Thiện pháp chỉ có thể sinh khởi nhờ hiểu biết thực sự mà thôi.

Sarah: Và chúng ta cũng biết rằng tham là một thực tại có rất nhiều quyền năng nên nó được gọi là ông chủ lớn(Big boss).Chúng ta có thể nghĩ rằng,việc tôi đang nghe Pháp một cách tập trung như thế này là thiện, nhưng không nhất thiết là vậy,vì chỉ có trí tuệ sinh khởi mới có thể biết được đặc tính của tâm khi ấy là thiện hay bất thiện. Nhiều người có thể nghĩ rằng,mình chỉ nên để ý đến một số loại suy nghĩ trong ngày, hay một số hành động nào đó cụ thể. Tuy nhiên, việc lựa chọn một số những hành động nào đó để hay biết bị thúc đẩy bởi tham, thông thường là như vậy. Càng nghe Pháp, chúng ta sẽ càng thấy sự tinh tế và thâm sâu của Giáo lý,cho nên càng khó để có thể nói rằng cứ như thế này là thiện và cứ như thế kia là bất thiện, vì thiện hay bất thiện là phẩm chất của tâm.

Achaan Sujin: Bạn có nghĩ rằng mình có thể hiểu được thiện mà không hiểu về cái xuất hiện hiện giờ hay không? Hiện giờ có thể có thiện pháp nhưng chúng ta không hiểu về nó,chứng tỏ bạn đã nghe thấy những cái tên khác nhau về thực tại nhưng không biết về chúng khi chúng có mặt. Một ví dụ, có cái thấy hiện giờ đang xuất hiện,nhưng lại không có hiểu biết về cái thấy chỉ là một thực tại thấy.  Và chúng ta đang học để phân biệt giữa trí tuệở mức độ lý thuyết và trí tuệ ở mức độ thực hành, pháp hành và pháp học. Tuệ giác không thường xuyên sinh khởi, nó phát triển rất từ từ. Hiểu biết về mặt lý thuyết sẽ là nền tàng cho hiểu biết trực tiếp về cái xuất hiện hiện giờ.

Hiện giờ có tính cứng hay không?

Người hỏi: Dạ, có.

Achaan Sujin: Bạn có hiểu đó chỉ là một thực tại sinh khởi do duyên và nó chỉ có đặc tính cứng hay không?

Người hỏi: Dạ, vẫn còn mơ hồ ạ.

Achaan Sujin: Tính chất cứngcũng là một pháp,giống như tâm từ, hay một pháp thiện, một pháp bất thiện,…tất cả đều là những thực tại khác nhau. Hiện giờ tính cứng đang xuất hiện, đối tượng thị giác đang xuất hiện, âm thanh đang xuất hiện, nhưng chúng ta không hiểu được những thực tại đó chỉ là pháp mà thôi, không phảilà ta,khôngphảilà một cái gì đó. Vậy, làm sao có thể hiểu được thiện hay bất thiện chỉ là pháp, không phải là ta? Ở khoảnh khắc đặc tính cứng xuất hiện, phải có một thực tại kinh nghiệm tính cứng đó, nếu không sẽ không thể biết được đang có nó, đúng không? Liệu ở khoảnh khắc có sự kinh nghiệm tính cứng đó, có hiểu biết rằng cái được kinh nghiệm chỉ là tính cứng, nó có đặc tính là cứng,không phải là một “cái gì đó”hay không?

Người hỏi: Những lúc hiểu được nó là tính cứng hay những lúc hiểu khoảnh khắc thấy, nghe dường nhưrất ít, chỉ có lúc được nghe Pháp thì mới chú ý còn trong sinh hoạt hàng ngày thì mình không phát triển được hiểu biết về vấn đề đó.

Achaan Sujin: Ngay lúc này đây,đang có sự xúc chạm,và khi đó tínhcứng là đối tượng của sự hay biết đúng không? Kể cả khi có sự hay biết về tính cứng đó, có sinh khởi hiểu biết rằng tính cứng đó chỉ là một pháp, không phải là một cái gì đấy hay không?

Người hỏi: Dạ, chỉ biết cảm nhận là pháp, chứ chưa tìm thấy pháp ở trong đó. Tức là, chỉ là suy nghĩ biết về mặt lý thuyết thôi chứ chưa thực sự  hiểu được nó.

Achaan Sujin: Trí tuệ đang bắt đầu phát triển để hiểu rằng tất cả những gì đang được kinh nghiệm hiện giờ chỉ là những thực tại khác nhau. Như vậy, ta có thể nhận ra nếu không có việc nghe Pháp thì sẽ không thể hiểu được những gì là thực trong cuộc sống. Không phải chỉ riêng chủ đề về nghiệp, về thiện hay bất thiện,tất cả đều cần có Giáo lý  soi sáng. Giáo lý dạy chúng rằng tất cả những gì sinh khởi, xuất hiện đều có một đặc tính riêng của nó, và những gì sinh khởi đều sinh khởido duyên tương ứngchứ không phải ai đó khiến cho nó sinh khởi,và không ai có thể kiểm soát cácphápđó. Ta bắt đầu hiểu rằng tính cứng hiện giờ, cái thấy hiện giờ, cái nghe hiện giờ đều là những thực tại không trường tồn, kéo dài. Hiểu biết đó sẽ làm duyên cho sự xả ly với những thứ mà bản chất vốn vô thường. Và hiểu biết đó, nếu càng sâu sắc sẽ càng làm duyên cho sự xả ly nhiều hơn, vì khi đó sẽ không có sự dính mắc với thiện là “thiện của tôi”, không có sự dính mắc với cái thấy là “tôi thấy”, không có sự dính mắc với cái nghe là “tôi nghe”.Tất cả những thực tại mà ta mô tả đó,khi đến thời điểm chín muồi, đều có thể trở thành đối tượng của trí tuệ nhưng thời điểm đó sẽ tự tới.

Người phiên dịch: Khi chúng ta nghe giảng về các thực tại khác nhau,có thể có  những lúc có suy nghĩ rằng những điều này cứ nghe đi nghe lại mãi,nhưng ngay ở khoảnh khắc đó, chính suy nghĩ đó có thể trở thành đối tượng của sự hiểu biết, chứ không phải chỉ cái nghe hay cái thấy.

Achaan Sujin: Ta có thể thấy rằng,việc hiểu những thực tại nào và ở thời điểm nào được làm duyên bởi những hiểu biết đã được tích lũy trước đó do được nghe nói về những thực tại đó.

Vị sư: Việc trao đổi Giáo Pháp giúp cho nhiều người hiểu thêm khoảnh khắc hiện tạinày.Chẳng hạn như có cái biết xảy ra và nó biết một đối tượng, và chính nhờ việc trao đổi đó mà giúp nhắc nhở mọi người có thêm hiểu biết về vấn đề đó.Vậy, việc trao đổi với mọi người về thiện và bất thiện có cần thiết hay không hay nó chỉ đơn thuần là do tâm mong muốn và dính mắc?

Achaan Sujin: Thiện đó là tôi hay là không phải là tôi?

Vị sư: Phần lớn việc mình hỏi Pháp là có sự mong muốn để hiểu thêmvề vấn đề, và rất khó tránhkhỏi sự mong muốn, điều đó rất tự nhiên.Chính nhờ sự trao đổi của Achaan Sujin giúp cho việc hiểu về nó chân chánh hơn,vậy có cần thiết phải đặt ra những câu hỏi để hiểu được đặc tính của thiện và bất thiện không với một người mà họ muốn hiểu thêm về thiện và bất thiện? 

Achaan Sujin: Hiểu được thiện và bất thiện chỉ là vô ngã, không phải là ta là điều tối thượng, nếu không có hiểu biết đó đi kèm thì sẽ luôn là “thiện của tôi”và “bất thiện của tôi”. Khi đó sẽ không có hiểu biết đi kèm rằng,dù là thiện hay bất thiện, chúng chỉ là các pháp,không phải là một con người nào đó. Sự thật là các thực tại không thuộc về một con người nào, nhưng dovô minh,ta sẽ dính mắc với tất cả những gì xuất hiện và cho nó là “tôi”, “bản thân tôi”.Chỉ ra điều đó chính là sự khác biệt lớn lao giữaĐức Phật, bậc Toàn Giác với những người khác. Chừng nào vẫn có sự dính mắc vào các thực tại là tôi và của tôi, không hiểu về chúng như chúng thực là thì vẫn không thể hiểu phiền não. Chúng ta không thể nào làm ngưng lại sự sinh khởi của các thực tại theo duyên riêng của chúng,nhưng bất cứ lúc nào cũng có thể hiểu về chúng như chúng là. Ngoài Đức Phật,ai có thể biết được rằng thiện hay bất thiện cũng không phải là tôi đây? Chỉ có bậc Giác Ngộ, người đã thuyết pháp trong 45 năm mới giúp ta có được hiểu biết đúng đắn về các thực tại là vô ngã. Như vậy, tất cả các lời dạy của Đức Phật sẽ mang tới hiểu biết về vô ngã. 

Người phiên dịch: Thưa Achaan Sujin, tuy nhiên, các thiện pháp cũng rất cần thiết cho sự hiểu biết.

Achaan Sujin: Nhưng luôn phải nhớ rằng thiện pháp cũng không phải là ta. Chừng nào những thiện pháp vẫn được coi là tôi và của tôi thì nó còn tiếp tục hỗ trợ cho ý niệm về ngã, chứ không làm duyên cho cái hiểu về vô ngã. Cũng có những loại thiện pháp rất cao như các tầng thiền vô sắc giới,nhưng kể cả thiện pháp ở mức độ cao đến vậy vẫn không hiểu được các thực tại hiện giờ chỉ là thực tại, không phải là một tự ngã, không phải là cái gì đó hay ai đó.

Vị sư: Vậy ý Achaan Sujin muốn nói là vấn đề không phải là thiện hay bất thiện mà vấn đề là phải hiểu được pháp sinh khởi?

Achaan Sujin: Đức Phật đã dạy về các thực tại và các thực tại thì không phải là ai đó.

Vị sư: Sư cũng nhớ là Achaan Sujin đã nói nếu chỉ nói về các thực tại mà không hiểu về các đặc tính của nó, như vậy cũng không phải là đủ.

Achaan Sujin: Mặc dù đúng là như vậy nhưng sẽ vẫn còn cái hiểm họa của cái ý niệm là tôi biết, tôi kinh nghiệm đặc tính đó.

Vị sư: Trong cái việc tìm hiểu đókhôngthể thoát khỏi sự mong muốn nhưng ý Sư muốn nói là,khi trao đổi vấn đề sẽ có khoảnh khắc thiện và bất thiện sinh khởi nhưng không được biết.Chính nhờ việc trao đổi của Achaan Sujin làm duyên cho việc hiểu được khoảnh khắc đó là của bất thiện hay của thiện mà trước đó không hề biết. 

Sarah: Hôm qua chúng ta đã thảo luận rất nhiều về các thực tại như cái thấy và đối tượng thị giác.Cái thấy là thực tại kinh nghiệm và đối tượng thị giác là cái được thấy, là một thực tại không kinh nghiệm gì cả. Và chúng ta cũng nói đến tầm quan trọng của việc suy xét rằng cái thấy chỉ là một đặc tính thấy và cái được thấy chỉ là một pháp có đặc tính được thấy,và rằng nếu không có sự suy xét về điều đó thì sẽ luôn có ý niệm “tôi”thấy và thấy “một cái gì”đó.

 Hiểu Pháp cũng có nghĩa là hiểu về các thực tại kinh nghiệm một cái gì đó và thực tại không kinh nghiệm gì cả. Nếu chúng ta không nói nhiều về các thực tại như cái thấy, cái nghe, v.v., để hiểu rằng chúng là vô ngã, mà chỉ nói về thiện hay bất thiện thì rất dễ có ý niệm về thiện, bất thiện là tôi. Chúng ta có thể thấy rằng rất nhàm chán và khó hiểu khi nói mãi về các thực tại như thấy và nghe, đối tượng thị giác và âm thanh, v.v., nhưng nếu không có hiểu biết kỹ lưỡng về những thực tại này, hiểu được sự khác biệt về đặc tính của cái kinh nghiệm và đặc tính của cái không kinh nghiệm thì sẽ không thể nào hiểu biết sâu hơn. Nếu có nền tảng là hiểu biết đúng về các thực tại là vô ngã thì khi chúng ta suy xét về các thực tại như thiện hay bất thiện, chánh niệm, tâm từ, v.v, có thể sẽ có kèm theo hiểu biết rằng đó chỉ là các pháp mà thôi, không phải là một ai đó.

Nếu không chúng ta sẽ luôn có ý niệm “tôi muốn có tâm từ”khi được nghe rằng tâm từ là một phẩm chất tốt đẹp, hay là người này có tâm từ, người  kiacó tâm từ, v.v., nhưng không có hiểu biết rằng chỉ là các pháp sinh khởi chứ không phải một người nào đó. Metta,từ tâm,là một pháp thiện,nó sinh khởi khi có sự thân thiện hay mong muốn giúp đỡ người khác, nhưng kể cả những khoảnh khắc đó cũng cần được hiểu rằng đó không phải là “tôi”, không phải là ai cả. Như vậy,những khoảnh khắc của thiện hoặc bất thiện, tham, sân hay từ cần phải được đi kèm vớihiểu biết về vô ngã thì mới trọn vẹn.  

Achaan Sujin: Sự thật có dễ hiểu không? Chân lý tối hậu có dễ hiểu không? Nếu không có sự kham nhẫn và bền bỉ,liệu có thể có sự hiểu biết về các thực tại tối hậu được không? Để có thêm hiểu biết về từng từ của Giáo lý , cần phải có nhiều phẩm chất thiện nhưtín (sadha), tàm (hiri), quý (otapa), những phẩm chất này thấy được hiểm họa của việc không hiểu những gì xuất hiện. Khi cái thấy sinh khởi, nếu có hiểu biết sẽ có tàm – là sự xấu hổ đối với việc không hiểu thực tại là cái thấy.

Chúng ta nói về các thực tại mà không hiểu rõ rằng từng thực tại đó chỉ là các pháp có đặc tính khác nhau. Khi chúng ta nói đến những pháp chân đế có nghĩa là chúng ta nói đến việc không có gì khác ngoài những thực tại tối hậu đó. Chẳng hạn như hiện giờ đang có đối tượng được thấy. Hiện giờ có ai không thấy cảnh sắc hay đối tượng thị giác hay không? Ai có thể kinh nghiệmđược rằng đối tượng thịgiác đó chỉ là đối tượng mà thôi? Vậy cái gì là thực? Con người hay cảnh vật, hay tính chất có thể được thấy? Giữa hai cái đó cái gì là thực? Và đó chính là Giáo lý của Đức Phật, đó là thực tại tuyệt đối không thể thay đổi. Ai có thể thấy được âm thanh hay không? Có ai thấy được mùi không? Thực tại tối hậu có nghĩa là không ai có thể thay đổi tính chất của nó.Hiểu một cách sâu sắc hơn nữa, ở khoảnh khắc của cái thấy,không có con người hay cảnh vật khi đó. Ở khoảnh khắc của cái thấy, liệu thực chấtcó con người, con chó, hay các hình ảnh khác nhau trên màn hình vô tuyến hay không? Thấy hiện giờ và thấy những gì trên tivi không có gì khác biệt:do có những màu sắc khác nhau nên chúng làm duyên cho những con người và cảnh vật khác nhau. Suy nghĩ về cái vừa được thấy không phải là khoảnh khắc cùng với cái thấy, cái thấy chỉ thấy trongmột khoảnh khắc mà thôi.Sau đó bắt đầu có suy nghĩ về cái được thấy. Không có người nào thấy,nó chỉ là một thực tại không có sự kiểm soát nào cả. Chừng nào vẫn còn những ý niệm cho cái được thấy là cái gì đóthìsẽ không hiểu được ý nghĩa của vô ngã. Nếu chúng ta không hiểu được những gì đang xuất hiện một cách đúng đắn thì vẫn chỉ là suy nghĩv ề đối tượng thị giác, và về cái thấy mà thôi. Khoảnh khắc suy nghĩ nghĩ về cái thấy và cái được thấy không phải là khoảnh khắc cái thấy sinh khởi. Nếu trí tuệ không hiểu được điều này một cách rõ ràng, sẽ không có cách nào tận diệt được ý niệm về ngã.

Chúng ta biết rằng có ba mức độ của hiểu biết hay trí tuệ: Pháp học, Pháp hành vàPháp thành. Những người đọc Giáo lý  mà không suy xét một cách kỹ càng cho rằng họ có thể làm một cái gì đó để có thể kinh nghiệm một cách trực tiếp các thực tại, nhưng đó không phải là hiểu biết đúng, đó là một hiểu biết sai trái. Chính vì vậy, Đức Phật đã nói về con đường chánh đạo và con đường phi đạo. Mọi người cần phải lắng nghe và suy xét để có được trí tuệ. Ai có thể mượn hoặc mua trí tuệ từ người khác hay không?  Điều đó là không thể bởi trí tuệ là một thực tại tối hậu, cũng như các thực tại khác, không thuộc về ai cả.

Hãy bắt đầu dù chỉ với một từ pháp thôi.Khi nghe từ pháp, cần phải hiểu rằng nó chỉ đến một thực tại không thuộc về ai cả, chỉ là một đặc tính xuất hiện, không phải cái gì đó trường tồn, nó không kéo dài. Vậy bây giờ là lúc hiểu bất cứ cái gì xuất hiện, nhờ việc nghe thêm về Giáo lý . Hãy chỉ nghĩ đến một khoảnh khắc thôi, ở khoảnh khắc của cái thấy không gì có thể xuất hiện ngoại trừ cái được thấy, và khác với khoảnh khắc nghe.Ở khoảnh khắc nghe thì không có đối tượng thị giác xuất hiện mà chỉ có âm thanh xuất hiện.Giữa thấy và nghe thì có những gì nào? Có rất nhiều thực tại trong các lộ trình không hề được biết tới,nhưng đượcĐức Phật dạy một cách rất chi tiết để giúp những người học Pháp hiểu được bản chất vô ngã của các thực tại hữu vi. Ở khoảnh khắc biết về cái được thấy, khi đó là cái thấy hay là suy nghĩ? Cũng tương tự như giữa cái thấy và cái nghe, dường như chúng sinh khởi cùng một lúc,nhưng trên thực tế,khoảnh khắc thấy và khoảnh khắc biết cái được thấy là gì là những khoảnh khắc khác nhau.

Có rất nhiều thực tại nhưng cái gì có thể được thấy? Chỉ có một thực tại có thể được thấy và hiện giờ đang xuất hiện đây. Cái hiện giờ đang xuất hiện là cái có thể được thấy.Còn những khoảnh khắc khác thì sao? Ta có nhận ra rằng mình sống trong bóng tối hay không? Ở khoảnh khắc nghe, ở khoảnh khắc suy nghĩ, khi đó là sáng hay tối? Vậy cái đang xuất hiện hẳn phải khác với những cái thực sự có, như là xem màn ảo thuật vậy. Và hiện giờ, nếu chưa kinh nghiệm được sựxuất hiện riêng rẽ của từng thực tại, nếu chúng vẫn xuất hiện dường như cùng một lúc thì vẫn chưa thực sự có hiểu biết.

Có hai khoảnh khắc riêng biệt: khoảnh khắc của cái thấy và rồi suy nghĩ về cái được thấy, chỉ có trí tuệ mới bắt đầu thấy được sự khác nhau của hai khoảnh khắc đó.Trí tuệ sẽ xuất hiện một cách rất tự nhiên chứ không phải là cố để phân biệt sự khác nhau của hai khoảnh khắc đó. Khi hiểu rõ hơn rằng đó chỉ là vô ngã, nó sẽ làm duyên cho hiểu biết thấy được những điều ấy. Không cần thiết phải cố làm một cái gì đó với ý niệm “tôi sẽ cố”,bởi vì khi có sự mong muốn hay suy nghĩ như vậy,nó sẽ che lấp sự thật mà Đức Phật đã dạy cho chúng ta, và đó chính là vô minh vàdính mắc.

Các bạn có câu hỏi gì không? Có ai có hoài nghi về vô minh hay không? Chúng ta không phải đi tìm vô minh ở đâu cả, ngay lúc này đây có vô minh khi không có cái hiểu về những gì xuất hiện. Ở khoảnh khắc không có hiểu biết thì sẽ có sự dính mắc cùng với vô minh.

Người hỏi: Trong thập thiện nghiệp, có ba la mật bố thí và ba la mật chia sẻ Pháp. Vậy thì có sự khác biệt nào giữa thiện pháp bố thí và thiện pháp là chia sẻ Pháp hay không?  

Achaan Sujin: Tất cả mười thiện pháp có thể được chia thành ban hóm: nhóm bố thí, trì giới và phát triển tâm trí.

Jonothan: Khi bạn nói về chia sẻ pháp, có phải ý bạn muốn nói đến chuyển tà kiến thành chánh kiến, hay thuyết pháp?

Người hỏi: Thuyết pháp.

Jonothan và Sarah: Như Achaan Sujin đã nói, mười cơ sở của thiện pháp được chia thành ba nhóm: nhóm bố thí bao gồm ba yếu tố đầu tiên trong thập thiện nghiệp, liên quan đến mọi hình thức bố thí như thuyết pháp, tùy hỷ phước,nhóm trì giới và phát triển tâm trí. Trong trường hợp đó thuyết pháp thuộc về nhóm thứ ba là phát triển tâm trí. 

Người hỏi: Khi nói thuyết pháp thuộc về phát triển tâm trí thì dường như đối với người nhận nó là phát triển tâm trí, nhưng đối với người thuyết pháp thì đó là sự bố thí pháp.

Jonothan: Mười cơ sở của phước thiện là cách phân biệt sự khác nhau của các thiện pháp.Trường hợp thuyết Pháp không nói đến phước thiện của người nghe mà nói đến phước thiện của người nói. Khi có sự trao đổi Pháp,đối với cả người thuyết Pháp và người nghe Pháp đều có sự suy xét về những gì được nghe hoặc những gì đang nói tới về các thực tại,và như vậy đều có thể là duyên cho thiện pháp cùng hiểu biết sinh khởi lúc đó.Vì thế,nó sẽ thuộc về sự phát triển tâm trí với cả hai bên, không chỉ với người nói mà thôi. Và đó là với điều kiệnngười nói có sự suy xét với hiểu biết của mình, còn nếu người thuyết Pháp chỉ đơn thuần nhắc lại những gì được nghe mà không có hiểu biết khi đó thì sẽ không có thiện pháp của sự phát triển tâm trí.

Sarah: Dù khi đang thuyết Pháp hay nghe Pháp đều có duyên cho hiểu biết phát triển lúc đó, và cùng thời điểm đó cũng có sựbố thí vì có sự chia sẻ Pháp, và có sự trân quý hay tùy hỷ ở nơi người khác sinh khởi. Như vậy,có cả hai loại thiện pháp cùng một lúc,vừa là thiện pháp bố thí và phát triển tâm trí.

 

Pháp đàm tại Sài gòn, chiều ngày 06/01/15

Jonothan: Bạn đưa ra một ví dụ về pháp chế định đã được Đức Phật nói tới là “ý định làm việc thiện”. Tôi không nghĩ rằng Đức Phật đã dạy về “ý định làm việc thiện”. Thực chất, tư chân chánh mà Đức Phật nói tới là một tâm sở sinh khởi với những khoảnh khắc của tâm thiện. Ý niệm muốn làm việc thiện không phải là một khái niệm có trong Giáo lý và sự phát triển con đường Đạo. Điều tôi muốn nói là, nếu một khoảnh khắc không phải là thiện thì đương nhiên nó sẽ phải là bất thiện, xét về phương diện các tâm sinh khởi trong đổng lực (tốc hành tâm). Điều đó có nghĩa là, ở khoảnh khắc thiện sinh khởi, tư tâm sở sinh khởi cùng với nó đã là thiện, chứ không phải đầu tiên có một ý định thiện rồi sau đó mới có thiện sinh khởi. Chính vì vậy, chúng ta quay lại với thực tại trong khoảnh khắc hiện giờ. Chỉ có sự phát triển của chánh niệm mới khiến hiểu biết về khoảnh khắc nào là thiện và khoảnh khắc nào là bất thiện trở nên rõ ràng. Chúng ta không thể giả định rằng, việc có ý định làm một việc tốt nào đó thì khoảnh khắc đó đã là thiện, vì đó chỉ là ý niệm mang tính chất chế định của chúng ta về việc thiện mà thôi, chứ không phải tính chất của thiện pháp ở khoảnh khắc đó. Chúng ta nên nhớ rằng Đức Phật thường sử dụng ngôn ngữ chế định, nhưng những gì mà Ngài ám chỉ tới thì là về các thực tại.

Sarah: Tôi muốn nhấn mạnh một điểm rằng vừa rồi chúng ta có nói đến tư chân chánh, cần phải hiểu đó là nói đến tư tâm sở ở khoảnh khắc của tâm thiện chứ không phải là chánh tư của Bát Chánh Đạo, bởi vì ý định hay cetanā-tư không phải là một chi của Bát Chánh Đạo.

Người dịch: Nếu có ý định bố thí thì ở khoảnh khắc đó có thể là thiện pháp hay không?

Jonothan:  Nếu có ý định làm thiện thì có thể có thiện pháp. Nhưng có ý định làm với mục đích để có thêm thiện pháp thì khi đó có thể trở thành bất thiện.

 

 

Pháp đàm tại Đà lạt, chiều ngày 13/05/2015

 

Người hỏi: Khi mà thiện pháp hướng tới vô ngã, ví dụ trong khi bố thí như cúng dường tới một vị tăng, lúc đó người thí chủ phải suy xét về phẩm chất tâm của người đang thọ thí, hay phải suy xét về vô ngã?

            Jonothan: Trước hết chúng ta cần phải nói rằng: dù chúng ta đã có hiểu biết hoặc chúng ta đã được nghe Giáo lý của Đức Phật hay chưa, thì các pháp luôn luôn là vô ngã. Dù ta bố thí theo cách nào, hay hiểu biết của ta như thế nào, thì các pháp vẫn luôn luôn là vô ngã. Các pháp là vô ngã nên chúng không thuộc kiểm soát của ai hết. Chúng ta không thể định đặt trước trong lúc bố thí tâm sẽ sinh khởi như thế nào. Ta có thể có ý định trước rằng, “bây giờ mình sẽ dâng cúng hoa để có sự biết ơn Tam bảo”. Mặc dù có thể chúng ta có ý định như vậy, nhưng trên thực tế lúc ta dâng hoa lên bàn thờ Phật, có thể sinh khởi sự dính mắc với vẻ đẹp của bông hoa, hay hoài nghi, hoặc đủ các loại phiền não hay những loại suy nghĩ khác nhau, vì các pháp là vô ngã, không ai có thể kiểm soát được các pháp. Vì vậy, thay cho việc nghĩ rằng tôi phải nghĩ như thế nào, tôi phải hướng tâm như thế nào, thì quan trọng nhất là hiểu rằng cái gì sinh khởi cũng chỉ là pháp mà thôi, chẳng hạn khi có suy nghĩ hiện diện thì nhận ra rằng suy nghĩ đó chỉ là một pháp. Vì vậy hãy phát triển hiểu biết một cách tự nhiên, còn ý niệm về ngã thì sẽ luôn luôn làm duyên cho suy nghĩ: “tôi sẽ phải làm gì, tôi sẽ phải làm như thế nào”, v.v…

Chúng ta được đọc trong Giáo lý rằng; chính Tứ niệm xứ làm viên mãn mọi thiện pháp. Như vậy chúng ta được nhắc nhở rằng, không phải “chúng ta” là người có thể làm viên mãn các thiện pháp như bố thí, trì giới, mà chính sự phát triển hiểu biết mới có thể dần dần tạo nên sự hoàn mãn của các loại thiện pháp một cách tự nhiên, nó là hệ quả của sự lớn mạnh của hiểu biết chứ không phải do một nỗ lực khiên cưỡng. Khi chúng ta cứ cố tìm cách để bố thí một cách đúng đắn hơn thì khi đó chúng ta càng xa rời sự bố thí đúng đắn một cách thực sự. Chúng ta hãy cứ làm mọi việc tự nhiên như chúng ta vẫn thường làm, nhưng đừng quên sự phát triển hiểu biết ở những khoảnh khắc có thể nhớ được điều đó.

            Người hỏi: Như vậy chỉ có phát triển Tứ niệm xứ, phát triển hiểu biết thì mới đưa tới sự giải thoát? Còn sự bố thí thì chỉ đưa tới nghiệp và quả của nghiệp, có phải vậy không?

            Sarah: Bố thí là thiện pháp, có thế là thiện pháp kèm trí tuệ hoặc thiện pháp không kèm với trí tuệ, vậy cái gì tốt hơn?

            Người hỏi: Thiện pháp kèm với trí tuệ thì tốt hơn.

            Sarah: Nếu không có hiểu biết thì có cách nào để biết được một khoảnh khắc có phải là bố thí hay không? Hôm qua chúng ta đã nói rằng, không thể nào phán xét từ hành động bên ngoài xem có bố thí thực sự ở một khoảnh khắc cụ thể hay không. Ví dụ chúng ta có thể cho ai một cái gì đó nhưng không phải với động cơ là sự xả ly. Chẳng hạn ở khoảnh khắc dâng hoa cúng Tam bảo, lúc đó chắc chắn có khoảnh khắc của thiện pháp bố thí, tuy nhiên nó bị xen kẽ rất nhiều khoảnh khắc của dính mắc, hoài nghi, tà kiến, vì thế nếu không có hiểu biết thì không thể biết được khoảnh khắc nào là thiện pháp. Chỉ nhờ hiểu biết thì thiện pháp bố thí mới trở nên trong sạch hơn, không còn bị ô nhiễm bởi những loại phiền não khác. Hiện giờ đang có sự chia sẻ Pháp, như Đức Phật đã nói, Pháp thí là loại bố thí cao thượng nhất, hay việc tùy hỉ với thiện pháp trong lúc nghe Pháp cũng là một hình thái của bố thí cao thượng. Nhưng liệu trong hai giờ đồng hồ pháp đàm luôn luôn có bố thí hay không? Chắc chắn là không rồi. Trong lúc tôi đang nói đây, có nhiều khoảnh khắc khác nhau, khoảnh khắc có sự dính mắc, khoảnh khắc chia sẻ, khoảnh khắc sân với cảm giác hơi lạnh, v.v. Như vậy có rất nhiều khoảnh khắc xen kẽ nhau, chỉ có trí tuệ mới biết được cụ thể khoảnh khắc nào là thiện pháp và khoảnh khắc nào không phải là thiện pháp. Rồi khi trả lời câu hỏi, có suy nghĩ “không biết mọi người có đồng ý với câu trả lời của mình không”. Có rất nhiều suy nghĩ khác nhau, và càng phát triển thiện pháp thì chúng ta càng thấy rằng thiện pháp sinh khởi vô cùng thưa thớt và ít ỏi. Con đường đạo chính là con đường của sự chân thật, và qua đó các thiện pháp có thể được thanh lọc, như vừa rồi ông Jonothan đã chia sẻ. Nếu không chúng ta luôn luôn dính mắc, kể cả vào thiện pháp của mình, luôn luôn “tôi” làm thiện pháp và thiện pháp “của tôi”. Nếu hiểu ra điều đó thì sẽ bớt đi được một chút bất thiện pháp trong ngày. Ai cũng muốn làm người tốt với rất nhiều thiện pháp, nhưng đó vẫn là sự dính mắc vào bản thân, muốn mình theo một cách nào đó. Chính vì lý do đó hiểu biết về vô ngã là vô cùng quý báu, vì khi đó sẽ nhận ra rằng sự bố thí không phải là “bố thí của tôi”.

 

 

Pháp đàm tại Đà lạt, sáng ngày 14/05/15

 

Người hỏi: Kính thưa Bà, nói về giữ giới thì phải có tác ý để giữ giới. Ý nghĩa của câu giữ giới nhưng không có người giữ giới cần hiểu như thế nào? Và khi giữ giới thì tác ý như thế nào là đúng pháp?

Achaan Sujin: Giáo lý của Đức Phật là để giúp chúng ta hiểu đúng về thực tại hiện giờ, cho nên khi nghe từ “giữ giới” thì câu hỏi đặt ra là “cái gì giữ giới?”, có phải là một tự ngã giữ giới hay không? Khi nghe đến giữ giới chúng ta sẽ cần phải tìm hiểu ý nghĩa của từ giới-sila, giới có phải là một con người không? Nếu chúng ta không biết thì sẽ không có tác dụng gì trong việc tìm hiểu Giáo Pháp của Đức Phật, nếu không biết giới là gì thì sẽ thật là vô ích. Sẽ luôn luôn có ý niệm “tôi giữ giới”, và những ý nghĩ tương tự. Khi không hiểu những điều diễn ra trong cuộc sống của mình bản chất là gì thì đó không phải là Giáo lý của Đức Phật.

Trước khi chúng ta có thể bàn luận về bất cứ thứ gì, chúng ta cần đặt câu hỏi “đó là gì?” trước khi nói về nó. Nếu không có tâm, tâm sở và sắc thì có thể có giới hay không? Như vậy “giới” không phải là một con người có ý định làm cái này, hay đi theo cái kia. Nếu chúng ta nghĩ như vậy thì đó chính là vô minh. Giáo lý của Đức Phật không thể thay đổi bởi vì Ngài là người đã giác ngộ về sự thật của tất cả các pháp. Vậy giới-sila có nghĩa là gì? Sắc có thể là giới hay không? Tâm có thể là giới hay không? Vậy trên thực tế cái gì là giới? Đặc biệt là, hiện giờ có giới hay không? Nếu không thì chúng ta sẽ cứ nói về giới mà không hề nhận biết liệu hiện giờ có giới hay không? Vậy giới là gì?

Sarah: Khi chúng ta mới tới đây, một số người đã chắp tay bày tỏ sự cung kính đối với các vị tỳ kheo, với Achaan Sujin, với những người lớn tuổi. Khi có sự cung kính một cách chân thành để tỏ lòng tôn kính thì nơi đó có tâm thiện, đó chính là loại thiện pháp thuộc về giới. Từ giới-sila có nghĩa là hành vi, ứng xử, có thể là hành vi đúng đắn hay hành vi sai trái, thiện giới hay ác giới. Nói đến sự cung kính là nói đến thiện giới. Ở khoảnh khắc bày tỏ sự cung kính thì ai là người cung kính? Và cung kính với cái gì? Từ việc nghiên cứu kỹ lưỡng Giáo lý từ mấy ngày nay, chúng ta biết rằng chỉ có ba loại thực tại tạo nên cái mà chúng ta gọi là con người là tâm, tâm sở và sắc. Một hành vi đúng đắn không phải là “tôi” hay “ai đó”. Không phải là một “tự ngã” bày tỏ sự cung kính. Trên thực tế, cái diễn ra là tâm thiện làm duyên cho sự sinh khởi một số loại sắc, và biểu hiện thành một số hành vi được gọi là “sự cung kính”. Có những loại tâm làm duyên cho thân biểu tri, khẩu biểu tri. Những sắc này được làm duyên bởi tâm và được biểu hiện thành hành vi mà nhìn từ bên ngoài, ta thấy rằng ai đó đang bày tỏ sự cung kính. Khi chúng ta càng nghiên cứu Giáo lý kỹ lưỡng thì chúng ta càng biết chắc rằng ở khoảnh khắc này chỉ có các pháp mà thôi, không có con người nào cả. Một số loại tâm thiện và bất thiện làm duyên cho những hành vi mang tính thiện lành hoặc bất thiện.

Ta có thể nói đến giới ở khía cạnh của tâm sở, đồng thời cũng là các chi của Bát Chánh Đạo, đó là tâm sở tiết chế, làm chức năng xa lìa những lời nói và việc làm sai trái. Chẳng hạn có lúc khi đang chuẩn bị nói ra những lời nói thô ác, thiếu sự cung kính tôn trọng, ta có thể nhớ lại rằng: nói như vậy là nói một cách không đúng đắn, và ở khoảnh khắc đó có thể có sự tiết chế việc nói ra lời nói không đúng đắn. Khoảnh khắc tiết chế đó chính là khoảnh khắc của thiện giới. Nếu sự tiết chế ấy được hiểu là chỉ là một thực tại, một pháp thì nó sẽ trở thành một chi của Bát Chánh Đạo- chánh ngữ hoặc chánh nghiệp. Chúng ta có thể đưa ra nhiều ví dụ khác nhau, nhưng chung quy tất cả các ví dụ đó đều có thể được phân tích thành các hoạt động của tâm, tâm sở và sắc.

Jonothan: Như vừa rồi cô Sarah giải thích, ở khoảnh khắc có sự tiết chế hành vi sai trái thì có thiện giới. Tuy nhiên, mức độ của thiện pháp khi đó sẽ còn tùy thuộc. Một người có thể giữ giới do nhiều lý do khác nhau: vì không muốn người khác thấy mình phạm giới, hoặc có thể do sợ quả của nghiệp sẽ tạo ra trong tương lai. Vì thế ta không thể giả định và nói rằng toàn bộ quá trình giữ giới như vậy hoàn toàn trong sạch, không bị ô nhiễm. Câu hỏi đặt ra có liên quan đến tác ý giữ giới. Khoảnh khắc của sự tiết chế là khoảnh khắc của sila-giới, chẳng hạn khoảnh khắc chuẩn bị đập muỗi hay lấy đi một thứ gì đó không thuộc về mình nhưng rồi tiết chế. Nhưng khi không có những cơ hội như vậy thì sẽ không có sự tiết chế sinh khởi. Nói đến giới không phải là nói đến khoảnh khắc có ý định giữ giới, bởi vì lúc có ý định đó không phải là khoảnh khắc thực sự của giữ giới. Khoảnh khắc có tác ý giữ giới đó có phải là thiện pháp hay không thì tùy thuộc vào tâm ở khoảnh khắc đó, vào động cơ của việc có ý định giữ giới đó, và chỉ cá nhân người đó mới có thể biết được khoảnh khắc đó là thiện hay không phải là thiện.

 

            Người hỏi: Nếu một người không thể giữ được năm giới, ví dụ người đánh cá, thì người đó có đủ tiêu chuẩn làm một người Phật tử hay không?

            Achaan Sujin: Trước hết phải hiểu rõ giới là gì. Ta đã hiểu về giới một cách đầy đủ chưa để có thể tìm hiểu xem ở khoảnh khắc này, hay trong trường hợp này có phải là giới hay không? Nếu không có cái hiểu đúng về pháp, về thực tại thì liệu có thể có cái hiểu đúng về giới hay không? Bởi vì giới là hành vi thể hiện ra bên ngoài của tâm và tâm sở ở mỗi thời điểm cụ thể. Chính vì vậy trong Tam Tạng Kinh điển có nói đến ba loại giới: thiện giới, ác giới, vô ký giới. Chúng ta biết từ “kusala” là thiện, “akusala” là bất thiện, thế còn từ “avyakata” là gì? Những gì không phải là thiện và bất thiện thì là vô ký. Rupa-sắc không phải là thiện, không phải là bất thiện, vì vậy nó là pháp vô ký.  Niết bàn cũng không phải là pháp thiện, cũng không phải là bất thiện, vì vậy niết bàn là pháp vô ký. Những tâm quả cũng không phải là tâm thiện và bất thiện, vì thế tâm quả cũng là pháp vô ký. Vì vậy người ta sẽ phải dùng đến ba loại giới khác nhau: thiện giới, ác giới và giới vô ký để dành cho trường hợp các vị A la hán. Hàng ngày, các tâm sinh và diệt một cách liên tiếp không ngừng nghỉ. Ở khoảnh khắc mở mắt ra là tâm thiện hay bất thiện? Hành xử của tâm sẽ làm duyên cho những hành vi qua thân và khẩu khác nhau.

Thông thường, chúng ta chỉ biết về giới dưới góc độ như ngũ giới, bát giới hay 227 giới. Tuy nhiên, ở bất cứ khoảnh khắc nào có tâm làm duyên cho một hành vi qua thân và khẩu mà những tâm đó là thiện, bất thiện, hoặc vô ký thì nó sẽ tạo ra loại giới tương ứng. Bất cứ hành động nào qua thân được làm duyên bởi tâm bất thiện thì đều là ác giới. Về mặt bản chất thì không có người đánh cá, không có Phật tử, v.v… Mỗi lời dạy trong Giáo lý Đức Phật đều nhắc nhở chúng ta rằng không có một chủ thể hay một tự ngã nào cả. Nếu không biết rõ như vậy, làm sao ta có thể nói rằng mình tìm hiểu Giáo lý của Đức Phật đây? Chắc chắn Đức Phật không muốn mọi người chỉ hỏi thôi, mà muốn mọi người cũng lắng nghe và để cho hiểu biết thẩm thấu, trở thành hiểu biết riêng nơi tự thân. Khi một ai đó đặt câu hỏi: liệu cái này là thiện hay bất thiện, thì nên chăng người đó nên suy xét và có hiểu biết để tự thân có thể nhận biết được đâu là thiện và đâu là bất thiện. Chúng ta học được từ Ngài để hiểu rằng, tất cả những gì xuất hiện đều là vô ngã. Bây giờ ta có thể học để biết rằng những khoảnh khắc bình thường trong cuộc sống, những khoảnh khắc của uống, ăn, v.v. thì là thiện giới hay ác giới, bởi vì tự thân sắc thì không làm được gì cả. Nhưng khi tâm sinh khởi, nó cũng làm duyên cho sắc sinh khởi. Vì thế sở dĩ có cảm giác sắc đang có cử động là do bởi có tâm làm duyên cho điều đó. Để có thể biết được hành vi của thân là thiện hay bất thiện thì cần phải biết tâm tạo ra hành vi đó là gì.

Ngày nay mọi người có thể ngộ nhận rằng mình đang nghiên cứu Giáo lý của Đức Phật bởi việc nghe, đọc, học thuộc lòng, nhưng đó không phải là bản chất của tìm hiểu Giáo lý. Sứ mệnh của việc trở thành một vị Chánh Đẳng Giác là để giúp được những người khác hiểu được đúng đắn lời dạy của mình. Chính vì vậy, Đức Phật đã phát triển trí tuệ trong một quãng thời gian dài vô tận. Nếu Ngài đã không mệt mỏi giảng dạy trong suốt 45 năm thì ngày nay làm sao chúng ta có thể được nghe Giáo lý của Ngài? Nếu chúng ta lắng nghe Giáo lý của Ngài một cách cẩn trọng, ta càng thấy được rõ hơn ơn đức của Ngài và thấy được rõ hơn mức độ cao thượng, sự thanh tịnh cũng như lòng từ bi vô hạn của Ngài, để hiểu được các pháp từ khi sinh ra cho tới khi chết đi. Bởi vì không ai biết được rằng về bản chất, cái gì sinh ra và cái gì chết đi. Có ai biết được rằng về mặt bản chất thì không có một con người, một tự ngã nào cả, mà chỉ là các pháp sinh và diệt? Điều đó diễn ra từ khoảnh khắc ta chào đời cho đến khi chết đi.

Nếu chúng ta không được lắng nghe và tìm hiểu Giáo lý của Đức Phật thì chúng ta sẽ sinh ra và rồi chết đi trong cuộc đời này mà không hề hiểu gì về bản chất của nó. Tất cả những người không được nghe Giáo lý chắc chắn sẽ có cái hiểu sai về các pháp, cho cái vốn chỉ là các pháp là “tôi”, là “người này”, “người kia”. Tuy nhiên, những lời dạy trong Giáo lý cho chúng ta hiểu biết về từng từ một, từng chút một một cách ngày càng rõ ràng hơn, cho đến khi hiểu biết ấy trở nên sâu sắc, đến mức độ có thể trở thành sacca-ñāna (tuệ học hiểu Tứ Thánh Đế). Khi đó không còn xa rời những thực tại mà mình đã được học từ Giáo lý của Đức Phật, rằng tất cả các pháp đều là vô ngã.

Khi có sự dính mắc vào ý niệm cho rằng những gì được nhận biết là một “cái gì đó”, thì đó chính là attānudiṭṭhi, tức là sự chấp ngã về những thứ bên ngoài. Không ai có thể nhận rằng mình có thể tự có được hiểu biết đúng về những gì xuất hiện xung quanh mà không cần tới Giáo lý của Đức Phật. Giờ đây, Giáo lý đang dần suy mạt do không có cái hiểu đúng về Giáo lý. Nếu không phải do cái hiểu sai thì làm sao Giáo lý có thể bị tan hoại được đây?

            Người hỏi: Khi tác ý chánh niệm, tác ý đó có rơi vào tà kiến không?

            Achaan Sujin: Tác ý –cetana (tư) có phải là một trong tám chi của Bát Chánh Đạokhông?

            Trả lời: Không

            Achaan Sujin: Vậy, có ý định chánh niệm là sai, bởi vì chánh niệm không sinh khởi do duyên bởi ý định chánh niệm. Nếu ai đó nghĩ rằng ý định hiểusẽ làm cho hiểu biết sinh khởi thì điều đó cũng là sai. Bởi vì bản thân tư ý-cetana có thể là thiện, bất thiện hoặc vô ký. Bát Chánh Đạo chỉ có tám chi mà thôi. Ý định như vậy chứng tỏ đã không có cái hiểu về các pháp, không có cái hiểu về vô ngã, về con đường Bát Chánh Đạo và về những gì Đức Phật đã dạy. Chánh niệm của Bát Chánh Đạo là gì? Ở mỗi khoảnh khắc của thiện pháp đều có chánh niệm. Mọi người có thể có loại chánh niệm sinh khởi với thiện pháp thông thường, do những tích lũy của họ. Tuy nhiên, để có được chánh niệm của Bát chánh đạo, nếu không có sự nghiên cứu Giáo lý tới mức độ sacca-ñāna hay niềm tin vững mạnh vào sự thực về các pháp chân đế, thì sẽ không thể nào có loại chánh niệm đó. Vì vậy, chánh niệm của Bát Chánh Đạo hẳn phải vô cùng khác với những loại chánh niệm khác. Nếu bây giờ không có hiểu biết đúng về các thực tại hiện khởi thì làm sao có thể có được chánh niệm của Bát Chánh Đạo đây? Cái làm duyên cho chánh niệm thực sự sinh khởi là sacca-ñāna, chứ không phải là ý định có chánh niệm.

            Jonothan: Về câu hỏi có nên có tác ý để có thiện pháp hay không, chúng ta cần phân biệt rõ, việc có tác ý để có thiện pháp và khoảnh khắc của thiện pháp có phải là một hay không? Bạn nghĩ thế nào?

            Người hỏi: Khoảnh khắc có tác ý để có thiện pháp và khoảnh khắc thiện pháp là khác nhau

            Jonothan: Nếu như vậy, liệu có bối cảnh nào trong đó việc có tác ý để có thiện pháp sẽ khiến tác ý đó trở thành thiện không?

            Người hỏi: Khi đặt thân xuống ghế, trong lúc đó tự động có tác ý ghi nhận tính cứng, thì ngay lúc đó có phải là có tác ý về chánh niệm đi kèm không?

            Jonothan: Việc hay biết trực tiếp đặc tính cứng và việc có ý định hay biết là một hay là hai?

            Người hỏi: Đó là hai thứ khác nhau

            Jonothan: Có trường hợp nào mà bản thân tác ý chánh niệm có thể trở thành thiện không? Nếu nó là thiện thì thuộc loại thiện pháp nào?

            Người hỏi: Khi có tác ý có chánh niệm thì khi đó có ý niệm về ngã, nhưng chánh niệm kinh nghiệm trực tiếp thì chỉ biết về đặc tính, và chỉ khi có duyên thì nó mới xuất hiện mà thôi.

            Jonothan: Đúng vậy, khi có ý định có thiện pháp là lúc đó ý niệm về ngã tồn tại, chúng ta biết rằng thiện pháp không thể được tạo được bởi ý niệm về ngã, Vậy hãy cứ để tự nhiên, các duyên sẽ tự vận hành, hãy tiếp tục nghiên cứu Giáo lý, vì chỉ hiểu biết đúng từ việc tìm hiểu Giáo lý mới có thể tạo nền tảng hiểu biết đúng đắn.

            Người hỏi: Con cảm ơn, con đã hiểu hơn rất nhiều

 

 

Pháp đàm tại Đà lạt, chiều ngày 15/05/15

 

Sarah: Nếu không nghiên cứu một cách chi tiết thì khi đọc kinh, chúng ta sẽ diễn giải với ý niệm riêng của mình. Hôm qua chúng ta nói về những tình huống, câu chuyện của những con người khác nhau, ta thường có xu hướng bắt chước những gì họ đã làm. Nhưng bằng việc học kỹ hơn về những khoảnh khắc khác nhau, những khoảnh khắc của tâm là quả, khoảnh khắc của tâm là thiện hay bất thiện, ta được hiểu rằng mỗi tâm thiện/bất thiện đều có thể là một khía cạnh khác nhau của giới – sila. Vì từ “sila” (giới) nói đến hành xử của tâm, hành xử đó có thể là thiện/bất thiện hoặc vô ký (trong trường hợp của vị A la hán). Kể cả bây giờ, khi ta ngồi yên, không cử động gì thì vẫn có thiện giới hoặc ác giới sinh khởi. Trừ khi chúng ta được nghe Pháp và biết được các khoảnh khắc khác nhau, các trạng thái tâm khác nhau sinh khởi, sẽ không thể phân biệt được khi nào có tâm thiện, tâm bất thiện, khi nào có thiện giới, ác giới….

Như Achaan Sujin đã nói, cuộc sống này rất ngắn ngủi và không thể biết cái chết sẽ đến lúc nào, còn cơ hội đang được nghe Pháp và phát triển hiểu biết thì đang hiện diện ở đây. Tôi muốn chia sẻ với các bạn rằng, hôm qua Achaan Sujin đã tới thăm một đạo hữu đang hấp hối. Chúng tôi chỉ có thời gian ngắn với người ấy và Achaan Sujin đã nhắc nhở người ấy về sự thật, về những gì đang xuất hiện như Achaan Sujin đang chia sẻ ở đây. Achaan Sujin có nhấn mạnh rằng, hiểu được rằng cái xuất hiện hiện giờ là pháp là cách tốt nhất để niệm ơn Đức Phật, vì đó là sự khởi đầu hiểu Giáo lý của Ngài. Những gì chúng ta đang ngộ nhận là mình, thực chất chỉ là những suy nghĩ khác nhau sinh khởi. Những lời dạy đó quả thực là những gì tốt nhất dành cho người đang hấp hối. Sau đó chúng tôi được biết rằng người ấy đã qua đời sau một vài tiếng. Điều đó đã nhắc nhở tôi rằng, chúng ta thật may mắn, lợi lạc khi còn đang sống và được nghe Giáo Pháp chân chánh để hiểu về bản chất của thực tại, về cái gọi là cuộc sống.

……

Người hỏi: Khi có một niệm bất thiện sinh khởi thì có hàng tỉ nghiệp bất thiện của hàng tỉ tâm bất thiện sinh khởi và mình sẽ phải trả quả cho hàng tỉ nghiệp bất thiện như vậy, điều đó có đúng không ạ?

Achaan Sujin: Có cái thấy hiện giờ phải không? Cái thấy hiện giờ là quả của nghiệp nào trong kiếp nào, có ai biết không? Có cái nghe hiện giờ. Nó là quả của một nghiệp nào đó, ai biết được đó là do loại nghiệp nào? Điều đó cho thấy rằng trí tuệ của chúng ta vô cùng nhỏ bé so với trí tuệ vĩ đại của Đức Phật. Trước khi hiểu về nghiệp và quả của nghiệp thì cần phải hiểu về vô ngã đã. Không chỉ bằng việc nói rằng nó là vô ngã mà cần phải hiểu tính chất của nó chỉ là pháp mà thôi. Nếu chỉ nói “đó là vô ngã” thì sẽ không đủ, không thể mang đến hiểu biết. Tại sao nó là vô ngã? Vì nó sinh khởi do duyên, không thể tự nó sinh khởi. Nếu không có duyên thì sẽ có không sự sinh khởi của pháp đó. Chỉ một khoảnh khắc sinh khởi của cái thấy thôi cũng đã cần rất nhiều duyên. Để hiểu cái thấy là vô ngã thì cũng cần rất nhiều thời gian để chứng nghiệm, để hiểu được tính chất của pháp kinh nghiệm đối tượng, và nó xảy ra do duyên. Nếu không có duyên, không có gì có thể sinh khởi. Một khi sinh khởi, nó lại diệt đi ngay lập tức, rồi vô minh và dính mắc tiếp nối, rồi tà kiến và sự thực hành sai trái nữa…. Tất cả những gì là sai đều xuất phát từ vô minh.

 Không hiểu đúng về cái xuất hiện có thể mang tới nhiều hiểu biết hơn hay bớt đi hiểu biết? Khi nghe theo lời của người khác mà không phải là lời của Đức Phật, chúng ta đang thực chất quay lưng với lời dạy của Ngài, không chỉ trong kiếp này mà còn chuẩn bị như vậy cho những kiếp khác nữa. Nếu không có những điều như vậy thì đã không có những người sống gần Đức Phật mà không nghe Pháp của Ngài. Một người thiện bạn hữu thực sự không muốn người khác đi con đường sai, bởi người ấy biết rằng điều ấy thật nguy hiểm, không chỉ trong kiếp này mà còn trong những kiếp tới nữa.

 

 

Pháp đàm tại Dốc Lết, chiều ngày 22/05/2015

 

Người hỏi: Con xin hỏi về Giới. Vì sao Đức Phật lại chế giới? Có năm giới, tám giới và giới cho các vị xuất gia. Vậy điều gì là căn bản nhất trong năm giới?

Achaan SujinTừng lời dạy của Đức Phật đều để giúp chúng ta phát triển hiểu biết. Đức Phật chế ra năm giới không có nghĩa là để bắt mọi người phải tuân theo. Hành động do tâm thúc đẩy. Khi tâm là bất thiện, thân và khẩu cũng hành xử bất thiện tương ứng với tâm ấy. Như vậy, Đức Phật không dạy người cư sĩ hay bất cứ ai hãy làm theo hoặc bắt chước các hành vi qua thân và khẩu, mà phải thực sự hiểu rằng thân và khẩu đi theo tâm ở mỗi khoảnh khắc. Khi tâm là thiện, cũng như vậy, thân và khẩu có tính chất thiện tương ứng. Mấu chốt không ở chỗ chúng ta cần nói hay làm như thế nào, mà phải hiểu tâm ở mỗi khoảnh khắc. Với việc được nghe Pháp, ta cần phải biết hiện giờ thân đang có hành vi tương ứng với tâm. Tâm được tích lũy theo cách vô cùng vi tế, phức hợp. Chẳng hạn như, hiện giờ mỗi người đang ngồi theo một cách khác nhau, nói theo cách khác nhau, v.v…Cái gì làm duyên cho những tư thế, cách nói khác nhau như vậy? Chính là sự tích lũy của tâm, rất tinh tế, phức hợp, và mỗi cử động của thân hay lời nói đều theo xu hướng tâm đã tích lũy. Chúng ta không biết được chi tiết của từng hành vi như vậy. Ta không biết rằng nếu không có tâm thì thân và khẩu không thể được tạo ra. Cần có hiểu biết đến mức nào để hiểu rằng không có con người nào đang ngồi thế này hay nói thế khác.

Vậy không thể mong đợi có được bao nhiêu hiểu biết trong mỗi ngày, hãy tiếp tục lắng nghe và phát triển hiểu biết cho đến khi hiểu biết ấy dần dần được tăng trưởng. Ngay cả hiện giờ đang có các tâm và tâm sở sinh khởi, nhưng không có hiểu biết về các tâm, tâm sở đó là gì. Nếu không được nghe Giáo lý của Đức Phật, ta không thể hiểu Giáo lý dạy những gì. Hiện giờ có tâm không? Hiện giờ có giới không? Ai biết được điều ấy nếu Đức Phật đã không dạy về chúng?

SarahChúng ta có nhiều ý niệm khác nhau về giới. Ta vẫn thường nghĩ rằng giới là cách hành xử nhất định, ví dụ như, nếu hôm nay ta không sát sinh hay làm tổn hại ai đó thì nghĩ là hôm nay mình có giới. Ở góc độ nào đó, có thể điều đó đúng, tuy nhiên Giáo lý của Đức Phật rất vi tế nên ta cần suy xét kỹ hơn. Như Achaan Sujin đã giải thích, giới thực chất nói đến hành xử của tâm. Ngay hiện giờ, tâm có thể là thiện và bất thiện, nên ở từng khoảnh khắc đó sẽ có thiện giới và ác giới. Nếu hiện giờ có suy nghĩ với thiện thì khi ấy có thiện giới, còn khi tâm là bất thiện thì sẽ làm duyên cho thân và khẩu hành xử theo cách bất thiện tương ứng. Khi có tâm bất thiện, bất kể hành vi thể hiện ra bên ngoài là gì thì thực chất khi đó vẫn đang có ác giới, và mọi hành vi qua thân và khẩu cũng đều là bất thiện.

Thông thường ta hay nghĩ về thiện giới dưới góc độ các câu chuyện, tình huống, như khi không làm hại con vật thì có thiện giới, hay khi nghĩ hôm nay mình có ý định tránh xa giới sát sinh thì đang có thiện giới. Nhưng thực chất ra sao còn tùy thuộc vào từng khoảnh khắc. Chẳng hạn như hiện giờ, ta có thể cảm thấy hơi khó chịu vì thời tiết oi bức, hay nghe âm thanh không rõ, khi ấy không thể có thiện giới, cho dù ta đang ngồi trong phòng pháp đàm và không giết hại chúng sinh nào. Như vậy thiện giới không phải là việc tụng hay xin thọ năm giới, tám giới hay 227 giới… mà thực chất là khoảnh khắc của thiện pháp, là khoảnh khắc của bố thí, trì giới hay của hiểu biết đúng…. Chẳng hạn, khi thấy một con gián trên đường đi và ta cố tránh làm tổn hại nó, khi ấy có thiện giới. Nhưng những khoảnh khắc rất gần với khảnh khắc tránh xa sự sát sinh đó, khi ta khó chịu với con gián đang ở trên giường hay trong phòng mình thì ý nghĩ bất thiện ấy không phải là thiện giới mà là ác giới.

Vậy nếu không phát triển hiểu biết và học dần để biết rõ hơn sự khác nhau giữa các khoảnh khắc thiện và bất thiện, của bố thí, trì giới…, ta sẽ không thể xác định được khi nào đang có thiện giới và khi nào đang có ác giới. Nếu không ta sẽ cho rằng mình đã thọ ngũ giới, đã xin giới và ngày hôm nay mình không giết chúng sinh nào tức là mình đang có giới. Nhưng không phải như vậy, vì thực chất chúng ta luôn có cả thiện giới lẫn ác giới trong một ngày. Dù ta có làm bao nhiêu thiện pháp đi nữa thì sự thật, số lượng tâm bất thiện sinh khởi trong ngày vẫn vượt xa rất nhiều so với những khoảnh khắc của tâm thiện. Tốt nhất hãy có sự chân thành, trung thực để biết rằng có rất nhiều khoảnh khắc của ác giới so với thiện giới trong ngày.

Vị SưGiới sát sinh Đức Phật chia ra gồm 5 chi: có đối tượng, biết đối tượng đó còn sống, có ý định giết, đã giết và đã thành tựu. Vậy lời của cô có hợp lý không, vì một vị tì kheo tự sát thì có tâm bất thiện, tức là phạm ác giới, nhưng trong kinh Đức Phật nói vị này không phạm giới sát sinh?

SarahGiới sát sinh liên quan đến việc giết hại một chúng sinh khác chứ không phải bản thân mình. Mặc dù việc tự vẫn là bất thiện pháp ở cường độ cao nhưng nó vẫn không phạm vào giới sát sinh. Tất cả những giới còn lại, như trộm cắp, tà dâm… đều liên quan đến chúng sinh khác, bởi do thiếu sự quan tâm hay tâm từ đối với chúng sinh ấy. Một vị thánh Dự lưu không bao giờ còn mức độ phiền não đủ mạnh để phạm một trong ngũ giới, không bao giờ sát hại chúng sinh hay phạm các giới còn lại.

Vị Sư:  Như vậy giới có hai phần, một phần liên quan đến chúng sinh khác và một phần thuộc về nội tâm. Vì vậy để ngăn ngừa thì vẫn cần có những chế định dứt khoát, ở nhiều cấp bậc khác của giới để trong đời sống hàng ngày ta có căn cứ giữ gìn. Còn cứ nói chung chung về tâm thì không có căn cứ quy định nào cả và như vậy thì rất nguy hiểm.

JonothanKhông thể nói về phẩm hạnh của một người khi chỉ dựa vào số lượng giới mà người ấy tuyên bố giữ. Hiển nhiên là nếu một vị tỳ kheo giữ trong sạch 227 giới thì có phẩm hạnh cao hơn rất nhiều so với người cư sĩ giữ ngũ giới. Nhưng sự so sánh ấy chỉ là giả thuyết. Phẩm hạnh của một người không tùy thuộc vào số giới mà người ấy muốn theo, mà tùy thuộc vào mức độ thiện tâm của người ấy. Một người giữ được năm giới một cách trọn vẹn còn đáng quý hơn người tuyên bố giữ nhiều giới nhưng lại không làm được như vậy. Khi một người tuyên bố giữ số lượng giới nhiều hơn mức thực tế người ấy có thể giữ được thì đó là thiện giới hay ác giới? Vì vậy tôi nghĩ phải dựa vào tính chất của khoảnh khắc hiện giờ để xác định về giới hạnh của một người, chứ không nên nghĩ về số lượng giới.

SarahVới tất cả mọi người, Đức Phật đều khuyến khích giữ giới song song với sự phát triển hiểu biết về các pháp chân đế. Các bậc A la hán thì không cần đến Giới Luật (Vinaya). Như ta đã biết về sự ra đời của Giới Luật, thời gian đầu khi chỉ có các vị Thánh tăng thì không có điều giới nào hết vì tâm của các vị đều hoàn toàn trong sạch. Nhưng sau đó, khi có những vị tỳ kheo với ác giới xuất hiện, Đức Phật đã phải chế điều giới để giữ hòa khí và đảm bảo sự tăng thịnh của Tăng đoàn. Chính vì vậy, giới đã được chế ra cho Tăng đoàn song song với sự phát triển Tứ niệm xứ. Nếu không phát triển hiểu biết về tâm trong khoảnh khắc hiện tại, về sự khác biệt giữa tâm bất thiện với tâm thiện, dù ta có tụng năm giới, tám giới, mười giới hay 227 giới thì vẫn không thể phát triển được thiện pháp và giữ được giới một cách trọn vẹn. Mọi điều giới đều rất hữu ích.

Không chỉ các vị tỳ kheo cần suy xét về giới để tăng trưởng thiện pháp, mà cả những người cư sĩ cũng cần suy xét về giới của vị tì kheo để thấy được các mức độ bất thiện vi tế và phát triển thiện pháp ở mức độ cao hơn. Như hôm nay Achaan Sujin có nói đến một trong các giới của tỳ kheo là không được nói lớn tiếng. Giới này không áp dụng với các vị cư sĩ. Mặc dù khi nói lớn tiếng, người cư sĩ không bị phạm giới và phải sám hối, nhưng họ vẫn nên suy xét về giới này. Chẳng hạn ta có thể suy xét, khi nói lớn tiếng hay hét lên thì có thể mang đến khó chịu, quấy rầy cho người khác. Khi ta quan tâm đến nhu cầu của người khác, khi đó tâm là thiện, là có giới thiện. Nếu chỉ nghĩ rằng không nên nói to vì đó là giới phải theo thì khi đó chưa chắc đã có thiện giới. Nếu chúng ta không phát triển hiểu biết đồng thời, thì dù về mặt hành vi bên ngoài có vẻ như giữ giới nhưng tâm thực chất chưa phải là thiện và khi đó chưa phải là có giới. Vì vậy Đức Phật đã dạy sự phát triển Tứ niệm xứ song song với Giới Luật.

Vị SưTôi vẫn thấy có sự mâu thuẫn. Chân đế và chế định vẫn luôn cần đi song đôi với nhau. Nếu chỉ có chân đế thôi thì sẽ hỗn loạn liền. Chẳng hạn như nói rằng chẳng có con người nào cả, đây không phải là con tôi thì sẽ không có sự dạy dỗ, và người con thì không biết đây là mẹ, đây là cha… thì thế giới này sẽ hỗn loạn. Cứ nói về chân đế suốt mà loại bỏ những từ ngữ mà Đức Phật dạy về tục đế thì chưa đúng, vì ngay cả Đức Phật cũng gọi đức vua Tịnh Phạn là cha. Nếu những người Phật tử mới đến mà không hiểu, về nhà cứ vô ngã thôi thì rất nguy hiểm.

JonothanTôi nghĩ lời dạy của Đức Phật là về sự thật tuyệt đối. Và tất cả chúng ta đều thống nhất về điều này, rằng đó là cốt tủy của Giáo lý. Chắc điều sư muốn nói ở đây là làm thế nào để thể hiện pháp chân đế một cách tốt nhất. Sư có đưa ra hai tình huống, một là giữa cha mẹ và con cái, và hai là tình huống các Phật tử đến đây nghe Pháp. Chúng ta có thể thấy, kể cả khi có sự quan tâm đến Giáo Pháp thực sự thì trong cuộc sống hàng ngày, mọi người vẫn giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ chế định. Tất cả mọi người đều phải sử dụng ngôn ngữ chế định. Bản thân Đức Phật đã sử dụng nhiều ngôn ngữ chế định khi nói về các pháp chân đế. Bậc cha mẹ cần nhiều kỹ năng khéo léo để truyền tải hiểu biết đúng tới con cái trong cuộc sống bình thường. Và nếu người con có cha mẹ hiểu về pháp chân đế thì quả là người con đó rất hạnh phúc và may mắn. Trong hội chúng ở đây, có nhiều người mới, chưa từng nghe nhiều về Giáo Pháp. Chỉ trừ Đức Phật mới có thể biết được căn cơ của mọi chúng sinh, còn với chúng ta, trong quá trình chia sẻ ở đây, chắc chắn sẽ có những người gặp khó khăn hơn những người khác trong việc lĩnh hội được nội dung.

Nhưng dù thế nào đi nữa, lợi ích lớn nhất vẫn là được nghe những lời dạy về pháp chân đế. Nếu không ta cứ mãi loanh quanh ở những câu chuyện mà không thể đi vào cốt tủy của sự thật. Bất cứ ai có sự quan tâm đều có thể nhận thấy tầm quan trọng của sự thật rằng, nhãn thức thì không phải là nhĩ thức, hay cái nghe thì không phải cái thấy; rằng đối tượng thị giác không phải là một với nhãn thức. Bản thân đối tượng thị giác cũng khác với đối tượng của nhĩ thức là âm thanh. Đó là điểm cơ bản khởi đầu để phát triển hiểu biết về thực tại. Ai ở đây không thấy lợi lạc từ việc nghe về những điều ấy?

SarahỞ đây chúng ta không chỉ có bậc cha mẹ mà còn có hai bạn nhỏ, chúng ta sẽ thử hỏi các bạn xem sao. Tên cháu là gì?

Bạn nhỏ 1: Tên cháu là Q.

SarahCháu có bao giờ, lúc thì nghĩ theo cách tốt, lúc thì nghĩ theo cách xấu không?

Bạn nhỏ 1Có ạ

Sarah: Khi có suy nghĩ đúng đắn, nó sẽ giúp cho cháu biết hành xử đúng đắn, như ngoan ngoãn và biết nghe lời cha mẹ phải không?

Bạn nhỏ 1Vâng ạ

Sarah: Khi cháu khó chịu, sân hận, cháu có cáu bẩn, cãi lại cha mẹ không?

Bạn nhỏ 1Thỉnh thoảng ạ

SarahKhi cháu nghĩ theo hướng tốt lành, cháu thậm chí có thể thương cả những con côn trùng như con gián phải không?

Bạn nhỏ 1Có ạ

SarahCòn lúc nghĩ theo xu hướng xấu, cháu có thấy khó chịu và muốn giết chúng không?

Bạn nhỏ 1Vâng ạ

SarahĐây chính là những gì chúng ta đang nói đến, về thiện giới và ác giới. Còn giờ đến lượt N. Với cháu, khi có suy nghĩ tốt lành thì ai là người suy nghĩ tốt lành đó?

Bạn nhỏ 2Dạ, con nghĩ đó là tâm suy nghĩ ạ

Sarah: Do đã được nghe nhiều lần rồi nên cháu hiểu thực chất không có N. mà chỉ là các khoảnh khắc tâm khác nhau, phải không? Cái tâm đó tồn tại lâu hay nó sinh rồi diệt ngay lập tức?

Bạn nhỏ 2Dạ, nó sinh rồi diệt ngay lập tức ạ

Sarah: Vậy khi có suy nghĩ xấu thì cái tâm đó kéo dài một phút, năm phút hay chỉ trong một khoảnh khắc mà thôi?

Bạn nhỏ 2Dạ chỉ trong một khoảnh khắc thôi ạ

SarahThế khi cháu có suy nghĩ thân thiện, thương con gián hay muốn làm điều tốt với cha mẹ thì đó là N. đang suy nghĩ tốt phải không?

Bạn nhỏ 2Dạ, không ạ

Sarah: Vậy người nào đang thương con gián hay ngoan ngoãn với cha mẹ vậy?

Bạn nhỏ 2Dạ, chính là tâm ạ

SarahVậy những tâm thiện đó kéo dài suốt cả ngày không, hay chỉ năm phút, 10 phút hay chỉ trong khoảnh khắc?

Bạn nhỏ 2Dạ chỉ trong khoảnh khắc thôi ạ

Sarah: Vậy N. và Q., liệu chúng ta có thể nói rằng chỉ có các tâm thiện, tâm bất thiện, những khoảnh khắc của suy nghĩ theo cách tốt lành hay bất thiện diễn ra suốt cả ngày mà không có N., Q. nào hết, đúng không?

Bạn nhỏ 2Vâng ạ

Sarah: Đó chính là thiện giới và ác giới, chứ không phải là một con người nào cả, không phải là N., Q., Khun Sujin, Jonothan, mà chỉ là những khoảnh khắc tâm khác nhau sinh và diệt phải không?

Bạn nhỏ 2Vâng ạ

SarahCảm ơn hai bạn

Vị sưRõ ràng trong đời sống hàng ngày ta vẫn phải sử dụng tục đế, rằng đây là cha, là mẹ, là con… Như có vị sư vào chùa nghĩ rằng đây chỉ là ngũ uẩn nên không chào hỏi ai cả. Như vậy, một mặt ta hiểu về vô ngã, mặt khác ta vẫn phải dùng tục đế để không đánh đồng hết với nhau.

SarahNếu ai đấy cho rằng tất cả chỉ là pháp chân đế, chỉ là ngũ uẩn mà không có sự khiêm nhường, cung kính hay tôn trọng người khác thì chắc chắn đó là hiểu biết sai, là tà kiến.

Achaan SujinVậy hãy quay về với chủ đề pháp chân đế và pháp chế định. Liệu cái thấy có phải là mẹ hay là con không? Đức Phật đã dạy về các pháp chế định, mà thực chất chúng thống nhất với pháp chân đế. Con rắn có mẹ không?

Vị sưNếu về mặt chân đế thì không có, nhưng về mặt tục đế thì có

Achaan SujinThế con người thì sao?

Vị sưCũng vậy thôi

Achaan SujinVậy sự khác biệt giữa mẹ rắn và mẹ con người là gì?

Người tham dựCon nghĩ, ở con người sẽ có suy nghĩ đây là người mẹ còn con rắn thì không có suy nghĩ ấy. Cái thấy, cái nghe thì không hiểu đâu là mẹ, đâu là con, nhưng ở con người thì có suy nghĩ và suy nghĩ có thể nghĩ đây là mẹ, đây là con. Sự khác nhau là ở suy nghĩ.

Achaan SujinTheo tục đế, chúng ta có các khái niệm cha mẹ, chư thiên, thầy giáo, v.v… Còn về mặt chân đế thì sao? Có gì khác ngoài tâm, tâm sở và sắc không? Vì thế cần phải có hiểu biết về pháp chân đế đằng sau các pháp chế định đó. Có tâm thiện và tâm bất thiện, dù là mẹ hay con, và đó là sự thực tuyệt đối.

Người tham dựVâng, vì thế tôi không thấy có gì mâu thuẫn ở đây, giữa hai pháp chân đế và tục đế. Chỉ khác nhau ở chỗ, khi ta nói về pháp chân đế vì có suy nghĩ và đối tượng của nó, bản thân suy nghĩ cũng là một pháp, nó sinh khởi rồi diệt đi, như khi nghĩ “đây là mẹ” thì cũng chỉ nghĩ trong một thời điểm mà không thể suốt cả ngày được. Nói vậy để thấy việc học về các pháp chân đế không có gì mâu thuẫn để hiểu về tục đế.

Người hỏiCon muốn hỏi thêm về giới. Ban nãy cô Sarah nói mục đích của giới là không làm tổn hại đến người khác. Vậy trừ việc sát sinh, các việc khác như nói dối vô hại, uống rượu nhưng chưa gây hại ai, hoặc như lấy đồ vật mà biết rằng người ấy không bận lòng lắm thì khi đó việc phạm giới nên hiểu thế nào ạ?

JonothanCó những lời nói dối mà ta cho là vô hại, nhưng thực chất vẫn gieo mầm mống bất thiện. Người nói dối có thể biện minh đó là cách để giúp ai đó, nhưng ở phương diện người nghe thì họ vẫn phải nghe những lời nói dối đó. Vì vậy, dù được gọi là lời dối vô hại thì nó vẫn có hại như những lời nói dối khác. Nếu có hiểu biết rõ ràng hơn về tâm, ta sẽ biết ở khoảnh khắc nói dối gọi là vô hại đó, tâm vẫn có tính chất lừa lọc như các trường hợp nói dối thông thường khác. Khi ấy, ta lại đang nghĩ về những câu chuyện“người giữ giới” thay cho khoảnh khắc hiện tại. Vì sự thật là chúng ta đã tích lũy rất nhiều bất thiện pháp từ các kiếp quá khứ, và chỉ một vị thánh Dự lưu và các bậc thánh cao hơn mới có thể giữ ngũ giới một cách trọn vẹn. Xét về dài hạn, không phải việc mong muốn hay quyết định giữ trọn vẹn ngũ giới là quan trọng, mà chính sự phát triển hiểu biết để tận diệt những phiền não – là nguyên nhân dẫn đến phạm giới mới là yếu tố then chốt.

Trước thời Đức Phật, có nhiều người đã phát triển thiện pháp an tịnh (samatha) ở mức độ cao. Ở những người đó, triền cái bị đè nén, nhưng chúng chưa bị tận diệt. Đến thời điểm nào đó, những tích lũy thiện pháp để chứng đắc tầng thiền và phát triển sự an tịnh bị mất đi thì khi ấy, những xu hướng bất thiện ngủ ngầm sẽ lại làm duyên cho các ác giới cũng như việc phạm giới sinh khởi. Trong trường hợp giới uống rượu và các chất say, như hôm trước ta đã nói, việc phạm giới này sẽ dẫn đến việc phạm bốn giới còn lại. Những người say rượu dễ bị mất đi tàm (ghê sợ tội lỗi) và quý (hổ thẹn tỗi lỗi). Tuy nhiên, việc lưỡng lự nên làm việc này hay việc kia cũng còn tùy thuộc vào tâm là thiện hay bất thiện ở khoảnh khắc đó. Khi nói đến tránh xa tội lỗi là đang nói đến sự xa lìa tội lỗi một cách thiện lành, mà ta gọi là “tiết chế”. Ở góc độ đó, giới thứ năm này cũng liên quan đến việc làm hại người khác. Vì người có thói quen uống rượu sau đó sẽ mất khả năng kiểm soát và có thể làm hại người khác. Từ sự quan sát của bản thân, chúng ta có thể thấy có những người uống rượu ít trong một thời gian dài và ban đầu thì không thấy có vấn đề gì, nhưng sau một thời gian thì họ đã bị nghiện và hậu quả xấu xảy ra.

SarahCó những lúc ta có thể mượn áo của một người bạn và biết rằng người ấy sẽ không bận tâm về việc đó, hay trong tình huống khẩn cấp ta nghĩ mình có thể mượn thuốc của bạn và sẽ trả lại họ sau đó. Nếu một người bên ngoài nhìn thấy, họ có thể cho rằng người ấy đang ăn cắp áo hay thuốc của bạn, nhưng chỉ bản thân mình mới biết được mình có ý định mượn áo và sẽ trả lại bạn hay không. Như vậy điều cốt yếu ở đây chính là tính chất của tâm, có ý định làm hại ai hay không. Cách duy nhất biết được điều đó là phải biết được tâm ở những khoảnh khắc ấy. Đối với việc uống rượu, nó sẽ dẫn tới việc phạm bốn giới còn lại, đều là những bất thiện pháp ở cường độ mạnh, và đó đều là phạm giới hay ác giới. Uống rượu thì khác với bốn giới còn lại- những trường hợp mà ta có thể thấy rất rõ tâm bất thiện trong đó. Uống rượu, chỉ khi trở thành thói quen hoặc làm duyên cho sự phạm giới khác hay làm hại người khác, mới được coi là phạm giới uống rượu.

Người tham dựTôi muốn bổ sung điều này. Khi nói đến giới và làm hại người khác thì đó chỉ là nói ở khía cạnh chế định thôi. Còn xét ở khía cạnh chân đế, việc phạm giới hay giữ giới có thể được xem xét ở việc nó sẽ mang đến quả về sau. Ví dụ như việc không giữ giới sát sinh sẽ mang đến tâm tử cho mình hoặc người khác…. Tương tự như vậy, hành vi uống rượu cũng mang đến quả bất thiện đối với người ngoài hoặc bản thân mình. Đó chính là ý nghĩa của câu không có ai giữ giới mà chỉ có các pháp giữ giới mà thôi.

JonothanÍt nhất sẽ có sự tích lũy xu hướng làm hại người khác. Thực chất, xu hướng bất thiện đã được tích lũy trong tâm và nó làm duyên cho sự phạm giới. Đôi khi có thể thấy rõ rằng những việc làm bất thiện sẽ gây tổn hại đến người khác, nhưng đôi khi lại không. Như trong trường hợp ai đó lấy đi một món đồ không có giá trị từ một người giàu có đến mức gần như người giàu có đó không bị tổn hại chút nào, thì điểm mấu chốt chính ở đây vẫn là ý định lấy đi vật thuộc về người khác – đó chính là tâm bất thiện, nó chính là nghiệp đạo, là nghiệp cho quả về sau. Người làm việc đó đang tích lũy xu hướng tạo tiếp nghiệp bất thiện đó về sau. Đó là một khía cạnh nữa về giới.

Vị SưGiới thứ năm này rất rộng, không chỉ nói riêng về rượu mà còn nói về các chất say. Như có trường hợp người chồng nghiện ăn ớt nặng và có một bữa chiều người vợ không mua ớt cho ông, ông đã lấy cái chày đập vào đầu vợ.

Cô tu nữCô đồng ý sự giải thích của các vị về giới thứ năm này. Nhưng cô xin bổ sung, Đức Phật ban hành giới này vì thứ nhất, uống rượu có hại cho sức khỏe của bản thân, thứ hai uống rượu làm cho tâm trí người uống rượu bị lu mờ đi và đó chính là nguyên nhân làm mất đi hạt giống trí tuệ ở các kiếp sau.

SarahĐúng vậy, tôi hoàn toàn đồng ý việc uống rượu dẫn đến việc phạm vào các giới khác, và nó làm cho tâm trở nên dễ duôi, giảm khả năng phát triển trí tuệ. Chúng ta cũng biết rằng trong kinh có đề cập đến một người có khả năng giác ngộ nhưng vì uống rượu mà người này đã hoàn toàn bị mất đi cơ hội đó. Tuy nhiên điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là dù giữ giới hay phạm giới, dù nói dối gây hại hay vô hại… thì tất cả đều là pháp, do duyên tạo thành. Như bé N. đã nói, mỗi tâm đều không phải là con người, là tự ngã mà chỉ là một pháp do duyên sinh khởi rồi diệt đi; không phải là người có cư xử đúng đắn hay sai trái mà bản chất chỉ là các tâm, tâm sở sinh và diệt do những duyên khác nhau. Ai đó có thể cảm thấy hài lòng khi mình giữ được giới không sát sinh, không uống rượu…, nhưng chừng nào trí tuệ chưa phát triển đến mức độ của bậc Dự lưu thì những xu hướng bất thiện ngủ ngầm được tích lũy vẫn còn đó để có thể làm duyên cho việc phạm giới về sau. Và chỉ có sự phát triển hiểu biết về các pháp chân đế như chúng ta đã nói rất nhiều mới có thể tận diệt được những xu hướng bất thiện ngủ ngầm và làm những điều sai trái tổn hại đến người khác. Chính vì vậy những gì chúng ta đã thảo luận vừa qua, về các pháp, về cái thấy, cái nghe, đối tượng thị giác, âm thanh… là để hiểu biết về vô ngã có thể tăng trưởng dần dần cho đến khi có thể tận diệt hoàn toàn các phiền não ngủ ngầm.

Với điều một bạn vừa đề cập, khi nói đến phạm giới với bản thân hay người khác, mấu chốt không phải là làm tổn hại người khác mà chính là làm tổn hại cho bản thân. Việc tâm tử của một người sinh khởi không phải do hành động của mình mà là do nghiệp của người kia đã đến lúc trổ quả để tâm tử sinh khởi. Mặc dù mỗi pháp sinh khởi đều cần nhiều duyên khác nhau, nhưng bất cứ những gì xảy ra trong cuộc đời chúng ta, dù tốt hay xấu thì đều là quả của nghiệp của chính bản thân mình.

Người hỏiCon muốn hỏi về giới tà dâm. Khi một người phạm giới tà dâm nhưng người bạn đời của họ không biết thì sẽ như thế nào, khi ấy nếu xét ở khía cạnh chân đế thì việc tham dục sẽ chỉ là tham chứ không có sự phân biệt đây là người bạn đời của mình hay người khác?

SarahCũng giống như với các giới khác, vì bất kể người bạn đời của người đó có biết hay không thì ở phương diện của người phạm giới tà dâm, người đó vẫn có ý muốn phản bội, lừa dối… tức là đã đủ các chi khác nhau để cấu thành phạm giới. Trong trường hợp đó, người phản bội sẽ không nói với người bạn đời của mình vì biết rằng người bạn đời của mình sẽ đau khổ, và vì vậy sẽ dẫn đến việc nói dối và nhiều việc xấu khác tiếp theo.

Vị sưKhi người chồng quan hệ với người vợ mà người vợ không chịu, còn người chồng vẫn cưỡng ép, như vậy có phạm giới tà dâm không?

SarahVề mặt định nghĩa, để phạm giới tà dâm phải thành tựu đủ các chi, trong đó có chi có ý định tà dâm với người không được cho phép [thuộc một trong hai mươi đối tượng không được cho phép, vợ mình không thuộc một trong số các đối tượng này- VDH]. Nhưng có một điều chắc chắn là khi ấy có ác giới, hay tâm bất thiện làm tổn hại người khác. Chỉ có Đức Phật mới hiểu được tường tận chi tiết vì trong đó có nhiều ý khác nhau. Tôi nghĩ chúng ta thích suy đoán liệu cái này có phạm nghiệp đạo không và kết quả ra sao, ta nghĩ chủ đề ấy rất thú vị và muốn thảo luận nữa… nhưng như vậy rất dễ đưa chúng ta ra khỏi thực tại. Chúng ta có thể nghĩ cứ nói về Pháp – như hiện giờ đang nói về giới – thì đều là thiện pháp, nhưng nếu không có hiểu biết về cái đang xuất hiện ở khoảnh khắc hiện tại thì không ai có thể nói đó là thiện hay không. Vì ở khoảnh khắc này không có sát sinh, tà dâm, trộm cắp… nên những gì ta đang nói đến đều không sinh khởi ở hiện tại, và như vậy đều chỉ là suy đoán mà thôi.

Hiện giờ đang có cái thấy, đối tượng thị giác được thấy. Hiện giờ lửa đang cháy (ngọn lửa của tham, sân, si, sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não – theo tinh thần bài kinh “Lửa cháy” – Adittapariyaya, Tương Ưng Bộ Kinh,Tập IV, 35-28 – VDH) và ta đang có cơ hội để phát triển biết. Vì không có khoảnh khắc nào ngoài khoảnh khắc hiện tại. Hiện giờ chỉ có một thế giới xuất hiện trong một khoảnh khắc ngắn ngủi mà thôi. Con đường của Đức Phật là con đường nghiên cứu, tìm hiểu về thế giới xuất hiện ở khoảnh khắc này. Chính sự phát triển hiểu biết về thực tại hiện giờ – như cái thấy và đối tượng thị giác, âm thanh hiện giờ – là con đường đưa đến hiểu biết ở những khoảnh khắc khác, hoàn cảnh khác về sau.

Achaan SujinCho dù chúng ta có nói bao nhiêu đi nữa về các tình huống và con người khác nhau, về giới, về định, về tuệ mà không có hiểu biết về các pháp chân đế đang hiện khởi, thì vẫn có nghĩa là chưa có hiểu biết về Giáo lý của Đức Phật. Cho dù là giới ở mức độ nào thì vẫn phải có một thực tại đang biểu hiện. Pháp chân đế hiện giờ không hề được nhận biết, cho đến khi được nghe Giáo lý của Đức Phật và suy xét về những gì Ngài dạy, dù chỉ một từ thôi. Ta không cần phải đi đâu để tìm giới trong tình huống nào đó. Bất cứ khi nào có tâm thì khi đó có giới, ngay cả hiện giờ. Khi tâm là bất thiện thì có thể có giới là thiện không? Vì vậy không cần nghĩ đến giới ở khía cạnh chế định. Hiểu về những gì xuất hiện hiện giờ chính là cách hiểu rõ hơn về giới. Ở khoảnh khắc hiểu đúng về cái thấy hiện giờ thì còn giá trị hơn bất cứ con số giới bổn nào, dù là 5, 8 hay 227 giới, vì ở khoảnh khắc đó có sự thu thúc lục căn. Vì vậy, nếu chỉ nghĩ về giới theo nghĩa chế định, sẽ không bao giờ hiểu được bản chất của giới là vô ngã, giống như cứ nói mãi về một người mà ta chưa bao giờ gặp. Nếu không có Giáo lý của Đức Phật, những gì mình được biết đều không thể được hiểu là vô ngã, dù đó là thiện giới, ác giới hay vô ký giới. Đó chính là ở khoảnh khắc hiện giờ.

Bây giờ đang nghe Pháp và có hiểu biết đúng đắn, liệu có sát sinh, trộm cắp không, có tâm bất thiện không? Vậy ta có thể hiểu rõ hơn về nguyên nhân và thực tính của thực tại là giới. Nếu không có hiểu biết thì giới không thể được thanh lọc. Có nhiều từ liên quan đến giới, ví dụ như “thanh tịnh giới”. Khi chỉ có sự giữ giới đơn thuần mà cho là “mình” giữ giới thì không có sự thanh tịnh giới. Nếu chỉ đơn thuần giữ giới mà không hiểu giới là vô ngã thì chưa phải là điều cốt yếu. Khi hiểu hơn lời dạy của Đức Phật, ta sẽ biết sự khác biệt giữa Giáo lý của Ngài với lời dạy của những người khác, dù ở bất kỳ khía cạnh nào.

Hãy tiếp tục nghe và tìm hiểu Giáo lý, vì Giáo lý vô cùng thâm sâu, nhưng nó vẫn có thể được tìm hiểu và hiểu được. Nếu không có sự tìm hiểu Giáo lý một cách cẩn thận, từng từ một, từng thực tại một, ta sẽ không bao giờ hiểu pháp chân đế nghĩa là gì. Giáo lý của Đức Phật có thể được nghiên cứu ở chính khoảnh khắc này, khoảnh khắc của thấy, nghe, ngửi, nếm. Nếu không sẽ không thể hiểu được cuộc đời, dù vui buồn, đau khổ, bất hạnh… vẫn chỉ là các pháp chân đế mà thôi. Điều đó đã được dạy bởi chính Đức Phật. Dù là khoảnh khắc sinh ra hay chết đi, chúng chỉ có thể sinh khởi khi có đủ duyên cho chúng sinh khởi, như hiện giờ. Sẽ không thể có được hiểu biết rằng “không phải tôi giữ giới” hay “giữ giới không phải là tôi” khi không có hiểu biết về các pháp chân đế. Bằng sự giác ngộ của Đức Phật, Ngài đã dạy cho chúng ta về toàn bộ sự thật –Giáo Pháp, để chúng ta hiểu được sự thật của những gì đang xuất hiện, cho đến khi có được sự tin tưởng vững vàng, chắn chắn ở những gì ngài dạy, rằng bất cứ cái gì xuất hiện trên đời này đều chỉ là các pháp chân đế.

 

 

Pháp đàm tại Sài gòn, sang ngày 03/01/2016

 

                Người hỏi: Theo cách lý giải của Bà về Giáo lý, như vậy đã đủ chưa? hay cần phát triển thêm như giữ giới, hay thọ đầu đà để trải nghiệm cái khổ của pháp. Con cảm thấy cách của Bà có vẻ thụ động vì chúng ta không thể kiểm soát được điều gì cả.

                Jonothan: Những gì chúng ta đang bàn tới đây là Giáo lý của Đức Phật. Chúng tôi luôn tham chiếu đến những Kinh điển mà chúng ta đã có. Câu hỏi đặt ra là: Cốt lõi Giáo lý của Đức Phật là gì? Đâu là Giáo lý của Đức Phật mà không ai từng thuyết giảng trước Ngài? Trước khi Đức Phật ra đời và giác ngộ, con người đã biết về giới, về bố thí, về sự phát triển an tịnh-samatha. Khi đó đã có hiểu biết về cách thức phát triển tâm an tịnh đến một mức độ cao, đó là các tầng thiền. Tuy nhiên, khi đó không có hiểu biết rằng, không phải là một tự ngã làm những công việc đó mà chỉ là các pháp đảm nhận chức năng của chúng mà thôi. Tất nhiên chúng ta có thể nói đến những mức độ thiện pháp khác như bạn đề cập đến, tuy nhiên mức độ thiện pháp cao nhất chính là trí tuệ thấy được các pháp là vô ngã. Khi nói đến sự phát triển hiểu biết về các pháp là vô ngã, chúng ta cũng có thể đề cập đến các yếu tố như bố thí, trì giới hay phát triển sự an tịnh, giống như Đức Phật đã làm trong nhiều bài Kinh. Nhưng, thông điệp của Đức Phật không chỉ đơn thuần dừng lại ở bố thí, trì giới và phát triển an tịnh, cốt tủy của thông điệp ấy là phát triển hiểu biết về các pháp là vô ngã.

            Người hỏi: Con biết có ba loại phước: phước đức và phước vật, và quan trọng nhất là phước trí. Chư thiên có phước đức và phước vật nhưng không có phước trí, vì thế Đức Phật đã dạy cho họ Vi Diệu Pháp để họ có phước trí. Theo con được biết thì Đức Phật không giảng Vi Diệu Pháp cho con người bởi vì con người thiếu cả phước đức, phước vật cùng với phước trí. Do vậy Đức Phật xây dựng Tăng đoàn và Giới Luật để dành cho người thế gian để họ có cơ hội tạo hai loại phước đức và phước vật. Điều nữa là, có phải cốt tủy của Vi Diệu Pháp là nhận ra các pháp để không dính mắc vào nó, vẫn dùng nó thực hành những lời Phật dạy nằm trong tục đế, dùng tục đế nhưng bên trong vẫn là chân đế?

            Sarah: Trước hết chúng ta hãy nói về pháp chân đế. Tất cả những gì tồn tại trong cuộc sống này chỉ là các tâm, tâm sở và sắc sinh khởi và diệt đi. Dù chúng ta đọc trong Tạng Kinh hay Tạng Vi Diệu Pháp thì trong đó đều nói về các pháp chân đế này. Các pháp chân đế là vô cùng thù thắng, vi tế nên được gọi là vi diệu pháp hay thắng pháp. Nói đến giới, về bản chất giới (sila) cũng là tâm, tâm sở và sắc. Đức Phật đã dạy rằng tất cả đều là pháp, khoảnh khắc thấy chỉ là pháp, khoảnh khắc nghe cũng chỉ là pháp, vì vậy khi Đức Phật nói về giới, Ngài cũng chỉ nói về các pháp mà thôi. Câu hỏi của tôi đặt ra là: hiện giờ có giới hay không? Và câu hỏi thứ hai: Nếu hiện giờ có giới thì giới là pháp chân đế nào? Bởi lẽ, nếu chúng ta không đi vào chi tiết thì chúng ta có thể nói: lúc đến chùa, hay lúc tụng lên câu thọ giới là mình đang có giới, nhưng chúng ta có hiểu một cách thực sự về từ “giới” mà Đức Phật đã giảng một cách chi tiết không?           

            Giới có thể là thiện, là bất thiện hoặc vô ký. Giới là hành xử của tâm, nó chỉ tới phẩm chất của tâm. Ở khoảnh khắc này, khi có sự suy xét chân chánh thì tâm là thiện và đã có giới ở đó rồi. Nếu ta nghĩ rằng phải đi đến một nơi khác để có thể có giới, thì đó là cái hiểu không đúng, vì khi ấy ta quên mất cuộc sống trong khoảnh khắc hiện tại. Đức Phật cũng giảng về ác giới nữa, trong Giới Luật của tỳ kheo cũng có nhiều mô tả chi tiết về những hành xử không đúng đắn và Đức Phật gọi đó là ác giới, đó là lý do Đức Phật chế ra Giới Luật cho các vị tỳ kheo. Ở khoảnh khắc này nếu chúng ta cảm thấy chán nản, khó chịu, ở đó đang có ác giới.

Thiện giới hay ác giới chỉ có thể được biết trong khoảnh khắc hiên tại và chỉ có thể biết nhờ hiểu biết đúng. Nếu ta không có hiểu biết đúng mà cho rằng cứ khi nào tới chùa chiền hay khi đọc câu tụng giới là có giới, chứng tỏ không có hiểu biết đúng về bản chất của tâm. Khi chúng ta đi thăm chùa hay trong lúc tụng giới, về bản chất vẫn luôn luôn là các tâm sinh và diệt, tiếp nối nhau một cách nhanh chóng. Khi hiểu không đúng về cái được thấy hiện giờ, khi đó cũng có ác giới-akusala sila. Với loại giới thứ ba, giới vô ký, những giới này chỉ áp dụng cho các vị A la hán, vì các vị đã tận diệt vô minh không còn nhân của thiện và bất thiện nữa, cho nên với các vị mới có giới vô ký.

Dù Đức Phật đề cập đến bất cứ điều gì trong Tạng Kinh, tạng Vi Diệu Pháp hay Tạng Luật thì điều Ngài nói đến luôn luôn là các pháp. Vì Đức Phật đã giác ngộ về các pháp, đó là trí tuệ của Ngài, đó là điều khiến Ngài là bậc giác ngộ, còn chúng ta có hiểu được điều đó hay không thì tùy thuộc vào tích luỹ hiểu biết của mỗi người.

            Nina: Như Sarah đã nói, dù Đức Phật nói tới giới hay bố thí thì Ngài cũng luôn luôn đề cập tới các pháp là vô ngã. Bố thí hay trì giới thì cũng là pháp, là vô ngã, chúng luôn sinh khởi phụ thuộc vào duyên, không con người nào ở đó, không ai có thể làm gì cả. Khi hiểu được điều đó thì giới và bố thí sẽ bớt ô nhiễm hơn, thanh tịnh hơn. Khi đó sẽ bớt sự dính mắc, bớt mong muốn kết quả từ những việc thiện, bớt mong muốn có được quả của nghiệp thiện cho bản thân mình, bớt mong muốn lợi dưỡng cho bản thân mình. Và chỉ khi đó những cái gọi là bố thí, trì giới mới có thể trở thành các ba la mật như Đức Phật đã dạy. Đức Phật đã giảng về mọi phương thức của thiện pháp, nhưng tất cả phương thức thiện pháp đó đều phải đi kèm với hiểu biết đúng thì mới được gọi là các Ba la mật. Chúng ta không nên lơ là bất cứ loại thiện pháp nào trong mười ba la mật, chúng ta nên phát triển cả mười ba la mật.

            Người hỏi: Cô Sarah có thể cho ví dụ về sila tại khoảnh khắc này?

            Sarah: Như đã giải thích, sila (giới) nghĩa là sự hành xử hay tính chất của tâm. Ở bất cứ khoảnh khắc của thiện pháp nào, chẳng hạn hiện giờ có suy xét về bản chất của giới thực sự chỉ là pháp mà thôi, không phải là một tự ngã đang giữ giới, vậy ở khoảnh khắc đó có kusala sila- thiện giới. Tôi nhận thấy, ở đây có nhiều khoảnh khắc mọi người giúp đỡ lẫn nhau, chẳng hạn chuyển micro cho thính giả, hay phục vụ nước uống. Ở tất cả những khoảnh khắc có sự quan tâm chăm sóc tới nhau như vậy đều có thể có thiện giới. Tuy nhiên, thông thường chúng ta chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài, cho rằng khi mọi người chia sẻ giúp đỡ nhau như vậy là có tâm thiện, nhưng thực chất để biết được rằng tâm thiện có thực sự sinh khởi ở khoảnh khắc đó hay không, thì không có cách nào khác là thông qua sự phát triển hiểu biết, chỉ có trí tuệ mới có thể biết được tính chất của tâm ở khoảnh khắc đó. Nếu không có hiểu biết đúng, chúng ta sẽ luôn luôn suy đoán về con người và những tình huống, chẳng hạn chúng ta thấy người này đi chùa nhiều thì phỏng đoán đây là người có giới, v.v… nhưng thực chất thế nào thì còn tuỳ thuộc.

Trước buổi pháp đàm, một đạo hữu kể rằng anh ấy có một con cún và nó bị bọ chét. Vì không muốn giết bọ chét, anh đành mang con cún tới bác sỹ để bác sỹ giết những con bọ đó, và hỏi tôi rằng như thế có đúng không? Tôi đã nói rằng, sẽ rất khó để nói xem liệu tâm nào đã sinh khởi, liệu tình cảm của anh ấy với chú chó là sự thương mến, mong muốn tốt đẹp cho nó, hay chỉ là sự dính mắc? Liệu khi đến gặp bác sỹ là với tác ý là để bác sỹ giết con bọ hay không? Tất cả những điều đó tôi không thể biết được từ bên ngoài, mà tất cả đều phải do trí tuệ, chỉ trí tuệ mới biết được tính chất của tâm. Như chúng tôi nói từ đầu, nếu không có sự phát triển hiểu biết đúng, sẽ có rất nhiều khoảnh khắc của bất thiện pháp, của ác giới, nhưng lại cho rằng đó là thiện giới, nhưng nếu có hiểu biết nhiều hơn thì sẽ thấy rằng ác giới sinh khởi nhiều hơn thiện giới rất nhiều, và tốt hơn là chúng ta nên biết điều đó.

 

 

Pháp đàm tại Nha Trang, chiều ngày 04/04/2016

Người hỏi: Con là nhân viên phục vụ tại đây. Theo con được biết thì những người theo Phật giáo phải là những người ăn chay, hạn chế sát sanh. Vậy tại sao buổi trưa ở đây con lại thấy có người ăn chay và có người ăn mặn?

Sarah: Ở khoảnh khắc ta ăn thức ăn ở trên bàn như cá hay thịt, có con vật nào bị giết không? Việc gì đơn giản và nhu nhuyến hơn: chấp nhận ăn bất cứ thứ gì có ở đó, hay nói rằng tôi là người theo đạo Phật nên tôi chỉ ăn chay mà thôi? Lúc nãy chúng ta có nói đến tâm sở tư, nó là tác ý hay ý định, và ý định của mình là gì mới là điều căn bản. Ở khoảnh khắc ta ăn hay uống món đồ đã được người khác chuẩn bị cho chúng ta, chúng ta có làm hại ai hay không mới là điều quan trọng. Bản thân Đức Phật có lựa chọn hay từ chối những thực phẩm hay những gì mà người khác dâng cúng hay không?

Achaan Sujin: Đức Phật có phải là người ăn chay không? Các bạn có biết rõ không?

Jonothan: Đức Phật dạy về những loại tâm khác nhau sinh khởi trong cuộc sống, trong đó có những khoảnh khắc của tâm thiện cũng như tâm bất thiện, và Ngài cũng dạy cho chúng ta về những việc làm có thể cho quả trong tương lai. Việc lấy đi mạng sống của chúng sinh khác bị thúc đẩy bởi tâm bất thiện. Tâm bất thiện đó có thể làm duyên cho việc tái sinh ở nơi khổ cảnh trong tương lai. Nhưng trong khi chúng ta ăn thì tâm không nhất thiết luôn là bất thiện. Khi chúng ta ăn thức ăn, bất kể thức ăn đó là gì, thì không tạo ra bất thiện nghiệp nào đủ sức mạnh để đưa tới quả như trong trường hợp ta cướp đi mạng sống của một chúng sinh khác. Vì vậy cần luôn luôn quay trở về với việc hiểu biết tính chất của tâm ở trong mỗi khoảnh khắc, thay cho suy nghĩ về một câu chuyện dài về những gì đang xảy ra. Bởi khi ăn, có thể ta ngồi tưởng tượng rằng cái hiện giờ đang ở trên cái đĩa này đã từng là một con vật trước đó. Nhưng đó chỉ là suy nghĩ, và có thể suy nghĩ đó sinh khởi với tâm sân. Suy nghĩ đó khác hẳn với khoảnh khắc ta tước đoạt mạng sống của chúng sinh đó.

Sarah: Achaan Sujin vừa đưa cho tôi một vài tham chiếu trong Kinh điển, ở đó có nói về Đức Phật Thích Ca và các chư Phật quá khứ đều là người ăn thịt. Tôi không nhớ được chi tiết của những bài đó, chúng ta có thể tìm hiểu sau, nhưng tôi muốn chia sẻ một câu chuyện khi tôi mới gặp Achaan Sujin. Khi mới gặp Achaan Sujin, tôi đang là một người thuần ăn chay và tôi rất tự hào về điều đó. Buổi đầu tiên đó, chúng tôi được mới tới ăn tối tại một gia đình người Sri Lanka, gia đình họ đã chuẩn bị rất nhiều những món ăn khác nhau, những món cà ri và nhiều món khác được đậy lại bởi những tấm phủ. Rồi tôi nhận ra rằng trong tất cả các món đó đều có thịt, bởi thịt được coi là thực phẩm hảo hạng nên gia đình đã chuẩn bị những món ăn đó để thết đãi khách. Achaan Sujin ngồi cạnh tôi và bà đã gắp thức ăn vào đĩa của tôi, mỗi thứ một miếng, tất cả những món có ở trên bàn. Tôi nói với Achaan Sujin rằng con sẽ không ăn đâu, bởi vì món ăn có thịt và con là người ăn chay. Bà đã nói với tôi: “Sarah, con hãy ăn đi, hãy bày tỏ sự từ ái với những người gia chủ đã thết đãi chúng ta, điều đó quan trọng hơn là những ý tưởng con đang ôm ở trong đầu”. Achaan Sujin nói rằng “hãy sống một cách đơn giản và hãy hài lòng, nhu nhuyến với những gì mình có trong hoàn cảnh mình có, điều đó quan trọng hơn là ôm ấp những ý niệm mà mình cho là quan trọng”. Và từ sau đó thì tôi không còn là người ăn chay nữa.

Jonothan: Chúng ta cũng đều biết câu chuyện của Đề-bà-đạt-đa đề xuất với Đức Phật về việc quy định ăn chay trong Tăng đoàn và Đức Phật đã từ chối đề xuất đó.

Người hỏi: Nhân chủ để ăn chay và ăn mặn, con cũng xin quý vị làm rõ thêm cho con một ý. Con rất hoan hỷ với câu trả lời của mọi người, nhưng đó là dưới góc độ của những người thọ nhận thức ăn, quý sư và quý sư cô. Còn đối với những người hỏi, những người làm nên món ăn để cúng dường cho qúy sư và những người khác thì nên như thế nào?

Sarah: Chắc chắn sát sinh là bất thiện bởi nó là tác ý làm hại, cướp đi mạng sống của chúng sinh khác. Đức Phật đã dạy về tam tịnh nhục:ta không nên ăn những món thịt mà ta biết rằng có chúng sinh đã bị giết cốt để cúng dường cho ta. Khi ta chuẩn bị thức ăn để cúng dường cho quý sư hay thết đãi bạn bè, ta có thể chuẩn bị thức ăn dưới dạng cá, thịt hay rau, miễn là không có việc sát sinh ở đó. Vậy điều cốt lõi vẫn là quay trở về với tác ý nào sinh khởi ở trong tâm.

Người hỏi: Con vẫn chưa được rõ về điều đó. Ví dụ như trong cuộc sống thường ngày của một gia đình, nếu họ muốn sống theo đúng thiện pháp thì họ phải ăn chay hay ăn mặn?

Jonothan: Đức Phật không nói rằng mọi người phải ăn chay hay phải ăn mặn. Ngài dạy chúng ta về các thực tại để hiểu trong khoảnh khắc hiện giờ. Và Ngài cũng đã thuyết giảng cho chúng ta về những quả khác nhau tới từ những nhân khác nhau. Ngài cũng dạy rằng sát sinh là bất thiện nghiệp, Ngài cũng dạy rằng, ngoài sát sinh là bất thiện nghiệp thì có nhiều tâm khác cũng có thể là thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp. Khi ngồi ăn, mỗi người có thể sẽ tự biết là có tâm thiện hay bất thiện. Tâm làm việc sát sinh khác với câu chuyện mà ta nghĩ về khi nhìn vào món đồ ăn và tưởng tượng về nó. Nếu như chúng ta lẫn lộn hai điều đó thì chúng ta đang lẫn lộn giữa khái niệm và thực tại. Bởi vì ý niệm rằng “làm thế nào món thịt có mặt trên bàn này” chỉ là câu chuyện chứ không phải là thực tại. Nó khác với thực tế của những gì đang được thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm ở khoảnh khắc đó. Nó cũng giống như bây giờ, cái thấy rồi suy nghĩ, cái nghe rồi lại suy nghĩ về cái được nghe, suy nghĩ đó có thể là thiện hay bất thiện. Tất cả tùy thuộc vào tích lũy của mỗi người, chứ không phụ thuộc vào câu chuyện hay bối cảnh, hoàn cảnh khác nhau. Chúng ta không thể nói rằng bây giờ chúng ta đang ở pháp đàm nên tâm luôn luôn là thiện, sẽ có nhiều khoảnh khắc khác nhau, có khoảnh khắc là thiện và cũng có những khoảnh khắc lại là bất thiện. Cũng tương tự như vậy với việc ăn thức ăn và sát sinh, nó có sự khác nhau.

 

Pháp đàm tại Nha Trang, sáng ngày 06/04/2016

Người hỏi:  Ở Việt nam phổ biến có ba tín ngưỡng, Phật giáo, Khổng giáo và Thiên chúa giáo. Trong ba tín ngưỡng này có Phật giáo và Khổng giáo gần tương đồng, có khác là đạo Phật khuyên không sát sinh, Khổng giáo được dùng rượu và các loại thịt động vật. Xin các quý vị giải thích sự khác nhau đó như thế nào?

Sarah:  Mấy ngày trước ở đây chúng ta cũng đã đề cập tới chủ đề ăn chay và ăn mặn theo câu hỏi của một nhân viên của khách sạn có thắc mắc là tại sao chúng ta theo đạo Phật mà lại ăn thịt cá. Chúng ta biết rằng Đức Phật đã dạy rằng, quan trọng là ở tác ý. Câu hỏi đặt ra là khi chúng ta ăn món ăn là thịt hay cá thì có tác ý nào làm hại hay sát sinh hay không? Ta không có tác ý như vậy, thay vào đó chúng ta suy xét rằng nên ăn thứ gì đó cho thuận tiện và dễ dàng. Tuy nhiên, khi chúng ta đi câu cá để lấy cá về ăn, hoặc ra chợ yêu cầu người bán hàng giết mổ con gà hay con cá sống để ăn, thì khi đó có tác ý cướp đi mạng sống của một sinh vật. Chúng ta đọc trong bài Kinh Hôi Thối(Amagandha Sutta) nằm trong bộ Kinh Tập (Sutta Nipata), có nói về thời Đức Phật quá khứ Kassapa có vị bà la môn tên là Amagandha ăn chay, đến gặp Đức Phật và nói rằng việc Ngài ăn thịt sẽ tạo ra nghiệp xấu, tạo ra mùi hôi thối. Đức Phật đã nói rằng không phải việc ăn thịt tạo ra mùi hôi thối, mà là những nghiệp xấu sau: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối. Bài kinh như sau:

“Sát sanh và hành hình

Đả thương và bắt trói

Trộm cắp và nói láo

Man trá và lừa đảo

Giả bộ kẻ học thức

Đi lại với vợ người

Đây là đồ ăn thối

Ăn thịt không phải thối”

(Kinh Hôi Thối-Tiểu phẩm II, Kinh Tập, khổ 242)

Tóm tắt đoạn tiếp như sau: Có tà kiến, tàn ác, thô bạo, ích kỷ, hẹp hòi với người khác tạo ra sự hôi thối. Kiêu ngạo, hay ghen tỵ tạo ra mùi hôi thối. Sống vô đạo đức, không chịu trả nợ tạo ra mùi hôi thối. Trộm cắp của người khác tạo ra mùi hôi thối. Đức Phật Kassapa cũng dạy rằng ta không thể vượt qua vô minh nếu ta chạy theo tà kiến và những thực hành sai trái. Một trong những ví dụ về tà kiến khiến ta không thể vượt qua vô minh và hoài nghi là: cho rằng cần phải tránh ăn thịt, ở trần, bện tóc hay cạo tóc, hay phủ khắp người bằng tro, hay cúng tế lửa, v.v…Không có gì trong những thứ trên khiến ta có thể vượt qua mùi hôi thối.

Do sống hộ trì căn,
Với các căn nhiếp phục,
Vững trú trên Chánh pháp,
Thích chân trực, hiền hòa,
Vượt khỏi các tham ái,
Ðoạn tận mọi khổ đau,
Bậc trí không nhiễm dính,
Ðiều được thấy, được nghe.”

(Kinh Hôi Thối-Tiểu phẩm II, Kinh Tập, khổ 250)

Cách duy nhất để vượt qua được hoài nghi, vô minh và mùi hôi thối của các việc xấu là hiểu về các pháp. Khi nghe Đức Phật nhắc đi nhắc lại về những điều này, vị Bà la môn đó đã nhận ra được rằng mình đã theo những sự thực hành sai lầm. Vị ấy đã xuất gia theo Giáo Pháp của Đức Thế Tôn. Điều khác biệt rất lớn giữa đạo Phật và các tôn giáo khác là việc nhấn mạnh đến yếu tố tâm và tác ý đằng sau đó. Chỉ trí tuệ mới có thể biết được ở một khoảnh khắc cụ thể có tác ý làm hại hay không. Nói một cách khác, không phải vẻ bên ngoài của hiện tượng là quan trọng, mà thực chất chính tâm sinh khởi ở mỗi khoảnh khắc mới là điều cốt yếu. Chính vì lẽ đó mà chúng ta tìm hiểu về các pháp sinh khởi trong khoảnh khắc hiện tại để có thể hiểu hơn về cuộc sống trong chính giây phút này. Cũng giống như vị bà la môn, bằng việc nghiên cứu các pháp hiện tại, chúng ta hiểu thêm rằng, phát triển trí tuệ không là việc thực hành theo thế này hay thế kia, làm điều này hay điều kia theo lời một vị thầy, mà là hiểu đúng các pháp hiện khởi, rằng đó chỉ là pháp mà thôi, không phải là ta, không phải là tự ngã, hay bất cứ con người nào cả.

 

Pháp đàm tại Nha Trang, sáng ngày 06/04/2016

Người hỏi: Xin Bà giải thích rõ hơn về Giới Luật Đức Phật dạy cho các vị tu sỹ.

Achaan Sujin: Chúng ta biết rằng bất kỳ từ nào được nghe thì đều chỉ tới thực tại. Như vậy, khi chúng ta nghe nói về Giới Luật, tiếng Pali là Vinaya, thì cần phải biết nó chỉ tới thực tại là thiện hay bất thiện. Vậy, ý nghĩa của từ “Vinaya”- Giới Luật có nghĩa là gì? Là tận diệt phiền não – cho dù người đó là tu sỹ, tăng, ni, hay cư sỹ. Khi chưa từng được nghe về những gì Đức Phật dạy, chúng ta cho rằng mình đã biết rất nhiều, và không thể tưởng tượng được những lời dạy của Đức Phật thâm sâu đến thế nào. Mỗi lời dạy của Ngài đều là về sự thật ở khoảnh khắc này. Nhưng chúng ta cần phải tìm hiểu một cách cẩn trọng. Hiểu về thực tại (pháp chân đế) có phải là Vinaya hay không? Bởi vì, hiểu về thực tại có thể tận diệt được phiền não, với hiểu biết đúng, với trí tuệ. Vậy, nếu chúng ta không biết “Giới Luật”, hay “Vinaya” có nghĩa là gì, chúng ta có thể cho rằng mình đang nghiêm trì Giới Luật trong khi không phải như vậy. Vào thời của Đức Phật, khi mọi người nghe Đức Phật thuyết pháp, có người muốn gia nhập Tăng đoàn, và sống cuộc sống khác với cuộc sống của người cư sỹ. Cuộc sống của các vị Tỳ kheo khác với đời sống của người cư sỹ, từ sáng tới tối. Họ nghiêm trì Giới Luật để tiêu trừ phiền não mà họ đã có khi là người cư sỹ.

Vào thời Đức Phật còn tại thế, những người nghe Pháp bao gồm các vị xuất gia và cư sỹ tại gia, bởi vì mỗi người có những tích lũy khác nhau. Một số người đã giác ngộ khi nghe Pháp, mặc dù họ không xuất gia trở thành tỳ kheo. Rất nhiều người trong số họ đã giác ngộ và hiểu tích lũy của mình. Nếu chúng ta không hiểu Giáo lý mà chỉ muốn là người xuất gia thôi thì điều đó có đúng hay không? Bởi vì ý nghĩa của việc xuất gia không phải là chỉ muốn là người xuất gia. Cần phải hiểu rõ ràng những gì Đức Phật dạy. Những người ở thời Đức Phật biết rằng Giáo lý của Ngài là vô cùng khó để hiểu và tiếp nhận. Khi nghe lời dạy của Đức Phật, ta nhận ra rằng tích lũy vô minh nơi mình rất dày đặc.

Trước khi đạt giác ngộ thành Đức Phật, Ngài đã là vị Đại Bồ Tát. Tất cả những ai quan tâm đến việc tìm hiểu sự thật đều là Bồ Tát. Như vậy, có ba mức độ của Bồ Tát tương ứng với những mức độ tích lũy khác nhau (1.Bồ tát phát nguyện trong tâm; 2.Bồ tát phát nguyện thành lời; 3.Bồ tát đã được thọ ký bởi một Đức Phật tại thế – VDH). Đức Bồ tát cần phải có quãng thời gian vô cùng dài để tích lũy các Ba la mật để đạt được giác ngộ thành Phật. Nhiều người ở thời Đức Phật, khi nghe Ngài giảng Pháp, đã hiểu rằng không thể đạt được giác ngộ ngay trong kiếp sống ấy. Một số người nghe Đức Phật và chưa thể giác ngộ vào thời điểm ấy. Về sau, một số trong họ trở thành Đức Phật độc giác. Để trở thành Đức Phật Độc Giác, cần phải có một thời gian rất dài, nhưng không dài bằng thời gian cần thiết để trở thành một vị Phật Chánh Giác. Khi nghe Đức Phật giảng Pháp, bằng sự trung thực, một số người hiểu rằng rất khó để phát triển hiểu biết về những thực tại hiện giờ, và cần quãng thời gian rất dài lâu để dần dần phát triển hiểu biết này, và họ được gọi là bậc Bồ tát Thanh văn. Đức Phật đã dạy về những gì mà Ngài đã giác ngộ. Đó chính xác là những gì xảy ra hôm nay và tại khoảnh khắc này.

Vậy cần khoảng thời gian bao lâu để liễu ngộ cái thấy như nó là, cái nghe như nó là? Hiện giờ đang có cái thấy, ai biết được bản chất của cái thấy? Có dễ để liễu ngộ chân lý một cách nhanh chóng hay không? Rằng cái thấy không phải là tự ngã, không phải là ai cả vì nó sinh khởi do duyên của nó, chỉ để thấy mà thôi. Chúng ta có thể nói rằng, chúng vừa mới sinh khởi đã diệt đi ngay lập tức. Đó chính là ý nghĩa của Thánh Đế thứ nhất- Khổ Đế mà Đức Phật đã thuyết giảng. Đó là sự thật về tất cả các thực tại là vô thường, nó luôn sinh và diệt suốt cả ngày, không ngừng nghỉ. Cái thấy của ngày hôm qua, hôm nay và của ngày mai đều sinh khởi do duyên của chúng. Hôm nay còn có cái thấy chừng nào còn có mắt, chưa bị mù. Không ai biết được vào lúc nào đó sẽ không còn có cái thấy nữa. Sự thật về khổ không phải chỉ là nghĩ về sự vô thường của thực tại mà thôi, mà là khoảnh khắc xuyên thấu bản chất của cái thấy ở ngay lúc này. Trước khi có cái thấy thì không có cái thấy, rồi có cái thấy và lại không có cái thấy nào cả. Điều này có nghĩa rằng cái thấy không thường hằng, nó là vô thường. Cái là vô thường, ngắn ngủi như vậy, liệu có đáng cho chúng ta muốn có hay không? Hay có đáng để ta dính mắc vào hay không? Hay để ta cho đó là “mình”, hay một “ai đó” hay không?

Không dễ dàng để rũ bỏ ý niệm về ngã, về một thực thể nào đó từ những gì đang xuất hiện. Chúng ta cần phải chân thật với thực tại hiện khởi trong khoảnh khắc này để bắt đầu hiểu rằng chính cái thấy thấy chứ không phải con người nào đó thấy. Cái thấy là vô thường và không thể được kiểm soát. Không phải chỉ cái thấy, mà tất cả các thực tại hiện giờ đều sinh khởi và diệt đi một cách hoàn toàn. Chúng sinh khởi do duyên và diệt đi mãi mãi. Cuộc sống phải là như vậy, bất kể với chúng sinh ở cõi nào, kiếp nào đi nữa. Dù là ở cõi thiên, cõi người, ngã quỷ hay địa ngục cũng là như vậy. Nếu không trực tiếp liễu ngộ bản chất của các thực tại hiện giờ như cái thấy, rằng đó không phải là ta, là tự ngã, thì không thể rũ bỏ được ý niệm về ngã cho rằng con người và vạn vật thực sự tồn tại. Kể cả trí tuệ hiểu được sự thật về vô ngã này cũng là do duyên sinh, nhờ được nghe và suy xét kỹ lưỡng về những gì được nghe, và rồi nó cũng diệt đi ngay tại khoảnh khắc này. Có một vài khoảnh khắc của hiểu biết, và rồi có một vài khoảnh khắc khác của vô minh cho sự nhận biết là ai đó, hay một cái gì đó như thông thường. Cần trung thực với khoảnh khắc của cái thấy để thấy rằng, cái được thấy không phải là con người, hay một thứ gì cả, mà nó chỉ được thấy mà thôi. Sau khi cái thấy sinh và diệt thì cái gì tiếp nối? Có những khoảnh khắc khác nhau không được nhận biết, trước khi có thích hay không thích sinh khởi.

Khi nói về nhân, ta không nhận ra rằng ngay hiện giờ đang có nhân, nhân không được nhận biết. Khi nói đến nhân, ta nghĩ đến rễ cây. Thông thường, không thể có cây nếu không có rễ. Như vậy, bất kỳ cái gì sinh và diệt đều có nhân (rễ) của nó. Và nhân thông thường nhất, làm duyên cho các pháp sinh khởi là vô minh. Sau khi cái thấy đã diệt đi rồi, có thể có cái hiểu rằng cái thấy không phải là ta, mà chỉ là thực tại sinh lên và diệt đi. Khi không có hiểu biết về bản chất của cái thấy, thì có thực tại là vô minh không hiểu cái đang xuất hiện. Thực tại không hiểu về bản chất những gì đang xuất hiện có phải là thiện hay không? Nó đối lập với tính chất của thực tại hiểu rõ bản chất những gì đang xuất hiện. Vô minh hay si là nhân căn bản cho mọi bất thiện. Và chừng nào nhân đó chưa được tận diệt, cái rễ đó chưa được búng đi thì vẫn còn duyên để tái sinh từ kiếp này sang kiếp khác. Có ai biết rằng, tại chính khoảnh khắc này, sau cái thấy đã có vô minh và dính mắc rồi hay không? Nếu không có cái thấy, làm sao có sự dính mắc với cái thấy suốt cả ngày? Chúng luôn không được nhận biết vì có sự chấp tưởng đó là một con người, một bông hoa, là những thứ khác nhau.

 Làm sao có thể ngăn chặn được tham? Nhiều người cố gắng ngăn chặn tham, nhưng nó đã sinh và diệt đi rồi. Không ai ngăn chặn được sân vì nó đã sinh và diệt đi rồi. Có ai có thể ngăn suy nghĩ của mình trong lúc này được hay không? Suy nghĩ do duyên sinh. Liệu chúng ta có thể lên kế hoạch cho suy nghĩ nghĩ theo cách này hay cách kia được hay không? Liệu bạn có thể hoán đổi suy nghĩ của mình cho người khác hay không? Không, bởi vì nó đã do duyên mà sinh ra và đã diệt đi rồi.

Vì vậy, chúng ta cần tìm hiểu, nghiên cứu kỹ Giáo lý của Đức Phật, bởi vì có rất nhiều thứ mà chúng ta không thể biết nếu không được học từ trong Giáo lý của Ngài. Trí tuệ hiểu rõ lời dạy của Đức Phật cũng là Giới Luật, là Vinaya. Chúng ta không nên chỉ tuân theo Giới Luật mà không hiểu rõ đời sống của người xuất gia. Cư sỹ cũng nên đọc và tìm hiểu Giới Luật của vị tỳ kheo. Cư sỹ có thể thấy được những hành xử cao đẹp, phạm hạnh của vị xuất gia và học theo. Hành xử đúng Giới Luật qua thân và khẩu là rất thanh cao và đáng được tán thán. Khi thấy được sự cao đẹp của Giới Luật thì không cần phải ngồi đếm xem ta đã giữ được bao nhiêu giới. Vì sao một người phải tính xem mình giữ được bao nhiêu giới, có phải là từ sự dính mắc vào bản thân mình hay không? Toàn bộ Giáo lý của Đức Phật là để xả ly. Ngoài lời dạy của Đức Phật đều đem đến sự dính mắc. Và đó là sự khác biệt giữa Giáo lý mà bậc Giác ngộ thuyết giảng và những gì được thuyết giảng bởi những người không phải là Bậc giác ngộ.

Sarah:Trong bài Kinh Hôi Thối mà chúng ta đã đề cập đến trong phần đầu buổi Pháp đàm, ta có đọc rằng tà kiến làm duyên cho các loại pháp bất thiện. Ví dụ như khi ta khóc thương cho ai đó vì cho rằng đó là điều tốt đẹp, đáng quý. Nếu có hiểu biết sai lầm thì dễ dẫn đến những việc làm sai trái.

Khi Đức Phật mới giác ngộ và bắt đầu hoằng pháp, có nhiều đệ tử đi theo Ngài và chưa có Giới Luật vì các vị đó đều là các bậc đã giác ngộ. Tuy nhiên, sau đó, số lượng đệ tử ngày một tăng lên, do sự khác biệt về mức độ hiểu biết khác nhau, nên Giới Luật được đề ra. Vậy những gì chúng ta được biết trong Giới Luật thực chất là mô tả về những bất thiện pháp duyên bởi thiếu hiểu biết để có thể đưa tới giác ngộ. Chẳng hạn, khi đang ăn mà có sự suy xét cẩn trọng và có sự từ ái với người khác thì ta sẽ ăn mà không tạo ra nhiều tiếng động, hay không liên tục đòi hỏi những thứ mà mình chưa có ở trong đĩa của mình. Do bởi vô minh và sự dính mắc, chúng ta thường đòi hỏi hay tìm kiếm những thứ mà mình chưa có, và điều này có thể tạo ra sự rắc rối và khó khăn cho người khác. Khi tôi đọc về Giới Luật trong Tạng Luật, tôi thấy rằng đó là những mô tả về thiện và bất thiện trong khoảnh khắc hiện tại. Như Achaan Sujin đã nói, việc biết những gì sinh khởi trong khoảnh khắc hiện tại giúp ta biết được điều gì là phù hợp, làm thế nào để sống một cách hòa thuận trong một cộng đồng. Chính nhờ sự phát triển hiểu biết mà ta có thể đọc Giới Luật và hiểu về những lời dạy trong đó, và không còn những hành vi sai trái như trộm cắp, phạm giới. Cuộc sống của người xuất gia là cuộc sống có thể theo được Giới Luật một cách dễ dàng và tự nhiên, không khó khăn, hiểu được giá trị của hiểu biết về những gì đang sinh khởi và hành xử của thiện pháp.

Achaan Sujin: Nếu ta không có đủ tích lũy để theo và sống theo Giới Luật của người xuất gia, thì đời sống xuất gia có được dễ dàng thoải mái hay không? Chẳng hạn theo Giới Luật, vị Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni có được giữ tiền hay không?

 

Người hỏi: Phật tử rất tâm huyết với vấn đề hoằng Pháp, liệu Phật tử có thể tham gia vào việc hoằng Pháp hay không? Nếu được thì bằng những phương thức nào? Người xuất gia có lễ lạy khi ba mẹ đã qua đời, và có được ăn đồ cúng cho người đã quá cố không?

Sarah: Chỉ với trí tuệ, chúng ta mới có thể chia sẻ với người khác hiểu biết ít ỏi của mình. Khi càng hiểu nhiều hơn về sự thật ở khoảnh khắc này, ta càng dễ tìm được cách thức để chia sẻ với những người khác nếu họ quan tâm và trong những hoàn cảnh phù hợp.

 Jonothan: Đức Phật là người đầu tiên hoằng Pháp. Do mức độ trí tuệ lớn lao của mình, Ngài biết được ai là người có đủ căn cơ để có thể lắng nghe lời thuyết giảng của Ngài. Và chắc chắn là Giáo Pháp chỉ được trân quý và tán thán bởi những người đã có mức độ hiểu biết nhất định. Đức Phật có đưa ra ví dụ về một người nông dân trước khi gieo trồng thì phải cày ruộng. Khi nào chuẩn bị cày bừa xong thửa ruộng, mới đến giai đoạn gieo hạt trên mảnh đất đó. Vì vậy, không phải là vấn đề nhiệt tình với việc chia sẻ Pháp mà phải tùy thuộc vào mức độ hiểu biết của mình.

Achaan Sujin:Liên quan đến ý thứ hai của câu hỏi, các vị xuất gia không đảnh lễ ai cả ngoài Tam bảo. Những người cư sỹ thì đảnh lễ các vị xuất gia, bởi vì những người xuất gia có mức độ tích lũy cao về giới đức và thanh tịnh, cũng như về trí tuệ để có thể tìm hiểu Giáo lý đưa đến giác ngộ. Khi đề cập tới việc đảnh lễ, là đảnh lễ đối tượng nào? Chính là những phẩm chất thiện và cao thượng. Mỗi khi chúng ta tỏ lòng tôn kính hay đảnh lễ ai đó là bày tỏ lòng tôn kính những phẩm chất tốt đẹp nơi người đó. Các vị xuất gia có thể đảnh lễ các vị cao niên, cao hạ hơn mình vì đó là người đó có giới đức cao thượng. Những vị đã xuất gia trước cao hạ hơn, sống trong thời gian giữ Giới Luật được nhiều hơn thì được coi là có phẩm hạnh cao thượng hơn.

Jonothan: Khi một vị xuất gia rời bỏ đời sống gia đình, vị ấy cũng dứt bỏ những thói quen và cách cư xử của đời sống gia đình, bao gồm cả cách chào hỏi thông thường hay cách hành xử thông thường khác, thay đổi những nội dung câu chuyện mà họ bàn về, thay đổi cách hành xử trong cuộc sống, và thay đổi cộng đồng mà họ sẽ sống cùng. Người xuất gia là những người theo những điều học để đưa tới giác ngộ. Vì vậy, họ chỉ tỏ lòng tôn kính tới những gì đáng được đảnh lễ nhất. Vị ấy có thể tôn trọng tất cả mọi người. Nhưng các vị ấy chỉ đảnh lễ hay tỏ lòng tôn kính tới Tam bảo và những vị cao niên, trưởng lão.

 Về ý thứ ba của câu hỏi, ta nên biết rằng theo truyền thống, các vị xuất gia sẽ đi khất thực để nhận được thức ăn cho mình. Vị ấy sẽ chỉ thọ thực những gì được dâng cúng trong bình bát của mình, trừ khi vị ấy nhận được lời mời của thí chủ tới thọ thực tại gia. Khi vị ấy được mời tới tư gia của một thí chủ, vị ấy cũng chỉ ăn những gì được cúng dường cho vị ấy, và sẽ không ăn ngoài bữa ăn chính đó.

Sarah: Với những người là phụ nữ thì tình thế có khác. Chúng ta không phải là tỳ kheo ni, cũng sẽ không trở thành tỳ kheo ni. Bởi vì ngày nay, theo Giáo lý của Đức Phật và Giới Luật thì không còn Ni đoàn nữa. Chúng ta có thể mặc bất kỳ y phục nào mà mình muốn, bất kỳ mầu sắc nào mình muốn, là trang phục thông thường của người xuất gia hay cư sỹ. Chúng ta có thể sống ở trong chùa như nhiều người ở đây đang sống, hay chúng ta có thể sống tại nhà của mình. Chúng ta có thể giữ ngũ giới, tám giới hay nhiều giới hơn nữa, tùy mong muốn. Chúng ta có thể đảnh lễ cha mẹ của mình, người cao niên cũng như tất cả mọi người.

Ngày nay, những điều chúng ta vừa kể đến: Giới Luật tỳ kheo, đảnh lễ, thọ thực, v.v… chỉ còn áp dụng cho các vị tỳ kheo mà thôi. Đối với những người còn lại như chúng ta, chúng ta có thể sống cuộc sống bình thường theo tích lũy riêng của mình, phát triển hiểu biết và giữ được Giới Luật càng nhiều càng tốt trong khả năng của mình. Đối với những người đã thọ giới tỳ kheo, họ cần phải nghiêm trì tuân thủ Giới Luật ấy, như Achaan Sujin vừa đưa ra ví dụ. Chẳng hạn, nếu ai đó không thể không giữ tiền thì người ấy không dễ dàng sống cuộc đời của vị tỳ kheo thực sự. Bởi vì nghiệp tạo ra nếu ta không sống và tuân thủ Giới Luật một cách nghiêm trì sẽ đưa tới hậu quả rất lớn. Nhưng với những người như chúng ta thì khác, chúng ta không phải là các tỳ kheo.

Ở đây có ông Jonothan và ông Sundara là hai người trước đây đã từng xuất gia. Khi họ nhận ra rằng thời nay rất khó để có thể giữ được Giới Luật một cách hoàn toàn, họ đã quyết định hoàn tục. Tương tự như vậy với ông Sa-ngộp đây, ông đã từng là tỳ kheo trong 20 năm, nhưng cuối cùng đã quyết định hoàn tục và sống cuộc sống cư sĩ tại gia để có thể tôn trọng được Giới Luật. Chính vì vậy, ta cần phải rất trung thực với bản thân để biết được tích lũy của mình như thế nào, và cuộc sống nào là phù hợp nhất đối với bản thân để phát triển hiểu biết. Và như Achaan Sujin đã nói, ở thời Đức Phật có những người xuất gia làm tỳ kheo, tỳ kheo ni, và có những người vẫn sống cuộc đời của người cư sỹ nam, cư sỹ nữ, nhưng tất cả đều có thể giác ngộ. Vậy thì quan trọng là sống một cuộc sống phù hợp với tích lũy của bản thân mỗi người.

 

Pháp đàm tại Sài gòn, sáng ngày 03/02/2016

           Người hỏi: Mỗi ngày vào cuối pháp đàm, chúng ta đều hồi hướng công đức. Con có hai băn khoăn: Thứ nhất, khi nghe Pháp và phát triển hiểu biết đúng, chúng ta sẽ có những phước thiện để hồi hướng cho người khác. Nhưng sau đó con lại băn khoăn về một điều đã được học là: quả của nghiệp của mỗi người thì chỉ người đó nhận mà thôi. Vậy làm thế nào mà có thể chia phước hồi hướng cho người khác khi mỗi người theo nghiệp riêng của họ?

            Jonothan: Việc chúng ta hồi hướng mỗi ngày, đôi khi người ta gọi là chia phước. Khi có một thiện pháp được tạo, những người có mặt chứng kiến việc thiện pháp đó có thể hoan hỉ với thiện pháp đó. Sự tùy hỉ với thiện pháp của người khác cũng là một loại thiện pháp. Đó là nói đến những người có mặt tại chỗ, nhưng có những chúng sinh ở cõi khác, nếu biết được thiện pháp được tạo, họ có thể tùy hỉ với thiện pháp đó như các chúng sinh tại nơi thiện pháp được tạo. Để có được sự lợi lạc cho những chúng sinh như vậy, chúng ta có sự hồi hướng đến họ, tức là cho họ biết về thiện pháp mình làm, để tạo cơ hội cho họ có cơ hội tùy hỉ, đó là một loại thiện pháp khác. Nếu chúng sinh đó có thể tùy hỉ được với thiện pháp thì sự tùy hỉ đó sẽ sinh khởi. Việc họ có hiện diện ở đó hay chứng kiến được thiện pháp hay không thì là quả của riêng mỗi người. Ví dụ có những người rất quan tâm đến Giáo Pháp, nhưng lại không có cơ hội có thể gặp được người chia sẻ chánh Pháp với họ. Việc gặp được người có thể chia sẻ Chánh Pháp với mình một cách phù hợp hay không phụ thuộc vào nghiệp đã tạo của mỗi người trong quá khứ. Đó là chỗ mà nghiệp quá khứ của mỗi người sẽ tác động vào sự việc đó.

            Sarah: Một điểm quan trọng nữa là, đúng là ta không thể chia phước của mình cho người khác, tức là đem phước của mình chongười khác hay tạo nên quả của người khác. Thiện pháp của bản thân chúng ta sẽ trổ quả trong tương lai, còn với người có sự tùy hỉ với thiện pháp của ta, khoảnh khắc đó cũng là thiện pháp và nó cũng sẽ trổ quả tốt đẹp trong tương lai. Giống như khi chúng ta cúng dường các chư tăng rồi nói với bạn bè rằng mình đã làm phước thiện đó, người bạn của chúng ta có thể sẽ tùy hỉ với thiện pháp mà chúng ta đã tạo. Như vậy, thiện pháp mà ta tạo sẽ trổ quả riêng của nó. Với người tùy hỉ với thiện pháp của ta, thiện pháp đó cũng trổ quả riêng của nó. Khi ta nói tới hồi hướng hay chia phước với người khác, về bản chất đó chỉ là cho họ cơ hội tùy hỉ với phước thiện. Hồi hướng là một hình thức của bố thí vì khi đó có sự cho đi

 

Pháp đàm tại Nha Trang, chiều ngày 04/04/2016

Vị sư: Khi suy nghĩ bất thiện chưa phát sinh ra hành động và lời nói thì chưa có năng lực cho quả. Đối với tâm thiện hợp trí mà chưa phát ra hành động và lời nói thì có năng lực cho quả. Như vậy trong trường hợp của 10 phước thiện, có tùy hỷ phước và hồi hướng phước, trong trường hợp nào thì tùy hỷ phước và hồi hướng phước được gọi là nghiệp thiện và năng lực cho quả? Xin quý vị hãy giải thích thêm.

Sarah: Chúng ta biết rằng 10 thiện nghiệp cũng có thể được xếp làm ba nhóm. Nói về nhóm bố thí: khi ta cho đi một thứ gì đó thì được gọi là bố thí. Đôi khi ta không có cơ hội để tự mình tạo thiện nghiệp nhưng biết rằng những người bạn của ta đang tạo thiện nghiệp, ta hoan hỷ hay tùy hỷ với phước thiện mà bạn đã làm, đó là một hình thức phước thiện khác. Đó là trường hợp xảy ra khi ta nói câu “xin tùy hỷ phước thiện” hay “anumodana!” với những người khác.

Chúng ta cũng biết rằng có một hình thức bố thí khác nữa, chẳng hạn khi ta làm được một việc tốt và muốn chia sẻ phước thiện đó, ta nói cho người khác biết để mọi người có thể tùy hỷ với phước thiện của ta. Ta không biết được chính xác khi nào nó sẽ cấu thành nghiệp đạo, và sẽ cho quả. Rất khó để biết bởi có rất nhiều duyên khác nhau hiện diện trong đó, và chúng ta không có năng lực để biết hết tất cả những duyên ấy. Nhưng khi ta cố tìm những ranh giới mong manh để biết được chính xác ở khoảnh khắc nào thì có nghiệp đạo (có thể đưa đến quả), thực chất ta đang dính mắc, thay cho việc chỉ đơn thuần hoan hỉ với thiện pháp đó mà thôi. Khi ta quá bận tâm liệu một việc tốt nào đó có cho quả hay không, thì khi đó cũng là một dạng dính mắc thay cho việc đơn thuần nhận biết cái đang hiện hữu ở khoảnh khắc đó. Nhưng có điều ta có thể chắc chắn, tất cả các thiện nghiệp đều cho quả ở thời điểm phù hợp, dù sớm hay muộn. Điều quan trọng là suy xét rằng những việc thiện đã làm đó không phải là của tôi và không có gì đáng dính mắc vào.

Vị sư: Như vậy việc tùy hỷ và hồi hướng phải được thể hiện qua thân và khẩu thì mới có năng lực cho quả?

Sarah: Với những gì mà tôi được biết, trong Kinh điển có nói rằng để một việc bố thí được hoàn mãn phải có người bố thí, vật bố thí và người nhận bố thí. Như vậy trong trường hợp của hồi hướng, khi hồi hướng ta không thể biết được có những ai nhận được sự hồi hướng đó hay không, cho nên rất khó để nói một cách chính xác. Tuy nhiên trong trường hợp mà chúng ta tùy hỷ thì có thể nói rằng đó là một phước thiện.

Vị sư: Trong trường hợp của tâm hợp trí sinh khởi mà chưa phát ra hành động và lời nói thì có năng lực cho quả hay không? Nếu nói như vậy về tâm siêu thế thì Sư còn có thể hiểu đôi chút. Nhưng nói về tâm thiện hợp trí hiệp thế thì sư còn nhiều mơ hồ. Xin quý vị cho ví dụ cụ thể?

Achaan Sujin: Chúng ta biết rằng có ba loại nghiệp là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp, trong ba loại đó thì tâm hợp trí thuộc về ý nghiệp, nên nó có thể cho quả. Trong ngày có rất nhiều duyên cho bất thiện pháp sinh khởi, vì thế thiện pháp không dễ sinh khởi chút nào. Ở khoảnh khắc hiểu được Giáo Pháp, hiểu thực tại thì mức độ thiện pháp này lớn mạnh hơn thông thường rất nhiều. Cần có thời gian để trí tuệ có thể được phát triển, dù chỉ để hiểu đúng một từ thôi. Vì vậy mức độ thiện pháp có được ở khoảnh khắc tâm hiểu được Giáo Pháp mạnh hơn rất nhiều so với những khoảnh khắc của bố thí hay trì giới, chính vì vậy nó có năng lực tạo quả. Một số người bố thí một cách dễ dàng nhưng lại không có đủ tín tâm và không có đủ tích lũy để hiểu. Vì vậy tín tâm cùng hiểu biết để nghe Giáo lý mạnh hơn các loại thiện pháp khác. Bản thân bố thí cũng có năng lực cho quả, vì vậy hiểu biết đúng hay trí tuệ, thứ là loại thiện pháp ở mức độ cao hơn cũng phải có năng lực cho quả.

 Chúng ta không biết được thức tái tục bắt đầu cuộc sống này của mình có đi kèm với trí hay không. Tuy nhiên nếu ta có những khoảnh khắc hiểu biết bây giờ thì chứng tỏ rằng từ quá khứ đã phải có tích lũy thói quen có sự quan tâm, nghe và hiểu Giáo Pháp. Trong tất cả các thực tại hữu vi thì trí tuệ là pháp tối thắng nhất, bởi vì trí tuệ có thể hiểu được sự thật về bất cứ cái gì xuất hiện, từng chút một, cho đến khi nó có thể hiểu được pháp hiện khởi đúng như những gì đã được tìm hiểu trong Giáo lý. Khi tâm sinh khởi và diệt đi và thức tướng này được kinh nghiệm rõ ràng, chứng tỏ trí tuệ đang có mặt. Tất cả những lời dạy của Đức Phật sẽ càng trở nên rõ hơn, rõ hơn khi trí tuệ phát triển. Chẳng hạn khi ta được hỏi cái gì được xúc chạm? Câu trả lời là gì đây? Câu trả lời là, đó là pháp, nó chỉ có tính cứng mà thôi, nó không là gì cả. Khi từng đặc tính được biết một cách rõ ràng, không là ai cả thì chứng tỏ trí tuệ đang có ở đó.

Các bạn hãy nhắm mắt lại, có thân hay không? Hay chỉ có đối tượng xuất hiện là đối tượng của trí tuệ, của hiểu biết? Nếu ta nhắm mắt lại và vẫn có ý niệm nhớ rằng đây là tay, đây là chân của tôi, khi đó ý niệm về ngã vẫn còn đó. Trí tuệ phát triển để nhớ tưởng sai lầm về ngã dần dần được tận diệt, một cách rất từ từ, từng chút một mà thôi. Trí tuệ không thể hiểu được rõ ngay lập tức nhưng bởi những điều đó là sự thật, dần dần trí tuệ sẽ lớn mạnh và có thể kinh nghiệm được trực tiếp sự thật ấy khi có đủ duyên. Những lời dạy khác của Giáo lý cũng trở nên rõ ràng hơn, từng chút một. Đó là một mức độ hiểu biết khác được làm duyên từ hiểu biết ở mức độ tư duy.

Sarah: Đức Phật có nói rằng nếu đem so tất cả sự bố thí và những thiện pháp vĩ đại mà ngài Cấp-Cô-Độc đã làm với một khoảnh khắc hiểu bản chất vô thuờng của pháp thì khoảnh khắc ấy vẫn quý báu hơn. Như vậy một khoảnh khắc của hiểu biết đúng quý giá hơn mọi khoảnh khắc của bố thí mà ta có thể tạo trong cuộc đời. Ở khoảnh khắc của hiểu biết đúng, nó không được biểu hiện ra ngoài qua thân và khẩu, và không ai có thể biết được trừ trí tuệ, nó biết và nó ở đó. Vì vậy đừng đánh giá thấp giá trị của hiểu biết về sự thật trong khoảnh khắc này. Đó là mức độ thiện pháp cao quý nhất, mặc dù đúng là chỉ có tâm đạo mới là tâm có thể cho quả ngay lập tức mà ta gọi đó là tâm quả (magga citta). Với trường hợp của những nghiệp đạo khác, ta không có cách nào biết được lúc nào nó cho quả và ở đâu. Sẽ thật vô ích khi ta cố tìm kiếm câu trả lời cho điều ấy. Nhưng bây giờ đang có cơ hội để tìm hiểu những thực tại khác nhau trong cuộc sống, và đó cũng là cơ hội để cho trí tuệ sinh khởi và phát triển.

 

Pháp đàm tại Nha Trang, sáng ngày 05/04/2016

Người hỏi: Thưa Achaan Sujin, xin bà cho biết thiền quán tâm từ là như thế nào ạ?

Achaan Sujin: Trước khi nói về quán tâm từ, hay thiền tâm từ, chúng ta cần phải hiểu rất rõ từng từ ở trong đó. Tâm từ là gì? Thiền hay quán là gì?

Chúng ta đang ở trong căn phòng này, có rất nhiều cơ hội để bày tỏ sự thân thiện, giúp đỡ lẫn với nhau, có những người bị ốm và có những người khác thì hỏi thăm, cho thuốc lẫn nhau. Thông thường trong ngày chúng ta dành rất nhiều thời gian để nghĩ đến nhu cầu của bản thân và nghĩ về bản thân mình. Khi chúng ta nghĩ về bản thân mình, về những nhu cầu của mình và tìm cách thỏa mãn những nhu cầu ấy, thường là không có tâm từ mà là sự dính mắc. Tâm từ trái ngược với sự dính mắc, nó là quan tâm thực sự đến nhu cầu của nguời khác và là sự mong muốn những gì tốt đẹp đến cho họ.  Khi ta quan tâm tới những người khác, muốn họ được thoải mái dễ chịu, muốn cho họ hiểu được Pháp, hay giúp họ qua những khó khăn thì khi đó có tâm từ sinh khởi. Tuy nhiên cũng phải rất cẩn thận, vì khi chúng ta chăm sóc những người thân, con cái, cha mẹ, hay những nguời bạn cụ thể nào đó thì sự quan tâm đó có thể rất dễ lẫn với sự dính mắc. Như vậy tâm từ có đặc tính là từ ái, tử tế và nó hướng tới tất cả mọi người chứ không phải chỉ hướng tới một số người cụ thể.

Có khi ta nghĩ đến tâm từ và muốn trở thành một người có nhiều tâm từ. Nhưng khi ta nghĩ và muốn mình là một người từ ái thì ở khoảnh khắc đó không có tâm từ thực sự, mà thay vào đó lại là sự dính mắc vào bản thân mình. Như vậy phát triển tâm từ không có nghĩa là đi đến một nơi riêng biệt nào đó, nhắm mắt lại và cố gắng đạt đến một trạng thái cụ thể.Sự phát triển tâm từ thực sự, đó chính là việc từ ái, thân thiện giúp đỡ mọi người khi có cơ hội và hiểu biết dần hơn về đặc tính của tâm khi nó sinh khởi, để hiểu hơn tính chất của từ (metta hay adosa). Khi hiểu rõ hơn rằng đặc tính của tâm từ hoàn toàn khác biệt với tâm ái, dần dần từ tâm sẽ được phát triển. Đó mới chính là sự phát triển tâm từ thực sự, mà ta gọi là metta bhāvanā. Như vậy, metta bhāvanā là việc phát triển hiểu biết về bản chất của tâm từ ở những khoảnh khắc thông thường của cuộc sống. Tâm từ cũng là một pháp, nó sinh khởi và diệt đi ngay lập tức, chứ không tồn tại kéo dài. Chính vì vậy không nên dính mắc vào tâm từ. Bởi nếu chúng ta không hiểu tính chất phù du của nó thì sẽ có dính mắc vào nó, và như vậy sẽ không thể có nhiều từ tâm hơn.

 

Pháp đàm tại Nha Trang, chiều ngày 02/04/2016

Người hỏi:  Khi có thêm tích lũy hiểu biết thì sẽ bớt cơ hội cho vô minh. Vậy nó có tương tự với nghiệp thiện và nghiệp bất thiện chưa sinh khởi, rằng khi có thêm tích lũy cho nghiệp thiện thì sẽ bớt cơ hội cho quả bất thiện sinh khởi?

Sarah:  Chúng ta có thể nói một cách đơn giản là ở khoảnh khắc có thiện pháp thì sẽ không có bất thiện pháp.  Ở khoảnh khắc có sự từ ái thì sẽ không có sự dính mắc. Ở khoảnh khắc có sự quảng đại nghĩ đến sự an vui của người khác, khi đó không nghĩ đến bản thân. Và ở khoảnh khắc của hiểu biết thì không có vô minh.

Jonothan:  Có nhiều duyên cho thiện pháp hay bất thiện pháp sinh khởi trong khoảnh khắc hiện giờ, và không có cách nào dự đoán khoảnh khắc tiếp theo cái gì sẽ sinh khởi. Nhưng nếu hiện giờ có nhiều thiện pháp sinh khởi thì sẽ có cơ hội cho nhiều thiện pháp sinh khởi hơn trong tương lai, nhưng đó là ta nói một cách rất chung chung mà thôi.  Hoàn cảnh có thể thay đổi, và có thể ta sẽ rơi vào bối cảnh có duyên cho bất thiện pháp sinh khởi.  Bởi vậy điều tốt nhất là hiểu đúng về bản chất của khoảnh khắc hiện giờ và hiểu được cái đang xuất hiện là thiện hay bất thiện. Ở khoảnh khắc này, nếu có thiện pháp sinh khởi thì tính chất của thiện pháp đó có thể là đối tượng của trí tuệ. Và cũng như vậy, khi tâm là bất thiện thì tính chất của tâm khi ấy cũng có thể được hiểu. Điều quan trọng là hiểu được bản chất của khoảnh khắc hiện tại.

Sarah:  Chúng ta cần sự chân thật để biết được cái sinh khởi hiện giờ là thiện hay bất thiện. Ví dụ như tôi gọi điện cho mẹ tôi mỗi ngày vì bà đang sống ở Anh, và dường như đó là một thiện pháp vì có khoảnh khắc của việc quan tâm thật sự đến sự an vui & sức khỏe của bà.  Tuy nhiên cũng có nhiều khoảnh khắc của dính mắc nghĩ rằng “đây là mẹ của tôi”, dính mắc mong cho mẹ mình được vui vẻ, dễ chịu, thoải mái. Nhưng, như chúng ta đã nói, cảm giác dễ chịu cũng như khó chịu thì đều vô thường, luôn thay đổi và không tồn tại lâu, nó sinh khởi và diệt đi. Và mong muốn người kia mãi vui vẻ là sự dính mắc, nó khác với sự từ ái thật sự, quan tâm mong muốn điều tốt đẹp cho người ấy.  Khi mẹ của tôi nói là tay của bà ấy đau thì tôi cảm thấy buồn ngay lập tức, nhưng sự cảm thấy thương xót đó khác với tâm bi.  Khi có lòng bi mẫn thì sẽ có mối thương cảm thật sự với người đó nhưng không có trạng thái buồn khổ. Tất cả những khoảnh khắc khác nhau đó cũng giống như bây giờ, có những khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe, có suy nghĩ về mẹ của mình đang ở trong nhà dưỡng lão ở Anh…Tất cả đều là những suy nghĩ khác nhau. Suy nghĩ có thể tưởng tượng rằng ở nơi đó giờ này không biết mẹ mình đang như thế nào, giống như bây giờ chúng ta đang vẽ một bức tranh trong tâm vậy. Sự thật là, cho dù chúng ta ở trong bất cứ hoàn cảnh nào đi nữa thì những gì thật sự diễn ra chỉ là những khoảnh khắc của thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và suy nghĩ, suy nghĩ về những ảo mộng khác nhau. Khi có thêm hiểu biết về các thực tại chân đế trong cuộc sống, không phải chúng ta không còn muốn quan tâm giúp đỡ những người bà con thân thuộc của mình.  Nhưng khi có thêm hiểu biết thì sẽ có thêm sự chân thật ở khoảnh khắc này, chúng ta sẽ bớt lầm tưởng cái vốn bất thiện là thiện pháp, và sẽ càng ngày càng hiểu thêm rằng tất cả những gì diễn ra trong cuộc sống chỉ là các pháp mà thôi, không phải là tự ngã, linh hồn nào cả.  Chính vì vậy Giáo lý của Đức Phật là liều thuốc hữu hiệu nhất cho mọi vấn đề của cuộc sống.

 

Pháp đàm tại Nha Trang, sáng ngày 03/04/2016

Sarah: Có nhiều người cho rằng trước hết mình phải học làm những điều tốt bằng cách giữ giới, sau khi đã làm tốt những việc đó thì sẽ phát triển được định tâm và có trí tuệ để hiểu được bản chất của các pháp. Vấn đề nằm ở chỗ họ cho rằng họ có thể kiểm soát được hành vi của mình, nhưng thực tế những khoảnh khắc của thiện pháp hay bất thiện pháp sinh khởi do duyên tương ứng của chúng, và không có một tự ngã nào có thể kiếm soát được những thứ đó.  Hơn nữa, cách hình dung như vậy đi ngược với lộ trình thực tế, bởi vì trước hết cần có cái hiểu cuộc sống là gì ở mỗi khoảnh khắc thì mới thấy được khoảnh khắc nào là thiện, khoảnh khắc nào là bất thiện trong cuộc sống hằng ngày. Chính điều đó mới làm tăng thêm thiện pháp và suy giảm bất thiện pháp, bởi lẽ hành động của ta tùy thuộc vào tâm và phẩm chất của tâm ở mỗi khoảnh khắc. Chẳng hạn như, nếu ta không biết được sự khác biệt giữa từ và ái (từ là thiện pháp và ái là sự dính mắc), ta không biết được khi giúp đỡ cha mẹ mình thì loại tâm nào xuất hiện, cái nào là từ, cái nào là ái?  Nếu không có hiểu biết rõ ràng thì luôn có sự lẫn lộn giữa thiện và bất thiện. Chỉ có vị Thánh Dự Lưu đã tận diệt được tà kiến về ngã, hoàn toàn tận diệt xu hướng phạm vào ngũ giới và không còn phạm vào ngũ giới (sát sinh, trộm cướp, tà dâm…) nữa.

Dù chúng ta nói về đề tài nào đi nữa thì phải luôn luôn quay về với khoảnh khắc hiện tại, bởi vì khoảnh khắc hiện tại là cái duy nhất hiện diện và có thể được hiểu. Vì lẽ đó chúng ta dành nhiều thời gian để nói về cái thấy, cái nghe, và suy nghĩ ở khoảnh khắc này, bởi đó là những thực tại trong cuộc sống.  Hiểu biết nhiều hơn về khoảnh khắc hiện tại giúp ta có hiểu biết sâu sắc hơn rằng bất cứ cái gì diễn ra trong cuộc sống này đều diễn ra bởi những duyên tương ứng của nó, đó là một tiến trình rỗng không, không có một tự ngã nào, một con người nào kiểm soát. 

Có người nói rằng hãy để mọi thứ tự nhiên hay để mọi thực tại tự diễn ra, tuy nhiên ý niệm về ngã dính mắc rất sâu dày khiến họ có suy nghĩ rằng “mình” sẽ phải áp dụng hay “mình” phải để các pháp diễn ra một cách tự nhiên…Rút cục thì ý niệm về mình vẫn nằm ở phía sau và thúc đẩy suy nghĩ theo hướng như vậy.  Khi chúng ta được nghe Pháp nhiều hơn về những gì là thực ở khoảnh khắc này – như cái thấy và đối tượng thị giác – là những pháp sinh khởi một cách hoàn toàn tự nhiên, không có ai ở đó, không có ai để can thiệp vào, thì hiểu biết sẽ dần được phát triển và bớt đi dần ý niệm về một “con người” áp dụng, cố làm điều này hay cố làm điều kia để khiến các pháp đi theo một hướng nào đó. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

, , , , ,

Pháp đàm sáng 04-09-2013 tại Sài gòn

10/      Pháp đàm buổi sáng ngày 04.09.2013 tại SG

 

Học viên 13: Trong Kinh có nhắc đến các vị chư thiên đến gặp Đức Phật để hỏi pháp, vậy các vị chư thiên cũng có cái thấy, cái nghe như mình hay là không?

Sarah:            Tôi không biết rõ là các vị chư thiên đó thấy được cái gì, nhưng chắc chắn là các vị có thể nghe nên các vị mới đến nghe Đức Phật giảng pháp .

Achaan:         Bạn có nghĩ rằng các vị chư thiên bị mù không?

HV 13:           Con không có suy nghĩ đấy, con chỉ thắc mắc

Achaan:         Không ai biết vì ở đây không có ai là chư thiên cả

HV 13:           Cái thấy cái nghe, các thực tại có phải nương vào cái gì để sinh khởi không?

Sarah:            Để có cái thấy sinh khởi thì, trong cõi này cần phải có nhãn căn và đối tượng thị giác thì nhãn thức mới có thể sinh khởi. Các vị chư thiên có thể nghe thì các vị ấy cũng có thể thấy. Tôi băn khoăn là tại sao bạn lại quan tâm đến các vị chư thiên này?

HV 13:           Các pháp sinh khởi thì phải có nơi nương cho nó sinh khởi phải không?

Sarah:            Ở trong cõi này thì tất cả các tâm như nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức, tỉ thức, thân thức phải có các sắc tương ứng, như nhãn căn, nhĩ căn, thiệt căn, tỉ căn và thân căn. Đối với các tâm ngoài ngũ song thức này, chúng cần nương vào cơ sở vật chất khác, được gọi là tâm cơ hay là ý căn (hadaya dathu)

HV 13:           Tức là các pháp phải có nơi tựa để sinh khởi, các pháp sinh và diệt nhưng cũng không hẳn là sinh và diệt hoàn toàn mà còn có nghiệp để lại?

Sarah:            Tất cả các pháp bao giờ cũng sinh và diệt một cách hoàn toàn. Hôm qua chúng ta có nói về các xu hướng được tích lũy như thế nào, và cái này tạo duyên cho cái kia. Nhưng với những loại tâm như cái thấy, cái nghe… chúng ta không gọi đó là xu hướng tích lũy, chúng không nằm trong các phiền não ngủ ngầm vì chúng là quả của nghiệp. Khi ta nói về tham, sân, si hay trí tuệ thì khi đó chúng ta nói về các xu hướng được tích lũy. Khi tâm tham sinh khởi chẳng hạn, nó diệt đi ngay lập tức, nhưng xu hướng của tham vẫn được tích lũy dưới dạng ngủ ngầm (anussaya). Loại duyên hệ để chỉ sự tích lũy như vậy được gọi là cận hành duyên. Mặc dù tâm tham đã sinh khởi tận diệt hoàn toàn nhưng nó vẫn là yếu tố tạo duyên cho các tâm tương tự sinh khởi về sau.

HV 13:           Mỗi một pháp sinh và diệt thì nó vẫn để lại dấu vết. Giống như bàn chân đặt xuống thì vẫn còn vết bàn chân. Như vậy là các pháp sinh và diệt nhưng để lại nghiệp và các pháp thì phải có một nơi để nó nương thì mới sinh được. Thế thì nghiệp cũng phải có nơi để nương thì nó mới tích lũy được?

Sarah:            Như hôm qua có nói, nghiệp về mặt bản chất chính là tâm sở cetana. Cetana là một tâm sở sinh khởi với tất cả các loại tâm. Vậy khoảnh khắc cetana sinh khởi với nhãn thức, nơi cetana, tâm và các tâm sở đồng sinh khác nương vào chính là nhãn căn. Tất cả những tâm sinh khởi trong tiến trình của nhãn căn và cũng như của tiến trình ý môn sau đó cùng nương vào một loại sắc là tâm cơ hay ý căn. Khi chúng ta nói về nghiệp theo một cách chế định, dưới dạng một câu chuyện  thì sẽ rất là khó hiểu. Nhưng khi ta nhận thấy được rằng khoảnh khắc của cái thấy hiện giờ và tất cả những khoảnh khắc sau đó đều sinh khởi do duyên và đều là vô ngã thì ta sẽ thấy được điều này rõ ràng hơn một chút.

Học viên 5:   Con muốn hỏi về quả của nghiệp và cái tạo nghiệp. Ví dụ những quả trổ như bị động đất, cháy nhà hay bị gì đó mà mình phải chịu thì đó là quả của nghiệp. Nhưng ví dụ một người làm cái gì đó phạm vào năm giới thì là tạo nghiệp hay là do cái nghiệp mà người đó phải làm những việc đó như là đánh cá chẳng hạn.

Jonathan:     Nếu chúng ta muốn sử dụng những thuật ngữ như nghiệp và quả của nghiệp thì ta cần rất chi tiết về ý nghĩa thực sự của chúng. Như chúng ta đã nói, cái mà ta gọi là nghiệp là một tâm sở sinh khởi cùng với tâm và đảm nhận chức năng riêng của nó, đó là tâm sở cetana. Khi ta nói lời thô tháo, khi ấy tâm sinh khởi cùng với tâm sở sân. Nhưng chính tâm sở cetana đi cùng với nó mới là cái tạo nên nghiệp. Nghiệp là nhân, còn vipaka là quả của nghiệp. Quả thực chất là một cái tâm kinh nghiệm đối tượng dễ chịu hoặc khó chịu thông qua ngũ quan. Khoảnh khắc nghe một âm thanh khó chịu là quả của nghiệp, là kết quả của nghiệp bất thiện đã tạo trong quá khứ.

Achaan có giải thích là khoảnh khắc đầu tiên của một kiếp sống cũng là tâm quả và là quả của nghiệp quá khứ. Những nghiệp được tập hợp trong nghiệp đó sẽ tạo nên các quả mà chúng ta nhận được qua ngũ căn trong cả một kiếp sống, và cả tử thức của kiếp sống đó (được tạo bởi cùng một nghiệp đã tạo ra thức tái tục –ND) . Nhưng chúng ta cũng biết là ngoài việc có những kinh nghiệm qua ngũ quan thì con người sinh ra ở những hoàn cảnh khác nhau. Chẳng hạn sinh ra giàu có hay nghèo khổ, trong một gia đình tử tế đàng hoàng hay một gia đình không có hạnh phúc, một số người thành công trong nghề nghiệp của mình nhưng có người thì luôn gặp điều thiếu may mắn trong sự nghiệp. Cái này được gọi là tám ngọn gió đời: được, mất, khen, chê, vinh, nhục, hạnh phúc và khổ đau. Đấy là một cách nói chung chung về quả của nghiệp, chứ không theo nghĩa mà chúng ta bàn về quả của nghiệp ở đây. Khi nói về xã hội nơi ta sinh trưởng hay thảm họa thiên nhiên mà chúng ta phải ghánh chịu,  đó vẫn là cách nói về quả của Nghiệp quá khứ một cách chung chung. Nhưng cái mà chúng ta quan tâm nhiều hơn là các thực tại đang được kinh nghiệm ở khoảnh khắc này. Chúng ta sẽ thấy rằng, mặc dù những điều kiện ở bên ngoài có thể rất khác nhau, có thể có những đối tượng dễ chịu và khó chịu được kinh nghiệm thông qua các căn khác nhau, sẽ có thích và không thích về những gì đang được kinh nghiệm, tức là tham và sân. Đó là những thực tại có thực ở khoảnh khắc này. Nhưng những thứ mà chúng ta vẫn mô tả như hoàn cảnh thông thường trong cuộc đời thì không phải là những thực tại như hiện giờ.

Sarah:            Cần phải rất chi tiết. Khi nói một người làm nghề đánh cả chẳng hạn thì ở khoảnh khắc người đó giết một con cá thì khi đó có nghiệp bất thiện được tạo, nhưng ở những khoảnh khắc khác trong ngày, không phải lúc nào bất thiện cũng sinh khởi. Họ cũng có những khoảnh khắc của cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm hay chăm sóc gia đình của mình, giống hệt như chúng ta mà thôi. Khi có một trận động đất, không phải ai cũng là nạn nhân của động đất ấy. Có thể có những quả khác nhau đối với mỗi người, có người sẽ chết, có người bị thương nhưng việc cái gì được kinh nghiệm ở thời điểm ấy tùy thuộc vào quả của mỗi người, nó khác nhau.

HV 5:             Hôm qua nói về danh kinh nghiệm sắc. Riêng về phần danh thì con vẫn chưa hiểu, nhất là phần danh kinh nghiệm danh. Xin bà giảng rõ thêm.

Achaan:         Để chúng ta có thể hiểu được thực sự nghiệp và quả của nghiệp thì không chỉ cần nên nói về những khái niệm ấy mà còn cần phải thấy về những gì đang sinh khởi hiện giờ. Nếu không biết về những gì đang sinh khởi hiện giờ thì ta không thể hiểu những khái niệm ấy một cách sâu sắc. Chẳng hạn, hiện giờ đang có cái thấy, ở khoảnh khắc đầu tiên cái thấy (nhãn thức) thấy đối tượng được thấy, đó là quả của nghiệp, nhưng sau đó, khi có suy nghĩ về cái được thấy thì đó không còn là quả của nghiệp nữa. Để hiểu được ba vòng nghiệp luân, phiền não luân và quả luân, chúng cũng phải được hiểu ngay tại khoảnh khắc này, ngay bây giờ đây.

Chẳng hạn chúng ta biết rằng cái thấy thì là quả. Nghiệp thì tạo ra nhãn căn, hiện giờ, ở đây tất cả chúng ta đều đang có nhãn căn. Nhãn căn được tạo duyên bởi nghiệp, nó sinh khởi là do nghiệp. Các sắc được tạo duyên bởi những yếu tố khác nhau: một số bởi nghiệp, một số thì bởi tâm, một số bởi nhiệt độ và một số bởi dưỡng chất. Sắc thì không kinh nghiệm gì cả, nhưng các sắc thần kinh được tạo duyên bởi nghiệp để làm cơ sở (căn) cho vipaka (tức là một trong ngũ song thức) sinh khởi, chẳng hạn sắc nhãn căn là cơ sở cho vipaka là nhãn thức sinh khởi . Không ai có thể làm cho nhãn căn sinh khởi. Nếu hiện giờ không có nhãn căn sinh khởi thì không thể có cái thấy được. Nhãn căn là một loại sắc được tạo duyên bởi nghiệp (hay sắc do nghiệp sinh). Khi tới thời điểm để quả được khởi sinh thì sẽ có đối tượng để làm duyên cho nhãn thức sinh khởi, để có cái thấy như hiện giờ. Như vậy cái thấy hiện giờ đây là quả của nghiệp. Vậy, nghiệp không chỉ tạo ra cái kinh nghiệm, nó cũng tạo ra sắc nữa. Kammaja rupasắc do nghiệp sinh được tạo ra bởi nghiệp nhưng không phải là quả của nghiệp , không phải là vipaka. Sắc do nghiệp sinh không phải là quả (vipaka), mà chỉ có yếu tố kinh nghiệm một cái gì đấy mới là vipaka- quả của nghiệp. Bởi lẽ sắc không kinh nghiệm gì cả, cho nên nó không thể được gọi là quả của nghiệp, cái mà cần phải kinh nghiệm một cái gì đó, như thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm..

Bằng việc hiểu kỹ điều này thì tuệ giác có thể dần dần thấy được rằng ở bất cứ khoảnh khắc nào của cái thấy thì đều không có ai cả, nó chỉ là một khoảnh khắc của quả của nghiệp mà thôi. Ở khoảnh khắc của cái nghe, cái nghe cũng là quả của nghiệp, nhưng nhĩ căn thì được tạo duyên bởi nghiệp nhưng không phải là quả của nghiệp, không phải là vipaka. Như vậy thì danh mới là nghiệp và kết quả của nó cũng là danh thì được gọi là vipaka. Kết quả của nó mà là sắc thì không được gọi là quả -vipaka mà chỉ là được tạo duyên bởi nghiệp mà thôi. Bây giờ, tấm thân này từ đầu tới chân được cấu tạo bởi những sắc khác nhau, do những duyên khác nhau. Nhãn căn nằm ở giữa mắt, chính vì vậy ta không thể nhìn từ đằng sau bởi vì không có nhãn căn ở đằng sau lưng. Có ai có thể thay đổi được điều ấy không, tức là để cho nhãn căn của chúng ta sinh khởi ở đằng sau lưng ấy? Và bởi vì các chúng sinh khác nhau có những kết quả của nghiệp khác nhau, nên một số loài thú vật lại có nhãn căn sinh khởi những nơi khác. Vậy, không có nhãn căn thì có thể có cái thấy được không? Vì cái thấy là quả của nghiệp nên khi một nghiệp bất thiện thì đối tượng được thấy đó sẽ là một đối tượng bất khả ái, chẳng hạn như tiếng sấm, có ai thích tiếng sấm không? Nó có khả ái không? Nhưng khi đến thời điểm nghiệp phải trổ quả, nó sẽ tạo duyên cho cái nghe sinh khởi và kinh nghiệm âm thanh đó, không thể nào tránh được. Chẳng hạn như ngay bây giờ không thể tránh được việc thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm.

Như vậy bây giờ có thể không còn hoài nghi về khoảnh khắc của quả, về khoảnh khắc của thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và về khoảnh khắc đầu tiên của mỗi kiếp sống – cái cũng là quả. Không ai có thể có sự lựa chọn ở đây. Ai đưa chúng ta đến thế giới này, để trở thành con người này? Đó chính là kamma, là nghiệp. Nếu các bạn không còn gì thắc mắc về quả của nghiệp thì chúng ta sẽ đi đến thảo luận về vòng phiền não luân.

Trong một kiếp sống, không phải chỉ có quả mà thôi. Hàng ngày đều có cái thấy nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và đó là quả. Sau khoảnh khắc của những kinh nghiệm đó, bắt đầu sinh khởi những khoảnh khắc của tham, sân, si hay vô tham, vô sân, vô si tùy thuộc vào sự tích lũy. Chẳng hạn như khi nhiều người thấy cùng một thứ; một số  thích cái được thấy và một số thì không thích cái được thấy, điều ấy là không thể tránh khỏi, tùy thuộc vào tích lũy  mỗi người  đã có với đối tượng cụ thể đó. Các pháp có thể được hiểu bất cứ lúc nào nếu là thời điểm chín muồi để trí tuệ hiểu về pháp đó, ở đây hoặc ở kia, ngày hôm nay hoặc ngày mai.

Ngay sau khi có cái thấy, có ai biết được rằng ngay lập tức đã có tham, sân và suy nghĩ về cái được thấy? Kể cả ở khoảnh khắc có suy nghĩ “tôi thấy một bông hoa” thì đã có rất là nhiều tâm sinh và diệt để có được ý niệm là “đây là một bông hoa”. Khoảnh khắc nghĩ về bông hoa đó thì không phải là vipaka-quả nữa. Chúng ta có thể nhớ rằng trong cuộc sống hàng ngày, các khoảnh khắc của cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm là quả (vipaka) và cái tiếp nối sau đó không phải là quả mà là suy nghĩ. Như vậy là có sáu thế giới, hay sáu cánh cửa giác quan để kinh nghiệm các đối tượng. Liệu suy nghĩ có thể thấy được không?

Ai đó trả lời:             Không

Achaan:         Liệu nghe có thể thấy được không? Và bây giờ ta đã hiểu được cuộc đời của mình là gì rồi. Chỉ có quả của nghiệp, rồi phiền não, và rồi lại tạo nghiệp. Sáng nay khi chúng tôi ăn sáng, thức ăn rất ngon và một số người nói, ôi tham, nhưng tham thì không phải là quả đúng không? Cái thấy thấy, nhưng tích lũy thì sẽ nói rằng “ồ cái này ngon quá”. Ai không có phiền não đây?

Ai đó trả lời: Chỉ có vị A-la-hán)

Achaan:         Chỉ có những vị A-la-hán thì mới không còn phiền não nữa, cho nên thế giới hiện giờ của chúng ta thì ai cũng có phiền não – tham, sân và si. Nhưng các vị A la hán cũng thấy như mọi người, nhưng sau khi cái thấy sinh khởi, sẽ không có phiền não sinh khởi đối với vị ấy. Nhưng những người mà không phải là A-la-hán sẽ có phiền não sau khi có cái thấy sinh khởi. Tùy thuộc vào tích lũy mà có những lúc có thể có thiện pháp sinh khởi sau cái thấy, điều ấy cũng không thể tránh khỏi, tùy thuộc vào duyên. Tất cả mọi người đều muốn có nhiều thiện pháp chứ không muốn có nhiều bất thiện pháp, nhưng làm sao điều ấy có thể xảy ra mà không có duyên cho nó? Nhưng bằng việc tìm hiểu và nghiên cứu kỹ hơn nữa thì những hiểu biết đúng sẽ tạo duyên cho các lời nói và hành động đúng đắn, nhờ thấy được hiểm họa của bất thiện và của việc thiếu hiểu biết kể từ khi sinh ra. Ở khoảnh khắc này có quả – vipaka không?

Ai đó nói:      Có

Achaan:         Có phiền não không? Có nghiệp không? Nghiệp gì hiện giờ đây?

Trả lời:          Đủ mọi loại nghiệp.

Achaan:         Như vậy thì quá là chung chung, chúng ta cần phải rất chi tiết, nếu chỉ cần  nói chung chung “tất cả là pháp” là xong thì ai cũng là A la hán hết rồi! Nếu nói là có nghiệp thì nghiệp đó là gì?

Trả lời:          Đây là nghiệp thiện.

Achaan:         Cụ thể là gì?

Trả lời:           Đó là hiểu biết đúng

Achaan:         Đúng như vậy, đó là loại nghiệp tốt nhất, bởi vì nếu chúng ta không được nghe pháp thì sẽ không thể nào có hiểu biết được rằng không có ai ở đây cả mà chỉ có các thực tại mà thôi. Các khoảnh khắc của cái thấy, nghe ngửi nếm xúc cham là quả được tiếp nối bởi các phiền não và rồi nghiệp, không có gì khác ngoài những thứ đó. Nếu không có sự suy xét chân chánh thì liệu có thể có hiểu biết đúng hay không? Vì vậy chỉ nghe thôi thì không đủ mà cần phải có sự suy xét từng từ Đức Phật đã nói.

Vậy ta hãy quay về với một từ thôi, từ pháp –dhamma. Điều này tùy thuộc vào mức độ hiểu biết của người nghe. Một số không hề có ý niệm pháp là gì, trong tiếng Pali, dhamma có nghĩa là cái có thực. Vì vậy, ở khoảnh khắc nghe pháp, người đã có tích lũy hiểu biết đúng sẽ hiểu về ý nghĩa thực sự của từ pháp – là cái có thực, và hiểu biết ấy sẽ mang lại sự hoan hỉ, piti. Chỉ một từ thôi, nhưng khác hẳn với những từ khác, và nó làm tăng thêm mối quan tâm để tiếp tục nghiên cứu thêm, để hiểu một cách kỹ lưỡng hơn, sâu sắc hơn chứ không chỉ hời hợt. Chính vì vậy những người đã có tích lũy hiểu biết thì sẽ lại tiếp tục nghe và nghiên cứu, suy xét, tiếp tục và tiếp tục. Bởi vì chân lý có thể được liễu ngộ chỉ có ở bây giờ mà thôi, vì vậy sự vun bồi trí tuệ phụ thuộc vào hiểu biết về những gì xuất hiện hiện giờ. Nếu không thì Đức Phật đã không thuyết giảng về những thứ bình thường trong cuộc sống của chúng ta như cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm,  thiện và bất thiện… Tất cả những cái đó đang là ngay bây giờ đây.

Tuệ giác cần phải được phát triển tiếp tục để hiểu thực sự ý nghĩa của lời nói rằng mọi thứ đều sinh và diệt, rằng không gì còn lại, như là hư không vậy. Sinh và diệt cũng là ý nghĩa của từ Khandha (uẩn), một thực tại không biết sinh từ đâu và không biết diệt đi đâu, nó như là hư không vậy, không hơn không kém. Nhưng vô minh sẽ tạo duyên cho thực tại dính mắc, bởi vì nó không hiểu được sự thật ấy. Khoảnh khắc của sự giác ngộ thì hoàn toàn khác với những khoảnh khắc mà mọi thứ đều sinh và diệt. Đây là mức độ Tuệ giác vô cùng cao cả, và nó có thể xuyên thấu được bất cứ thực tại nào đang xuất hiện. Nếu không có hiểu biết đúng thì sẽ thật vô ích khi chỉ nghe theo hay đi theo, hay làm một cái gì đó, những thứ ấy không tạo ra hiểu biết. Mọi thứ bây giờ đều đang rất thật nhưng nếu không có hiểu biết đúng về chúng sẽ không thể có sự giác ngộ, nếu không thì trí tuệ hiểu cái gì đây?

Từ Khanda- Uẩn có nghĩa là gì? Tất cả mọi người ở đây đều hiểu từ khanda, chúng ta đã nói về Khanda rồi đúng không? Từ không gì cả một thứ sinh khởi và rồi diệt đi chẳng còn gì nữa. Làm sao ta có thế sở hữu được những thực tại chỉ được tạo duyên để sinh khởi rồi lại diệt đi, vì vậy tất cả các pháp đều là vô ngã.

Sarah:            Quay trở về với câu hỏi danh kinh nghiệm danh, thì như ta đã nói, ở khoảnh khắc của cái thấy, cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác-một loại sắc, sau đó, lại có các tâm khác sinh và diệt, và cuối cùng thì có suy nghĩ về cái được thấy với tham hoặc sân. Trong tiến trình qua nhãn môn, tất cả các tâm sinh khởi trong tiến trình ấy lấy đối tượng là sắc đó, tức là đối tượng thị giác. Sau đó trong tiến trình của ý môn, bắt đầu có khái niệm về cái được thấy là gì cùng với sự dính mắc hay khó chịu với cái được thấy, với hình dạng hoặc màu sắc của cái được thấy, chẳng hạn bông hoa này.

Trong sự phát triển của hiểu biết, nếu hiểu biết đã được phát triển hơn thì có thể có hiểu biết về các thực tại thay cho việc bị cuốn vào suy nghĩ về bông hoa hay con người như thường lệ. Có thể có sự suy xét chân chánh về các thực tại như tham, sân hay những thực tại khác mà ta nói đến. Nhưng ở mức độ tư duy, vẫn chỉ khái niệm về thực tại làm đối tượng của suy nghĩ ở khoảnh khắc đó. Khi hiểu biết được phát triển, thực tại ấy sẽ được tiếp cận gần hơn thay cho việc chỉ hoàn toàn là khái niệm về  thực tại đó. Chẳng hạn bây giờ tham là thực, nó có đặc tính riêng. Nó có thể là đối tượng của hiểu biết trực tiếp ngay sau khi nó diệt đi. Nó là danh, lúc ấy nó sẽ là đối tượng của Tâm- danh, danh kinh nghiệm danh, đây chỉ là một ví dụ thôi.

HV 5:             Khi nhìn một bông hoa, tâm sinh khởi bất thiện là đặt cho bông hoa đó là xấu, đẹp, thích hoặc không thích. Nếu lúc đó có một cái tâm hiểu được đây là chỉ thực tại, chỉ là hình và màu, thì lúc đó nó cắt được phiền não và thanh lọc, thì chặp tâm đó có phải là chánh niệm không ạ?

Sarah:            Hiện giờ thì chúng ta đang nghe nhiều về thực tại khác nhau, về sự dính mắc vân vân, nhưng thực ra đấy vẫn chỉ là những suy nghĩ rằng đây là thực tại. Nhưng chỉ có trí tuệ mới có thể biết được chính xác liệu đây có phải là trí tuệ về thực tại hay không mà thôi. Nếu như có sự phân vân hay hoài nghi liệu như thế có phải là chánh niệm hay hiểu biết hay không thì chắc chắn là ở khoảnh khắc đã qua đó vẫn chỉ là suy nghĩ về thực tại, và thực tại ngay khi đó lại là suy nghĩ hợp với hoài nghi. Khi ta có mong muốn được biết liệu cái này có phải là Trí tuệ hay không, khi đó thực tại thường là tham -mong muốn một kết quả nào đó.

HV 5:             Trong một tiến trình tâm bất thiện, có khoảnh khắc tâm thiện nó đan xen để ngăn chặn tâm bất thiện đó. Con hiểu như vậy không đúng sao ạ?

Sarah:            Trí tuệ cùng với chánh niệm có thế sinh khởi bất cứ lúc nào. Hôm qua Achaan đã nói là ngay sau khoảnh khắc của cái thấy thì đã có thể có tham hay sân, thì cũng như vậy, ngay sau khoảnh khắc của tham hay sân, cũng có thể có khoảnh khắc của Trí tuệ và chánh niệm sinh khởi để có hiểu biết đúng đặc tính của cái vừa xuất hiện. Kể cả những khoảnh khắc ta rất buồn và đang khóc, ngay lúc ấy có thể có khoảnh khắc sinh khởi của trí tuệ và chánh niệm hiểu về thực tại đang xuất hiện. Chính vì vậy trong các bài kinh, đặc biệt kinh Đại niệm xứ, Đức Phật có nói về tất cả các loại tâm, và rằng kể cả các tâm bất thiện đều có thể trở thành đối tượng của chánh niệm tỉnh giác.

HV 5:             Khi có phiền não sinh khởi, có tâm chánh niệm ghi nhận, nhưng nếu mình không để cho nó tự nhiên mà mình suy nghĩ là đang có chánh niệm, như vậy là mình không chánh niệm trong hiện tại mà chỉ đang trong tư duy, suy nghĩ mà thôi, phải không?

Jonathan:     Như chúng ta đã nói hôm qua, muốn có chánh niệm là tham, cố gắng chánh niệm cũng là tham. Hiểu biết  hay trí tuệ thì đơn thuần hiểu về cách thức của mọi thứ như nó là mà thôi. Khi nghe Đức Phật giảng Pháp hay nghe về những gì Đức Phật đã thuyết giảng, và có sự suy xét về những gì được nghe, điều ấy có thể làm duyên cho chánh niệm sinh khởi. Vì vậy chúng ta không nên nghĩ đến việc thử làm cách này hay cách kia. Khi chúng ta thực sự hiểu rằng hiểu biết hay sự suy xét chân chánh về các thực tại có thể làm duyên cho chánh niệm cùng Trí tuệ trực tiếp kinh nghiệm thực tại, khi đó chúng ta sẽ được giải thoát khỏi ý niệm là cần phải làm gì đó để có tuệ giác. Khi chúng ta hiểu rằng bất cứ pháp nào cũng có thể là đối tượng của hiểu biết đúng, của trí tuệ, chúng ta sẽ không phải lo lắng đến việc liệu là danh hay sắc được kinh nghiệm. Chúng ta không cần phải nghĩ đến việc sẽ phải có chánh niệm trên một số loại thực tại cụ thể nào đó, phải thay đổi bất cứ điều gì về thực tại hiện giờ. Chúng ta hiểu rằng chánh niệm có thể có bất cứ thực tại nào làm đối tượng.

Sarah:            Nếu như muốn hay biết một đối tượng cụ thể hay cố gắng hay biết về đối tượng cụ thể thì đó vẫn là một sự trói buộc – xiềng xích (yogha) mà Achaan đã nói tới, và lại là một loại xiềng xích nặng nề vì chưa đựng tà kiến trong đó. Bởi vì khi ấy sẽ luôn luôn có sự dính mắc vào ý niệm về ngã, vào phiền não của tôi, vào chánh niệm của tôi.

Học viên 14: Ví dụ sau cái thấy mà tâm nhận biết là có sự dính mắc vào đối tượng và khi đó có buông bỏ sự dính mắc luôn, thì ở khoảnh khắc đấy có phải là có sự hiểu biết không?

Sarah:            Ai buông bỏ?

HV 14:           Ở khoảnh khắc mà tâm nhận biết, có sự dính mắc vào đối tượng, và khi đó tâm có sự buông bỏ dính mắc đó.

Jonathan:     Hẳn ở đây phải có một mong muốn buông bỏ hoặc một ý niệm cho rằng buông bỏ thì tốt hơn, bởi vì thông thường, phản ứng tự nhiên là không muốn buông bỏ, vậy ở đằng sau nó chắc chắn là có ý niệm về sự thực hành buông bỏ. Như vậy chắc chắn là có sự mong muốn thay đổi mọi thứ và mong muốn không có sự dính mắc sau cái thấy, thay cho việc trí tuệ thực sự sinh khởi và hiểu về cái được thấy.

Sarah:            Đây chính là ý mà Achaan muốn ám chỉ khi nói Đạo là con đường của sự xả ly, không phải là con đường của sự dính mắc. Chúng ta có thể suy xét liệu Đạo là con đường của sự hiểu biết hay là con đường của việc cố gắng buông bỏ.

Achaan:         Khi bạn nói buông bỏ thì buông bỏ là gì?

HV 14:           Khi tâm nhận thấy sự dính mắc vào đối tượng, và thấy đó là bất thiện.

Achaan:         Từ bỏ cái gì?

HV 14:           Từ bỏ sự dính mắc vào đối tượng.

Achaan:         Liệu ai có thể từ bỏ sự dính mắc vào đối tượng nếu không có hiểu biết đúng sinh khởi ở ngay tại khoảnh khắc đó hay không?

Học viên 2:   Không. Bởi vì khi mình nhận ra là muốn buông bỏ thì pháp dính mắc đó nó đã diệt rồi.

Học viên 14:             Tức là khi đó chỉ có sự suy nghĩ thôi sao?

Sarah:            Suy nghĩ với mong cầu.

Jonathan:     Mặc dù ở đó có mong cầu, nhưng điều khiến nó nguy hiểm hơn  chính là ý niệm cho rằng đó là cách thức phát triển hiểu biết.

Achaan:         Hiện giờ bạn thấy gì?

HV 14:           Đối tượng thị giác ạ.

Achaan:         Nếu bạn nói buông bỏ, sẽ là buông bỏ đối tượng được thấy hay là buông bỏ ý niệm về bông hoa đây?

HV 14:           Như vậy Bà muốn khuyên con là chỉ cần hay biết tâm bất thiện thôi ạ?

Achaan:         Không, tôi chỉ muốn bạn hiểu thôi, hiểu đúng những gì được nói tới. Tôi muốn bạn hiểu được rõ rang, đúng đắn từng thứ một, ngay cả cái từ buông bỏ. Chẳng hạn ta nói đến đối tượng của cái thấy, hiện giờ mọi người đang thấy con người, bàn ghế v.v, về mặt thực chất thì nó chỉ là những ý niệm xuất phát từ cái được thấy. Đức Phật không chỉ dạy mọi người chỉ suy nghĩ không, mà phải hiểu thực sự những lời của Ngài. Ở khoảnh khắc của hiểu biết đúng, vô minh bớt đi một chút nhưng phải rất từ từ. Khi trí tuệ vẫn chưa hiểu thì sẽ không thể buông bỏ gì cả.  Như vậy sự buông bỏ ấy sẽ tùy thuộc vào trí tuệ chứ không vào ai đấy nghĩ rằng tôi buông bỏ. Nhưng khi có kinh nghiệm rằng đối tượng thị giác không phải là cái gì đó hay ai đó, hiểu biết đúng ấy sẽ từ từ được phát triển. Hôm nay dường như có chút hiểu về đối tượng thị giác qua khái niệm về nó. Nhưng đó sẽ vẫn chỉ là suy nghĩ thôi, chừng nào con đường đạo chưa thực sự bắt đầu. Nó chưa phải là Đạo bởi vì hiểu biết đúng còn vô cùng nhỏ bé. Chẳng hạn, ở khoảnh khắc này, nếu  có một chút hiểu biết nào đó thì lúc đó có chánh niệm. Nhưng hiện giờ đặc tính của chánh niệm đã xuất hiện đối với trí tuệ hay chưa để trí tuệ hiểu được nó? Đã có ai có thể biết được rằng sati- chánh niệm không phải là tự ngã, không phải là ta không? Chúng ta không nên nghĩ về những từ như chánh niệm hay giác ngộ, mà chỉ cần có hiểu biết chút xíu nhờ việc nghe một chút xíu và thêm nữa, thêm nữa. Hiểu biết về mặt tư duy hay lý thuyết chưa thể phân biệt được đối tượng thị giác và bông hoa. Liệu hiện giờ có ai có hiểu biết thực sự rằng không có ai cả ngoài đối tượng thị giác hay không? Chẳng hạn,  bây giờ chúng ta nói về đối tượng thị giác và đối tượng thị giác thì đang xuất hiện, nhưng không ai có thể nói rằng đó không phải là một bông hoa. Thế còn những khoảnh khắc khác, đi ra khỏi căn phòng này thì sao? Rất có thể đó chỉ là suy nghĩ rằng đây không phải là bông hoa mà chỉ là đối tượng thị giác thôi, phải không? Vậy thì vẫn chưa phải là mức độ của tuệ giác có thể buông bỏ đâu. Và buông bỏ cái gì đây? Cái cần buông bỏ là ý niệm cái gì đó từ một đối tượng thị giác mà chúng ta vẫn cho là một con người hay một cái gì đó. Ngày nay, mọi người cho rằng họ có thể làm cái gì đó, tạo ra một con đường tắt để kinh nghiệm  ngay lập tức sự sinh diệt của thực tại. Nhưng con đường là lối tắt đó về bản chất chính là con đường của vô minh, vì nó không hiểu đúng những gì đang xuất hiện. Nếu không có hiểu biết đúng, làm sao nó có thể là con đường chánh đạo đây? Nếu không có hiểu biết đúng, đó là con đường của vô minh và tà kiến. Sẽ không có phỉ lạc sinh khởi ở khoảnh khắc nghe những lời Đức Phật dạy. Ở thời Đức Phật, có những người cần đến 60 năm để nghe và hiểu được những lời Đức Phật đến mức độ giác ngộ, và có những người khác chẳng giác ngộ gì cả. Vậy làm sao chúng ta nghĩ rằng ngày nay chúng ta có thể dễ dàng giác ngộ đây? Chúng ta cần phải rất trung thực để thừa nhận rằng nếu chưa có hiểu biết về khoảnh khắc hiện giờ một cách đúng đắn, sẽ không có con đường dẫn tới giác ngộ. Nếu không hiểu về những gì đang xuất hiện hiện giờ thì trí tuệ hiểu về gì đây? Những gì đang xuất hiện thì rất thực và có thể được hiểu. Còn những gì không xuất hiện thì không thể được hiểu. Nếu không nghe thì có thể có sự buông bỏ được không?

HV 14:           Không, vì khi con nghe bà giảng về Nghiệp và quả thì con thấy rất sợ bởi vì tiến trình bất thiện mà nó xảy ra thì nó đã tạo nghiệp rồi.

Achaan:         Khi bạn nói là sợ thì sợ là gì?

HV 14:           Đó là sân- dosa.

Achaan:         Để có thể giác ngộ, không thể nào bảo rằng chỉ hiểu một số thứ này và không cần hiểu một số thứ kia, mà mọi thứ phải được hiểu một cách kỹ lưỡng, sâu sắc. Chừng nào không có cái hiểu về sợ hãi thì nó cứ sinh khởi rồi lại diệt đi, và sự vô minh về thực tại còn đó, cho nên nó lại có ý niệm “tôi sợ”. Chúng ta không cần phải đi ra ngoài để tìm xem “tự ngã” ở đâu, mà chính là bây giờ đây. Khi chúng ta đã đọc và nghiên cứu thật nhiều thì chúng ta sẽ thấy rằng pháp luôn luôn là bây giờ, không có xa đâu cả. Nhưng khi có vô minh thì mặc dù mọi thứ đang có ở đây, chúng không thể được hiểu.

Học viên 2:    Trong các cuộc trao đổi vừa rồi có nói rất nhiều đến các khái niệm và thực tại. Nhưng liệu chúng ta có thể sống một cuộc sống bình thường khi ta không có khái niệm hay không? Khi mà có một sự hiểu đúng mà có thể từng bước nhìn nhận ra thực tại như nó là nhưng bên cạnh đó vẫn tiếp tục xây dựng những khái niệm để chúng ta tiếp tục sống cuộc đời bình thường của mình, hiểu như vậy có đúng hay không?

Achaan:         Không ai có thể sống mà không có khái niệm, nhưng trí tuệ biết rõ cái gì là cái gì, còn nếu không thì sẽ luôn luôn có sự vô minh trong suốt cuộc đời của chúng ta. Tại sao nói rằng không ai có thể sống mà thiếu khái niệm và rằng trí tuệ biết rõ cái gì là cái gì, tại sao lại như vậy?  Bởi vì các pháp là như thế, rất tự nhiên, không ai có thể thay đổi. Tiến trình tự nhiên xảy ra là: ở khoảnh khắc của cái thấy,  nhãn thức kinh nghiệm đối tượng thị giác, đối tượng thị giác là sắc, và tuổi thọ của nó dài gấp 17 lần tuổi thọ của tâm, vì thế nó được kinh nghiệm bởi 17 tâm khác nhau và rồi diệt đi. Sau đó, dù sắc ấy đã diệt đi rồi, nhưng ý niệm về sắc ấy sẽ được chuyển sang tiến trình tiếp theo, tâm suy nghĩ về nó và lấy khái niệm về cái được thấy làm đối tượng, nhờ vậy biết được khái niệm về cái được thấy đó là gì.

Đức Phật có phân biệt được những người khác nhau, nơi chốn và các sự kiện không? Đức Phật vẫn biết được tất cả những thứ đó, vì đó là tiến trình tự nhiên của các pháp. Sau khi cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác thì tưởng (sanna) sinh khởi cùng với cái thấy sẽ đánh dấu và ghi nhớ cái được thấy, và rồi sẽ nhận ra đó là cái gì. Sau khoảnh khắc rất ngắn ngủi đó, lập tức sẽ có một ý niệm, ta không cần đặt tên tiến trình đó là gì, nhưng nó có khái niệm về cái gì đó, dù là chưa có ngôn từ. Chẳng hạn những con chó con mèo vẫn nhận ra mọi thứ mặc dù không có ngôn từ. Tức là trước khi có suy nghĩ bằng ngôn từ, thì đã có suy nghĩ về hình và dạng, và đó là suy nghĩ về nimitta, tức là  tướng của thực tại. Sự sinh diệt của thực tại tạo duyên cho sự xuất hiện của hình và dạng, là tướng (nimitta) của thực tại vừa được nhận biết và điều ấy bây giờ đang xẩy ra rất nhiều. Vậy chúng ta đang sống trong thế giới của nimitta, của tướng, đúng không? Luôn luôn là như vậy, tướng của con người này, tướng của bông hoa kia. Điều đó chỉ ra rằng các thực tại sinh và diệt nhanh tới mức nào, và đó pháp vận hành như vậy. Không ai có thể thay đổi gì cả, pháp thì vẫn là pháp. Chỉ có trí tuệ mới hiểu, chứ không có tôi hay cái tự ngã nào có thể làm được công việc ấy. Nếu không thì chúng ta sẽ không thể biết được panna-trí tuệ là gì. Ta có thể cho rằng mình có thể khiến cho tuệ giác sinh khởi, nhưng bất cứ cái gì sinh khởi đều cần có những duyên tương ứng. Vậy trong một ngày sẽ có bao nhiêu tà kiến và bao nhiêu sự thực hành sai lầm nếu như không có hiểu biết đúng đây?

Học viên 15: Con rất thích với câu của Achaan dạy là: kinh nghiệm khoảnh khắc hiện tại. Bây giờ con thực hành như thế này thì con muốn biết là có đúng hay không để con áp dụng. Ví dụ con buồn ngủ, đầu tiên có sự hay biết là buồn ngủ, hay biết sự nặng của mi mắt hay biết cái tâm suy nghĩ là buồn ngủ rồi, nhưng trước mặt Achaan đáng kính thì không được ngủ gật, và hay biết được sự vật lộn, hay biết sự thúc giục đứng lên, hay biết có âm thanh, hay biết có sự tác ý, tất cả sự ấy thì luôn có sự hay biết. Thực hành thế đúng chưa? Đó là cách để kinh nghiệm khoảnh khắc thực tại không?

Achaan:         Khi bạn mô tả bạn thế này thế kia thì bạn ở đâu, bạn là gì?

HV 15:           Lúc bấy giờ, khởi đầu thì phải là mình, nhưng một lát sau đó là sự hay biết về cảm giác nặng ở mi mắt hay biết là có một suy nghĩ chạy là đang nghe Achaan giảng, không được ngủ gật.

Sarah:            Khi kinh nghiệm về cái cứng xuất hiện thì chỉ đặc tính của nó xuất hiện, hay có ý niệm là cái cứng ở mắt, ở cái bàn hay ở chân?

 HV 15:          Không phải là cái cứng mà nó là sự nặng ở mi mắt.

Người phiên dịch:    Vâng, cứng hay nặng thì là do cách dùng từ thôi. Nếu là nặng thì nó nặng ở mắt hay ở đâu? Nghĩa là có ý niệm về nơi chốn hay không?

HV 15:           Chỉ là sự nặng nó muốn trĩu xuống và sự hay biết là nó muốn trĩu xuống.

Sarah:            Khi đó thực ra chỉ là suy nghĩ về cái nặng thôi. Trong suốt cả một ngày, đều có danh và sắc sinh khởi, luôn luôn. Khoảnh khắc cái cứng thực sự xuất hiện, sẽ không thế có ý niệm gì, đó chỉ là một thực tại xuất hiện qua thân căn mà thôi. Chẳng hạn như khi buồn ngủ hoặc đói, ở khoảnh khắc đó vẫn chỉ là thức kinh nghiệm một đối tượng, ví dụ như cảm thọ. Sau đó có suy nghĩ rằng tôi buồn ngủ, tôi không nên ngủ v.v… Suy nghĩ thì luôn có thể sinh khởi và suy nghĩ về bất cứ điều gì. Vấn đề ở đây không phải là tôi nên làm cái này hay tôi nên làm cái kia, mà để hiểu rằng đó là các thực tại hữu vi mà thôi. Nếu không thì sẽ luôn luôn có những ý niệm là tôi phải làm cái này hay tôi phải làm cái kia. Trong khi thực tế là chỉ có cái thực tại đang xuất hiện và có thể được hiểu hay không hiểu mà thôi.

Học viên 1:   Achaan rất nhấn mạnh là để có hiểu biết thực sự thì cần phải chi tiết một cách tường tận từng từ một. Nói về cái thấy chẳng hạn, thì khi đối tượng thị giác tiếp xúc với nhãn căn thì nó sẽ làm khởi sinh nhãn thức, nhưng nhãn thức nó không đi một mình mà bao giờ nó cũng sinh khởi cùng thọ, tưởng và tác ý. Như vậy cùng với nhau chúng hình thành tứ danh uẩn, và tứ danh uẩn này kết hợp với nhãn căn, nhãn căn và đối tượng thị giác là sắc uẩn, sắc uẩn này kết hợp với tứ danh uẩn thành ngũ uẩn. Tại sao lại tách thọ và tưởng thành uẩn riêng biệt, và chúng vận hành như thế nào để tạo thành ngũ uẩn?

Jonathan:     Tôi hiểu câu bạn hỏi là tại sao tưởng và thọ lại là hai uẩn riêng biệt?

HV 1:             Đúng vậy.

Jonathan:      Khi Đức Phật giảng pháp, Ngài giảng theo nhiều cách khác nhau. Đôi khi Đức Phật xếp các thực tại thành khanda- uẩn, đôi khi thì lại xếp theo giới (dhatu), hay là theo xứ (ayatana), hay xếp theo Tứ niệm xứ (satipathana). Mỗi cách xếp như vậy đều giúp chúng ta hiểu Giáo pháp theo một cách khác nhau. Trong cách phân chia thành ngũ uẩn, có để riêng tưởng và thọ thành những uẩn riêng biệt để nhấn mạnh. Thọ uẩn là một cetasika –tâm sở rất quan trọng, chúng ta rất dễ dính mắc, bận tâm vào cảm thọ dễ chịu và khó chịu được kinh nghiệm. Sanna-tưởng thì cũng là một tâm sở quan trọng vì nó đánh dấu và ghi nhớ đối tượng. Thọ xuất hiện rất thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nhưng sanna thì không thường xuyên như vậy (trở thành đối tượng của tâm).  Việc hiểu tại sao chúng lại được xếp thành hai loại uẩn riêng thì không quan trọng bằng những việc chúng là những thực tại rất quan trọng. Nhưng quan trọng nhất thì vẫn là thực tại đang xuất hiện hiện giờ và có thể là đối tượng của chánh niệm.

Achaan:         Con người muốn có gì rất nhiều trong ngày? Câu mà chúng ta nói khi gặp nhau là gì, “bạn có khỏe không?” Con người muốn có cái gì? Muốn có thọ lạc. Chính vì vậy Đức Phật dạy về các uẩn là ngũ uẩn thủ. Và ta muốn kinh nghiệm gì trong ngày? Chúng ta muốn thọ, nhưng câu trả lời ở đây là sắc. Ta có thể có thọ lạc mà không có kinh nghiệm về sắc không? Sắc là một đối tượng mà chúng ta mong muốn có, bởi vì nếu không có sắc sẽ không có kinh nghiệm qua ngũ quan, sau khi kinh nghiệm qua ngũ quan thì mới có suy nghĩ về những gì được kinh nghiệm.  Có ai thích thọ khổ hay ưu không? Nhờ có sắc nên mới có những cảm thọ dễ chịu mà ta dính mắc vào, dù là qua ngũ quan  hay ý môn, đó là lý do mà sắc cũng rất quan trọng. Đức Phật cũng dùng từ sắc uẩn thủ.

Nếu thức ăn mặc dù rất ngon nhưng trông không ưa nhìn thì sẽ không thích, cho nên cũng cần phải có phần trình bày đẹp đẽ nữa. Đôi khi có đồ ăn ngon, trình bày đẹp, nhưng nếu có âm thanh du dương lại còn dễ chịu hơn nữa. Vậy sắc không bao giờ đủ cả. Dù chúng ta có làm bao nhiêu việc thiện chăng nữa, nghiệp ấy vẫn đưa chúng ta tái sinh đến các cõi có ngũ uẩn, trong đó có sắc. Và chúng ta có thể dính mắc với sắc một cách mạnh mẽ đến mức có thể tạo các nghiệp bất thiện chỉ để có được sắc mà ta muốn có. Những người muốn trở nên giàu có thì mục đích để làm gì đây? để có được những sắc mà họ muốn. Nếu ta không có được cái mình muốn thì giảu có để làm gì? Nếu có thật nhiều tiền ở trên một hòn đảo hoang thì có thể làm gì đây? quanh đi quẩn lại chỉ có cùi dừa và nước dừa mà thôi, lúc đấy thì sẽ muốn có những cái cụ thể hơn là tiền, đúng không? Nếu như không có sự suy xét, chúng ta không thể thấy được mình dính mắc với cái loại sắc làm đối tượng cho thị giác chừng nào.  Có những người dính mắc với cái được thấy, một số thì lại dính mắc với âm thanh  được nghe, chẳng hạn như tiếng nhạc du dương, một số  lại dính mắc với mùi nước hoa, một số lại thích hương vị ngon. Tôi nghĩ rằng tất cả mọi người thì đều có những dính mắc, hệt như là trẻ con vậy, và đó là những đối tượng của ngũ quan hay gọi là ngũ dục, tức là sắc uẩn, cái làm duyên cho thọ uẩn.

Nếu không có sanna – tưởng  ghi nhớ lại những thứ đó thì ta sẽ không bị rắc rối gì cả. Tưởng luôn nhớ mọi thứ: đồ ăn ngon ở đâu nhỉ? dù nó ở một nơi rất xa xôi, nhưng cũng phải đến bằng được. Vậy ai có thể từ bỏ được sự dính mắc vào các đối tượng ngũ dục đây? Vâng, chỉ có vị Thánh bất lai.

Đừng coi thường sự dính mắc của chúng ta vào những đối tượng ngũ quan. Sự dính mắc ấy thì có thể thực sự được tận diệt bằng tuệ giác, nhưng một cách rất từ từ, bắt đầu từ hiểu biết đúng. Nếu không có hiểu biết đúng thì sẽ có vô minh cho rằng mọi thứ là trường tồn. Ai có thể biết được căn cơ của những người khác, rằng người này thích cái này hay thích cái kia, nhưng mình tự biết rõ bản thân mình hơn. Dù là thiện pháp hay bất thiện pháp thì hiểu biết đúng có thể hiểu đúng những thực tại đó như nó là, chỉ là pháp, không phải là tự ngã. Nếu không thì sẽ không có sự tận diệt của bất thiện được. Ý niệm về ngã có thể nghĩ rằng mình sẽ có thể có được hiểu biết từ cách thực hành này hay cách thực hành kia. Nhưng hãy thử xem hiểu biết về cái thấy và cái nghe hiện giờ thì sao? Đây chính là điểm khởi đầu của Tuệ giác ở mức độ cao hơn.

Trong các uẩn, không phải chỉ có sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn mà hành uẩn cũng rất quan trọng, ở những thời điểm khác nhau. Thế còn sự dính mắc đối với thức uẩn, thực tại kinh nghiệm đối tượng thì sao đây? Nếu không có thức uẩn thì sẽ không có sự dính mắc, đúng không? Không có thế giới nào xuất hiện hết cả. Có uẩn nào không phải là đối tượng của dính mắc hay không? Tất cả các uẩn đều là đối tượng của chấp thủ, dính mắc. Khi có sự dính mắc với sự thực hành sai trái và tà kiến thì là uẩn nào? Đó là Hành uẩn- sankhara khandha. Đó là thực tại nào trong hành uẩn đây?

Trả lời:         Tham và tà kiến

Achaan:         Hiện giờ chúng ta đang sống trong thế giới của nimitta (tướng) có đúng không? Đây là lời nhắc nhở rằng, ở khoảnh khắc không có cái hiểu về thực tại, thì cái mà chúng ta tưởng lầm là cái gì đấy hay con người nào đấy chỉ là nimitta mà thôi.

Học viên 2:   Hôm qua có trao đổi quan trọng về ý nghiệp là chỉ có tâm sở tác ý thì mới tạo nghiệp. Lấy ví dụ có người đi lên núi, ngồi trong cốc, không nói chuyện với ai, không làm việc bất thiện nào nhưng trong tâm người ấy thì có nhiều ý nghĩ ác chẳng hạn muốn hại người này người kia. Vậy thì người đó có tạo nghiệp hay không? Con có xem sách Vi diệu pháp để tìm mối liên quan giữa tâm và tâm sở nhưng nó phức tạp quá. Nên con muốn nhờ Achaan giải thích thêm?

Sarah:            Chúng ta sắp hết thời gian nên tôi chỉ đưa ra vài ví dụ đơn giản mà thôi. Như đã nói ở phần trước, một người đánh cá không phải lúc nào cũng có tác ý sát sinh. Một phần nhiều thời gian có thể họ cũng chỉ nghỉ ngơi trên thuyền và có tham sinh khởi khi nghĩ đến bữa ăn trưa của mình, giống như chúng ta vậy. Có lúc họ có thể nghĩ đến việc bắt cá và cố gắng bắt cá nhưng không thành công. Mặc dù ở thời điểm đó, tác ý là đánh bắt cá để sát sinh, nhưng do không thành công cho nên chưa trở thành nghiệp đạo, tức là sẽ tạo quả trong tương lai. Để là nghiệp đạo sát sinh thì cần phải có 4 yếu tố: 1. biết có một chúng sinh có mạng sống là đối tượng để sát sinh; 2.có tác ý sát sinh; 3.có hành động sát sinh; và 4. chúng sinh đó bị chết. Chỉ đến khi đó nghiệp đạo mới hoàn toàn trọn vẹn và sẽ tạo quả về sau. Nếu chưa hội đủ các yếu tố đó, mới chỉ có nghiệp là ý nghiệp bất thiện ở các mức độ khác nhau mà thôi. Cũng tương tự như vậy, chúng ta có thể nghĩ đến việc lấy một bông hoa này đem về nhà, nhưng hành động ấy không xảy ra, thì nó cũng giống như là trong một giấc mơ trong đó mình làm những hành động bất thiện. Có rất nhiều ví dụ như vậy có thể được thấy trong cuốn Chú giải Bộ pháp tụ, nhưng toàn bộ chi tiết vi tế về nghiệp và quả của nghiệp chỉ có thể được hiểu trọn vẹn bởi Đức Thế tôn mà thôi. Điều quan trọng là hiểu được các thực tại hiện giờ là thiện hay bất thiện, còn chúng ta sẽ không bao giờ có thể đoán ra được kết quả của nó sẽ thế nào. Hiểu về thực tại hiện giờ là thiện hay bất thiện thì quan trọng hơn là lo lắng về kết quả của cái đã xảy ra rồi, bởi vì khi lo lắng như vậy luôn luôn là sự dính mắc vào ý niệm về “tôi” và “của tôi”.

Sadhu sadhu sadhu!

 

, , , , , ,

Khảo cứu Pháp chân đế – CHƯƠNG 22: TỊNH HẢO VÀ BẤT TỊNH HẢO

CHƯƠNG 22. TỊNH HẢO VÀ BẤT TỊNH HẢO

Tâm (citta) có thể được phân loại thành tịnh hảo (sobhana) và bất tịnh hảo (asobhana). Pháp tịnh hảo là những thực tại “tốt đẹp”. Pháp tịnh hảo không chỉ bao gồm các pháp thiện mà còn bao gồm cả các pháp là quả thiện (kusala vipāka) là quả của nghiệp thiện và pháp duy tác tịnh hảo – (sobhana kiriya dhamma) (tâm của các vị A la hán không có tính chất thiện hay bất thiện).

Pháp bất tịnh hảo (asobhana dhamma) đối lập với pháp tịnh hảo (sobhana). Pháp bất tịnh hảo là các pháp không tịnh hảo, không tốt đẹp. Các pháp bất tịnh hảo không chỉ bao gồm các tâm và tâm sở bất thiện, mà còn cả các tâm và tâm sở không sinh kèm với các tâm sở tịnh hảo. Như vậy, khi tâm được phân loại theo các pháp tương hợp (sampayutta dhamma) là các pháp khiến tâm đa dạng, thì tâm có thể được phân biệt thành tịnh hảo và bất tịnh hảo. Điều ấy có nghĩa rằng tâm được phân loại thành sinh kèm hoặc không sinh kèm các tâm sở là nhân tịnh hảo, tức vô tham, vô sân và trí tuệ. Nhân tịnh hảo là các tâm sở tịnh hảo khiến tâm trở nên tịnh hảo. Như vậy, việc phân loại các tâm là tịnh hảo hay bất tịnh hảo phải theo sự phân loại tâm dựa trên nhân (hetu). Các tâm sinh kèm nhân tịnh hảo là tâm tịnh hảo và các tâm không sinh kèm nhân tịnh hảo là tâm bất tịnh hảo.

Khi nghiên cứu pháp chân đế, ta cần phải thẩm xét một cách kỹ lưỡng về nhân và quả. Nếu hiểu một cách rõ ràng nhân và quả, ta sẽ không còn hiểu sai về pháp tịnh hảo và pháp bất tịnh hảo.

Tâm bất thiện sinh khởi cùng với các tâm sở bất thiện là tham, sân và si và như vậy, rõ ràng đó không phải là tâm tịnh hảo.

Nhãn thức không thể sinh khởi cùng với tham, sân và si hay bất cứ loại tâm sở tịnh hảo nào khác. Nhãn thức chỉ sinh kèm với bảy biến hành tâm sở, gồm xúc (phassa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), tư (cetanā), nhất tâm (ekaggatā), mạng căn (jīvitindriya) và hướng tâm (manasikāra). Bảy tâm sở này được gọi là biến hành tâm sở, chúng luôn sinh kèm với mỗi tâm. Tâm không thể sinh khởi mà không có bảy biến hành tâm sở này, bất kể đó là tâm bất thiện (akusala citta), tâm thiện (kusala citta), tâm quả (vipākacitta) hay tâm duy tác (kiriyacitta), tâm siêu thế (lokuttara citta) hay bất cứ loại tâm nào khác. Bảy biến hành tâm sở và sáu loại tâm sở khác – các tâm sở biệt cảnh – không sinh khởi với mỗi tâm, có thể thuộc về một trong bốn chủng loại theo loại tâm chúng sinh kèm[1]. Các tâm sở biến hành và các tâm sở biệt cảnh được gọi là các tâm sở tợ tha (aññāsamāna cetasika)[2]. Khi các tâm sở này sinh khởi cùng tâm bất thiện thì chúng là bất thiện, khi chúng sinh khởi cùng tâm thiện thì chúng là thiện. Trong khi đó, tâm sở bất thiện chỉ sinh kèm với tâm bất thiện và tâm sở tịnh hảo chỉ sinh kèm với tâm tịnh hảo.

Nhãn thức là tâm quả và chỉ đồng sinh với bảy biến hành tâm sở chứ không với các tâm sở tịnh hảo hay các tâm sở bất thiện. Như vậy nhãn thức là tâm bất tịnh hảo nhưng không phải là tâm bất thiện.

Khi nghiên cứu Giáo pháp, ta cần phải hiểu một cách chính xác sự khác biệt giữa tâm bất thiện và tâm bất tịnh hảo. Tâm bất thiện hay các pháp bất thiện là các thực tại xấu xa, hạ liệt và nguy hiểm. Chúng là nhân sẽ tạo ra kết quả xấu và buồn đau. Pháp bất tịnh hảo bao gồm các tâm và tâm sở không sinh kèm với tâm sở tịnh hảo. Đức Phật dạy Giáo pháp bằng nhiều phương pháp khác nhau và dưới nhiều góc độ khác nhau, tương ứng với đặc tính thực sự của các thực tại. Khi nghiên cứu Giáo pháp, ta cần phải suy xét các đặc tính của thực tại một cách chi tiết để có thể hiểu được chúng như chúng là. Như chúng ta đã thấy, pháp có thể được xếp thành ba loại: pháp thiện (kusala dhamma), pháp bất thiện (akusala dhamma), pháp vô ký (avyākata dhamma). Ta cần phải nhớ rằng pháp thiện là các thực tại là nhân tạo duyên cho quả thiện. Các pháp bất thiện là các thực tại làm nhân tạo duyên cho quả bất thiện. Pháp vô ký (avyākata dhamma) là các thực tại không thiện cũng không bất thiện, chúng bao gồm các tâm quả và các tâm sở quả, các tâm và các tâm sở duy tác và niết bàn. Như vậy, pháp vô ký bao gồm không chỉ tâm, tâm sở là quả và duy tác, mà cũng bao gồm cả các pháp chân đế là sắc và niết bàn. Sắc và niết bàn không thể là thiện hay bất thiện bởi chúng không phải là tâm hay tâm sở. Như vậy, bốn pháp chân đế có thể được phân loại thành ba nhóm pháp khác nhau này. Còn khi các pháp được phân loại theo bốn chủng loại là chỉ đề cập đến tâm và tâm sở mà thôi.

Các tâm và tâm sở thuộc bốn chủng loại có thể được phân thành tịnh hảo và bất tịnh hảo theo cách như sau:

  • Tâm bất thiện và các tâm sở đồng sinh là các pháp bất tịnh hảo.
  • Tâm thiện và các tâm sở đồng sinh là các pháp tịnh hảo
  • Tâm quả và tâm duy tác không sinh kèm với các tâm sở tịnh hảo như vô tham và vô sân là các pháp bất tịnh hảo.
  • Tâm quả và tâm duy tác sinh kèm với các tâm sở tịnh hảo là các pháp tịnh hảo.

Nhãn thức là quả thiện và nhãn thức là quả bất thiện chỉ sinh kèm với bảy biến hành tâm sở. Cũng như vậy với bốn song thức khác. Chúng được sinh kèm chỉ bởi bảy biến hành tâm sở, vì vậy, ngũ song thức là tâm bất tịnh hảo. Hơn nữa, ngoài mười tâm (ngũ song thức) này, cũng có các tâm khác cũng là bất tịnh hảo (chúng không sinh kèm với tâm sở tịnh hảo).

Một số tâm quả thiện là bất tịnh hảo và một số khác là tịnh hảo, đồng sinh với các tâm sở tịnh hảo. Mỗi tâm sinh khởi trong cuộc sống hàng ngày lại khác biệt. Thức tái tục khởi sinh ở cõi người khác với thức tái tục sinh khởi ở cõi khổ. Chúng là quả được tạo bởi những nghiệp khác nhau. Một chúng sinh tái sinh ở các cõi khổ có thức tái tục là quả bất thiện, là quả của nghiệp bất thiện. Thức tái tục là quả bất thiện chỉ sinh khởi ở cõi địa ngục, ngã quỷ, a tu la hay ở cõi súc sinh. Thức tái tục sinh khởi ở cõi người hay một trong các cõi thiên là tâm quả thiện; và tái sinh ở những cõi này là sự tái sinh an lành, là kết quả của nghiệp thiện.

Thức tái tục sinh khởi ở cõi người là quả thiện, tuy nhiên có các mức độ nghiệp khác nhau tạo nên quả thiện. Những người bị tàn tật bẩm sinh có thức tái tục là kết quả của nghiệp thiện rất yếu, không sinh kèm với các tâm sở tịnh hảo vô tham, vô sân hay trí tuệ. Vì thức tái tục của người ấy là kết quả của nghiệp thiện yếu, bất thiện nghiệp có cơ hội khiến người ấy bị tật nguyền từ lúc lọt lòng.

Còn những người không bị tàn tật bẩm sinh cũng sinh ra ở những môi trường khác nhau: họ sinh ra ở những gia đình khác nhau, một số nghèo, một số giàu, thuộc địa vị khác nhau và có những sự khác biệt về số lượng người tùy tùng, đồng hành. Tất cả những sự đa dạng ấy đều do một nguyên nhân, đó là sự khác biệt trong cường độ của nghiệp thiện đã tạo ra tâm quả đảm nhận chức năng tái sinh. Nếu nghiệp thiện là hợp trí ở mức độ thấp hay không hợp trí, nó có thể tạo ra thức tái tục là tâm quả thiện sinh kèm với các tâm sở tịnh hảo gồm hai nhân là vô tham và vô sân. Người ấy được gọi là người nhị nhân, sinh ra với thức tái tục sinh kèm với hai nhân tịnh hảo nhưng không có trí. Trong kiếp ấy, người này không thể đắc thiền hay đạt được giải thoát.

Khi một người sinh ra với thức tái tục hợp trí do quả của nghiệp thiện sinh kèm với trí thì người ấy được gọi là người tam nhân, sinh ra với thức tái tục sinh kèm với ba nhân tịnh hảo là vô tham, vô sân và vô si. Khi người ấy nghe giảng Pháp, người ấy có thể suy xét về Pháp và hiểu được những gì được nghe. Trong kiếp sống này, người ấy có thể đắc thiền nếu phát triển trí tuệ samatha, còn nếu phát triển tuệ giác vipassanā và đủ duyên, người ấy có thể chứng ngộ Tứ Thánh Đế và đạt được giác ngộ. Tuy nhiên, ta không nên lơ là với sự phát triển tuệ giác. Một người có thể sinh ra với ba tâm sở tịnh hảo và có tích lũy chánh niệm (sati) và trí tuệ (paññā), nhưng nếu người ấy lơ là việc phát triển thiện pháp hay nghe pháp, người ấy sẽ chỉ tài giỏi trong các kiến thức của thế gian mà thôi. Nếu ta không phát triển tuệ giác, ta sẽ không thể chứng ngộ được các đặc tính của thực tại như chúng là.

Trong các kiếp sống trước, mọi người có thể đã quan tâm đến Giáo pháp. Họ có thể đã nghiên cứu về Giáo pháp, họ có thể đã thọ giới tỳ kheo hay sa di. Tuy nhiên, để đạt được giác ngộ, tất cả mọi người đều cần phải phát triển tuệ giác, dù đang là vị tỳ kheo hay là một cư sỹ. Không ai có thể biết mình sẽ đạt được giác ngộ trong hình tướng của một vị tỳ kheo hay một người cư sỹ. Ta cần phải biết các đặc tính của thực tại như chúng là khi chúng sinh khởi. Tuệ giác cần được phát triển từ kiếp này sang kiếp khác cho đến khi, trong một kiếp sống, nó đã trở nên sắc bén tới mức có thể xuyên thấu được Tứ Thánh Đế.

Ai đó trong quá khứ đã có thể quan tâm đến Giáo pháp, cần mẫn với việc nghiên cứu Giáo pháp và áp dụng Giáo pháp trong cuộc sống của mình, nhưng ta không bao giờ nên quên rằng chừng nào chưa đạt được giác ngộ, các phiền não vẫn còn duyên để khiến chúng ta đi lạc đường. Phiền não rất bền bỉ và mạnh mẽ. Chúng có thể khiến mọi người lơ là thiện pháp và mê đắm trong bất thiện pháp. Một người có thể sinh ra với thức tái tục là tam nhân (ti-hetuka), với ba nhân là vô tham, vô sân và trí tuệ, nhưng nếu người ấy giải đãi, không lắng nghe Giáo pháp, không suy xét nó một cách cẩn trọng và không hay biết thực tại, sẽ không thể có sự phát triển tuệ giác trong kiếp sống ấy. Sẽ rất đáng tiếc cho một người đã sinh ra với tam nhân mà uổng phí cả cuộc đời do không phát triển tuệ giác.

Không thể biết được nghiệp nào sẽ tạo nên thức tái tục trong kiếp sau. Có thể là tâm quả bất thiện sẽ đảm nhận chức năng tái sinh trong cõi khổ, hoặc tâm quả thiện vô nhân sẽ đảm nhận chức năng của tái sinh và trong trường hợp ấy, người ấy sẽ bị tàn tật bẩm sinh, hay tâm quả nhị nhân đảm nhận chức năng tái sinh trong cõi lành. Khi ấy, người này sinh ra không có trí, không thể phát triển tuệ giác tới mức độ chứng ngộ được Tứ Thánh Đế và đạt được giác ngộ. Thay cho lơ là phát triển tuệ giác, ta cần bền bỉ phát triển nó, để nó có thể lớn mạnh và có thể sắc bén hơn nữa.

Khi thức tái tục là tâm tịnh hảo thì tâm hộ kiếp (bhavanga-citta) cũng là tâm tịnh hảo. Một người không sinh ra với tâm quả tịnh hảo vô nhân sẽ không bị tàn tật bẩm sinh và khi ngủ say, người ấy có tâm hộ kiếp tịnh hảo (sobhana bhavanga-citta). Nếu người ấy sinh ra với hai nhân là vô tham và vô si, thì các tâm hộ kiếp cùng một loại với thức tái tục cũng sẽ là nhị nhân (dvi-hetuka). Nếu như người ấy sinh ra với ba nhân vô tham, vô sân và vô si, thì các tâm hộ kiếp sẽ là tam nhân (ti-hetuka). Khi chúng ta ngủ say, phiền não không sinh khởi, ta không thích hay thích vì ta vẫn chưa kinh nghiệm đối tượng qua ngũ căn. Chúng ta không thấy, nghe, ngửi, nếm, hay kinh nghiệm đối tượng qua thân căn hay nghĩ về các đối tượng khác nhau. Khi ta thức dậy, hạnh phúc và khổ đau sinh khởi do các loại tâm bất thiện khác nhau sinh khởi mỗi ngày. Khi ta thức dậy, có nhiều tâm bất tịnh hảo hơn là tâm thiện. Nhãn thức sinh khởi và thấy cái xuất hiện qua mắt chỉ trong một sát na và thường có bảy tốc hành tâm lộ bất thiện (akusala javana vīthi-citta) trong bảy sátna. Như vậy, tâm tốc hành sinh khởi nhiều hơn nhãn thức bảy lần, cái đảm nhận chức năng thấy chỉ trong một sát na. Có nhiều pháp bất thiện được tích lũy từ sát na tâm này đến sát na tâm khác, ngày này qua ngày khác. Do đó, ta không nên lơ là việc phát triển hiểu biết khi ta nghiên cứu Giáo pháp mà Đức Phật đã thuyết giảng một cách chi tiết. Đức Phật đã giảng tâm nào là tịnh hảo, tâm nào là bất tịnh hảo và các loại tâm bất tịnh hảo nào là bất thiện, là quả hay duy tác.

Câu hỏi: Các vị A la hán có tâm bất tịnh hảo không?

Trả lời: Có

Câu hỏi: Một vị A la hán còn có tâm bất thiện không?

Trả lời: Không.

Các vị A la hán có tâm bất tịnh hảo nhưng các vị ấy không còn tâm bất thiện. Các vị ấy vẫn có ngũ song thức như thấy, nghe sinh khởi, là những tâm bất tịnh hảo, nhưng các vị ấy không có tâm thiện cũng như tâm bất thiện.

Tổng cộng có 52 loại tâm sở, bao gồm: 13 tâm sở tợ tha (aññāsamāna cetasika) thuộc bốn chủng loại và luôn cùng chủng loại với tâm và tâm sở mà chúng sinh kèm; 14 loại tâm sở bất thiện và 25 loại tâm sở tịnh hảo[3].

Có được hiểu biết đúng về các thực tại là tịnh hảo và bất tịnh hảo là rất quan trọng. Thuật ngữ sobhana trong tiếng Pāli thường được dịch ra tiếng Việt là đẹp, tịnh hảo, nhưng từ này có thể tạo ra sự hiểu nhầm. Ta có thể tưởng tượng ra tất cả những gì đẹp và dễ chịu là tịnh hảo (sobhana). Có thể ta nghĩ rằng cảm giác dễ chịu trên thân là tịnh hảo, nhưng không phải như vậy. Ta cần phải suy xét đặc tính của cảm thọ lạc trên thân. Như ta đã thấy, thọ có thể chia làm năm loại gồm có thọ hỷ, thọ ưu, thọ xả, thọ lạc và thọ khổ.

Thọ lạc (sukha vedanā) sinh kèm với thân thức là quả thiện, kinh nghiệm đối tượng xúc chạm dễ chịu. Thân thức không sinh kèm với tâm sở tịnh hảo vô tham, vô sân hay vô si. Như vậy, thực tại của thọ lạc là bất tịnh hảo chứ không phải là tịnh hảo. Nếu ta không hiểu một cách đúng đắn thuật ngữ Pāli nói về các pháp khác nhau thì ta sẽ hiểu sai về chúng.

Ta cần phải biết chính xác pháp nào là tịnh hảo và pháp nào không phải là tịnh hảo. Sắc không phải là pháp tịnh hảo (sobhana dhamma), mặc dù nó có thể là một đối tượng đẹp, dễ chịu. Sắc là pháp không biết gì cả, nó không thể là thiện hay bất thiện, nó không thể sinh kèm với từ, bi, hỷ hay bất cứ pháp tịnh hảo nào khác. Chỉ có tâm và tâm sở là tịnh hảo hay bất tịnh hảo. Sắc có thể là đối tượng để tạo duyên cho tâm sinh khởi thích và không thích, nhưng sắc là pháp vô ký (avyākata dhamma). Sắc không biết tâm thích hay không thích nó. Bản thân sắc không có ý định hay mong muốn được thích hay không thích bởi tâm, bởi sắc không phải là pháp có thể kinh nghiệm một cái gì đó. Tâm kinh nghiệm đối tượng, nó muốn thấy một đối tượng thị giác, nghe âm thanh, ngửi mùi, kinh nghiệm đối tượng xúc chạm dễ chịu, để thọ hỷ có thể sinh khởi mãi. Ta muốn có thọ hỷ hàng ngày, bất kỳ khi nào đối tượng được kinh nghiệm qua các căn và kể cả khi có các suy nghĩ về đối tượng ấy.

Ngũ uẩn là đối tượng của sự dính mắc và điều ấy được chỉ ra trong nhiều ví dụ khác nhau. Trong Chú giải  cho Thanh Tịnh Đạo, cuốn Paramattha Mañjūsa (xem Thanh Tịnh Đạo, XIV, 224, chú thích 83)[4] có nói rằng sắc uẩn (rūpakkhandha) giống như cái đĩa chứa đựng thực phẩm mang đến hạnh phúc. Thọ uẩn (vedanākhanda) giống như thức ăn trong đĩa ấy. Tưởng uẩn (saññākkhandha) giống như là loại sốt cà ri được rưới lên thức ăn làm nổi bật hương vị của nó; bởi lẽ, do nhận thức về cái đẹp, nó che giấu bản chất của thực phẩm là thọ. Hành uẩn (saṅkhārakkandha) giống như người phục vụ thức ăn đó, là nhân cho thọ. Còn thức uẩn (viññāṇakkhandha) giống như vị thực khách bởi vì nó được thọ trợ giúp.

Tâm là pháp dẫn đầu trong việc nhận biết một đối tượng. Tâm và tâm sở, bốn loại danh uẩn phải sinh khởi cùng nhau, chúng biết cùng một đối tượng và chúng không thể nào tách rời khỏi nhau. Cả bốn danh uẩn phải sinh khởi cùng nhau, không thể nào có ít hơn bốn danh uẩn. Ở các cõi có ngũ uẩn, danh uẩn phụ thuộc vào sắc uẩn làm duyên cho sự sinh khởi của chúng.

Chúng ta nghiên cứu các loại tâm khác nhau để có thể hiểu một cách chính xác các đặc tính của các tâm được phân loại theo những cách khác nhau. Chúng có thể được phân theo chủng loại – theo tính chất thiện, bất thiện, quả và duy tác; hoặc được phân chia theo ba nhóm – thiện pháp, bất thiện pháp và vô ký pháp; hay phân chia theo nhân (hetu); theo không cần tác động (asaṅkhārika) hay cần tác động (sasaṅkhārika), hay tịnh hảo hay bất tịnh hảo. Các phân loại này khiến cho chúng ta thấy rõ hơn rằng tâm được sinh kèm bởi các tâm sở khác nhau làm cho chúng muôn màu vẻ. Nếu chúng ta hiểu những cách phân chia này, đó có thể là duyên cho chánh niệm (sati) sinh khởi hay biết các thực tại, để chúng có thể được biết là vô ngã, không phải là một tự ngã hay chúng sinh. Chúng chỉ là danh và sắc với những đặc tính riêng của chúng, xuất hiện một mình ở một thời điểm. Đối tượng thị giác xuất hiện qua mắt chỉ là một đặc tính của thực tại. Âm thanh cũng là một đặc tính khác của thực tại. Mùi, vị và đối tượng xúc chạm đều là những thực tại khác nhau, mỗi thứ đều có đặc tính riêng của chúng. Tâm thiện và tâm vô ký là những thực tại khác nhau, mỗi thực tại đều có những đặc tính riêng của nó.

Nếu chúng ta hiểu kỹ hơn về tất cả các thực tại này, mỗi thực tại với đặc tính riêng của nó, sẽ có sự tích lũy nhân duyên cho chánh niệm hay biết và thẩm sát đặc tính của thực tại đang xuất hiện. Bằng cách ấy, bản chất thực sự của các pháp có thể được xuyên thấu.

 

********

Câu hỏi

  1. Sắc có phải là pháp tịnh hảo không? Hãy giải thích vì sao.
  2. Đâu là sự khác biệt giữa một người sinh ra với thức tái tục là tâm quả thiện không sinh kèm với các tâm sở tịnh hảo và một người sinh ra với thức tái tục là tâm quả thiện sinh kèm với các tâm sở tịnh hảo?
  3. Loại nghiệp nào tạo ra quả là thức tái tục có hai nhân (dvi-hetuka)?
  4. Sự khác biệt giữa một người sinh ra với thức tái tục có hai nhân và một người sinh ra với thức tái tục có ba nhân là gì?
  5. Khi một người ngủ sâu thì tâm là tịnh hảo hay bất tịnh hảo?


[1] Điều này sẽ được giải thích kỹ hơn trong phần phụ lục.

[2] “Aññā” có nghĩa là “khác”- tha, và “samāna” có nghĩa là “chung” – tợ. Khi nói đến tâm thiện, tâm bất thiện sẽ là “tha” và ngược lại.

[3] Điều này sẽ được giải thích kỹ hơn trong phần Phụ lục

[4] Xem thêm “Xua tan si ám” (Chương I, Phân loại các uẩn, Định nghĩa, §32)

, , , , , , , , ,

Khảo cứu Pháp chân đế – CHƯƠNG 18: CÁC CÕI TRÚ XỨ

CHƯƠNG 18. CÁC CÕI TRÚ XỨ

Thuật ngữ “bhūmi” có nghĩa là cõi theo nghĩa “cõi thức” của tâm và cũng có nghĩa là “cõi trú xứ”. Bhūmi theo nghĩa cõi trú xứ là thế giới hay nơi chốn tái sinh của các chúng sinh. Có 31 cõi khác nhau và các cõi này đều tương thích với thứ cấp của các tâm đã tạo duyên cho sự tái sinh ở các cõi ấy. Các cõi trú xứ bao gồm:

  • 11 cõi dục giới (kāmabhūmi);
  • 16 cõi trời sắc giới (rūpa-brahma-bhūmi)
  • 4 cõi vô sắc giới (arūpa-brahma-bhūmi).

Đây là sự phân chia thành 31 cõi theo những cấp độ khác nhau. Thực ra trong mỗi cõi này lại có nhiều cảnh giới tái sinh khác nhau. Ngay cả cõi người này cũng không phải là cõi người duy nhất, mà bên cạnh đó còn có các cõi người khác nữa.

11 cõi dục giới bao gồm:

  • 4 cõi khổ
  • Cõi người
  • 6 cõi trời.

Bốn cõi khổ có thể được tóm tắt như sau: Các cõi địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, cõi Atula.

Không phải chỉ có một tầng địa ngục. Có một tầng địa ngục lớn và trong đó có nhiều tầng địa ngục khác nhau, chẳng hạn như địa ngục Sañjīva (địa ngục chết đi sống lại), địa ngục Kalasuta (địa ngục sợi chỉ đen), địa ngục Sanghāta (địa ngục nghiền nát), địa ngục Roruva (địa ngục kêu rống), địa ngục Mahā-Roruva (địa ngục kêu rống dữ dội), địa ngục Tāpana (địa ngục xiên nướng) và địa ngục Avīci (a tỳ địa ngục – địa ngục vô gián). Ngoài những địa ngục lớn này, còn có những loại địa ngục nhỏ hơn nữa nhưng trong kinh điển không có nhiều chi tiết về những nơi ấy. Đức Phật đã thuyết giảng về các cõi khác nhau nhằm chỉ ra nguyên nhân và kết quả. Nghiệp thiện (kusala kamma) và nghiệp bất thiện (akusala kamma) là nhân mang đến kết quả tương ứng. Cái mà ta không thể thấy qua kinh nghiệm trực tiếp thì không được giải thích chi tiết như các thực tại có thể được kiểm chứng trực tiếp qua sự phát triển tuệ giác.

Có bốn cõi khổ nơi chúng sinh có thể tái sinh vào. Nếu sự tái sinh là quả của các trọng nghiệp bất thiện, thì sẽ sinh vào Đại địa ngục, tức là A tỳ địa ngục, nơi ta sẽ phải chịu đựng những sự tra tấn tột đỉnh. Khi đã thoát khỏi Đại địa ngục nhưng nghiệp xấu vẫn chưa cạn, ta sẽ tiếp tục tái sinh ở một tầng địa ngục nhỏ hơn. Khi một người tạo trọng nghiệp bất thiện, người ấy không nhận ra rằng địa ngục đang chờ đợi mình phía trước bởi vì người ấy vẫn chưa tới đó. Chừng nào ta vẫn còn là một con người sống trong thế giới này, ta vẫn chưa sang một cõi khác, mặc dù nhân cho sự tái sinh ở cõi khổ là nghiệp bất thiện đã được tạo rồi. Khi một người đã tạo nghiệp bất thiện, đó sẽ là duyên cho sự tái sinh ở một cõi ác đạo sau khi người ấy chết.

Kết quả của nghiệp bất thiện ở mức độ nhẹ hơn sẽ tạo ra sự tái sinh ở các cõi khổ khác, chẳng hạn như cõi súc sinh. Chúng ta có thể nhận ra rằng có sự đa dạng vô cùng lớn về hình thức của các loài cầm thú. Một số có nhiều chân, một số chỉ có vài chân, một số không chân. Một số có cánh, một số không có cánh. Một số sống ở dưới nước, một số ở trên cạn. Sở dĩ hình thức của các muông thú đa dạng như vậy là do tính chất đa dạng của tâm. Sự đa dạng về hình thức nơi loài người không lớn như nơi cầm thú. Tất cả mọi người đều có thân và đa phần cùng có mắt, tai, mũi và lưỡi. Đúng là có rất nhiều màu da khác nhau, cơ thể dài ngắn khác nhau và cũng có sự đa dạng về hình thức bên ngoài. Tuy nhiên nếu ta tính đến sự khác biệt về hình thức của tất cả loài người trên thế giới, kể cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, thì sự đa dạng không lớn như sự đa dạng của loài cầm thú. Sự đa dạng của động vật, bao gồm cả những con ở dưới nước, những con trên mặt đất và những con biết bay là lớn hơn rất nhiều. Nghiệp chính là yếu tố tạo nên sự đa dạng ấy.

Quả của nghiệp bất thiện ở mức độ nhẹ hơn nghiệp làm duyên cho sự tái sinh ở cõi súc sinh sẽ làm duyên cho sự tái sinh ở cõi ngạ quỷ. Một ngạ quỷ luôn luôn bị tra tấn bởi đói khát và mệt mỏi. Có nhiều cõi ngạ quỷ khác nhau.

Mỗi chúng sinh đều có bệnh định kỳ trong ngày mà ta gọi là đói, đó là lý do vì sao ta có thể nói rằng không bệnh tật là điều không thể. Đói là căn bệnh nặng, chúng ta có thể nhận thấy điều ấy khi đang chịu khổ vì đói. Nếu chỉ hơi có cảm giác đói và ăn ngay một miếng ngon, ta sẽ quên rằng đói là một loại khổ, một căn bệnh cần được chữa trị. Cũng có lúc ai đó rất đói nhưng không thể ăn được bởi hoàn cảnh, khi ấy người đó sẽ hiểu được bản chất nỗi khổ do đói mang lại.

Một hôm, một người nhiều bạn nhận nhiều cuộc điện thoại gọi tới từ sáng đến tối và vì vậy anh ta không có thời gian để ăn. Khi tối muộn, người ấy nhận ra rằng đói đúng là một sự tra tấn và anh ta hiểu được ý nghĩa của thành ngữ “đói cồn cào”, cái chỉ cảm giác cồn cào ở trong dạ dầy hay trong ruột tạo ra bởi cơn đói. Anh ta thực sự trải nghiệm sự cồn cào ấy. Cuối cùng, tới lúc được ăn, anh ta không thể nào ăn thật nhiều ngay lập tức để có thể thoát khỏi cơn đói ấy. Làm vậy có thể có hại cho anh ta, khiến anh ta ngất đi. Anh ta phải ăn từ từ, vậy mà vẫn bị ngất. Điều này chỉ ra rằng đói là trọng bệnh, căn bệnh định kỳ hàng ngày. Ngạ quỷ phải chịu đựng cái đói khủng khiếp, bởi trong cõi ngã quỷ không có cách nào để chữa đói. Ở đó không thể phát triển nông nghiệp, không thể trồng lúa hay các loại hoa màu khác. Ở cõi ấy không thể nấu ăn, không có thương mại thực phẩm. Như vậy, tái sinh ở cõi ngạ quỷ là kết quả của nghiệp bất thiện. Tuy nhiên, ngạ quỷ có thể tùy hỷ với những thiện nghiệp của con người khi ta chia phước với họ. Khi ngạ quỷ tùy hỷ với các phước thiện đã tạo của những người khác, điều ấy sẽ làm duyên cho họ nhận được đồ ăn phù hợp với cõi ấy. Hoặc họ có thể thoát khỏi kiếp sống trong cõi đó. Họ có thể thoát khỏi kiếp ấy và tái sinh vào một cõi khác. Điều này xảy ra khi nghiệp tạo duyên cho sự tái sinh của chúng sinh ấy ở cõi ngạ quỷ đã cạn kiệt.

Một cõi khổ khác là cõi Atula, tái sinh ở cõi này cũng là kết quả của nghiệp bất thiện nhẹ hơn nghiệp bất thiện tạo ra sự tái sinh ở các cõi ác đạo khác. Nếu một người tái sinh ở cõi Atula, người ấy không có gì giải trí, không có cách nào vui vẻ với những đối tượng dễ chịu như ở cõi người hay cõi trời. Ở cõi người, ta có thể đọc sách, xem kịch hay đi nghe ca nhạc. Ở cõi Atula, không có những cách giải trí bằng các đối tượng dễ chịu như vậy. Do các nghiệp bất thiện rất đa dạng và có các mức độ khác nhau, các cõi ta tái sinh vào cũng khác biệt, tùy thuộc vào nghiệp tương ứng với sự tái sinh ở cõi ấy.

Có bảy cõi trú xứ an lành là kết quả của nghiệp thiện dục giới (kāmāvacara kusala kamma), bao gồm: một cõi người và sáu cõi trời. Trong Tam Tạng (Tipiṭaka) (xem Thanh Tịnh Đạo, chương VII, 43) có giải thích rằng có bốn cõi người nơi ta có thể tái sinh:

  • Cõi Pubbavideha (Đông thắng thần châu) nằm ở phía Đông của núi Sineru (Tu di);
  • Cõi Aparagoyāna (Tây ngưu xa châu) nằm ở phía Tây của núi Tu di;
  • Cõi Jambudīpa (Nam thiên bộ châu) nằm ở phía Nam của núi Tu di, đây chính là cõi mà chúng ta sống.
  • Cõi Uttarakurū (Bắc câu lưu châu) nằm ở phía Bắc của núi Tu di[1].

Các chúng sinh sống ở cõi này, cõi Nam thiên bộ châu, chỉ có thể nhận biết thế giới này, dù đi đâu chăng nữa, họ cũng chỉ thấy được đối tượng của cõi này, họ không thể đi tới ba cõi người khác.

Có sáu cõi trời và những cõi này có các mức độ tuyệt diệu khác nhau. Cõi thứ nhất là cõi của Tứ đại thiên vương (Cātu-Mahārājika)[2].Tứ đại thiên vương này bao gồm:

  • Dhataraṭṭha (Đông phương trì quốc thiên vương), đôi khi được gọi là “Inda”, là thiên vương cai trị phía Đông, cai trị các vị chư thiên Càn thát Bà (Gandhabba).
  • Virūḷhaka (Nam phương tăng trưởng thiên vương), đôi khi được gọi là “Yama”, là thiên vương cai trị phía Nam, cai trị các vị chư thiên Cưu bàn trà (Khumbhaṇḍa).
  • Virūpaka (Quản Mục Thiên vương), đôi khi được gọi là “Varuṇa”, thiên vương cai trị phía Tây, cai trị các vị chư thiên Rồng Nagas.
  • Kuvera (Bắc phương đa văn thiên vương), đôi khi được gọi là “Vessavaṇa”, thiên vương cai trị phía Bắc, cai trị các vị chư thiên Dạ xoa (Yakkas).

Cõi trời Tứ đại thiên vương là cõi trời thấp nhất, nó không xa cõi người như các cõi trời cao hơn.

Có những cõi trời cao hơn và những cõi này có mức độ tuyệt diệu tương ứng với thứ cấp của các cõi trời ấy.

Cõi trời thứ hai là cõi Tāvatimsa (Đao lợi), là cõi trời cao hơn cõi trời của Tứ đại thiên vương. Thiên vương Inda là chủ của cõi này. Trong cõi trời Đao lợi (còn gọi là Tam thập tam thiên – cõi trời Ba mươi ba) có bốn thiên viên là:

  • Vườn Nandana (Hoan lạc viên) ở phía Đông[3]
  • Vườn Cittalatā (Dục lạc viên) ở phía Tây
  • Vườn Missaka ở phía Bắc
  • Vườn Phārusaka ở phía Nam

Cõi trời thứ ba là cõi Yama (Dạ ma), là cõi trời cao hơn cõi Tam thập tam thiên.

Cõi trời thứ tư là cõi trời Tusita (Đâu suất) cao hơn cõi trời thứ ba.

Cõi trời thứ năm là cõi trời Nimmānarati (Hóa lạc thiên) là cõi trời của các vị chư thiên vui thích với sự sáng tạo, cao hơn cõi trời thứ tư.

Cõi trời thứ sáu là cõi trời Paranimittavasavatti (Tha hóa tự tại), là cõi trời của các vị chư thiên ngự trị trên sự khai tạo của các vị chư thiên khác, đây là cõi trời cao nhất trong các cõi trời dục giới.

Chúng ta muốn sinh ra vào cõi trời nào? Một người chưa phải thành A la hán sẽ vẫn còn tái sinh, nhưng chúng ta sẽ tái sinh ở đâu? Chắc là không ở cõi Phạm thiên vì đây là quả của tâm thiền (kusala jhānacitta) nếu nó sinh khởi trước khi chết, như đã nói từ trước. Như vậy, khả năng tái sinh vào các cõi dục giới là cao hơn. Việc ta sẽ tái sinh ở một cõi khổ hay cõi an lành tùy thuộc vào nhân của sự tái sinh, tức là nghiệp, một hành động đã tạo trong vòng sinh tử luân hồi.

Các cõi sắc giới là nơi các vị Phạm thiên sắc giới sinh ra. Việc tái sinh ở các cõi này là quả của các tầng thiền sắc giới (rūpa-jhāna). Có 16 tầng trời Phạm thiên sắc giới[4]

Quả của sơ thiền có thể là tái sinh ở ba cõi sau:

  • Pārisajjā (cõi Phạm chúng thiên) là kết quả của tâm thiền mức độ thấp;
  • Purohitā (cõi Phạm phụ thiên) là kết quả của tâm thiền ở mức độ trung bình;
  • Mahābrahmā (cõi Đại chúng thiên) là kết quả của tâm thiền mức độ cao.

Quả của nhị thiền (theo hệ thống tứ thiền, hay tam thiền theo hệ thống ngũ thiền[5]) có thể là sự tái sinh ở ba cõi. Điều này phụ thuộc vào mức độ của tầng thiền, có thể là thấp, trung bình hay cao. Các cõi này bao gồm:

  • Cõi Parittābhā (Thiểu quang thiên)
  • Cõi Appamāṇasubhā (Vô lượng quang thiên)
  • Cõi Ābhassarā (Quang Âm thiên)

Quả của tam thiền (theo hệ thống tứ thiền, hay tứ thiền theo hệ thống ngũ thiền) là tái sinh ở trong một trong ba cõi dưới đây, tùy thuộc vào mức độ của các tầng thiền:

  • Cõi Parittasubhā (Thiểu tịnh thiên)
  • Cõi Appamāṇasubhā (Vô lượng tịnh thiên)
  • Cõi Subhakiṇṇā (Biến tịnh thiên)

Kết quả của tứ thiền (theo hệ thống tứ thiền, hay ngũ thiền theo hệ thống ngũ thiền) là tái sinh ở cõi Vehapphala (Quảng quả).

Hơn nữa, quả của ngũ thiền này cũng có thể là sự tái sinh ở cõi Asaññāsatta (Vô tưởng). Các chúng sinh ở cõi này chỉ sinh ra với sắc, không có tâm và tâm sở[6].

Có năm cõi Suddhāvāsā (Tịnh quang hay Tịnh cư) của các vị Thánh Bất lai (Anāgāmī) và tái sinh ở đây là quả của sự chứng đắc tứ thiền (theo hệ thống tứ thiền hay ngũ thiền theo hệ thống ngũ thiền). Chúng bao gồm:

  • Cõi Aviha (Vô phiền)
  • Cõi Atappa (Vô nhiệt)
  • Cõi Sudassa (Thiện kiến)
  • Cõi Sudassi (Thiện hiện)
  • Cõi Akaṇittha (Sắc cứu cánh)

Có bốn cõi phạm thiên sắc giới. Tái sinh ở các cõi này là quả của các tầng thiền vô sắc giới. Đối tượng của các tầng thiền vô sắc giới không lệ thuộc vào sắc. Tương ứng với bốn tầng thiền vô sắc giới có các cõi sau:

  • Cõi Ākāsānañcāyatana (Không vô biên xứ)
  • Cõi Viññāṇañcāyatana (Thức vô biên xứ)
  • Cõi Ākiñcaññāyatana (Vô sở hữu xứ)
  • Cõi N’evasaññā-n’āsaññāyatana (Phi tưởng phi phi tưởng xứ).

Trong bốn cõi Phạm thiên vô sắc này chỉ có danh uẩn (nāma-khandha), các tâm (citta) và các tâm sở (cetasika) mà thôi; không có sắc nào sinh khởi ở đây.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh (Chương ba pháp, Phẩm VIII-Ananda, mục §80 – Abhibhu) chúng ta đọc rằng Đức Phật đã giải thích cho ngài Ānanda về các thế giới. Trong “tiểu thiên thế giới” có bao gồm cả ngàn thế giới của bốn cõi người, cõi trời và của các cõi Phạm thiên. Chúng ta đọc như sau:

“Xa cho đến mặt trăng, mặt trời chạy trong quỹ đạo của chúng và chói sáng khắp bốn phương với ánh sáng của chúng, xa như vậy là một ngàn thế giới. Trong ấy có một ngàn mặt trăng, một ngàn mặt trời, một ngàn núi Sineru (Tu-di), một ngàn Jambudìta (Diêm-phù-đề), một ngàn Aparagoyāna (Tây ngưu hóa châu), một ngàn Uttarakurṇ (Bắc-cu-vô châu), một ngàn Pubbavideha (Ðông thắng thần châu), bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn đại vương, 1000 cõi trời Bốn thiên vương, 1000 cõi trời ba mươi ba, 1000 Dạ-ma thiên, 1000 Tusita (Ðâu – suất thiên), 1000 Hóa Lạc thiên, 1000 Tha Hóa Tự tại thiên, 1000 Phạm Thiên. Này Ānanda, đây gọi là một tiểu thiên thế giới. Này Ānanda, cho đến 1000 lần một tiểu thiên thế giới, được gọi là, này Ānanda, ba Ðại thiên thế giới. Này Ānanda, Như Lai có thể làm cho tiếng mình nghe xa cho đến ba ngàn Ðại thiên thế giới hay xa hơn nữa nếu muốn.”

Lời thuyết giảng về các cõi có thể không chi tiết như một số người hoài nghi mong muốn, nhưng nó chỉ ra mức độ tuệ giác toàn hảo của một vị Phật, người được coi là “bậc thế gian giải” (lokavidū), tức người có hiểu biết rõ ràng về tất cả các thế giới.

Như chúng ta đã thấy, khía cạnh thứ tư của tâm trong Chú Giải Bộ Pháp Tụ là muôn màu muôn vẻ bởi các pháp tương hợp – các tâm sở đồng sinh. Vì vậy, tâm có thể đươc phân loại theo nhiều cách khác nhau. Tâm có thể được phân loại theo bốn tính chất (chủng loại): thiện (kusala), bất thiện (akusala), quả (vipāka) và duy tác (kiriya). Tâm cũng có thể được phân loại theo bốn cõi thức: tâm dục giới (kāmāvacara citta), tâm sắc giới (rūpāvacara citta), tâm vô sắc giới (arūpāvacara citta) và tâm siêu thế (lokuttara citta).

Các tâm dục giới có thể nằm trong một trong bốn chủng loại – thiện, bất thiện, quả và duy tác. Tâm của các cõi cao hơn, tức là của các cõi sắc giới, vô sắc giới và siêu thế không thể nằm trong chủng loại bất thiện. Tâm siêu thế thì không thể nằm trong chủng loại duy tác.

Như vậy, các tâm sắc giới thì có thể nằm trong ba chủng loại thiện, quả và duy tác. Tâm thiện sắc giới (rūpāvacara kusala citta) có thể tạo nên sự sinh khởi của tâm quả sắc giới (rūpāvacara vipākacitta) đảm nhận chức năng tái sinh ở các cõi phạm thiên sắc giới. Tâm thiện sắc giới của ngũ thiền thì có thể làm duyên cho sự tái sinh thành chúng sinh vô tưởng (asaññāsatta), là chúng sinh chỉ có sắc (rūpa) mà thôi, ở cõi vô tưởng. Như chúng ta đã thấy, có 16 cõi phạm thiên sắc giới tất cả. Các vị A la hán đã đắc các tầng thiền sắc giới (rūpa-jhāna) sẽ có tâm duy tác sắc giới (rūpāvacara kiriyacitta).

Tâm thiện vô sắc giới (arūpāvacara kusala citta) có thể tạo nên sự sinh khởi của tâm quả vô sắc giới (arūpāvacara kusala citta) đảm nhận chức năng tái sinh ở một trong bốn cõi phạm thiên vô sắc giới (arūpa-brahma). Các vị A la hán đã đắc các tầng thiền vô sắc giới (arūpa-jhāna) sẽ có tâm duy tác vô sắc giới (arūpāvacara kiriyacitta).

Tâm sắc giới (rūpāvacara citta) và những tâm vô sắc giới (arūpāvacara citta) được gọi là “tâm cao thượng” hay “tâm đáo đại” (mahaggatā citta). Cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Quyển I, Phần I, Chương I, Mẫu đề Tam, §44) có nói:

“…Đáo đại” (mahaggatā) có nghĩa là đạt được điều vĩ đại[7], từ khả năng xua tan cấu uế, từ sự dồi dào thiền quả, từ độ dài thời gian…”

Rất khó để loại bỏ phiền não. Ngay khi thấy một đối tượng, thích và không thích đã sinh khởi. Nhưng, khi tâm thiền sinh khởi, tâm an tịnh và nhất tâm an trú vào đối tượng được kinh nghiệm qua ý môn. Ở những khoảnh khắc ấy, không có cái thấy, nghe, ngửi, nếm hay kinh nghiệm đối tượng xúc chạm. Khi đang có tâm thiền, dù kéo dài bao lâu chăng nữa, cũng không thể nào có tâm hộ kiếp (bhavanga-citta) ở giữa những tâm thiền ấy như trong trường hợp của các tâm dục giới[8]. Các tâm dục giới kinh nghiệm đối tượng trong một khoảng thời gian vô cùng ngắn ngủi, chúng là các pháp tiểu tốt (paritta dhamma). Các tâm dục giới của thấy, nghe hay suy nghĩ sinh khởi trong các lộ trình kéo dài chẳng là bao, chúng kinh nghiệm đối tượng chỉ trong một khoảnh khắc. Khi tâm của lộ trình nhãn môn sinh khởi và kinh nghiệm đối tượng thị giác xuất hiện qua nhãn môn và rồi diệt đi, sẽ phải có các tâm hộ kiếp (bhavanga-citta) ngay sau đó. Các tâm hộ kiếp sinh khởi trước khi có các tâm của lộ trình ý môn nhận biết đối tượng thị giác được kinh nghiệm trong lộ trình của nhãn môn trước đó. Các pháp dục giới như đối tượng thị giác, âm thanh, mùi, vị, đối tượng xúc chạm, cũng như các tâm kinh nghiệm đối tượng ấy được gọi là các pháp tiểu tốt.

Các tâm đáo đại (mahaggatā citta), tức là các tâm sắc giới và vô sắc giới, là các tâm đã đạt được mức độ tuyệt hảo bởi vì chúng có thể đè nén được phiền não. Khi đắc thiền, tức là khi các tâm thiền sinh và diệt tiếp nối nhau, sẽ không có cái thấy hay nghe, không có kinh nghiệm qua một trong các ngũ quan, cũng như không có suy nghĩ về các đối tượng ấy. Đó là lý do khiến các tâm đáo đại được cho là có thể xua tan phiền não. Tuy nhiên, khi tâm thiền đã diệt đi thì các tâm dục giới lại xuất hiện trở lại. Khi có các tâm sinh khởi trong lộ trình kinh nghiệm đối tượng qua các môn khác nhau, các tốc hành tâm bất thiện có cơ hội sinh khởi nếu ta đang không tạo thiện pháp. Chừng nào các phiền não chưa được tận diệt hoàn toàn, các tâm bất thiện có thể sinh khởi sau cái thấy, nghe, ngửi, nếm và kinh nghiệm đối tượng xúc chạm. Chúng ta có nhận ra rằng các tâm bất thiện thường sinh khởi đi sinh khởi lại không? Chừng nào chưa nhận ra điều này thì ta chưa thể đè nén được phiền não, cũng chưa thể phát triển con đường dẫn tới sự tận diệt phiền não.

Trước khi Đức Phật giác ngộ, có những người có thể thấy được sự bất lợi và hiểm họa của các tâm bất thiện sinh khởi ngay sau cái thấy, cái nghe và các giác quan khác. Vì vậy, họ cố gắng tìm một cách thức để có thể tạm thời đè nén phiền não. Họ đã tìm ra rằng cách duy nhất để có thể đạt được mục tiêu ấy là không thấy, không nghe hay không kinh nghiệm các đối tượng ngũ quan khác. Khi kinh nghiệm các đối tượng ngũ quan, ta không thể nào ngăn cản được sự sinh khởi của phiền não. Những người hiểu được điều ấy có thể vun bồi các thiện pháp để đưa tới được sự an tịnh thực sự, tạm thời ly tham, sân và si và điều này được chứng đạt tại khoảnh khắc đắc thiền (appanā samādhi).

Tại khoảnh khắc của tâm thiền không có dấu ấn của ngũ quan. Sẽ chỉ có kinh nghiệm đối tượng của đề mục thiền qua ý môn và đó là duyên để tâm được thiết lập vững chãi trong sự an tịnh và trụ trên đối tượng ấy. Việc đắc thiền đạt được khi các tâm thiền sinh khởi không dẫn tới sự tận diệt hoàn toàn phiền não. Khi tâm thiền diệt đi, các phiền não lại có cơ hội sinh khởi. Chỉ tại những khoảnh khắc của tâm sắc giới và vô sắc giới, tâm mới đạt được sự tuyệt hảo, đó là tâm đáo đại (mahaggatā citta) bởi chúng đè nén được các phiền não do không thấy, nghe, ngửi, nếm hay kinh nghiệm đối tượng xúc chạm.

Điều này khác với trường hợp của vị Thánh Bất lai (Anāgāmī), người đã đạt được tầng giác ngộ thứ ba. Vị ấy vẫn thấy nhưng không bị dính mắc vào đối tượng thị giác, bởi vị ấy đã tận diệt được sự dính mắc vào ngũ dục. Vị ấy nghe, ngửi, nếm và xúc chạm qua thân căn các đối tượng nóng, lạnh, cứng, mềm, chuyển động và co dãn nhưng vị ấy không hề có dính mắc, vị ấy đã hoàn toàn diệt trừ được dính mắc với những đối tượng ấy. Tâm thiện siêu thế, hay còn gọi là tâm đạo, có thể diệt trừ phiền não một cách hoàn toàn. Như vậy, ta thấy rằng tâm rất đa dạng vì có bốn cõi tâm thức tương ứng với bốn mức độ: dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế.

Tâm sắc giới và tâm vô sắc giới có thể thuộc ba loại chủng loại: thiện, quả và duy tác.

Tâm siêu thế có thể có hai loại chủng loại là thiện và quả. Không có tâm siêu thế duy tác (lokuttara kiriyacitta).

Có tám loại tâm siêu thế tương ứng với bốn giai đoạn giác ngộ. Với mỗi giai đoạn giác ngộ có một tâm đạo (magga-citta), là tâm thiện siêu thế (lokuttara kusala citta) và tâm quả (phala-citta) là tâm quả siêu thế (lokuttara vipākacitta). Tám loại tâm siêu thế là những loại sau:

  • Tâm đạo Dự lưu (Sotāpatti magga-citta) là tâm thiện siêu thế
  • Tâm quả Dự lưu (Sotāpatti phala-citta) là tâm quả siêu thế
  • Tâm đạo Nhất lai (Sakadāgāmīmagga-citta) là tâm thiện siêu thế
  • Tâm quả Nhất lai (Sakadāgāmī phala-citta) là tâm quả siêu thế
  • Tâm đạo Bất lai (Anāgāmīmagga-citta) là tâm thiện siêu thế;
  • Tâm quả Bất lai (Anāgāmīphala-citta) là tâm quả siêu thế;
  • Tâm đạo A la hán (Arahatta magga-citta) là tâm thiện siêu thế;
  • Tâm quả A la hán (Arahatta phala-citta) là tâm quả siêu thế.

Các tâm thiện siêu thế là duyên để tâm quả siêu thế tiếp nối ngay lập tức. Không có loại tâm nào khác sinh khởi giữa tâm thiện siêu thế là nhân và tâm đạo siêu thế là quả. Ngoài tâm thiện siêu thế thì không có bất cứ tâm thiện nào có thể làm khởi sinh tâm quả sau lập tức sau đó.

Ngay sau khi tâm đạo của vị thánh Dự lưu – tức tâm thiện siêu thế – diệt đi, nó được tiếp nối bởi tâm quả là tâm quả siêu thế. Cũng như vậy với các tâm đạo và tâm quả của các vị Thánh Nhất lai, Bất lai và A la hán.

Bốn loại tâm quả siêu thế không thể đảm nhận chức năng tái sinh, hộ kiếp (bhavanga) và chức năng tử. Chúng khác với các tâm quả hiệp thế[9]. Các loại tâm quả siêu thế tiếp nối ngay sau tâm thiện siêu thế cũng có đối tượng là niết bàn. Tâm quả siêu thế đảm nhận chức năng tốc hành (javana) trong cùng một lộ trình với tâm thiện siêu thế trước nó. Tâm quả là loại tâm quả duy nhất đảm nhận chức năng tốc hành trong lộ trình. Nó đảm nhận chức năng tốc hành vì nó có niết bàn làm đối tượng. Mỗi loại tâm thiện siêu thế sinh khởi chỉ một lần trong vòng sinh tử luân hồi và tận diệt hoàn toàn phiền não, tương ứng với mức độ giác ngộ đã đạt được. Tuy nhiên, có hai hoặc ba tâm quả siêu thế sinh khởi sau tâm thiện siêu thế; chúng nối tiếp nhau và có niết bàn làm đối tượng. Tâm quả này sẽ sinh khởi hai hay ba lần tùy thuộc vào loại người đạt giác ngộ.

Vị Dự lưu không còn tái sinh nhiều hơn bảy lần nữa. Như chúng ta đã thấy, tâm quả Dự lưu không thể đảm nhận chức năng tái sinh. Loại tâm quả nào thuộc cõi thức nào của vị Dự lưu sẽ đảm nhận chức năng tái sinh tùy thuộc vào cõi mà vị ấy sẽ tái sinh. Nếu một vị Dự lưu sẽ tái sinh ở cõi trời dục giới, các tâm quả dục giới sẽ đảm nhận chức năng tái sinh. Nếu vị Dự lưu sẽ tái sinh ở cõi Phạm thiên thì tâm quả sắc giới hay tâm quả vô sắc giới sẽ đảm nhận chức năng tái sinh tương ứng với cõi ấy.

Như chúng ta đã thấy, từ “bhūmi” – cõi có thể đề cập đến các cấp độ của tâm cũng như các cõi trú xứ của chúng sinh. Tóm lại, khi bhūmi được sử dụng theo nghĩa là các cấp độ của tâm thì sẽ có bốn cõi (bhūmi): dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế. Khi bhūmi được sử dụng theo nghĩa trú xứ cho các chúng sinh tái sinh hay thế giới nơi họ sống, thì có 31 cõi, tương ứng với các cấp độ khác nhau của tâm, bao gồm: 11 cõi dục, 16 cõi Phạm thiên sắc giới và 4 cõi Phạm thiên vô sắc giới.

 

********

Câu hỏi

  1. Cõi Tịnh cư Thiên (Suddhāvāsā) là gì và ai có thể sinh ra ở đó?
  2. Tâm sắc giới và tâm vô sắc giới có thể thuộc bao nhiêu chủng loại?
  3. Tâm duy tác có thể thuộc bao nhiêu chủng loại?
  4. Những loại tâm nào là mahaggatā (tâm đáo đại)?

Tâm lộ (là những tâm sinh khởi trong lộ trình) nào là tâm siêu thế?



[1] Xem Thanh Tịnh Đạo (Chương VII, 42, chú thích 15). Có một vòng lớp núi bao bọc đại dương. Ở giữa đại dương có ngọn núi Tu di. Nam thiện bộ châu (Jambudīpa), hay còn gọi là xứ cây Diêm phù (cây mận, cây roi), là thế giới của loài người được biết đến. Đôi khi Jambudīpa được dùng để chỉ Ấn độ.

[2] Xem Thanh Tịnh Đạo (Chương VII, 40, chú thích 14) và Những Pháp Thoại Của Đức Phật, hay Trường Bộ Kinh  – Dīgha Nikāya  (Phần I, chương 13, Kinh Tam Minh, §§ 24-25).

[3]Xem “Chuyện tiền thân Đức Phật” (Jātakas) (Quyển VI, No 545).

[4] Xem cuốn sách thứ hai của Tạng Vi Diệu Pháp, Bộ Phân Tích (Chương 18, Phần 6, Giới Hạn Tuổi).

[5] Đối với một số người, các tầng thiền sắc giới diễn tiến theo bốn giai đoạn, và với một số khác là năm giai đoạn. Các chi thiền dần được từ bỏ mỗi khi chứng đắc các tầng thiền cao hơn. Đối với những người từ bỏ một lúc cả hai chi thiền tầm và tứ ở giai đoạn thứ hai, sẽ chỉ có bốn tầng thiền. Đối với những người chỉ từ bỏ chi thiền tầm mà không từ bỏ chi thiền tứ ở giai đoạn thứ hai, sẽ có năm tầng thiền.

[6] Họ đã thấy được hiểm họa của danh và đó là duyên cho họ tái sinh mà không có danh.

[7] “Mahā” có nghĩa là “lớn”, “vĩ đại”, và gata có nghĩa là “đã qua”, “đã đạt tới”.

[8] Những người đã thuần thục trong việc đắc thiền có thể có các tâm thiền sinh khởi liên tiếp trong một thời gian dài. Chính vì vậy tâm thiền được gọi là “tâm đáo đại” bởi độ dài thời gian. Trong lúc đắc thiền không có thọ khổ. Tâm thiền là “đáo đại” bởi thiền quả vì nó có thể tạo ra tái sinh ở cõi phạm thiên sắc giới và phạm thiên vô sắc giới.

[9] Tâm đạo không dẫn tới tái sinh; nó tận diệt phiền não, là duyên cho sự tái sinh.

, , , , , , , ,

Translate »