Monthly Archive July 29, 2014

Pháp đàm sáng 08-09-2013 tại Vũng tàu

17/      Pháp đàm buổi sáng 08/09/2013 tại Vũng tàu.

 

Vị sư 3:          Sư muốn được chia sẻ một chút kinh nghiệm về hành thiền.

Achaan:         Sư quan tâm đến hiểu pháp hay hành thiền?

Vị sư 3:          Đầu tiên thì sư phải có hiểu biết về lý thuyết, rồi sau đó sư thực hành.

Achaan:         Thế có nghĩa là hiểu biết phải đi trước, phải không? Liệu có ai vừa nghe lời Đức Phật giảng mà có thể hiểu ngay lập tức được không? Trước hết phải hiểu rõ Giáo lý Đức Phật dậy về điều gì, những gì Đức Phật dạy rất khác với Giáo lý của những người khác. Đó là những hiểu biết hoàn toàn mới. Ví dụ, có những người không quan tâm đến hiểu về cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, mà quan tâm đến cuộc sống và những cái mà họ cho là tôi, hay tự ngã. Kể cả khi có ý niệm muốn có hiểu biết thì cũng dễ là cho bản thân. Nhưng Giáo lý của Đức Phật dạy về tính chất vô ngã của các pháp. Vậy có ai trân quý những điều đó không? Không có một tự ngã nào cả và không có gì cả. Những người thực sự quan tâm đến Giáo pháp sẽ quan tâm đến bản chất thực sự của thế giới và của cuộc sống. Nếu không có những hiểu biết này, người ấy sống với ý niệm về tự ngã từ khi sinh ra đến khi chết đi. Nếu không có hiểu biết, sẽ đau khổ khi nghĩ đến việc rời bỏ thế giới này. Còn khi có hiểu biết rằng không gì có thể thuộc về ai cả, sẽ càng trân quý hơn những hiểu biết đúng. Sự dính mắc chỉ mang đến khổ đau. Cách tốt nhất để có thể tận diệt khổ đau là phát triển hiểu biết. Liệu sinh ra chỉ để ăn thì có tốt hay không? Chỉ để ngủ, suy nghĩ, và kinh nghiệm những thứ khác nhau hết ngày này qua ngay khác? Những kinh nghiệm đó trôi qua trong từng khoảnh khắc. Những gì còn lại không phải là tự ngã mà chỉ là một ý niệm về ngã mà thôi. Nếu không có cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm thì liệu có “tôi”, hay “bạn bè tôi” hay “thế giới” hay không? Nếu không phải là những thực tại ấy thì thực chất cái gì sinh khởi? Lời dạy của Đức Phật là về sự thực tuyệt đối, không ai khác có thể tự mình biết được chân lý ấy, mà phải nhờ vào những lời thuyết giảng của đức Phật, hướng tới những ai muốn hiểu về bản chất của thế giới và cuộc sống.

Nếu không có khoảnh khắc đầu tiên của thực tại có thể  kinh nghiệm, sẽ không hề có cuộc sống, và như vậy cuộc sống bắt đầu ở khoảnh khắc yếu tố có thể kinh nghiệm kinh nghiệm cái xuất hiện, và khoảnh khắc đó đã hoàn toàn qua rồi, mỗi khoảnh khắc đều như vậy mà thôi. Cuộc sống chỉ là sự nối tiếp của những khoảnh khắc của các thực tại kinh nghiệm cái gì đó, sinh và diệt từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, nhưng với vô minh, không có hiểu biết về sự thực.  Như vậy Giáo lý của Đức Phật hoàn toàn là về các thực tại tuyệt đối. Chẳng hạn như bây giờ đang có cái thấy. Ai biết được là cái thấy là vô ngã đây? Thông thường khi cái thấy sinh khởi, có thể có ý niệm  “tôi thấy”. Nhưng cái thấy là do duyên tạo, nếu không nó đã không thể sinh khởi. Nếu không có nhãn căn, không có đối tượng thị giác, không có duyên để khoảnh khắc của cái thấy đó sinh khởi thì nó sẽ không thể sinh khởi. Mỗi khoảnh khắc đều do duyên tạo, nếu không sẽ không có gì sinh khởi cả. Sẽ lợi lạc khi hiểu điều ấy đúng như nó là, hơn là không hiểu chút nào về điều ấy. Không thể mong đợi có được Trí tuệ ấy nếu như không có cái hiểu về những gì đang xuất hiện hiện giờ.

Mỗi từ trong Giáo lý của Đức Phật cần phải được hiểu một cách rõ ràng, nếu không chúng ta sẽ hiểu lầm, chẳng hạn như từ “thiền”. Nó là gì và nó có nghĩa là thế nào? Nó không giống như cái thấy: ngay khi ta nghe về cái từ “cái thấy”, ta đã biết ngay nó là gì hiện giờ. Nhưng thiền là gì? Nó ở đâu? Nó có hiện giờ ở đây hay không để có thể được hiểu? Như vậy chúng ta sẽ hiểu rằng nếu như không có cái hiểu thì sẽ không thể nào thực sự biết những từ mà ta đã nghe trong ngày. Chính vì vậy không nên chỉ vâng theo lời của những người khác, nếu những lời ấy không mang đến hiểu biết về những gì đang xuất hiện hiện giờ. Và cần phải biết rõ ý nghĩa những từ được nhắc tới trong Giáo lý của Đức Phật, những từ ấy luôn tạo duyên cho cái hiểu về những gì đang xuất hiện hiện giờ, còn từ “thiền” lại không cho chúng ta hiểu biết nào về những thứ ấy. “Thiền” có nghĩa là gì đây? Hiện giờ đang có cái thấy, cái nghe, và có thể có hiểu biết rằng mỗi thực tại ấy đều là vô ngã. Khi chúng ta càng nghe và suy xét càng nhiều hơn thì càng có thêm hiểu biết về những gì xuất hiện từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác.

Vậy thiền là gì đây? Chỉ từ ấy thôi cũng có thể tạo duyên cho ham muốn đi theo một sự thực hành đó trong khi không có hiểu biết về thực tại của thiền là gì. Để có thể phát triển hiểu biết, cần phải có đối tượng xuất hiện để có thể nghiên cứu về đối tượng ấy, để hiểu về đối tượng ấy, chứ không thể nói chung chung là “hiểu, hiểu”, nhưng thực chất là hiểu gì đây? Khi ta cứ “thiền, thiền” thì thiền là gì đây?

Sarah:            Lúc đầu sư có nói muốn chia sẻ một chút về những kinh nghiệm thiền.

Achaan:         Vậy câu hỏi trước tiên, thế nào là thiền?

Vị sư 3:          Hàng ngày sư ghi nhận giây phút hiện tại, sư nhìn sự vật xung quanh và nhận thấy nó là khổ, vô thường, Khi đó nó có sự rúng động rất mạnh, sư cứ duy trì trạng thái ghi nhận giây phút hiện tại, trong một ngày có rất nhiều lần. Sư học những lời Phật dạy rất chậm rãi, sư càng thấy có sự rúng động rất mạnh bên trong khiến sư có rất nhiều năng lượng, sư không biết nó là cái gì?

Achaan:         Thế còn cái thấy hiện giờ thì sao? Cái thấy hiện giờ sinh và diệt nhưng khi chưa có mức độ trí tuệ đầy đủ thì sự sinh diệt ấy sẽ không thể được kinh nghiệm trực tiếp. Khi trí tuệ ở mức độ phát triển, nó có thể hiểu bất cứ gì ở bất cứ lúc nào. Nếu như đã có hiểu biết thì ở bất cứ khoảnh khắc nào cái thấy xuất hiện, cái hiểu cũng sẽ có ở đó. Nếu như không có cái hiểu đúng về những gì đang xuất hiện hiện giờ thì tất cả những kinh nghiệm kia sẽ không có tác dụng gì cả. Bởi vì cái không hiểu đúng những gì xuất hiện được gọi là vô minh, và chừng nào vô minh ở đó,  nó sẽ không hiểu gì cả. Khi nghĩ rằng “tôi” kinh nghiệm thì về mặt thực chất, do có những duyên để một số hiện tượng xảy ra thì chúng xảy ra mà thôi.

Sarah:            Nói một cách khác đi, dù nói đến pháp học hay pháp hành thì luôn phải quay về khoảnh khắc hiện tại. Nếu không có hiểu biết đúng về những thứ đang xuất hiện, ví dụ như cái thấy hay suy nghĩ, và thay vào đó, ta lại nghĩ đến những kinh nghiệm hành thiền khác, thì ở ngay khoảnh khắc ấy không có pháp học. Một số người có thể cho rằng mình đã có kinh nghiệm về bản chất vô thường của các pháp hay bản chất khổ của các pháp. Nhưng nếu không có cái hiểu về những thực tại như cái thấy hay cái nghe, là những thực tại rất thường xuất hiện, sẽ không thể nào có được tuệ giác ở mức độ cao hơn là hiểu được sự vô thường của những thực tại ấy, và cũng như vậy sẽ không thể hiểu được bản chất khổ của chúng. Chính vì vậy pháp học hay pháp hành đều phải quay về với khoảnh khắc hiện giờ, đó luôn luôn là sự khởi đầu.

Jonathan:     Xin hỏi quý sư, đâu là đối tượng đề mục thiền tốt nhất?

Vị sư 3:          Đối với sư thì bất cứ đối tượng nào xuất hiện, không có cái nào tốt hơn cái nào.

Jonathan:     Những đối tượng đang xuất hiện hiện giờ có thể là đối tượng của thiền không?

Vị sư 3:          Khi sư ngồi xuống hay nằm xuống, lập tức tất cả sự xúc chạm trên cơ thể sư ghi nhận liền. Khi sư nhắm mắt thì lập tức là sư chỉ nghe thôi, những hình ảnh hay những cái khác như nó biến mất. Vậy trạng thái nghe đó có phải nghe như chỉ là nghe không?

Jonathan:      Khi chúng ta không nhắm mắt hay không làm những thứ mà chúng ta gọi là sự thực hành, liệu các đối tượng xuất hiện có thể là đối tượng của thiền không?

Vị sư 3:          Không chỉ riêng lúc ngồi thiền, bình thường mọi đối tượng xuất hiện sư đều ghi nhận.

Jonathan:     Vậy, có sự khác biệt nào giữa những đối tượng xuất hiện khi ta đang làm một việc cụ thể mà chúng ta gọi là thực hành, và lúc chúng xuất hiện trong lúc bình thường như chúng ta đang pháp đàm thế này?

Vị sư 3:          Khi đang ngồi đây thì đối tượng nhiều hơn, khi sư ở nơi thanh vắng thì đối tượng ít hơn.

Jonathan:      Liệu ta có thể nói rằng khi ngồi một mình ở nơi thanh vắng như vậy thì có thể có sự chọn lựa một số đối tượng cụ thể nào đó, hoặc có ý nghĩ là như thế sẽ có sự phát triển chánh niệm tốt hơn không?

Vị sư 3:          Theo sư thì không thể chọn lựa được đối tượng vì đối tượng xung quanh mình rất là nhiều rất là nhanh. Nếu thiền định thì có thể chọn đối tượng là hơi thở hoặc phồng xẹp, nhưng khi mình quan sát thì sẽ không thể chọn theo ý muốn, khi đối tượng đó đến như thế nào thì mình hay biết đối tượng đó.

Jonathan:     Số lượng đối tượng nhiều hơn không quan trọng, bởi vì lúc nào cũng vậy, ở mỗi khoảnh khắc, chỉ có một đối tượng xuất hiện đối với chánh niệm mà thôi. Chính vì vậy, điều mà tôi muốn hỏi sư để sư suy xét thêm là: liệu cơ hội phát triển chánh niệm ở đây như thế này có khác gì so với cơ hội phát triển chánh niệm ở nơi cô tịch vắng vẻ không? Nói một cách khác, tôi muốn hiểu thêm xem là điều gì khiến mọi người nghĩ rằng ta có thể có chánh niệm nhiều hơn khi ở nơi thanh vắng so với khi chúng ta đang đàm đạo trong một đám đông như thế này.

Vị sư 3:          Riêng với sư, sư không còn phân biệt giữa đám đông hay thanh vắng, sư ghi nhận tất cả đối tượng nó xảy đến.

Achaan:         Hiểu biết sẽ đưa tới sự xả ly hay sự dính mắc?

Vị sư 3:          Xả ly.

Achaan:         Vậy ở khoảnh khắc có kinh nghiệm trực tiếp, cái gì sẽ xả ly, là một người xả ly hay trí tuệ xả ly? Liệu ai đó có thể xả ly bằng dính mắc với những gì đang xuất hiện hiện giờ với ý niệm về ngã không? Hoặc cố gắng thật nhiều để xả ly mặc dù không có hiểu biết thực sự? Xả ly thực sự có xảy ra hay không tùy thuộc vào việc ở những khoảnh khắc đó,  một “người” nào đó đang cố xả ly hay chỉ là trí tuệ sinh khởi và làm công việc xả ly. Chúng ta nói đến rất nhiều từ, chẳng hạn xả ly, trí tuệ, tham, sân, v.v…, chúng ta cũng nói đến tà kiếnchánh kiến. Khi trí tuệ không kinh nghiệm tính chất của tất cả những thực tại ấy, hẳn sẽ có một ý niệm về ngã, chẳng hạn như “tôi đang thiền”. Làm thế nào để có thể bớt đi sự dính mắc vào ý niệm về tôi đây? Chỉ ngồi và suy nghĩ thôi thì sẽ không đủ. Sẽ cần phải có hiểu biết trực tiếp về những thực tại mà Đức Phật đã thuyết giảng hiện giờ đang xuất hiện. Cái thấy sinh khởi do duyên, ở thời điểm mà ta đang nói về nó, nó đã sinh và diệt rất nhiều lần. Nếu không có khoảnh khắc bắt đầu hiểu về cái thấy khi nó xuất hiện ở chính thời điểm ấy, sẽ không phải là sự phát triển của trí tuệ, dù ta gọi nó là gì đi nữa. Tại sao bây giờ không ai ở đây có thể kinh nghiệm được sự sinh diệt của các thực tại, của cái thấy khi nó sinh khởi? Có ai không đồng ý là cái thấy sinh và diệt hay không? Nhưng đó vẫn chỉ là từ việc nghe mà thôi, và như vậy chưa đủ để có thể tận diệt ý niệm về ngã, vì vẫn chưa phải là khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp sự sinh diệt của thực tại ấy. Vẫn chưa phải là khoảnh khắc chứng ngộ rằng cái nghe chỉ nghe mà thôi. Tuy nhiên, hiểu biết được tích lũy từ việc nghe sẽ tạo duyên cho khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp các thực tại mà ta đã từng được nghe về. Đó chính là sự phát triển của trí tuệ hiểu đúng về những gì đang xuất hiện. Chúng ta có thể nghĩ về sân, nhưng nếu sân không sinh khởi và xuất hiện hiện giờ, đó vẫn chỉ là suy nghĩ về thực tại ấy mà thôi, chứ không có hiểu biết trực tiếp rằng đó chỉ là một thực tại do sinh khởi do duyên. Đó lại là một mức độ hiểu biết khác, được tạo duyên nhờ việc nghe và hiểu dần dần từng bước một, chẳng hạn bây giờ cái gì đang xuất hiện đây? Không có gì đang xuất hiện hay sao?

Ai đó trả lời: Có suy nghĩ

Achaan:         Suy nghĩ không phải là thấy, nó là một thực tại, khi nó sinh khởi nó kinh nghiệm ngôn từ, câu chuyện hay khái niệm. Chúng ta có thể nghĩ về bông hoa nhưng khoảnh khắc đó khác với khoảnh khắc thấy bông hoa ấy. Như vậy ta có thể hiểu về sự khác biệt giữa cái thấy và suy nghĩ. Nếu như không có thực tại sinh khởi để thấy và suy nghĩ, sẽ không có cái thấy hay suy nghĩ về cái được thấy là một cái gì đó. Cuộc sống tiếp diễn do sự sinh diệt của tất cả các thực tại. Vì sinh diệt rất nhanh như vậy cho nên khi không có trí tuệ, vô minh sẽ lập tức cho rằng có ai đấy hay cái gì đấy trong đó, nhưng khi trí tuệ bắt đầu hiểu, nó biết rằng cái thấy không phải cái nghe, không phải suy nghĩ, mỗi thực tại có một đặc tính riêng và có những duyên riêng khiến chúng sinh khởi. Điều ấy có thể dẫn tới hiểu biết cao hơn là không gì có thể được cho là tự ngã. Ai sở hữu cái nghe chỉ ở khoảnh khắc trước đây thôi? Nó đã qua rồi, một cách hoàn toàn, tuy nhiên ở khoảnh khắc nghe lại có ý niệm “tôi nghe”, sau đó cái “tôi” nghe đó đã đâu rồi, âm thanh được nghe đó đâu rồi? Chúng đều đã diệt mất rồi, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác mà không hề có sự hay biết.

Chính vì vậy dù có cái hiểu về mặt tư duy về sự vô thường của tất cả mọi thứ, nhưng nếu vẫn chưa có được khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp về thực tại như nó là, thì ý niệm về ngã sẽ vẫn còn ở đó. Chính vì vậy giáo lý của Đức Phật không phải chỉ về hiểu biết về mặt lý thuyết hay tư duy mà thôi. Đức Phật cũng chỉ ra cho chúng ta con đường chánh đạo để phát triển hiểu biết ở mức độ cao hơn, đó là trí tuệ có thể hiểu về các thực tại hiện giờ một cách trực tiếp chứ không qua một phương tiện hay cách thức nào đó, bởi vì cái được gọi là con đường khác hay cách thức khác lại là con đường không hiểu về những gì đang xuất hiện. Khi không có hiểu đúng về cái đang xuất hiện, tà kiến cùng với tham ái sẽ dẫn ta tới sự thực hành sai trái và không hiểu về cái đang xuất hiện trong khoảnh khắc này. Và nếu như không có hiểu biết đúng biết được đâu là con đường đúng, đâu là con đường sai, vô minh và tà kiến sẽ tiếp tục dẫn ta trên con đường phi đạo, và tham sẽ cố thật nhiều để đạt được kết quả, và muốn được kết quả cho ai đây? Cho tôi, cho bản thân tôi. Như vậy, nếu không có trí tuệ  hay chánh kiến, sẽ không thể nào tận diệt được ý niệm về ta.

Chúng ta đọc và thảo luận về những gì có trong Tam tạng cũng như các chú giải mà Đức Phật đã để lại để thực sự hiểu Đức Phật đã dạy những điều gì và để dần xả ly khỏi ý niệm về ngã, cái là một hiểu biết sai lầm, là tà kiến. Liệu ta có đủ kiên nhẫn không đây? Chúng ta biết rằng cần nhiều thời gian để có thể kinh nghiệm cái xuất hiện hiện giờ như nó là, nhưng không có con đường nào khác, chúng ta sẽ vẫn còn phải tiếp tục tái sinh trong vòng luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác nếu vẫn còn vô minh, nhưng tà kiến là thứ nguy hiểm nhất bởi vì chừng nào vẫn còn tà kiến, sẽ không có con đường nào thoát khỏi luân hồi cả, sẽ mãi ở trong vòng vô minh và tham ái.

Vị sư 3:          Sư có một câu hỏi nữa, Sư rất hay thấy người âm trước mặt, ban đầu rất là sợ hãi, rồi từ từ sư không có ý niệm về ngã, từ từ thì sư không sợ nữa, sư coi họ như những chúng sinh khác. Nhưng sư không hiểu tại sao càng ngày sư gặp càng nhiều. Sư đi đến nơi nào họ cũng xuất hiện. Thường thì họ không có hại mình nhưng họ cần mình giúp đỡ.

Sarah:            Achaan có nói lúc trước rằng, khi ta theo đuổi sự thực hành với dính mắc thay cho con đường của xả ly, ta có thể gặp phải rất nhiều loại kinh nghiệm. Chẳng hạn lúc trước sư có nói đến việc trong cuộc sống hàng ngày, có ghi nhận được sự vô thường, khổ và khi đó thân sư có sự rung động. Nguyên nhân của hiện tượng ấy là do có sự chú tâm thái quá, và chính định ấy dẫn tới những hiệu ứng như vậy. Khi có sự cố sức với mong muốn đạt được kết quả, chẳng hạn như thấy được sự vô thường, ở đó không có hiểu biết đúng. Định là kết quả của sự cố sức ấy sẽ là tà định và không phải là con đường chánh nếu như không có hiểu biết đúng và sự xả ly ngay từ lúc ban đầu. Ở đó khi ấy vẫn có sự dính mắc với cái gọi là kinh nghiệm của tôi, thân tôi, sự thực hành của tôi, sự tập trung của tôi. Vừa rồi, sư có nói đến việc kinh nghiệm những cảm thọ xung quanh trên toàn thân, đây cũng là một loại thực hành rất phổ biến. Ta có thể cho rằng, ở thời điểm có sự quan sát đó, có vẻ như không có sự lựa chọn nào cả, nhưng thực chất cũng không phải là một cách tự nhiên, bởi vì ở đó vẫn có sự dính mắc vào sự tập trung và vào kinh nghiệm, không có cái hiểu và xả ly với đối tượng đang xuất hiện hiện giờ. Bởi vì ta muốn có kết quả quá nhiều. Kết quả mà ta mong muốn là nhiều chánh niệm hơn, nhiều định hơn, nhưng chính điều ấy dẫn đến kết quả hoàn toàn đối nghịch. Do bị thúc đẩy bởi tà kiến và sự dính mắc, sự mong cầu làm duyên cho hiểu sai và tà định. Điều ấy dẫn tới những kinh nghiệm khác thường như sự rung động hay gặp gỡ những người âm. Cứ tiếp tục như vậy, sẽ càng đi xa hơn con đường đúng là hiểu về các thực tại đang xuất hiện hiện giờ, tức là những thứ rất thông thường như cái thấy, nghe, sự dính mắc v.v…. Đó là lý do mà Đức Phật đã nhấn mạnh rằng ngay từ lúc ban đầu cần phải có chánh kiến cùng với sự xả ly.

Jonathan:     Bất cứ sự thực hành nào đưa đến những trạng thái bất thường, dù là trạng thái khinh công hay nặng nề hay kinh nghiệm ở bên ngoài thân, thấy những thứ thông thường ta không thấy, cảm giác có những năng lượng lạ kỳ…, tất cả những thứ khác thường đó không phải là sự phát triển của hiểu biết về các thực tại đang xuất hiện hiện giờ. Mặc dù ta có thể nghĩ rằng bất cứ đối tượng nào cũng có thể là đối tượng của trí tuệ ở bất cứ nơi nào hay bất cứ thời điểm nào, nhưng nếu ta cho rằng ở một số thời điểm và hoàn cảnh cụ thể nào đó mình có một số loại kinh nghiệm đặc biệt, điều ấy chứng tỏ ta vẫn đang bị dẫn dắt bởi một sự dính mắc rất vi tế. Như vậy, thay cho việc tìm hiểu những kinh nghiệm lạ kỳ của mình, ta có thể để chúng sang một bên, và hãy suy xét để hiểu hơn về những thực tại đang xuất hiện hiện giờ, và nhận ra rằng đó có thể là sự khởi đầu của sự xả ly.

Achaan:         Liệu sư có thể nói thêm một chút về các chúng sinh ở cõi âm mà sư nhắc đến không?

Vị sư 3:          Sư cảm giác họ đến tự nhiên chứ không phải do từ sự thực hành của sư. Vì những lúc sư đang thức đọc sách thì thấy họ trước mặt, không phải từ sự thực hành sai hay tà định gì đó.

Achaan:         Chúng sinh đó chỉ xuất hiện hay có đi lại trước mặt sư không?

Vị sư 3:          Có một số chỉ xuất hiện, có một số thì xuất hiện hơi lâu, một số thì họ nói và cười với mình, hoặc xin phước.

Achaan:         Sư có muốn tiếp tục gặp gỡ họ nữa không?

Vị sư 3:          Sư không có muốn hay không muốn gặp họ.

Achaan:         Ý của sư là không thể có sự lựa chọn gặp hay không gặp họ nữa phải không?

Vị sư 3:          Đúng vậy. Bây giờ sư không có trạng thái sợ họ, bởi vì họ cũng chỉ là chúng sinh.

Achaan:         Vậy ở khoảnh khắc sư thấy họ thì khi ấy có cái thấy đúng không?

Vị sư 3:          Sư thấy họ trong trạng thái tỉnh chứ không phải là mê.

Achaan:         Với mắt mở phải không? cái được thấy về mặt thực chất chỉ là một thực tại được thấy, bất kể nó là gì đi nữa, và cái hiểu đúng về nó có thể sinh khởi ở bất kỳ khoảnh khắc nào, khi ấy hay bây giờ, và cái thấy được tiếp nối bởi suy nghĩ về cái được thấy, cũng hệt như bây giờ mà thôi. Nhưng nếu có trí tuệ, nó sẽ sinh khởi để hiểu rằng đó chỉ là một khoảnh khắc của cái thấy và một khoảnh khắc của suy nghĩ. Khi không có hiểu biết, sẽ có vô minh và dính mắc cho cái được thấy là một cái gì đó mà không biết là như thế nào và tại sao. Liệu ta có thể biết rằng khoảnh khắc đó cũng là một khoảnh khắc của vô minh và dính mắc hay không? Hiểu biết đúng có thể được phát triển tới mức độ xả ly với cái được kinh nghiệm, dù dưới hình dạng này hay hình dạng kia. Nếu có trí tuệ, nó sẽ biết được nhiều hơn là chỉ biết cái được kinh nghiệm đó là gì, và trí tuệ ấy sẽ được phát triển đến mức độ không còn quan tâm đến cái xuất hiện là gì nữa, bởi vì tận cùng, cái được thấy cũng chỉ là đối tượng thị giác mà thôi. Khi cố tìm hiểu đó là gì, thực chất đó là sự chấp thủ vào ý niệm về một cái ngã đang muốn biết, nhưng điều muốn biết không thể được biết vì khi đó lại là một suy nghĩ khác rồi. Chỉ có các thực tại tuyệt đối mới có thể xuất hiện để được biết. Khi có hiểu biết về chúng, ta sẽ không còn bao giờ xa rời những gì đang xuất hiện. Sư có nghĩ rằng điều ấy sẽ tốt hơn tất cả những thứ còn lại hay không?

Có những người lại muốn có thêm những kinh nghiệm lạ kỳ như vậy nữa. Tốt nhất là hãy quên chúng đi. Tại sao? Bởi vì tất cả đã qua thì đã qua một cách hoàn toàn, tương lai thì vẫn còn chưa tới. Nhưng có thể có sự đào sâu để hiểu hơn về tính chất vô ngã của những gì đang xuất hiện. Đó là cách để xả ly về bất cứ những gì xuất hiện và ý niệm về ngã ở trong đó.

Vị sư 3:          Cảm ơn Achaan.

Vị sư 1:          Thưa Achaan là trong giáo pháp của Đức Phật, Ngài đã dạy những điều gì và điều đó chúng ta có thể kinh nghiệm ngay phút giây hiện tại này không?

Achaan:         Tôi rất hoan hỉ khi thấy rằng Sư muốn biết về điều mà Đức Phật đã dạy chứ không phải là từ tôi hay từ một vị thầy nào khác. Vậy sư hãy nhắc lại câu hỏi của mình.

Vị sư 1:          Giáo pháp Đức Phật đã dạy có thể được kinh nghiệm trong hiện tại hay không?

Achaan:         Khi trí tuệ được phát triển từ hiểu biết đúng về lý thuyết, nó có thể hiểu đúng về các thực tại xuất hiện hiện giờ giống như là Đức Phật đã dạy. Nếu không phải là như vậy thì sẽ không có từ bhavana– sự phát triển tâm trí hay sự phát triển trí tuệ, từ chỗ không hiểu biết gì về cái đang xuất hiện hiện giờ tới bắt đầu có hiểu biết nhờ việc nghe và suy xét. Đó chính là cách mà trí tuệ được phát triển. Trí tuệ phát triển do duyên tương ứng, chứ không phải do ta đọc một cái gì đó và rồi nghĩ theo cách riêng của mình. Mỗi lời dạy của Đức Phật là vô giá bởi vì nó có thể tạo duyên cho hiểu biết sinh khởi.

Chúng ta không thể mong đợi hiểu được tất cả những từ mà Đức Phật đã dạy chỉ trong ngày một ngày hai. Chẳng hạn như trong tiếng Pali, từ dhamma (pháp) chỉ đến tất cả những gì là thực, như vậy trong một ngày chỉ có pháp mà thôi, từ khi sinh ra cho đến khi chết đi. Nếu ta không hiểu pháp thực sự là gì, ta sẽ đi tới một chỗ khác và tìm kiếm pháp. Nhưng vô minh không thể nào tìm được pháp, chỉ có Trí tuệ mới tìm được pháp mà thôi bởi vì pháp là bây giờ và ở đây. Một số người chỉ nghĩ đơn thuần rằng Pháp là chỉ giáo lý của Đức Phật, nhưng Giáo lý ấy nói về gì? Giáo lý ấy chỉ về tất cả những gì đang xuất hiện hiện giờ. Như vậy, có thể có sự nghiên cứu về pháp ở bất cứ nơi đâu khi sự nghiên cứu về pháp đã đủ chín muồi.

Chúng ta quên gì đây, cái mà chúng ta luôn lãng quên ấy? Chúng ta có đang quên không? Quên cũng là một thực tại, không phải là ai cả, tại khoảnh khắc của cái thấy, ta quên mất rằng đó chỉ là một thực tại, là một pháp thấy chứ không phải ai đang thấy. Cái được thấy đó ở đâu rồi?

Học viên 13: Nó nằm ở trong suy nghĩ

Achaan:         Ta chưa nói đến suy nghĩ, mà chỉ đang nói đến khoảnh khắc cái thấy thấy đối tượng đó mà thôi, và vô minh thì che dấu sự thực, và tham cố gắng rất nhiều để tìm xem thực tại ấy ở đâu. Chúng ta không cần phải làm gì cả, vì cái muốn làm một cái gì đó ấy chính là tâm tham hợp tà kiến, nó muốn tìm xem hiện giờ thực tại ấy (đối tượng thị  giác) ở đâu. Hiện giờ đối tượng đang xuất hiện, và không cần phải có vô minh và tham ái để đi tìm nó, nó đang ở đây rồi, nó có thể được thấy qua mắt, nhưng cái thiếu là hiểu biết về nó. Bởi vì đối tượng thị giác sinh và diệt một cách vô cùng nhanh chóng, cái đọng lại từ cái thấy là hình dạng và những ý niệm về cái được thấy. Có tưởng ghi nhớ lại đặc tính của cái đã xuất hiện, cho nó là một cái gì đó mà chưa cần phải dùng tới ngôn từ. Đây là một cái ly đúng không? Dường như là không cần mất chút thời gian nào để biết được điều ấy. Tuy nhiên nếu không có cái thấy thì có thể có ý niệm về cái ly hay không? Chỉ có trí tuệ của Đức Phật mới chứng ngộ được rằng cái thấy thấy cái được thấy và rồi ngay lập tức đã có cái tham hoặc sân với đối tượng được thấy đó, mặc dù chưa biết cái được thấy đó là gì, tức là trước khi có cái ý niệm về cái ly .

Chính vì vậy hiểu biết đúng về những gì đang xuất hiện sẽ tạo duyên cho hiểu biết về các ơn đức của Đức Phật. Nếu không có hiểu biết đúng, thì dù ta đảnh lễ Ngài bao nhiêu lần đi nữa sẽ vẫn không phải là tôn kính ơn đức của Ngài một cách thực sự, mà chỉ trong ý niệm mà thôi. Do vậy, để có thể có sự quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng thực sự thì cần phải có hiểu  biết đúng về các thực tại mà Đức Phật đã dạy cho chúng ta, chúng sâu sắc và vi tế đến chừng nào. Tuy nhiên, nếu những thực tại ấy không thể được liễu ngộ trực tiếp thì Đức Phật đã không thuyết giảng cho chúng ta về chúng. Như vậy, những lời chân chánh, những lời chân lý đều là Phật ngôn, dù được nói ra bởi ai đi nữa.

Chẳng hạn bây giờ chúng ta đang nói về đối tượng thị giác, có ai không kinh nghiệm đối tượng thị giác đây! nhưng liệu có ai biết được đó chỉ là một thực tại hay không? Đó là một thực tại chỉ có thể được thấy. Cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nữa để có thể hiểu được đức Thế tôn nhiều hơn, để thấy rõ hơn ơn đức của Ngài, vậy câu trả lời cho câu hỏi “đối tượng thị giác hiện giờ ở đâu?” là thế nào đây? Câu trả lời cần phải tới từ sự suy xét của mỗi người để nó trở thành hiểu biết riêng của họ, chứ không chỉ nghe theo lời của người khác. Vậy câu trả lời là gì đây?

Vị sư 1:          Thông thường chúng ta chỉ thấy người và vật, vậy có phải nghĩ nó là thực tại như Achaan đã nói không?

Sarah:            Chúng ta đã nói là ở khoảnh khắc của cái thấy, cái thấy chỉ thấy đối tượng thị giác mà thôi, ở khoảnh khắc kinh nghiệm đối tượng thị giác thì đó là thứ duy nhất được thấy. Ở khoảnh khắc đó, không hề có ý niệm về thân thể, về cõi này hay cõi khác. Không hề có ý niệm về chúng sinh, chư thiên, cái micro hay bất cứ thứ gì khác. Bởi vì ở khoảnh khắc đó chỉ có sắc là đang được kinh nghiệm bởi cái thấy mà thôi. Sau khi cái thấy đó diệt đi, có những suy nghĩ về cái được thấy rằng đây là chúng sinh ở cõi này, hay đây là cái bàn v.v… Nhưng thực chất, ở khoảnh khắc của cái thấy, không có thế giới nào khác ngoài thế giới của thực tại được thấy mà thôi. Do có tưởng (sanna) làm nhiệm vụ đánh dấu và ghi nhớ về đối tượng ấy, sau đó mới có việc ghi nhớ rằng đây là cái bàn hay con người, nhưng ở khoảnh khắc của cái thấy, không phải là con người được thấy mà chỉ có đối tượng thị giác được thấy mà thôi. Ta có thể thấy rằng phần lớn thời gian, ta sống trong thế giới của những khái niệm và ý niệm mà thôi, những ý niệm về con người và vạn vật, và cả những ý niệm về các thực tại nữa. Có sự dính mắc và chú trọng quá nhiều đến những ý niệm này và quên đi rằng ở khoảnh khắc này của cái thấy, chỉ có đối tượng thị giác đang xuất hiện mà thôi, nó sinh rồi diệt, và chẳng có gì là quan trọng cả.

Vị sư 1:          Mọi khoảnh khắc sinh khởi và qua đi nhưng có thể có những kinh nghiệm ở khoảnh khắc hiện tại này, có sự hay biết cái thấy, cái nghe. Tuy nhiên có trường phái cho rằng tâm biết không sinh diệt mà là cái gì lâu dài …

Sarah:            Bởi vì luôn có sự dính mắc vào một cái ngã nào đó, luôn tìm đến một cái gì đó thường hằng, và điều ấy không thể dẫn đến sự chứng ngộ được khoảnh khắc các thực tại kinh nghiệm và được kinh nghiệm chỉ sinh và diệt, không có gì thường hằng cả.

Jonathan:     Chính vì lý do ấy, Đức Phật đã dạy về ngũ uẩn theo nghĩa tuyệt đối là “cái sinh và diệt”, ngũ uẩn chỉ đến các thực tại hữu vi, bao gồm cả thực tại kinh nghiệm là thức uẩn. Ngoài từ sankhara là để chỉ đến các thực tại hữu vi, cũng có từ sankhata là chỉ đến các thực tại sinh rồi diệt. Sankhara là nói đến các thực tại do duyên mà thành, còn sankhata chỉ rõ các thực tại đó sinh rồi diệt.

Sarah:            Chính vì vậy, quay trở về với câu hỏi đầu tiên của đại đức về Giáo lý đức Phật, chúng ta luôn luôn phải nghiên cứu và suy xét giáo lý của Ngài một cách kỹ lưỡng, nếu không sẽ luôn có ý niệm về ngã, về một cái gì đấy trường tồn.

Vị sư 4:          Khi nói đến kinh nghiệm hiện tại trực tiếp không qua lăng kính nào thì cũng như là trong Đạo Lão có nói trở về với tâm hồn trẻ thơ, hay như chúa hài đồng…, đó là những gì chúng ta nói từ đầu buổi đến giờ. Nhưng theo tôi nghĩ như vậy chưa đủ, vì đức Phật có dạy về quán sát bảy xứ…

Sarah:            Một đứa trẻ không có khái niệm về những thứ được kinh nghiệm, nhưng khi nó chạm vào cái bàn, mặc dù nó kinh nghiệm đặc tính cứng nhưng không có cái hiểu rằng cái cứng đó là một thực tại, là sắc, là vô ngã. Hoặc khi có những đối tượng xuất hiện trước mắt, nó không có ý niệm gì hết, nhưng cũng không có cái hiểu rằng đó chỉ là đối tượng thị giác, là một thực tại, không phải là ngã. Vậy trí tuệ của đức Phật hoàn toàn khác với cái biết của một đứa trẻ.

Chính vì vậy trong chú giải về kinh tứ niệm xứ thì có nói rằng, kể cả con chó, con thằn lằn đều kinh nghiệm vị hoặc đặc tính cứng, nhưng chúng hoàn toàn không có cái hiểu về các pháp là vô ngã.

Vị sư 4:          Đức Phật có dạy các vị tỳ kheo thiện xảo quán sát bảy xứ: thứ nhất là cái này sinh khởi, cái này diệt đi, bốn cái đầu trong Tứ diệu đế, ba cái sau là vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xả ly. Có phải chăng đó là con đường mà Bà nói là để kinh nghiệm cái thực tại hiện tiền đó như nó là. Liệu rằng những phương pháp đó có áp dụng được để dẫn tới sự hiểu biết về thực tại?

Achaan:         Sư nói đến sự quán sát, vậy quán sát gì? Và cái gì quán sát?

Vị sư 4:          Quán sát là phải xem do nhân gì, do duyên gì mà cái này sinh khởi và diệt đi. Làm thế nào nó sinh khởi và làm thế nào nó biến mất.

Achaan:         Nhưng câu hỏi là cái gì được quán sát và ai quán sát?

Vị sư 4:          Chẳng hạn như trường hợp của sư đây thì đối tượng được quán sát là người âm, và cái quán sát đó là người nhận định đối tượng đó. Bởi vì có căn có trần sinh xúc nên có cái thức tương ứng khởi lên.

Achaan:         Khi ta nói rằng có những người ở cõi âm, liệu điều ấy có thể được biết mà không có suy nghĩ không?

Vị sư 4:          Không.

Achaan:         Chính vì vậy khi nói đến quán sát, cái gì chính xác là đối tượng được quán sát và cái gì là chủ thể quán sát?

Vị sư 4:          Không có đối tượng cũng không có chủ thể mà chỉ có cái biết-cái thức thôi. Do căn và trần tiếp xúc nên có cái thức. Nếu có đối tượng và chủ thể thì nó là nhị nguyên rồi.

Achaan:         Vì những lời dạy của Đức Phật rất chi tiết, bởi thực tại rất cụ thể, nên mỗi từ trong Giáo lý đều chỉ đến một cái gì đấy rất cụ thể. Khi ta nói rằng không có chủ thế và đối tượng quán sát thì điều ấy có nghĩa rằng sẽ không thể có sự quán sát xảy ra. Do vậy, câu hỏi đặt ra để tìm cụ thể cái gì là cái được quán sát, và cái gì làm cái công việc quán sát đó?

Vị sư 4:          Câu trả lời ở đây là cái thức.

Achaan:         Thức có phải là trí tuệ không?

Vị sư 4:          Thức ở đây là cái biết trực tiếp.

Achaan:         Ở khoảnh khắc cái thấy thấy qua mắt, chỉ có cái nhãn thức thấy, chứ không phải là trí tuệ thấy, đúng không?

Vị sư 4:          Đúng.

Achaan:         Và tâm không thể sinh khởi một mình, mà nó đồng sinh khởi với một số tâm sở khác. Vậy ở khoảnh khắc có sự quán sát thì có những loại tâm sở nào ở đó?

Vị sư 4:          Tôi không học nhiều về Vi diệu pháp nhưng tôi nghĩ cái thức có trước sau đó có xúc sinh khởi.

Achaan:         Thực chất, tâm hay thức không thể sinh khởi mà không có xúc. Bất cứ lúc nào có tâm sinh khởi cũng kèm theo tâm sở xúc.

Vị sư 4:          Và sau xúc thì có vedana-thọ?

Achaan:         Không. Chúng sinh khởi cùng nhau.

Sarah:            Đức Phật dạy về hai loại thực tại: loại thứ nhất kinh nghiệm một đối tượng gọi là danh, loại thứ hai không kinh nghiệm gì cả gọi là sắc. Có hai loại danh:  tâm thì kinh nghiệm đối tượng, chẳng hạn cái thấy là tâm, cái nghe cũng là tâm và suy nghĩ cũng là tâm. Mỗi tâm sinh khởi luôn đi kèm với bảy biến hành tâm sở. Không một khoảnh khắc nào trong cuộc sống mà tâm không kinh nghiệm một đối tượng nào đó. Bất cứ khoảnh khắc nào tâm sinh khởi kinh nghiệm một đối tượng, nó luôn được đi kèm với ít nhất là bảy tâm sở. Một trong những tâm sở luôn sinh khởi cùng với tất cả các tâm là xúc (phassa), một loại tâm sở khác cũng sinh khởi với tất cả các tâm là thọ (vedana) , và tưởng (sanna) cũng sinh khởi với tất cả các tâm, cũng như tâm sở ekagata (nhất tâm). Mỗi khi tâm sinh khởi, chẳng hạn như ở khoảnh khắc thấy, tất cả những tâm sở đó cùng sinh khởi một lúc và đảm nhận chức năng riêng của chúng. Khi cái thấy thấy đối tượng thị giác, cái được thấy không phải là con người hay cảnh vật, ở khoảnh khắc ấy xúc tiếp xúc với đối tượng. Nếu không có xúc tiếp xúc với đối tượng thì cái thấy sẽ không thể thấy được đối tượng. Cũng ở khoảnh khắc đó thọ cảm nhận đối tượng. Ở khoảnh khắc của cái thấy, thọ là thọ xả, nhưng ở những khoảnh khắc của thân thức thì có thể là thọ lạc hoặc khổ. Cũng ở khoảnh khắc đó, nhất tâm (ekaggata) nhấn vào đối tượng. Tưởng (sanna) đánh dấu và ghi nhớ về đối tượng. Chúng ta có thể thấy rằng ở bất cứ khoảnh khắc nào, tâm luôn sinh khởi cùng với thọ, xúc, và tưởng để kinh nghiệm đối tượng ấy. Chính vì vậy ta không thể nói là thức thấy trước rồi sau đấy mới tới xúc và sau đó tới thọ, bởi vì chúng sinh khởi cùng nhau, đảm nhận chức năng riêng của chúng và rồi diệt đi, lại có những tâm khác cùng kinh nghiệm đối tượng thị giác đó, và những tâm đó thì cũng đồng sinh với những tâm sở khác. Những tâm thiện và bất thiện kinh nghiệm đối tượng ấy đồng sinh với các tâm sở khác nhau, cứ như vậy trong mọi khoảnh khắc của cuộc sống, với tất cả mọi người.

Vị sư 4:          Như vậy có mâu thuẫn với điều bà nói trước đó là tâm chỉ kinh nghiệm một đối tượng tại một thời điểm?

Jonathan:     Tôi đánh giá cao việc đại đức đã đặt ra câu hỏi này liên quan đến câu hỏi đầu tiên. Điều này đưa đến liên hệ rằng, khi đọc kinh, cần được hiểu là những điều chúng ta đọc trong kinh đều để chỉ những gì đang xuất hiện hiện giờ. Khi Đức Phật còn tại thế, những người nghe Đức Phật thường giác ngộ ngay trong khi nghe Đức Phật giảng pháp. Không có bài kinh nào nói những người nghe hãy đi đến một nơi khác để thực hành, mà chỉ có những lời giải thích cho thính chúng về các thực tại ngay nơi khoảnh khắc hiện giờ khi đó. Khi chúng ta nói đến Tứ diệu đế, diệu đế thứ nhất là khổ để, vậy khoảnh khắc hiện giờ có phải là dukkha (khổ) không? Cái thấy hiện giờ có phải là dukkha không? Đối tượng thị giác ở khoảnh khắc hiện giờ có phải là dukkha không? Vì vậy, chúng ta cần phải hiểu những thực tại này là gì và tại sao chúng lại là khổ. Chính vì lẽ đó, chúng ta cần phải có một cái hiểu rất rõ ràng về mặt lý thuyết, về các tâm và tâm sở, tức là về các thực tại, để trả lời cho câu của sư là chỉ có một tâm sinh khởi ở mỗi khoảnh khắc kinh nghiệm chỉ một đối tượng mà thôi.

Sarah:            Mỗi tâm sinh khởi cùng với các tâm sở, như cái thấy hiện giờ sinh khởi cùng các tâm sở. Nhưng đối tượng của cái thấy thì chỉ có thể là một thực tại hoặc khái niệm mà thôi. Ở khoảnh khắc của cái thấy, mặc dù có nhiều tâm sở đi kèm, nhưng đối tượng của tâm thì chỉ có một, đó là đối tượng thị giác. Ở khoảnh khắc của suy nghĩ, tâm cũng sinh khởi cùng với nhiều tâm sở khác nhau, chẳng hạn xúc, tưởng hay tham. Đối tượng khi ấy là những khái niệm, chẳng hạn như cái bàn, cái ly, hay chư thiên. Vì vậy, không có mâu thuẫn gì khi nói rằng các tâm sở sinh khởi cùng tâm đồng thời mỗi tâm chỉ kinh nghiệm một đối tượng tại một thời điểm. Nếu như ta cho rằng những cái đó là nhị nguyên hay không nhị nguyên mà không thực sự tìm hiểu về hai loại thực tại, một thực tại kinh nghiệm và một thực tại không kinh nghiệm gì cả, ta sẽ không thể nào hiểu được Giáo lý của  Đức Phật rằng các pháp là vô ngã. Vì lẽ ấy, Achaan có nói trước đó là Giáo lý của Đức Phật rất chi tiết và vì thế chúng ta cần phải suy xét từng từ một, một cách kỹ lưỡng.

Vị sư 4:          Cảm ơn các vị đã trả lời rất rõ ràng. Tôi đồng ý rằng khi nói về các chi tiết của thực tại như thế thì cũng đang nói về vô ngã. Tôi xin trả lời câu hỏi ban nãy về Dukkha.  Đó là cái đau khổ chỉ xảy ra khi nào có sự ràng buộc vào chấp thủ.

Jonathan:     Nhưng Đức Phật cũng nói tất cả các pháp hữu vi là khổ.

Vị sư 4:          Ngũ uẩn thủ là khổ, điều này được ghi trong Tứ diệu đế.

Achaan:         Vậy cái đang xuất hiện hiện giờ không phải là một trong ngũ uẩn hay sao? Bởi vì hiện giờ cũng đang có sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.

Người phiên dịch:    Nhân đây con cũng muốn Achaan giải thích kỹ hơn ngũ uẩn thủ là gì?

Achaan:         Hiện giờ có sắc hay không? Khi không có hiểu biết sẽ có sự dính mắc và vô minh. Khi không có hiểu biết thì vô minh ở đó và dính mắc vào đối tượng ấy, cho cái đó là một cái gì đấy trường tồn, sắc không xuất hiện như là một thứ sinh và diệt. Chỉ ở khoảnh khắc trí tuệ kinh nghiệm trực tiếp sự sinh và diệt của thực tại thì mới có sự xả ly, không phải sự dính mắc như thông thường.

Sarah:            Mỗi uẩn đều là khổ bởi vì nó sinh và diệt. Bất cứ khi nào uẩn là đối tượng của sự chấp thủ thì khi ấy được gọi là ngũ uẩn thủ. Đối tượng thị giác đang được thấy hiện giờ sinh và diệt và vì vậy nó là khổ. Khi có dính mắc vào uẩn đó thì khi ấy có sắc uẩn thủ ở khoảnh khắc đó. Chính vì vậy, kể cả các sắc “thuộc về” Đức Phật cũng là khổ bởi vì nó cũng sinh và diệt. Khi đối tượng thị giác được thấy và có sự dính mắc ở trong đó thì sẽ là uẩn thủ.

Jonathan:     Như đại đức đã nói, trong bài kinh về Tứ diệu đế, ở câu cuối cùng trong Khổ đế có nói: Tóm lại ngũ uẩn thủ là khổ. Một kinh ngôn thường được các vị chư tăng ở Thái lan tụng đọc mỗi buổi sáng là: Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, tất cả các pháp hữu vi đều khổ, tất cả các pháp là vô ngã (sabbe sankhara dhamma anicca, sabbe sankkhara dhamma dukkha, sabbe dhamma anatta)

Vị sư 4:          Tức là phải sự nhận biết tham gia vô, chứ cái bàn thì đâu có khổ.

Jonathan:      Cái bàn không phải là pháp.

Vị sư 4:          Nhưng tất cả đều là pháp, cái bàn cũng là pháp.

Jonathan:     Cái gọi là cái bàn xuất hiện qua căn nào?

Vị sư 4:          Xuất hiện qua căn mắt.

Jonathan:     Chúng ta đã nói về việc nghiên cứu Giáo lý của Đức Phật phải rất chi tiết. Trước đó ta có nói rằng theo kinh điển để lại, cái xuất hiện qua nhãn căn hay ta vẫn gọi là mắt chỉ là đối tượng thị giác, không phải là con người hay đồ vật .

Người phiên dịch: Đó là một thực tại có thể được thấy, là một loại sắc, không phải là cái bàn.

Sarah:            Một cách chi tiết, cái thấy là một pháp sinh và diệt và vì vậy nó là khổ. Đối tượng thị giác tức là cái được thấy cũng là một pháp sinh và diệt vì vậy nó cũng là khổ. Đặc tính cứng là một thực tại sinh và diệt vì thế nó cũng là khổ. Nhưng con người, cái micro hay cái ly chỉ là những khái niệm, ý niệm mà thôi và vì vậy chúng không phải là thực tại, chúng không sinh và diệt.

Vị sư 4:          Khái niệm cũng sinh và diệt chứ.

Jonathan:      Khái niệm là cái được suy nghĩ nghĩ về, chúng ta không nên lẫn lộn giữa khái niệm và thực tại –  đối tượng thị giác chẳng hạn. Cái thấy là một thực tại, nó có một đặc tính cụ thể, không phụ thuộc vào con người hay nơi chốn. Dù là người này thấy hay người kia thấy, thấy ở đây hay thấy ở nơi khác thì đặc tính thấy vẫn là thấy mà thôi. Cũng tương tự như vậy với đối tượng của cái thấy, dù ở nơi nào, hoàn cảnh nào, và lúc nào đi nữa,  nó vẫn là như vậy, nó có chung một đặc tính là có thể được thấy. Đối tượng thị giác không phải là cái mà chúng ta vẫn gọi là con người hay cái cây hay những thứ như vậy.

Sarah:            Tương tự như vậy suy nghĩ cũng là một thực tại, nó cũng sinh và diệt, khi suy nghĩ sinh khởi, nó nghĩ về khái niệm, chẳng hạn những khái niệm như cái bàn, cái ly. Khi suy nghĩ đó diệt đi, không còn ý niệm về khái niệm trước đó nữa. Chính vì vậy, cái là thực là suy nghĩ, còn cái là khái niệm thì chỉ được tưởng tượng trong suy nghĩ đó mà thôi, cho nên cái sinh và diệt là suy nghĩ chứ không phải là khái niệm được nghĩ về. Do đó, rất quan trọng cần phân biệt thế nào là khái niệm và thế nào là thực tại. Tất cả các uẩn đều là thực tại, tất cả các giới cũng như các xứ đều là thực tại. Đối tượng của tứ niệm xứ đều là thực tại và con đường mà Đức Phật đã dạy là cái hiểu về các thực tại. Nếu không hiểu được điều ấy, chúng ta cứ tiếp tục nghĩ về những khái niệm khác nhau mà không hiểu rằng chúng chỉ là khái niệm mà thôi.

Vị sư 4:          Khi nói tâm hay biết sinh và diệt, mình có thể nói được chăng là khái niệm là sản phẩm của cái tâm đó cũng sinh và diệt cùng tâm hay không?

Sarah:            Ví dụ ở khoảnh khắc hiện giờ có suy nghĩ về cái ly, suy nghĩ đó là thực, nhưng cái ly mà chúng ta nghĩ về đó không phải là thực vì đó chỉ là một khái niệm mà thôi. Khi suy nghĩ diệt đi, không còn ý niệm về cái ly nữa, nhưng ta không thể nói rằng cái ly diệt đi. Bởi vì ngay từ ban đầu, cái ly đã không phải là thực rồi, đó chỉ là một ý niệm mà ta nghĩ về mà thôi.  Tính cứng là thực, nó sinh và diệt. Cái ly thì chỉ là một ý niệm và nó không sinh diệt, nó chỉ được tưởng tượng và nghĩ về mà thôi.

Vị sư 4:          Tôi cũng hiểu là như vậy nhưng tôi vẫn chưa đồng quan điểm cái bàn là khổ. Bởi vì chính sự dính mắc vào thứ đồ vật đó thì mới là khổ.

Achaan:         Trước khi có bất cứ ý niệm nào về cái bàn thì cái được thấy là gì?

Vị sư 4:          Cái sắc.

Achaan:         Vì sao sư gọi nó là sắc?

Vị sư 4:          Vì Đức Phật định nghĩa sắc là những gì chịu sự thay đổi của thời tiết, biến hoại hình tướng, nhiệt độ.

Achaan:         Chúng ta luôn cần phải quay về với những kiến thức rất căn bản, chẳng hạn sắc là gì và sắc có thể được thấy hay được nghe hay không? Đức Phật không chỉ nói cái này là sắc, cái kia là sắc mà còn giải thích tại sao nó là sắc, đặc tính của sắc là gì, chứ không chỉ gọi tên nó mà thôi.

Vị sư 4:          Đặc tính là chịu sự vô thường, thay đổi

Achaan:         Nhưng nếu nói đến vô thường, chịu sự thay đổi và biến hoại thì tất cả pháp hữu vi đều chịu sự thay đổi, chứ không phải chỉ riêng sắc pháp. Điều gì làm cho sắc khác với danh? Đây là sự khởi đầu của hiểu về pháp.

Sarah:            Để giúp cho chúng ta có thể hiểu hơn và trả lời cho câu hỏi của Achaan, tất cả các thực tại không kinh nghiệm gì cả như tính cứng, mềm, âm thanh, đối tượng thị giác… là sắc, sắc là thực tại không kinh nghiệm gì cả.

Khi Achaan đặt câu hỏi cái gì được thấy, câu trả lời là: cái được thấy không thể là con người hay cái bàn, nó chỉ có thể là một thực tại. Không phải là cái bàn hay cái ly được thấy, mà là một thực tại có đặc tính được thấy, có đặc tính của thực tại không kinh nghiệm gì cả, nhưng được kinh nghiệm bởi một thực tại khác.

Achaan:         Để có thể hiểu được pháp thì cái hiểu phải luôn luôn là về hiện tại, đúng không? Bắt đầu từ việc suy nghĩ xem hiện giờ có pháp hay không. Kể cả khi chúng ta không dùng từ pháp đi nữa, thì bất cứ cái gì là thực đều là pháp. Hiện giờ có cái thấy không? Cái thấy là thực đúng không? Cái được thấy là thực hay là không thực?

Vị sư 4:          Cái được thấy ngay trong hiện tại này là thực.

Achaan:         Như vậy là có hai thực tại, hai loại pháp: thực tại là cái thấy và thực tại là cái được thấy. Chúng ta không thể thay đổi đặc tính của thực tại không thể kinh nghiệm trở thành thực tại kinh nghiệm. Chính vì vậy thực tại mà bất cứ khi nào sinh khởi thì kinh nghiệm một cái gì đó được gọi là danh. Bất cứ khi nào nó sinh khởi thì nó phải kinh nghiệm một đối tượng. Dù ta có biết điều ấy hay không, kể cả khi chúng ta ngủ say vẫn có sự kinh nghiệm, nếu không có thực tại kinh nghiệm thì ta đã chết. Ở khoảnh khắc ngủ say, cảnh vật không xuất hiện, nhưng yếu tố kinh nghiệm vẫn sinh khởi. Đó là sự khác biệt giữa người sống và người chết. Cái gọi là sự sống phải có yếu tố kinh nghiệm ở đó, còn nếu không thì không thể được coi là đang sống. Cái được thấy thì không thể kinh nghiệm gì cả. Như vậy, có hai loại thực tại khác nhau: một là thực tại kinh nghiệm và nó phải kinh nghiệm một cái gì đó bất cứ khi nào nó sinh khởi; loại thực tại thứ hai không kinh nghiệm gì cả khi nó sinh khởi. Như vậy, tất cả các loại thực tại đều có thể được phân chia thành hai đặc tính: loại thứ nhất, là loại thực tại không kinh nghiệm gì cả được gọi là sắc – rupa; loại thứ hai, loại thực tại kinh nghiệm thì được gọi là danh –nama.

Có nhiều loại danh và sắc khác nhau, ở khoảnh khắc của cái thấy, cái gì được thấy? Chúng ta cứ phải quay lại nội dung này để có thể hiểu được rõ hơn một chút. Chúng ta luôn phải quay lại tìm hiểu xem đối tượng thị giác là gì và cái thấy là gì, nếu không, khi được đăt câu hỏi cái thấy là gì, chúng ta có thể trả lời rằng nó là sắc, nhưng không thực sự hiểu nó là gì. Chúng ta đồng ý rằng bất kể ta gọi một pháp là danh hay sắc, thì điểm cốt yếu là nó có một đặc tính riêng biệt, không thể thay đổi thành cái khác. Thực tại không thể kinh nghiệm gì cả được gọi là gì?

Vị sư 4:          Rupa (sắc)

Achaan:         Không phải chỉ là nhắc lại danh từ mà cần phải có cái hiểu thực sự đó là gì. Bất cứ cái gì là thực mà không thể kinh nghiệm gì cả thì là sắc và thực tại kinh nghiệm sắc thì là danh. Vậy cái được thấy là gì?

Vị sư 4:          Danh

Achaan:         Cái mà ta gọi là danh là gì?

Vị sư 4:          Là pháp.

Achaan:         Có hai loại pháp: một là pháp có khả năng kinh nghiệm, và thứ hai là pháp không có khả năng kinh nghiệm. Cái ly có khả năng nhìn thấy được không?  Vì cái ly không có khả năng nhìn, không có khả năng kinh nghiệm gì cả nên được gọi là sắc. Mấu chốt ở đây không phải là nhớ những danh từ như là danh và sắc, mà phải hiểu từng từ ấy nói đến cái gì: sắc là thực tại không kinh nghiệm gì cả. Chúng ta phải luôn hiểu rõ từng thứ một, nếu không chúng ta có thể nói về bảy cái này hay bốn cái kia, nhưng vẫn không thể hiểu được chính xác về cái đang xuất hiện hiện giờ đúng như những gì Đức Phật dạy. Mọi người đều biết rằng cái khó để hiểu một cách đúng đắn các thực tại, nhất là cái được thấy, bởi vì dường như nó xuất hiện suốt cả ngày nhưng chúng ta không hề có cái hiểu đúng về nó. Đó là lý do cần phải có cái hiểu về cái xuất hiện càng ngày càng rõ ràng hơn, chẳng hạn như hiện giờ nó ở đâu? Nó ở bên ngoài ở bên trong, nó ở trên bàn hay ở đâu? Sư có nhìn thấy cái này không? (Achaan chỉ vào cái kính)

Vị sư 4:          Có.

Achaan:         Bây giờ sư có thấy nó không? (Achaan cất cái kính đi)

Vị sư 4:          Không.

Achaan:         Vậy thì đối tượng thị giác ở đâu? Nếu không có tứ đại thì sẽ không có cái thấy, bởi vì nếu không có tứ đại sẽ không có thực tại là cái được thấy, tứ đại bao gồm bốn đại là địa, phong, thủy, hỏa đại. Liệu tính cứng có thể được xúc chạm không?

Vị sư 4:          Có thể xúc chạm

Achaan:         Nó có thể được thấy bằng mắt không?

Vị sư 4:          Không  thấy.

Achaan:         Như vậy chỉ ở khoảnh khắc của sự xúc chạm thì tính cứng mới có thể được kinh nghiệm. Ở khoảnh khắc của cái thấy, tính cứng không thể xuất hiện làm đối tượng cho cái thấy. Nhưng có tưởng nhớ lại rằng “cái này cứng” ngay khi nó được thấy, bởi vì ngay sau khoảnh khắc của cái thấy, ý niệm về việc tứ đại sinh khởi cùng cái được thấy được kinh nghiệm qua xúc chạm như thế nào cũng sinh khởi. Như vậy rất khó hiểu được rằng đối tượng được thấy hay đối tượng thị giác không phải ai cả mà chỉ là loại thực tại có thể được kinh nghiệm bởi cái thấy mà thôi, chứ không phải là cảnh vật, con người hay bất cứ gì khác. Do đó, điều này cần phải được hiểu rõ ràng chính xác từ ngay lúc khởi đầu. Để hiểu được rằng ngay khi không có hiểu biết đúng thì ở khoảnh khắc đó sẽ có tà kiến và dính mắc.  Như vậy khi chúng ta thiền, có thể chúng ta cũng chẳng có hiểu biết đúng về bản chất của những gì xảy ra, về những thứ đơn giản trong cuộc sống hàng ngày. Cách duy nhất để phát triển tuệ giác là nghiên cứu Giáo lý một cách cẩn thận, nếu không thì chúng ta sẽ giữ  mãi quan điểm riêng của mình là “tôi thấy cái ly”.

Sadhu sadhu sadhu !

 

, , , ,

Pháp đàm chiều ngày 07-09-2013 tại Vũng tàu

16/      Pháp đàm buổi chiều ngày 07/09/2013 tại Vũng tàu.

 

 

Học viên 21:  Hôm qua Achaan có hỏi một người thế nào là thiền, người đó đã trả  lời rằng thiền là chánh niệm về mọi thứ sinh khởi trong hiện tại. Dường như câu trả lời ấy chưa đủ, chưa thỏa đáng. Vậy mong bà hãy giải thích thêm.

Achaan:         Tôi nghĩ rằng khi hiểu biết chưa đủ, ta không biết chánh niệm và thực tại thực sự là gì. Hiện giờ thực tại đã sinh và diệt do duyên, vì vậy ta không thể làm gì nữa về nó ngoài việc phát triển hiểu biết dần dần. Tham ái luôn muốn biết, nhưng chính ham muốn ấy che lấp sự thật. Tham ái bắt nguồn từ vô minh. Khi còn vô minh, sẽ vẫn còn dính mắc và sẽ không có hiểu biết đúng, vậy hãy tạm quên đi về thiền và kết quả, hãy nghĩ về những gì đang xảy ra trong hiện tại. Bây giờ đang có các thực tại sinh khởi nhưng ta không hiểu về nó. Vậy làm sao có thể hiểu được chúng ngoài việc nghe thêm từng chút, từng chút một. Vì vậy nghe Pháp rất quan trọng. Nếu chúng ta không nghe, không học để dần hiểu thì sẽ chỉ là suy nghĩ của bản thân thôi. Khi chỉ muốn biết, khi ấy không có hiểu.

Học viên 21:  Vậy tại khoảnh khắc của mong muốn được biết, thì có dính mắc và đó là khoảnh khắc của không hiểu biết?

Achaan:         Đó là sự dính mắc với vô minh. Và vô minh thì không hiểu được gì cả.

Học viên 13:   Vậy tôi hiểu rằng thiền là một trạng thái mà ở đó có cái hiểu về các thực tại, chứ bản thân nó cũng là một thực tại, cũng là vô ngã và không ai có thể chủ động “thiền” được?

Achaan:         Ai hiểu được cái thấy bây giờ như nó là? Vô minh và dính mắc thì không thể hiểu được. Tuy nhiên với  việc nghe và suy xét, có sự bắt đầu của hiểu biết, bản thân điều ấy cũng đã do duyên rồi, vậy liệu có thể đặt câu hỏi “làm thế nào?”, vì có ai có thể làm pháp ấy sinh khởi bằng ý chí không? Suy nghĩ của chúng ta bây giờ thì cũng là do duyên, làm sao có cách nào để thay đổi được các pháp ấy? Tất cả mọi thứ đều là do duyên, sinh khởi và diệt đi. Cái gì còn lại? Tất cả đều đã trôi qua rồi. Thường là các pháp trôi qua với rất ít hiểu biết hoặc là không có hiểu biết gì cả. Để phát triển hiểu biết, phải bắt đầu từ chính thời điểm này, từ chỗ không hiểu một chút nào đến hiểu hơn một ít. Mức độ trí tuệ  hiện giờ chưa thể là kinh nghiệm trực tiếp về thực tại được. Nó chỉ có thể đang ở giai đoạn nghe và hiểu kỹ hơn một chút. Trí tuệ không phải là “ta”, không phải là ai cả. Thấy là thấy, nghe là nghe. Mỗi thực tại này đều không phải là ngã, không có ai trong đó cả.

Một khi cái hiểu thực sự đã sinh khởi, nó sẽ rất vững vàng, sẽ không có sự quay lưng với thực tại hiện giờ để tìm kiếm gì khác. Đó chính là sacca ñāṇa (Trí hiểu Thánh đế). Sacca có nghĩa là đế hay sự thực, ñāṇa có nghĩa là hiểu biết hay trí tuệ.  Sacca ñāṇa là hiểu biết một cách đúng đắn và vững vàng về sự thực hiện giờ. Nói đến sacca ñāṇa là nói đến hiểu biết về Tứ thánh  đế: sacca ñāṇa của Thánh đế thứ nhất là hiểu biết về sự sinh khởi và diệt đi của thực tại hiện giờ, và nó phài là bây giờ. Sacca ñāṇa chưa phải là mức độ của kicca ñāṇa (Trí hiểu phận sự của Thánh đế) – cái là khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp về thực tại. Ba thuật ngữ, sacca ñāṇa, kicca ñāṇakata ñāṇa (Trí hiểu sự hoàn tất Thánh đế) là một cách khác để nói về ba cấp độ pháp học, pháp hành, pháp thành. Mọi người dễ nhầm lẫn rằng pháp học thì là học thuộc lòng và không có trí tuệ, chỉ là nắm được những con số, từ ngữ, v.v. Nắm được số lượng tâm, tâm sở không phải là hiểu biết về mặt lý thuyết, nhưng dường như chúng ta nghĩ rằng đó là hiểu biết về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, nếu không có cái hiểu thực sự thì không có pháp học ở đó. Pháp học- sacca ñāṇa là hiểu biết về sự thực một cách vững vàng, như vậy pháp học không có nghĩa là đọc mà không có hiểu biết đúng về các thực tại đang sinh khởi hiện giờ, toàn bộ pháp học đều liên quan đến thực tại ở chính ngay khoảnh khắc này. Hiểu biết ở mức độ pháp học phải được thiết lập một cách vững chãi để không còn nghiên cứu gì khác ngoài khoảnh khắc này, là cái mà chúng ta đang nghiên cứu. Nếu không có sự nghiên cứu về khoảnh khắc hiện tại thì chúng ta sẽ nghiên cứu khoảnh khắc nào khác đây? Pháp học là sacca ñāṇa khi nó trở nên rất kiên cố, không còn thay đổi nữa. Sacca ñāṇa sẽ tạo duyên cho kicca ñāṇa hay pháp hành (patipati) sinh khởi, kicca có nghĩa là chức năng, phận sự, và là chức năng của hiểu biết ở mức độ cao hơn. Ở đó, không còn là hiểu biết về ngôn từ hay con số. Ở khoảnh khắc của cái thấy thì có cái hiểu đúng về cái thấy, hoàn toàn không còn ý niệm nào khác. Cũng như vậy với cái nghe ở khoảnh khắc mà cái nghe xuất hiện. Trí tuệ bắt đầu hiểu về khoảnh khắc cái thấy rằng chỉ có cái thấy, về cái nghe rằng chỉ có cái nghe. Và chúng ta bắt đầu hiểu rằng trong một ngày chỉ có các thực tại. Đây chính là con đường phát triển hiểu biết, bắt đầu từ việc nghe và nghiên cứu về thực tại.

Học viên 22:   Con vẫn chưa hiểu rõ về pháp học, nếu như mình đọc những thứ đó thì làm sao mình có được niềm tin chắc chắn rằng những thứ đó là đúng, bởi vì nếu mình không có kinh nghiệm qua thì liệu đó có phải là một niềm tin mù quáng không?

Achaan:         Ở khoảnh khắc nghe Pháp và có sự suy xét về điều được nghe thì không phải là niềm tin mù quáng. Nếu một lời thuyết giảng không tạo duyên cho hiểu biết về thực tại, đó sẽ là niềm tin mù quáng. Ta sẽ biết được đâu là Giáo lý của Đức Phật và đâu không phải là Giáo lý của Đức Phật. Giáo lý của Đức Phật dạy cho chúng ta về những gì xuất hiện hiện giờ. Những gì đang xuất hiện không thuộc về ai và không nằm trong sự kiểm soát của ai cả, hoàn toàn thoát khỏi suy nghĩ “tôi có thể làm”. Kể cả những khoảnh khắc như vậy hay những khoảnh khắc khác thì đều là những khoảnh khắc do duyên tạo ra mà thôi, cũng như thấy, nghe hay bất cứ thực tại nào khác. Vậy hãy học để hiểu về các thực tại là vô ngã. Hiểu biết này sẽ tiếp tục phát triển.và khi nó phát triển như vậy, sẽ bớt sự vô minh về những gì xuất hiện hiện giờ. Vậy hãy quên “thiền” đi, nếu không thực sự hiểu thiền là gì về bản chất. Đó phải là cái hiểu về thực tại hiện giờ, nếu không phải là cái hiểu về thực tại hiện giờ thì liệu “thiền” có hữu ích gì không?

HV 22:           Con thấy học Vi diệu pháp về tâm và tâm sở rất xa vời, để có niềm tin vào nó thì rất là khó. Con muốn hỏi, học Vi diệu pháp có tác dụng là giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn rằng thực tại này là vô ngã phải không?

Achaan:         Chỉ nói về tâm mà không có cái hiểu, ý bạn là vậy đúng không? Thế còn về khoảnh khắc của cái thấy? Có thể có cái hiểu là ở khoảnh khắc này đang có cái thấy không? Nếu như không có các duyên tương ứng thì cái thấy có thể sinh khởi không? Khi ta không có nhãn căn, liệu có thể có cái thấy sinh khởi không? Khi ta ngủ say và không có sự tiếp xúc giữa nhãn căn với đối tượng thị giác, liệu có thể có cái thấy sinh khởi không? Ta đang ngủ say và đột nhiên có âm thanh xuất hiện. Nếu có cái hiểu, điều ấy là do duyên. Hiểu biết ấy sẽ tiếp tục làm duyên cho những hiểu biết khác cho đến khi trở thành vipassana ñāṇa (minh sát tuệ) hiểu bất cứ cái gì xuất hiện chỉ là do duyên mà thôi. Hiểu biết sẽ tiến triển như vậy, không có ý niệm về ngã và rồi lại có ý niệm về ngã. Đó là sự khởi đầu của phát triển hiểu biết.

Nếu chúng ta không dùng những từ như “tâm, tâm sở” thì làm thế nào để hiểu cái đang xuất hiện bây giờ? Chính vì vậy Đức Phật đã thuyết giảng bằng tiếng Ma kiệt đà cho những người hiểu ngôn ngữ ấy. Nhưng dù bằng bất cứ ngôn ngữ nào thì điều mà Đức Phật giảng đều có thể được hiểu, chứ không phải rằng nhãn thức chỉ có trong tiếng Pali là cakkhuvinnana. Hiện giờ đang có cái thấy, chúng ta không cần phải dùng đến từ nào cả, nó có thể thấy mọi thứ ở mọi nơi mà không cần đến ai phải nói tên nó ra. Nhưng vì có nhiều loại thực tại kinh nghiệm thế giới, cho nên chúng ta phải dùng từ để phân loại chúng để thuận tiện cho giao tiếp, để cho những thực tại ấy có thể được phân biệt. Cái mà chúng ta đang nói tới là cái thấy, ở khoảnh khắc của cái thấy, ta không nói về cái nghe mà chỉ có cái thấy mà thôi.

Sarah:           Ta nói đến tín, đó là một loại tâm sở sinh khởi với tất cả tâm thiện, vậy ở khoảnh khắc của bố thí cũng có tín (sadha), khoảnh khắc của giữ giới cũng có tín. Hiện giờ chúng ta đang nghe về cái thấy, là thực tại xuất hiện ở khoảnh khắc này, dù hiện giờ mới chỉ là sự suy xét chân chánh chứ chưa phải là kinh nghiệm trực tiếp thì vẫn có tín ở những khoảnh khắc của thiện pháp đó, vì vậy ta không cần nghĩ đến việc là có niềm tin mù quáng bởi vì bất cứ khi nào là thiện thì đã có tín ở đó rồi.

Achaan:        Bạn có muốn kinh nghiệm tín một cách trực tiếp hay không? Nếu như bạn có ý niệm rằng tôi muốn biết hay tôi muốn hiểu cái này cái kia thì là sai, lại quên rằng các thực tại là vô ngã một lần nữa, khi có suy nghĩ hiện giờ thì điều ấy cũng là do duyên rồi, như thế nào và tại sao cái thấy sinh khởi để thấy thì cũng là do duyên. Nếu không có duyên để tín xuất hiện như là đối tượng của chánh niệm, sẽ không thể nào cố để kinh nghiệm nó. Có rất nhiều thực tại hiện giờ chứ không chỉ có cái thấy, nhưng chỉ có thể có một thực tại xuất hiện tại một thời điểm của tâm hay biết mà thôi. Và chúng ta không nhất thiết phải dùng từ tín- bởi vì nó xuất hiện như là một thực tại có đặc tính riêng biệt, không phải là cái thấy, cái nghe, hay trí tuệ. Tuy vậy, nếu không có cái hiểu về các thực tại hiện giờ rằng chúng chỉ là pháp, sẽ không biết được cái gì là cái gì, sẽ vẫn chỉ là nghĩ về tên gọi hay về câu chuyện về các thực tại đó, chứ không phải là khoảnh khắc mà thực tại đó xuất hiện. Chẳng hạn hiện giờ đặc tính cứng đang xuất hiện, cũng giống như bình thường với những người không biết gì về pháp, nhưng có cái hiểu rằng đó là đặc tính của một thực tại, cũng giống như đối tượng thị giác hiện giờ là đặc tính của thực tại; và âm thanh cũng là thực tại khác có đặc tính chỉ có thể nhận biết bởi nhĩ thức mà thôi. Cuộc sống cứ tiếp diễn với những khoảnh khắc kinh nghiệm những thứ khác nhau ở những thời điểm khác nhau, không gì có thể mong đợi.

HV 22:           Nhưng khi con đọc giáo lý và suy xét những cái đó, thì con vẫn có cảm giác là con đang cố gắng làm cái gì đó để hiểu về thực tại. Như vậy vẫn có ý tưởng về ngã ở trong đó, đúng không ạ?

Sarah:          Ở những khoảnh khắc như vậy thì không có tín bởi vì đang có cố gắng để có một cái gì đó cho bản thân, ở khoảnh khắc đó nó là bất thiện, vì vậy không có tín ở đó, nhưng điều đó cũng không phải là một vấn đề bởi vì tham cũng là một thực tại và nó có thể được biết.

Jonathan:     Tuy nhiên nếu biết và hiểu về sự dính mắc đó thì ở khoảnh khắc đó sẽ có thể là thiện, vì khi đó có sự trung thực về những thực tại thực sự đang xảy ra.

Achaan:        Mục đích của việc đến đây để đàm đạo là gì đây? Để có thêm vô minh và dính mắc hay là có thêm hiểu biết và bớt đi sự dính mắc và vô minh? Điều ấy chỉ ra rằng không ai có thể tự mình nghĩ ra lý giải riêng về những gì đang xuất hiện. Như vậy ý nghĩa của nghiên cứu không phải đơn thuần là đọc, mà để suy xét xem hiện giờ có cái được nói đến không, nó có thể được biết hay không? Câu hỏi là liệu sự sinh và diệt của cái thấy hiện giờ có thể được kinh nghiệm một cách trực tiếp không? Nếu như không thể thì Đức Phật đã không trở thành Đức Phật rồi, những gì mà Đức Phật dạy đều là những lời chân lý. Những chân lý đó không bao giờ thay đổi, bởi vì tới từ sự giác ngộ của Đức Phật. Ngài có nói rằng Như Lai là người bạn tốt nhất cho tất cả mọi người, những gì Ngài dạy là món quà quý báu nhất cho tất cả, cái mà tiền bạc hay bất cứ thứ gì khác không thể mua được. Cần phải có sự quan tâm để học về sự thực của khoảnh khắc này.

Sarah:           Đúng như một số bạn nói, nếu sử dụng Giáo lý như một chỉ dẫn về phương pháp, hướng dẫn kỹ thuật thì khi ấy có ý niệm về ngã, và khi ấy thì không có sadha – tín ở đó.

Học viên 23:   Thưa Achaan, Giáo lý rất là nhiều và khó tiếp cận, vậy với kinh nghiệm học và dạy Giáo pháp trong nhiều năm, Achaan có lời khuyên nào cho các bạn trẻ trong việc tiếp cận giáo lý?

Achaan:         Khi bạn nói Giáo lý rất là nhiều và khó tiếp cận thì bạn đang tán thán công đức của Đức Phật đó. Và bạn đang biết ơn những ba la mật mà Đức Phật đã tích lũy để có thể trở thành một bậc Chánh đẳng giác.

Tôi sẽ nói rằng nếu không có sự nghiên cứu thì ai có thể có được hiểu biết ấy, dù ở mức độ nào đi nữa. Hiểu đúng sẽ dẫn tới thêm hiểu biết về những gì đang xuất hiện hiện giờ. Cũng không nên chỉ nghe người khác nói với mình rằng “cái này là đúng”, mà sự tán đồng phải tới từ sự suy xét riêng của bạn. Ví dụ, thực tại đang xuất hiện hiện giờ, liệu nó có thể được kinh nghiệm trực tiếp hay không khi trí tuệ đã phát triển hơn? Cái gì đúng hơn, có thể hay không có thể thì đúng hơn?

Sarah:           Nếu nói có thể thì nó không liên quan tới việc làm cái gì đó, mà liên quan đến hiểu cái đang xuất hiện hiện giờ. Phát triển cái hiểu ở chính khoảnh khắc này là con đường để dẫn tới hiểu biết trong tương lai. Nếu điều ấy là không thể thì Đức Phật đã không dạy chúng ta điều ấy rồi. Nhưng nếu ta nghĩ rằng cần phải sử dụng lời dạy đó như một hướng dẫn, hay đi con đường tắt, hay phải làm cái gì đó… thì lại là một trở ngại, và cái hiểu đúng sẽ không thể được phát triển. Đây là lý do Achaan nói hãy quên việc hành thiền đi và hãy quên việc sử dụng Giáo lý như những hướng dẫn kỹ thuật hay đi con đường tắt, hãy cứ tiếp tục suy xét và nghiên cứu thêm về thực tại hiện giờ, để cho hiểu biết có thể phát triển một cách hoàn toàn tự nhiên, và để bắt đầu hiểu rằng tất cả các pháp đều là thực tại do duyên và là vô ngã.

Achaan:        Bất cứ con đường nào không dẫn tới cái hiểu về thực tại hiện giờ đều là sai. Bởi vì những cách thức không phát triển cái hiểu về những gì xuất hiện trong hiện tại sẽ cố gắng lảng tránh hiện tại, cố gắng biết một điều khác – ta không biết rõ là điều gì. Tại sao lại không hiểu cái đang xuất hiện hiện giờ khi nó đang xuất hiện, mà lại tìm những khoảnh khắc khác? Nếu không có niềm tin ở việc phát triển hiểu biết về những gì đang xuất hiện hiện giờ, ta sẽ tin vào cái gì đây? Khoảnh khắc tiếp theo cũng vẫn là thấy nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ, giống hệt như bây giờ thôi. Nếu không có niềm tin rằng cái hiện giờ đang xuất hiện có thể được hiểu, ta nghĩ mình có thể hiểu gì khác đây?

Học viên 19:  Hôm qua chúng ta nói nhiều về thiền và có phân tích về quán sát, và chúng ta đưa ra kết luận rằng quán có nghĩa là suy nghĩ. Mọi người có thể thấy rằng, suy nghĩ dù là suy nghĩ về thực tại thì cũng không thể thấu hiểu về thực tại, cho nên không thể dẫn tới  kết quả được. Nhưng qua kinh điển thì con thấy có một số ví dụ mà người ta quán- suy nghĩ về những điều không phải là thực tại, mà là khái niệm, nhưng vẫn đắc quả Arahan.

Achaan:        Ví dụ như trường hợp nào?

HV 19:           Bà Ambapali, chủ của vườn xoài, con của Bà là một trưởng lão và bà đã dạy cho bà pháp quán vô thường về thân. Sau khi quán thì Bà thấy được sự vô thường và đắc A la hán, sau đó thì bà mới xuất gia. Kệ của Bà được để trong Trưởng lão Ni kệ.

Achaan:        Có ai có thể giác ngộ mà không có hiểu biết về thực tại hiện giờ đang xuất hiện không?

HV 19:           Có khi giác ngộ về vô thường thì rồi sẽ có cái hiểu biết đấy chăng?

Achaan:        Nó phải là bây giờ, cái gì hiện giờ là vô thường?

HV 19:           Tôi không thể trả lời được, vì cái này chỉ là câu chuyện trong kinh sách.

Achaan:        Nhưng khi giác ngộ thì bà đã chứng ngộ sự thực về khổ-dukkha, có đúng không?

HV 19:           Con không biết.

Achaan:        Bất cứ ai được coi là giác ngộ thì đều phải có cái hiểu biết trọn vẹn về Tứ Thánh đế. Nếu không thì sẽ là một loại kinh khác, tức là không phải là lời dạy của Đức Phật. Vì ngay trong bài pháp đầu tiên, Đức Phật đã thuyết về Tứ thánh đế, và Thánh đế thứ ba là Niết bàn. Nhưng sẽ không thể nào kinh nghiệm Niết bàn nếu không có sự liễu ngộ Thánh đế thứ nhất. Và Thánh đế thứ nhất ấy nói đến khi nào và ở đâu?

Người phiên dịch: Tôi xin phép nói một chút, nếu như bạn chỉ đề cập đến câu chuyện, thì vì từ cùng một câu chuyện có thể có nhiều cách hiểu khác nhau, cho nên nó sẽ không đưa đến đâu cả.

HV 19:            Vậy thì tôi sẽ đặt một câu hỏi khác về Giáo lý.

Achaan:         Như vậy đã rõ ràng với bạn chưa?

HV 19:            Rõ ràng là mọi người đang nhìn vấn đề dưới một góc độ khác.

Sarah:            Khi nói đến cái hiểu về sự vô thường của thân, điều ấy cũng đồng nghĩa với việc hiểu sự vô thường của các pháp là các thực tại mà ta gọi là thân, chẳng hạn cứng, mềm, nóng, lạnh, những thực tại ấy cũng được gọi là uẩn, nếu không có hiểu biết đúng về những thứ đó, sẽ không thể gọi là hiểu về vô thường được.

HV 19:             Ở đây tôi muốn nói đến vấn đề phương pháp, đó là suy nghĩ về thân là khái niệm mà vẫn đạt giác ngộ.

Jonathan:       Như vậy anh cho rằng bà Ambapali đã giác ngộ qua việc hiểu biết về thân nhưng không phải với tư cách là các pháp (thực tại) hay sao?

HV 19:             Tôi muốn đề cập đến vấn đề phương pháp của Bà ấy, vì ở đây mọi người đang không thừa nhận vấn đề phương pháp: dù thiền hay quán thì cũng chỉ là suy nghĩ. Nhưng câu chuyện nói rằng khi Bà Ambapali suy nghĩ về thân thì vẫn dẫn đến kết quả giác ngộ như vậy.

Achaan:          Vậy bạn nghĩ rằng Bà không hiểu cái gì về bản chất của thân hay sao?

HV 19:             Chắc là vậy theo nghĩa chân đế vì trong kệ của Bà đề cập toàn khái niệm tục đế như tóc, da, lông, móng….

Achaan:          Bạn nghĩ rằng Bà nói như vậy là không có cái hiểu về thực tại hay sao?

HV 19:             Bà ấy đắc đạo rồi thì chắc phải hiểu

Achaan:          Ý bạn nói là giác ngộ trước rồi hiểu sau, có nghĩa là lúc đầu thì không có cái hiểu nào cả, đúng không?

HV 19:             Có thể là vậy, nhưng chỉ là con đoán thôi.

Achaan:          Vậy thì khi nói đến giác ngộ thì ý nghĩa của từ giác ngộ đó có nghĩa là gì?

HV 19:             Một vị A la hán đã giác ngộ.

Achaan:          Không chỉ một vị A la hán mà một vị Tu đà hoàn cũng được gọi là đã giác ngộ, ở mỗi một tầng giác ngộ thì có các bất thiện tương ứng được diệt trừ,  ví dụ vị Tu đà hoàn đã đoạn trừ hoài nghi. Liệu một người có thể trở thành một vị A la hán mà trước đó không trở thành một vị Tu đà hoàn hay không?

HV 19:             Có thể trong lúc đó nó nhanh, có thể đắc Tu đà hoàn vài phút trước đó.

Achaan:          Việc hai mức giác ngộ xảy ra trong vài khoảnh khắc  hay cách nhau bao lâu không quan trọng, nhưng khi trở thành một vị Tu đà hoàn, vị ấy đã trở thành một vị thánh nhân, và để trở thành thánh nhân thì Trí tuệ về các thực tại phải được phát triển.

Sarah:             Tất cả mọi người, kể cả khi không được đọc Giáo lý của Đức Phật thì cũng biết rằng tóc mình rồi sẽ bạc đi, thân sẽ già đi và cuộc sống không kéo dài mãi. Nhưng nếu chỉ nghĩ về việc tóc sẽ bị bạc đi hay cuộc sống thật ngắn ngủi thì không thể làm cho ai đó giác ngộ.

Khi đọc câu chuyện về bà cư sỹ trở thành vị A la hán nhờ việc biết được sự vô thường trên thân, tôi nghĩ rằng phải có trí tuệ hiểu các thực tại một cách sâu sắc đã được phát triển từ một khoảng thời gian rất dài rồi. Trong chú giải về Trưởng lão Ni kệ này có giải thích rằng, tất cả các Trưởng lão Ni này đã phát triển Tuệ giác nhờ việc nghe Pháp từ nhiều vị Phật khác nhau trong khoảng thời gian nhiều a tăng kỳ kiếp. Như các bạn cũng nói rằng, Giáo lý vô cùng khó tiếp cận và để thực sự hiểu rằng thực tại hiện giờ là vô ngã.  Để có thể hiểu được sự vô thường của thực tại, trước đó cần phải có hiểu biết thực sự là trong thực tại không có ai cả, không có người không có tóc, da, v.v… Điều ấy hoàn toàn không dễ dàng, không thể đạt được bằng việc nghĩ về những khái niệm ấy. Trong Kinh Tứ niệm xứ cũng có nói về quán thân. Trong chú giải của Tứ niệm xứ có nói rằng, đó là cái hiểu đúng về Tứ đại. Vì vậy chúng ta không nên chỉ cứ đọc Kinh như là đọc một cuốn sách bất kỳ nào đó và cho rằng chúng ta có thể hiểu đúng về nó một cách dễ dàng.

HV 19:            Tôi cũng đồng ý với ý kiến là Bà Ambapali đã phát triển tuệ giác từ rất lâu rồi, nhưng cái vấn đề chính vẫn là ở kiếp cuối cùng thì Tuệ giác đó vẫn chưa đạt được mức độ giải thoát. Và phương pháp bà ấy làm theo đã khai phá, tăng trưởng Trí tuệ ngủ ngầm đó lên đến mức giải thoát. Vậy cái tôi muốn nhấn mạnh là phương pháp cũng có tác dụng chứ không phải là không có.

Achaan:         Vậy thì hãy giải thích cho tôi phương pháp mà bạn đang nói tới.

HV 19:            Quán thân và nghĩ là nó vô thường. Có thể suy nghĩ về việc tóc đen rồi bạc vân vân thì nó sẽ dẫn đến cái hiểu.

Achaan:         Dù không có Đức Phật giảng thì ai cũng biết được điều đó mà, vậy không cần có sự ra đời của một vị Phật

HV 19:           Nhưng có thể họ không thực hành, còn Bà Ambapali thì thực hành liên tục.

Achaan:         Tôi vẫn chưa rõ phương pháp đó là gì? Đó là suy nghĩ hay là thế nào?

HV 19:           Đó là suy nghĩ bởi vì hôm qua chúng ta kết luận quán là suy nghĩ.

Achaan:        Suy nghĩ là gì?

HV 19:           Suy nghĩ là khi tâm nó không nhận pháp chân đế như đối tượng được kinh nghiệm.

Achaan:        Như vậy có thể hiểu rằng đó không phải là một người nghĩ mà là tâm nghĩ đúng không?

HV 19:           Nếu Bà ấy đã không có ý niệm về ngã thì là như thế, còn nếu là có thì không biết được.

Jonathan:     Phương pháp mà bạn nghĩ là Bà Ambapali theo đó có được Đức Phật nói đến hay không?

HV 19:           Chắc là thế nào cũng có bởi vì trong Tứ niệm xứ có quán thân, suy nghĩ về vô thường của thân.

Jonathan:     Vậy thì Chú giải nói gì về chuyện này?

HV 19:           Tôi chưa đọc chú giải nên không biết.

Jonathan:     Vậy thì ở đây chúng ta đang nói về hiểu về kinh Tứ niệm xứ, có đúng không?

HV19:            Có thể là như vậy, tôi không chắc lắm.

Jonathan:     Tôi nghĩ bạn đang nói về phần niệm thân trong Tứ niệm xứ, về mặt thực chất thì toàn bộ Tứ niệm xứ là hiểu về các thực tại khác nhau, dù là niệm thân, thọ hay tâm, pháp. Đây là những điều mà Đức Phật đã dạy, nếu ta không có hiểu biết đúng về các thực tại thì sẽ có cái hiểu sai về những điều Đức Phật đã dạy

HV 19:           Thật ra tôi không nghĩ sâu xa như anh, tôi chỉ đọc và thấy trong đó nó có đề cập đến phương pháp Bà ấy áp dụng, chứ tôi không nghĩ đến việc liên hệ đến bài kinh tứ niệm xứ.

NPD:              Vậy những điều mọi người nói vừa rồi có hữu ích gì cho bạn không?

HV 19:           Thật ra có nhiều thông tin mình không thể biết được, nên khó đưa ra một kết luận chính xác. Những điều mọi người nói thì đều hữu ích cả nhưng vẫn chưa thỏa đáng trong trường hợp này.

Sarah:           Như bây giờ tất cả chúng ta ngồi đây đều có thể nhắm mắt lại và nghĩ về sự biến hoại của cơ thể và nghĩ đến việc tóc sẽ bạc đi để giác ngộ. Và nghĩ rằng nếu cứ theo phương pháp như vậy thì sẽ chứng đắc và sau khi chứng đắc sẽ có cái hiểu về thực tại, và cái đó thì hoàn toàn là lời mô tả về con đường Bát tà đạo mà Đức Phật đã nói tới, bởi đó hoàn toàn là ý niệm về một cái ngã đang cố gắng đạt một kết quả nào đó. Bởi vì trong đó có tà kiến, tà định… cho nên, thay cho việc đưa chúng ta đến sự giải thoát, nó lại dẫn chúng ta sâu hơn trong vòng luân hồi, và như vậy, nếu không có cái hiểu đúng từ ngay lúc đầu, chỉ cứ cố để có kết quả và nghĩ rằng sẽ có được hiểu biết sau đó, điều ấy không bao giờ dẫn tới kết quả đúng đắn.

Học viên 24:   Bây giờ có một số vị thiền sư ở các trường thiền, họ sẽ hướng dẫn mình làm như thế này, thế kia, trên mặt lý thuyết và tư duy. Thế phương pháp của bà là hiểu về thực tại, thì cũng chỉ là lý thuyết và tư duy thôi. Cái mà Bà đang nói rất là khó, trí tuệ hiện giờ tạm thời không thể kinh nghiệm được. Con thấy như thế hoàn toàn là lý thuyết và tư duy thôi. Vậy cách của Bà và một số vị thì không khác nhau, cũng là lý thuyết và tư duy.

Achaan:         Hiện giờ cái thấy là lý thuyết hay sao?

HV 24:            Con thấy nó là sự tư duy, nhất là sau khi Bà hỏi thì con không thể thấy hay trí tuệ không thể thấy được cái thấy, mà nó là sự tư duy lại câu hỏi của Bà.

Achaan:         Câu hỏi của tôi chỉ là cái thấy có phải là lý thuyết không?

HV 24:            Hiện tại con thấy nó là lý thuyết

Achaan:         Vậy nó không phải là thực à?

HV 24:            Bởi vì trí tuệ không trực nhận được nên con nghĩ chỉ là tư duy.

Achaan:         Trí tuệ thì luôn luôn có thể. Còn vô minh thì không thể

HV 24:            Với con vô minh rất nhiều nên không thể biết được cái thấy nó thực hay không thực, vì vô minh nhiều  thế nên về mặt tư duy lý thuyết thì con đồng ý nó là thật

Achaan:         Không cần phải lắng nghe lời dạy của Đức Phật cũng biết là cái thấy có thật hay không. Điều đó là hiển nhiên, có cần mức độ trí tuệ nào đâu. Nếu cái thấy hiện giờ không phải là thực thì cái gì là thực đây?

HV 24:            Suy nghĩ ạ

Achaan:         Vậy thì không có thấy, không có nghe mà chỉ có nghĩ suốt cả ngày hay sao?

HV 24:            Cái thấy là thực nhưng cũng chỉ trên mặt lý thuyết của con.

Achaan:         Vậy thì giữa một người mù không thể thấy và một người bình thường có thể thấy thì đâu là sự khác biệt?

HV 24:            Đối tượng của cái thấy sẽ không thể được thấy.

Achaan:         Tại sao?

HV 24:            Vì lúc đó không đủ nhân duyên cho cái thấy sinh khởi.

Achaan:         Vậy chứng tỏ cái thấy là thực mà.

HV 24:            Vâng, về mặt lý thuyết thì con đồng ý nó là thực.

Achaan:         Nếu như nó là thực thì ta có thể hiểu được bản chất của nó hay không?

HV 24:           Hiện tại thì con chưa hiểu được.

Achaan:        Tôi không có ý nói bạn, mà tôi nói đến hiểu biết đúng và những gì mà Đức Phật hiểu. Nếu nó là thực thì nó có thể được hiểu hay không?

HV 24:           Có

Achaan:        Hiểu bằng gì?

HV 24:           Bằng trí tuệ.

Achaan:        Trí tuệ ở mức độ giác ngộ có thể sinh khởi ở ngay tại thời điểm này hay không, hay là nó cần có nhân duyên?

HV 24:           Nó cần nhân duyên

Achaan:        Nhân duyên gì?

HV 24:           Con không biết.

Achaan:         Con xin nương tựa Phật có nghĩa là gì?

HV 24:           Con không có cái hiểu sâu về câu này.

Achaan:        Như vậy có nghĩa rằng bạn đã không chọn Đức Phật làm nơi nương tựa rồi, có thể là bạn đã chọn một ai khác để làm nơi nương tựa cho sự hiểu biết của mình. Không chỉ là “con xin nương tựa Phật” mà còn “con xin nương tựa Pháp”. Nếu chúng ta không hiểu Pháp là gì, thì nương tựa Pháp là nương tựa sao đây? Nếu bây giờ cái thấy là thực,  mà trí tuệ không hiểu  được thì công dụng của trí tuệ sẽ là  gì đây?

HV 24:           Trong Kinh, Đức Phật có đề cập đến Tứ niệm xứ: quán thân, thọ, tâm, pháp. Vậy phải hiểu như thế nào cho đúng về quán thân thọ tâm pháp?

Achaan:        Nếu ai đó có hỏi Đức Phật rằng thế nào là thân thì Đức Phật có giải thích không?

HV 24:           Con không biết

Achaan:        Như vậy nếu chưa có hiểu biết thân là gì mà cứ cố phát triển Tứ niệm xứ, điều đó là không thể. Ta không thể không biết thân là gì mà vẫn lấy thân để làm đối tượng của sự phát triển trí tuệ.

HV 24:           Vì thế con cần sự chia sẻ của bà về cái hiểu như thế nào là thân, thọ , tâm pháp.

Achaan:        Cái gì là thân hiện giờ?

HV 24:           Cơ thể của con

Achaan:        Của bạn ư? Tức là từ đầu đến chân?

HV 24:           Vâng.

Achaan:        Cái gì xuất hiện khi bạn cho rằng đó có thân của tôi?

HV 24:           Cái suy nghĩ

Achaan:        Không phải, bạn đã nói cái thân là thật và đây là cái thân của bạn. Và suy nghĩ thì không phải là thân, suy nghĩ là một loại danh và nó không phải thuộc về phần niệm thân.

NPD:             Ý của Bà hỏi là từ kinh nghiệm gì mà bạn biết là có cái thân của tôi? Tại sao lại có thể nói như vậy?

HV 24:           Vì có sự xúc chạm

Achaan:        Ở khoảnh khắc của sự xúc chạm thì cái gì xuất hiện?

HV 24:           Có thể đó là cái cứng, mềm, nóng, lạnh.

Achaan:        Đặc tính cứng có phải là bạn không?

HV 24:           Nó có một phần thuộc về con.

Achaan:        Bạn cho rằng đặc tính cứng là của bạn đúng không?

HV 24:           Nếu có con thì sẽ là của con ạ.

Achaan:        Nhưng đặc tính cứng thì không thuộc về ai cả, cái cứng chỉ cứng, nó sinh khởi do duyên và rồi diệt đi, cũng như cái thấy cũng vậy: cái thấy không thuộc về ai, nó sinh khởi do duyên và rồi diệt đi, không thuộc về ai

HV 24:           Về mặt lý thuyết thì con đồng ý, không có cái ngã nào cả, vì thế mà yếu tố về thân tâm không có (tôi và của tôi), nhưng hiện giờ nó chỉ là tư duy và suy nghĩ thôi, nên nó vẫn luôn có cái tôi và của tôi.

Achaan:        Lý thuyết tới từ hiểu biết đúng hay hiểu biết sai đây? Có nhiều loại lý thuyết khác nhau nhưng Giáo lý mà ta đang nói tới đây có phải tới từ việc hiểu thực sự thân là gì không?

HV 24:           Có ạ

Achaan:         Vậy thì cái mà bạn cho là thân từ đầu tới chân thì thực chất chỉ là đặc tính cứng đúng không?

HV 24:           Có thể là cứng mềm nóng lạnh

Achaan:        Những thứ đó là pháp chân đế, là sự thực tối hậu. Điều ấy có nghĩa là cứng chỉ là cứng, nóng chỉ là nóng, lạnh chỉ là lạnh, không phải là ai cả

HV 24:           Con đồng ý, nhưng nó vẫn chỉ là lý thuyết thôi chứ chưa phải cái mà ta có thể trực nhận để hiểu trực tiếp về nó cả.

Achaan:        Bạn hãy chờ và xem xem, khi trí tuệ phát triển thêm một chút nữa.

Sarah:          Khi sự xúc chạm chạm tới cái mà chúng ta cho là cái bàn, thực chất đó chỉ là sự kinh nghiệm đặc tính cứng và sau đó thì có khái niệm cái bàn. Cũng như vậy, khi chúng ta chạm vào cứng mà chúng ta cho là cánh tay, hay mềm khi chạm vào tóc, rồi sau đó có suy nghĩ cho rằng đây là tay của tôi, tóc của tôi, nhưng về mặt thực tại thì ở khoảnh khắc của sự xúc chạm chỉ có những thực tại như cứng mềm nóng lạnh hay chuyển động. Khi ta đọc trong kinh Đại niệm xứ về niệm thân, như đã giải thích, những điều mô tả trong đó chỉ là những các sắc mà chúng ta tưởng nhầm là thân mà thôi.

Achaan:         Nhiều người muốn biết liệu tà kiến có thể trở thành đối tượng của trí tuệ hay không? Nếu không có Giáo lý, ở khoảnh khắc của sự xúc chạm ta cho rằng có tay của tôi thì ở đó có tà kiến, chừng nào còn ý niệm thực sự có cái tay của tôi thì chừng đó vẫn có hiểu biết sai lầm. Khi có hiểu biết rằng đặc tính của cái xuất hiện đó chỉ là một thực tại thì tuệ giác sẽ dần dần xả ly với cái mà ta vẫn cho là cái tay của tôi. Khoảnh khắc của sự liễu ngộ rằng đó không phải là tay của tôi có thể xảy ra ở bất cứ lúc nào, và ta không thể lên kế hoạch cho nó bởi vì nó là vô ngã, chúng ta không thể chuẩn bị cho nó sinh khởi. Khi nói đến sự chuẩn bị như vậy, vẫn hoàn toàn là chấp ngã mà thôi, vẫn là sự mong muốn, hi vọng, -kể cả trong lúc đang nghe pháp –  có kinh nghiệm trực tiếp về thực tại ấy. Chưa có cái hiểu rằng mức độ Trí tuệ hiện giờ chưa thể nào kinh nghiệm trực tiếp thực tại. Cần phải có thêm hiểu biết về bất cứ cái gì xuất hiện, để bớt đi sự dính mắc vào những thứ được xúc chạm cho là tôi và của tôi. Nếu không có tiền đề ấy, các thực tại sẽ không thể được hiểu như chúng là.

Suy nghĩ không phải là chánh niệm. Toàn bộ Tứ niệm xứ đều phải đi kèm với chánh niệm về thực tại chứ không phải chỉ là suy nghĩ về chúng. Nói đến chánh niệm, nó hoàn toàn không phải là chỉ biết về cái này hay cái kia như lúc bình thường, chúng ta đang học để nhận biết một thực tại có đặc tính nhớ biết về thực tại một cách đúng đắn (chánh). Nếu không có cái hiểu về mặt tư duy thì sẽ không có duyên để cho trí tuệ cùng với chánh niệm kinh nghiệm trực tiếp hiện tại đang xuất hiện hiện gi. Ai nghĩ rằng Giáo lý rất đơn giản đây? hay là nó rất thâm sâu và vi tế? Đây là lúc khởi đầu của việc nghiên cứu Giáo lý một cách cẩn thận, thay cho chỉ đọc từ chánh niệm (và lập tức thực hành), nếu không có hiểu biết, sẽ không có chánh niệm chút nào cả. Ta có thể cho rằng đang có chánh niệm trong khi thực tế thì không phải như vậy, và chúng ta gọi cái không phải là chánh niệm đó là chánh niệm của tứ niệm xứ, thân thọ tâm pháp.

Học viên 2:    Cái hiểu vô ngã thì có thể lúc xuất hiện, lúc mất đi được hay không?

Achaan:         Chắc chắn là như vậy. Chính vì vậy cần phải nghe và nghe nữa để cái hiểu trở nên càng ngày càng vững chắc hơn.

Sarah:           Điều này cũng tương ứng với điều Achaan vừa nói về sacca nana –hiểu biết vững chắc về thực tại. Chỉ khi có cái hiểu rất vững chãi về mặt lý thuyết này thì mới không còn sinh khởi ý nghĩ về làm công việc thực hành, hay theo phương pháp nọ kia, cái là hiểu sai. Trừ khi có được hiểu biết ở mức độ ấy một cách kiên cố, sẽ không có sự phát triển thực sự của Tứ niệm xứ. Bởi vì nếu không có hiểu biết lý thuyết đúng đắn, chúng ta sẽ bị dẫn dắt sai bởi những khái niệm tay, chân, tóc v.v… mà không hiểu thực chất chúng là gì về mặt thực tại.

Học viên 24:   Như vậy con hiểu Tứ niệm xứ là bốn thứ khác nhau, nhưng đều nói đến hiểu biết về thực tại, đúng không ạ?

Achaan:         Đúng vậy.

HV 24:            Vậy tại sao cần phải có bốn phương pháp khác nhau để chỉ nói về thực tại?

Achaan:         Thực chất thì toàn bộ các niệm xứ khác nhau đều là các thực tại, mỗi niệm xứ đều nói lên về các thực tại.

Jonathan:      Tứ niệm xứ là sự mô tả về các loại thực tại khác nhau. Nếu như chúng ta nghĩ rằng Đức Phật đưa ra một phương pháp ở trong đó, thì bất cứ gì chúng ta đọc thì sẽ đọc dưới góc độ là phương pháp. Nếu như chúng ta nhìn một cách tổng thể về những gì Đức Phật đã dạy, chúng ta sẽ thấy rằng đó chỉ là những lời mô tả thực tại mà thôi chứ không phải những chỉ dẫn về phương pháp. Và sự phát triển của trí tuệ bắt đầu với hiểu biết một cách rõ ràng cái gì có thể là đối tượng của hiểu biết đúng, nếu chưa nắm vững được điều ấy thì cũng chưa thể có sự bắt đầu của sự phát triển Trí tuệ.

HV 24:            Vậy bốn sự thực mà Đức Phật muốn nói đến trong Tứ niệm xứ là gì?

Jonathan:      Về tất cả thực tại nhưng được chia ra làm bốn nhóm khác nhau, được biết dưới tên Thân – Thọ -Tâm – Pháp. Như vậy trong phần niệm thân, về thực chất nói đến các sắc được hiểu nhầm thành thân, trong đó có cả hơi thở nữa. Trong mỗi phần đó đều có nói rằng: Vị tỳ kheo, hay biết (chánh niệm) cùng với Trí tuệ (tỉnh giác- hiểu biết đúng). Trong phần niệm thọ và niệm tâm có nói đến hai loại thực tại danh uẩn khác. Trong phần niệm pháp thì nói về tất cả các pháp, trong đó có cả ngũ uẩn, các triền cái và thất giác chi. Phần niệm tâm có nói đến các tâm thiện và bất thiện, tâm tham và sân.

HV 24:           Con cảm ơn.

Sarah:           Mục đích của việc đọc Kinh là để hiểu về vô ngã. Nhưng thực tế mọi người lại đọc với cách ngược lại là thấy cái ngã ở trong đó. Trong một ngày có rất nhiều khoảnh khắc dính mắc vào cái thân của tôi và cho đó là tôi. Nhưng Đức Phật thì đã chỉ ra rằng đó chỉ là những sắc khác nhau và không thuộc về ai cả, để những người nghe có thể hiểu rằng đó chỉ là những thực tại là vô ngã chứ không phải là tôi hay là ai đấy. Cũng tương tự như vậy đối với thọ: chúng ta dính mắc rất nhiều vào những thọ lạc, nhưng Đức Phật đã chỉ ra rằng đó chỉ là các pháp, không phải là ta. Chúng ta thường rất bận tâm về “phiền não của tôi”, nhưng thực chất đó chỉ là những tâm khác nhau, tham, sân và si, chúng là các thực tại chứ không phải là một người. Phần niệm pháp thì có nói đến tất cả các loại thực tại khác nhau, để có thể chỉ ra rằng những thực tại ấy đều là vô ngã, không có ai ở trong đó.

Học viên 21:   Bà có nói đọc với cái hiểu, vậy khi chúng ta hồi hướng thì thực tại đó là gì?

Achaan:         Đó chính là những tâm thiện nghĩ đến những người khác có thể hoan hỉ với những phước thiện ấy.

HV 21:            Khi con đọc, con thực sự nghĩ về hình ảnh bố mẹ. Như vậy có thế có ý niệm sai hay không khi nghĩ về có cái thân, hay một ai đó như là bố tôi hay mẹ tôi.

Achaan:         Ngay cả bây giờ thì cũng có thể không có cái hiểu về thực tại, có ý niệm về ai đó. Cái mà ta gọi là cha mẹ thì là gì? Khi chúng ta nghĩ về cha mẹ, chúng ta nghĩ về người đã sinh và nuôi dưỡng ta. Khi ta nghĩ về điều này, thực chất là nghĩ về những hành động thiện mà cha mẹ đã làm cho ta. Như vậy ta sẽ nghĩ đến với sự biết ơn. Nếu một người không biết trân quý thiện pháp, liệu có thể làm thiện pháp không? Khi nói lên lời hồi hướng như vậy, ta biết ơn những hành động tốt đã được làm và nó giúp tăng trưởng thiện tâm.

Học viên 2:    Như vậy ý của Bà là cha mẹ cũng chỉ là khái niệm về những hành động thiện?

Achaan:         Kể cả danh từ Đức Phật thì cũng là một khái niệm để chỉ về lòng từ bi và Trí tuệ lớn lao của Ngài.

NPD:              Cho nên ý của Bà là mặc dù chúng ta nói đến cha và mẹ nhưng về thực chất là nói đến những phẩm chất thiện.

HV 2:             Vậy có phải là chúng ta kinh nghiệm thiện pháp của Cha mẹ hay không?

Jonathan:     Không phải chúng ta kinh nghiệm thiện pháp của họ, vì điều ấy là không thể. Nhưng khi có sự biêt ơn thì ở khoảnh khắc đó là tâm thiện, khi ta suy niệm về điều tốt đẹp cha mẹ đã làm, lúc đó tâm là thiện, lúc đó không có tà kiến về ngã. Mặc dù chúng ta dùng ngôn từ như vậy (cha mẹ) nhưng thực chất đó chỉ là khái niệm chế định, ngôn từ để chỉ đến cái mà bản chất chỉ là tâm và tâm sở. Ta không coi những khái niệm ấy thực sự là những con người trường tồn, mà bản chất của chúng chỉ là tâm và tâm sở mà thôi.

Sarah:           Có một vị sư đã hỏi: “hôm qua cô Sarah đã nói khi thực tại được kinh nghiệm, dù chưa có khái niệm nhưng đã có sự dính mắc ở đó rồi, xin vui lòng giải thích thêm”

Vừa rồi chúng ta đã nói về Tứ niệm xứ và tâm. Đức Phật có nói về việc hiểu về tâm tham căn, là một thực tại thuộc niệm tâm. Thông thường, ngay khi chúng ta thức dậy thì đã có tham ở đó rồi. Ngay khi có cái thấy, dù là ở một đứa trẻ sơ sinh, hay là chúng ta, thì đã có sự dính mắc vào cái được thấy ngay lập tức. Kể cả trước khi có ý niệm về con người và mọi thứ, dính mắc vào đối tượng đã được thấy hay âm thanh đã được nghe, dù là chưa có ý nghĩ về bất cứ cái gì ở khoảnh khắc đó. Điều ấy rất thông thường và nó xảy ra vô số lần trong một ngày. Đương nhiên có lúc nó là tâm tham căn, có lúc là tâm sân căn. Nhưng tâm tham căn hàng ngày thường sinh khởi nhiều hơn. Chúng ta đã nói đến thức tái tục và những khoảnh khắc tiếp theo đó là những tâm hộ kiếp, sau chặp hộ kiếp đó sẽ có tiến trình đầu tiên của kiếp sống và ngay trong tiến trình đầu tiên đó thì đã có sự dính mắc với Hữu, gọi là Hữu ái. Khi ở Sài Gòn, chúng ta có nói đến ba phân loại bất thiện: lậu hoặc, lụt, ách (xiềng xích, cùm). Chúng ta có nói đến lậu hoặc là những phiền não vô cùng vi tế sinh khởi ngay sau khi có cái thấy, cái nghe v.v. Có bốn loại lậu hoặc: Dục lậu hoặc, hữu lậu hoặc (là sự dính mắc với sự trở thành); kiến lậu hoặc (là tham hợp với tà kiến); Vô minh lậu hoặc. Tất cả các loại lậu hoặc này vô cùng vi tế nên không ai có ý niệm gì về chúng cả, chúng sinh khởi ngay sau khi có cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm.

Vị sư 1:          Như thế nào để biết được đặc tính của tâm sở dục Chanda và tâm sở tham- Lobha?

Sarah:           Lobha-Tham có nghĩa là sự dính mắc và nó luôn luôn là bất thiện. Chanda- Dục có nghĩa là sự quan tâm hay hào hứng, chẳng hạn quan tâm hay hào hứng học Giáo lý.  Dục sẽ là thiện khi nó quan tâm đến các hoạt động là thiện. Nhưng dục có thể là bất thiện khi nó quan tâm, hào hứng với các việc bất thiện, chẳng hạn như thử các món ăn khác nhau. Ở khoảnh khắc của dục bất thiện, nó sinh khởi cùng tham. Khi dục sinh khởi cùng với tâm thiện, nó sinh khởi cùng với những yếu tố thiện khác như chánh niệm và các tâm sở thiện khác. Chúng ta có thể nói đến dục- sự hào hứng – với việc nghiên cứu, nhưng bản thân dục ấy cũng có thể là thiện hoặc bất thiện: có thể có sự hào hứng nghiên cứu với mong muốn cho bản thân mình, hay đi theo sự thực hành nào để đạt được kết quả nào đấy cho bản thân,  nó khác với dục thiện sinh khởi bởi vì nó thực sự quan tâm đến việc suy xét và hiểu thực tại. Như vậy loại dục – chanda mà Đức Phật khuyến khích là loại chanda thiện chứ không phải chanda là bất thiện.

Học viên 7:    Ngày hôm trước khi con đưa mẹ đi chơi và có trò chơi mạo hiểm, thì mẹ con nói: “cứ tình huống nào nguy hiểm hoặc khó khăn thì cứ niệm Nammo tassa thì sẽ được chư thiên phù hộ”. Bà có thể bình luận về việc này?

Achaan:        Liệu ai biết được tâm người khác đây?

HV 2:             Đức Phật.

Achaan:        Mặc dù có thể chưa có được cái hiểu thực sự sâu sắc về mức độ Trí tuệ của Đức Phật khi nghe Giáo lý, nhưng mẹ của bạn có niềm tin sâu sắc vào ơn đức của Ngài. Những từ ấy (Namo Tassa), ai có biết nghĩa là gì ko? Có thể mọi người chỉ biết được sơ lược nghĩa của những từ Pali ấy. Nhưng tại sao mẹ bạn lại không nói đến những từ khác, chẳng hạn, tại sao không nói “Chúa ơi”?

HV 7:             Bởi vì mẹ con có niềm tin nơi Đức Phật.

Achaan:        Nhưng như thế cũng chưa đủ, nếu có niềm tin, bà ấy cần phải tìm hiểu thêm về Giáo pháp. Nếu như mình có ý nghĩ coi Đức Phật cũng như một vị chúa nào đó thì đó là một cái hiểu sai lầm. Ai biết được tâm của mẹ bạn tại khoảnh khắc đó? Từ Namo Tassa nghĩa là gì? Ai biết được ý nghĩa của nó không?

Học viên 25:  Trí tuệ con thì chưa có, nhưng con thấy khi tâm thất niệm thì mình chỉ cần nhớ một đoạn trong niệm ân đức Phật, đức Pháp hay đức Tăng thì rất tốt. Câu Namo Tassa nghĩa là “con xin hết lòng thành kính đảnh lễ đức Thế tôn”. Khi con quên gì con niệm câu này rất hiệu quả. Ví dụ khi con làm bếp con đánh rơi cái cốc và không tìm thấy, lúc đó con niệm câu này thế là con lại nhìn thấy ngay cái cốc ấy.

Jonathan:     Giống như phép thuật hay sao? Tôi nghĩ là Đức Phật cũng dạy về nhân quả. Người dạy về nhân nào dẫn đến quả nào, cái gì là nhân dẫn đến những kinh nghiệm qua ngũ quan trong cuộc sống hàng ngày, những việc đã làm dẫn đến quả gì; những việc thiện đã làm trong quá khứ cộng với nghiệp thiện hiện tại sẽ dẫn đến quả thiện trong tương lai.

Sarah:          Nghĩa là bạn cũng tin rằng phước thiện hiện tại sẽ đem đến quả thiện trong tương lai, ví dụ như nghiên cứu, bố thí, trì giới. Những quả thiện mà ta nhận hiện nay là do nhân của việc thiện đã làm trong quá khứ. Đó là những lời nhắc nhở làm việc thiện và theo Giáo pháp của Đức Phật.

Jonathan:     Như vậy những lúc gặp khó khăn ta có thể tưởng nhớ đến ân đức Phật, nhất là về Trí tuệ vĩ đại của Ngài, và những khoảnh khắc đó cũng là thiện. Tuy nhiên nếu ta cho rằng chỉ đọc vài câu như vậy sẽ mang lại kết quả tốt thì đó không phải là cái hiểu đúng, không phải là thiện.

HV 25:          Vậy lúc đó là bất thiện ư?

Sarah:          Điều ấy chỉ có bạn mới biết được, nếu chỉ là đọc mà không có sự suy xét chân chánh thì nó sẽ là bất thiện.

Sarah:          Tiếp theo là câu hỏi của quý sư về phần vừa giải thích về tham sinh khởi trong tiến trình của ngũ căn.

Sau khi có nhãn thức, cái là quả của nghiệp, có hai tâm sinh khởi tiếp theo là tiếp nhận tâmsuy đạt tâm cũng là tâm quả, sau đó một tâm nữa sinh khởi là xác định tâm. Tâm này là một tâm duy tác, sau tâm này, sẽ có bảy khoảnh khắc của tốc hành tâm, có thể là thiện hoặc bất thiện. Nếu những tâm này là bất thiện thì chúng sẽ có nhân là tham hoặc sân hoặc si. Nếu những tâm đó là tâm tham căn thì có sự dính mắc ở trong tiến trình của nhãn môn đó. Vì vậy, ta nói trên thực tế có tham sinh khởi ngay sau khi có cái thấy. Điều ấy xảy ra trước khi có suy nghĩ về con người hay vạn vật, cái diễn ra trong tiến trình ý môn chỉ xảy ra sau đó mà thôi.

Achaan:        Bất cứ khi nào có kinh nghiệm cái thấy, cái nghe mà chúng ta vẫn chưa biết cụ thể là gì, là dễ chịu hay khó chịu, thì đã có thích hoặc không thích với đối tượng đó rồi, chẳng hạn: những âm thanh chói tai như tiếng sấm hay tiếng bom nổ, dù chưa biết đó là gì ta đã không thích, hay một âm thanh ngọt ngào, dù chưa biết đó là gì, là tiếng nhạc hay chim hót, đã có sự dính mắc ngay lập tức.

Ở khoảnh khắc nói Namo Tasa, từ ấy có thể được nói ra với sự kính trọng hay dính mắc, và Trí tuệ có thể biết điều ấy. Kể cả khi chúng ta không đọc ra câu Namo Tassa, nhưng khi nghiên cứu Giáo pháp và bắt đầu hiểu về những gì xuất hiện, chính khoảnh khắc của hiểu biết đó cũng tương ứng với sự đảnh lễ hay tôn kính bậc Đạo sư đã dạy sự thực tạo duyên cho hiểu biết đó cho chúng ta. Đức Phật không hề mong đợi những điều đáp trả như đảnh lễ hay cúng dường. Cần sự chân thành để hiểu được những gì Đức Phật đã dạy, đó chính là cách để nói Namo Tassa một cách tốt nhất, không phải với dính mắc vào kết quả, mà với sự tôn kính những phẩm chất của Ngài.

Học viên 7:    Sáng nay có nói về chặp tốc hành tâm cuối cùng trước tử thức sẽ quyết định thức tái tục của kiếp sống mới. Do vậy dẫn đến một số người có thể nghĩ rằng họ tụng kinh thì sẽ hỗ trợ phát triển thiện tâm và giúp họ tái sinh vào cõi an lành về sau.

Achaan:        Điều ấy còn tùy thuộc vào tích lũy và việc nghiệp nào sẽ sinh khởi để tạo quả cho khoảnh khắc đầu tiên của kiếp sống sau. Kể cả hiện giờ, chúng ta đang nói về Giáo lý nhưng có thể có những ý nghĩ xấu xa. Cũng tương tự như vậy, ở khoảnh khắc người đó lâm chung, kể cả khi có lời tụng kinh, vẫn có thể có những bất thiện ở khoảnh khắc đó, thiện hay bất thiện sinh khởi tùy thuộc vào tích lũy của người đó, và vào việc nghiệp nào sẽ trổ quả vào lúc đó để tái sinh ở cõi nào.

Jonathan:     Như vậy có hai yếu tố tác động: một là sự tích lũy của người đó trong quá khứ và hai là nghiệp sẽ làm duyên cho khoảnh khắc của sự tái sinh. Nếu như nghiệp sẽ tạo quả cho tái sinh rất mạnh (là trọng nghiệp) thì dù tích lũy của người đó là gì đi nữa, nó cũng không đủ mạnh để chiến thắng nghiệp đó. Khi ấy nghiệp đó sẽ có vai trò nổi trội trong việc tái sinh kiếp sau như thế nào.

Học viên 2:   Vậy thì tại sao các vị Lạt ma tây tạng có thể đoán biết trước kiếp sau của mình trước thời điểm lâm chung?

Jonathan:     Họ chỉ có thể nghĩ rằng họ biết mà thôi, bởi vì chỉ có một mức dộ tuệ giác rất cao mới biết được điều đó. Có thể chỉ là suy nghĩ của họ mà thôi. Việc biết được điều ấy phụ thuộc vào Tuệ giác chứ không phải vào các Nghi lễ hay các quy trình cần làm.

Sarah:           Achaan có nói sáng nay là cái chết có thể đến ngay bây giờ, chẳng nhẽ điều ấy có nghĩa là chúng ta nên đọc kinh bây giờ hay sao? Bởi vì chúng ta không biết được khi nào cái chết sẽ tới. Liệu chúng ta có biết được tâm tiếp theo là gì không? Nó sẽ là suy nghĩ, cái thấy, hay cái nghe đây? Không thể biết được tâm tiếp theo hay tái sinh của kiếp sau sẽ là gì.

Học viên 22:  Lúc nãy Achaan có nói pháp học là có niềm tin vững chắc và không còn hoài nghi về giáo pháp. Như vậy khi có pariyati thì có phải là đã tận diệt được hoài nghi, tà kiến và giới cấm thủ hay không, lúc đó không có nghi ngờ?

Sarah:          Thực chất thì cái gọi là hoài nghi, tà kiến, giới cấm thủ chỉ có thể được tận diệt khi chứng đạo quả thứ nhất mà thôi. Nhưng khi có cái hiểu biết rất sâu sắc thì nó sẽ không bị hoài nghi dẫn đi sai đường.

Jonathan:     Lúc trước bạn đã nghe về các mức độ của hiểu biết khác nhau, nhưng khi nói vậy, ta không nói đến một người nào đấy, mà chỉ nói đến khoảnh khắc của hiểu biết thôi.

Sarah:          Ở khoảnh khắc có trí tuệ thì sẽ có tín và không hề có hoài nghi ở khoảnh khắc đó.

Achaan:       Ở khoảnh khắc nghĩ đến một phương pháp nào đó cần theo để giác ngộ thì không phải là sacca nana.

Học viên 13: Bây giờ chỉ mới có cái suy nghĩ là không còn nghi ngờ, chứ không phải niềm tin là không còn nghi ngờ?

Achaan:       Chẳng hạn như về cái thấy hiện giờ, liệu đã có cái hiểu hơn về cái thấy so với sáng nay, khi chưa có sự suy xét về cái thấy hay không?

HV 13:          Vẫn chỉ là suy nghĩ mà thôi.

Achaan:       Suy nghĩ ấy là tư duy chân chánh hay không chân chánh?

HV 13:          Dạ, là tư duy chân chánh.

Sadhu sadhu sadhu!

 

, , , , ,

Pháp đàm sáng 07-09-2013 tại Vũng tàu

15/      Pháp đàm buổi sáng ngày 07.09.2013 tại Vũng tàu.

 

Học viên 16: Thưa bà, bà có thể cho chúng con biết làm thế nào để nhận ra tà kiến?

Achaan:         Một số người khi học Giáo lý cứ muốn tìm hiểu hiện giờ là loại tâm nào, và cố gắng biết điều đó. Thay cho việc ấy, chúng ta nên chỉ học từng từ một để hiểu rõ nghĩa của những từ ấy, chẳng hạn từ dhamma – pháp. Nghĩa của nó là gì? Trước khi có thể biết được một pháp là thiện hay bất thiện, chúng ta phải biết pháp là một cái có thực, nếu không chúng ta sẽ cố đi tìm nó, và đó không phải là cách đúng. Chúng ta nên bắt đầu với cái gì là thực hiện giờ và ở đây. Hiện giờ, chúng ta chỉ có thể nói là có một thực tại đang xuất hiện. Đây là cách để không quên những gì đang xuất hiện, trước hết là như vậy, khi vẫn chưa thể có cái hiểu đúng về những thực tại xuất hiện. Thay cho việc nghĩ liệu đang có tà kiến hay không, hãy nhận ra rằng cái đang xuất hiện chỉ là một thực tại mà thôi. Kể cả từ “thực tại” cũng không dễ hiểu chút nào. Thay cho việc cứ cố nghĩ đến những thứ khác, hãy nhận ra rằng hiện giờ không có hiểu biết đúng về cái đang xuất hiện mà thôi.

Ta sẽ hiểu được mục đích của việc nghe Pháp – Giáo pháp của một bậc giác ngộ. Không ai có thể hiểu Giáo lý ngay ở thời điểm khởi đầu, cần có thời gian để hiểu đúng cái xuất hiện. Cái không xuất hiện không thể được hiểu. Hiện giờ thì tà kiến không xuất hiện, nhưng cái thấy (nhãn thức) đang thấy đối tượng của nó. Đây chính là điểm khởi đầu của việc hiểu về thực tại. Đó cũng là thời điểm bắt đầu hiểu được sự khác biệt giữa hiểu biết đúng và hiểu biết sai, hay nói cách khác là trí tuệ và tà kiến. Khi không có hiểu biết đúng về tất cả những gì đang xuất hiện hiện giờ, sẽ luôn có ý niệm “tôi thấy”. Cho những thực tại sinh và diệt là ta thì là một tà kiến. Chừng nào không hiểu đúng về thực tại đang xuất hiện, sẽ không thể có sự tận diệt ý niệm về “tôi”, về ngã. Chỉ có hiểu biết đúng mới từ từ tận diệt ý niệm sai lầm về ngã. Như bây giờ, ở chính khoảnh khắc này, bắt đầu có hiểu biết về cái đang xuất hiện, cái đang được thấy ở thời điểm có cái thấy. Và hiểu rằng cái vừa xuất hiện hiện giờ lại qua đi rồi, rất nhanh chóng. Nhưng vẫn chưa phải là kinh nghiệm trực tiếp về sự sinh diệt của những thực tại ấy. Chúng ta có thể nghĩ về sự sinh diệt của các thực tại, nhưng đó vẫn chưa phải là khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp sự sinh diệt ấy. Chính vì lý do đó, sau khi nghe Pháp vẫn có ý niệm “tôi biết” và “tôi hiểu.”

Đức Phật biết rằng có ba mức độ của trí tuệ: mức độ thứ nhất tới từ việc đọc, nghe, đàm đạo về những gì mà Đức Phật đã dạy, chứ không hi vọng, mong muốn kinh nghiệm trực tiếp. Bởi vì khoảnh khắc cố thử tìm thấy một cái gì đó khác không phải là khoảnh khắc hiểu về cái đang xuất hiện. Không phải chỉ có cái thấy hiện giờ, cũng có cả cái nghe…, và cả suy nghĩ nữa. Đã ai kinh nghiệm trực tiếp rằng, ở khoảnh khắc thấy, chỉ có cái thấy thấy, ở khoảnh khắc nghe, chỉ cái nghe nghe, ở khoảnh khắc suy nghĩ, chỉ suy nghĩ nghĩ. Chúng ta mới chỉ có một ý niệm rất mờ nhạt về vô ngã ở những khoảnh khắc của sự xúc chạm, của cái thấy hay suy nghĩ. Cái cứng xuất hiện, đối tượng thị giác xuất hiện, và âm thanh xuất hiện. Liệu có cái hiểu trực tiếp về những thực tại ấy, từng thực tại một khi chúng xuất hiện? Khi ấy, ta có thể thấy được sự khác biệt giữa hiểu biết về mặt lý thuyết và hiểu biết trực tiếp. Có rất nhiều thực tại đang sinh khởi hiện giờ. Cái vẫn chưa xuất hiện (là đối tượng của tâm) thì chưa thể được biết như là chỉ một thực tại mà thôi.

Hiện giờ có tác ý sinh khởi cùng với tất cả các tâm. Ai biết được rằng ở khoảnh khắc của cái thấy này có tư tâm sở- cetana (hay ý định) đang sinh khởi đây? Đó là tâm quả, cho nên ở khoảnh khắc của cái thấy, cả nhãn thức và cetana đều là quả của nghiệp (vipaka). Vì vậy cetana sinh khởi cùng cái thấy không được nhận biết như cetana trong các hành động thiện hoặc bất thiện. Như vậy, không phải tất cả thực tại đều xuất hiện với tư cách là đối tượng cho tâm, chỉ có một số thực tại xuất hiện hàng ngày mà thôi. Chỉ có hiểu biết đúng mới tận diệt được ý niệm về ngã nhờ có việc nghe về sự thực hiện giờ. Chúng ta đã được nghe từ trước về Tứ diệu đế, dường như có vẻ rất quen thuộc: sự thật về khổ (dukkha), có ai không biết khổ đây? Nhưng khổ mà chúng ta biết khác với khổ (dukkha) mà Đức Phật đã giác ngộ. Đói có phải là dukkha không? Nếu cái đói không sinh khởi, ai có thể hiểu được cái đói là vô ngã? Những người kinh nghiệm đói thì đều nghĩ rằng “tôi” đói. Nhưng nếu không có cái đói sinh khởi thì có thể có suy nghĩ ấy hay không? Đói thực chất là thọ khổ trên thân, nó không thuộc về ai cả vì nó sinh khởi do duyên và rồi diệt đi giống như tất cả các thực tại hữu vi.

Có rất nhiều thực tại không phải là đối tượng của sự hay biết hiện giờ. Đức Phật không dạy ai cố nhất tâm hay tập trung vào một đối tượng nào đó. Bởi nếu vậy sẽ là ngược lại với sự thực mà chính Ngài dạy là tất cả các pháp đều vô ngã. Tất cả những gì sinh khởi đều thống nhất với chân lý mà Ngài đã dạy cho chúng ta. Ngài đã dạy cho chúng ta về tám loại tâm tham căn, chứ không bảo ai đấy phải kinh nghiệm trực tiếp những tâm ấy ngay lập tức. Ngài dạy về các tâm ấy để mọi người có được hiểu biết đúng đắn ở mức độ lý thuyết để có thể làm duyên cho khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp khi thực tại đó xuất hiện.

Có rất nhiều người đã nghe về tứ niệm xứ, chánh niệm là thực, đúng không? Nhưng khi không có duyên cho chánh niệm sinh khởi, nó không thể sinh khởi, dù ai đó mong muốn có nó đi nữa. Vậy, hãy cứ nghiên cứu để biết từng thực tại, và hiểu nó khi nó trở thành đối tượng của tâm, rằng nó không phải là tự ngã, không phải là ai cả. Nhưng nếu nó không sinh khởi thì làm sao trí tuệ có thể hiểu được rằng nó là vô ngã đây?

HV 16:           Con đọc trong một cuốn sách, theo giáo lý Đức Phật thì mọi khổ đau, mọi duyên khởi đều sẽ tự sinh diệt. Trong khoảnh khắc đó, cái đau khổ mà nó ập đến từ tiền kiếp mà mình không thể nhận biết. Vậy làm thế nào để đối trị nó?

Achaan:         Lại câu hỏi “làm thế nào” một lần nữa. Đây là một câu hỏi có ý niệm về ngã ở đằng sau. Khi có đau khổ sinh khởi, nó đã sinh khởi do có những duyên cho nó sinh khởi, không có ai ở trong đấy cả, không thể làm được gì với những thứ đã sinh khởi. Chỉ hiểu biết đúng về bản chất của những gì sinh khởi mới tạo duyên cho khoảnh khắc liễu ngộ rằng các thực tại chỉ là vô ngã mà thôi. Nếu không hiểu điều ấy, vẫn sẽ đặt câu hỏi “làm thế nào để”. Không ai có thể làm gì cả, bởi bất cứ cái gì đang sinh khởi thì đều đã sinh khởi do duyên rồi.

Chúng ta không thể lựa chọn việc hay biết một thực tại hay khía cạnh cụ thể nào, chẳng hạn như khổ. Trong khi đó, bất cứ đối tượng nào sinh khởi ở khoảnh khắc của chánh niệm đều có thể được hiểu, nhưng chánh niệm cũng là một thực tại vô ngã nên cũng không ai có thể làm nó sinh khởi bằng ý chí hay ý định, cho nên khi câu hỏi đặt ra với hàm ý về một sự lựa chọn, nó phản ánh hiểu biết không đúng với bản chất của thực tại

Kể cả ý định cố gắng chánh niệm, dù thoáng qua, cũng cần trở thành đối tượng của hiểu biết đúng, rằng đó là vô ngã. Nếu không có một mức độ nhất định của trí tuệ hiểu đúng về bản chất của thực tại đang xuất hiện, sẽ luôn có ý niệm về ngã. Chẳng hạn như, có thể có cái hiểu về đặc tính cứng chỉ là một thực tại mà thôi hay không? Ở khoảnh khắc đặc tính cứng xuất hiện thì không có âm thanh, không có cái thấy. Sự thật là vậy, nhưng điều đó được hiểu tới đâu thì tùy thuộc vào mức độ trí tuệ đã tích lũy. Nếu thỉnh thoảng mới hiểu điều ấy thôi thì sẽ chưa đủ duyên để có trí tuệ trực nhận rằng đó chỉ là một thực tại. Vô minh cùng với ý niệm về ngã sẽ luôn có mặt ở đó để cố gắng hay biết. Chính khoảnh khắc cố gắng đó cũng cần phải biết là vô ngã, chỉ là một pháp. Bất cứ những gì xuất hiện trong ngày cũng cần phải biết rõ, nếu không sẽ có ý niệm về ngã. Chẳng phải cần có thời gian để biết được rằng mọi thứ chỉ là vô ngã hay sao? Không cần có tác ý để làm điều đó hay để hiểu sự sinh diệt của thực tại, nếu không sẽ vẫn là ý niệm về một cái ngã đang cố gắng. Ý niệm về ngã sẽ ở đó bất cứ khi nào Trí tuệ không sinh khởi để biết các pháp ấy (ý định, cố gắng) như chúng là. Toàn bộ Giáo lý của  Đức Phật đều là về trí tuệ.

Trong một ngày, tất cả các thực tại đang xuất hiện, nhưng khi không có hiểu biết, sẽ là vô minh và bất thiện. Tất cả các cử động, kể cả việc quay đầu sang bên này hay bên kia cũng đều được tạo duyên bởi ông chủ lớn, chúng ta luôn là nô lệ cho tham, sân, và si. Khi hiểu được điều này, ta có thể thấy được ơn đức lớn lao của Đức Phật là sự giác ngộ về tất cả các thực tại. Đức Phật dạy về tất cả những gì mà Ngài đã giác ngộ về bản chất thực sự của vạn pháp. Với lòng từ vô hạn, Ngài đã dạy trong suốt 45 năm, để các đệ tử hiểu được bản chất các thực tại hiện khởi, theo nhiều khía cạnh khác nhau: theo cách phân chia thành ngũ uẩn, theo cách phân chia thành giới (dhatu), theo tứ thánh đế, theo thập nhị nhân duyên…Tất cả những thứ này không phải chỉ là ngôn từ. Chúng là những thực tại đang sinh khởi hiện giờ để có thể được nghiên cứu và hiểu đúng. Nếu không có hiểu biết đúng về lý thuyết thì cái gì có thể tạo duyên cho cái hiểu trực tiếp về thực tại hiện giờ đây? Và trí tuệ tự biết rõ điều ấy, nó biết rõ mức độ hiểu biết hiện giờ là gì. Ở khoảnh khắc của cái thấy hiện giờ, phải chăng chỉ là cái hiểu về câu chuyện của cái thấy?  Hay đã là chánh kiến của Bát chánh đạo đi kèm với chánh tư duy (vitakka-tâm sở tầm), chánh định và chánh tinh tấn cùng có mặt? Trí tuệ không hề nhầm lẫn giữa hiểu biết ở mức độ tư duy và kinh nghiệm trực tiếp.

Học viên 7:    Con muốn hỏi thế nào là hiểu biết về mặt lý thuyết (hay tư duy)?

 Achaan:        Cái gì đang có hiện giờ và ở đây?

HV 7:             Rất là nhiều thực tại.

Achaan:         Cái đó là hiểu đúng hay hiểu sai?

HV 7:             Là hiểu đúng

Achaan:         Đúng vậy. Trí tuệ bắt đầu từ việc hiểu cái gì đang xuất hiện hiện giờ, hay cái gì đang có hiện giờ. Không phải chỉ chung chung là cái gì đó đang xuất hiện, mà cần phải rất chi tiết, chẳng hạn như cái thấy và cái nghe. Như vậy sẽ có thể có hiểu biết thêm về từng thực tại đang xuất hiện.

HV 7:             Và như thế sẽ sinh khởi câu hỏi “làm thế nào để có thể hiểu về thực tại”?

Achaan:         Bởi một pháp là vô ngã hay bởi một pháp bị chấp là ngã? Bạn đang muốn có mức độ hiểu biết nào hiện giờ ngay lập tức? Bạn muốn giác ngộ luôn hay sao? Hay biết rằng cái hiểu được phát triển một cách từ từ về từng thực tại ở mỗi thời điểm, để hiểu biết về vô ngã có thể được thiết lập một cách vững chãi. Ngay khi có ý nghĩ “làm thế nào để có thể…”, thì đã có ý niệm về ngã ở trong đó rồi.

Người phiên dịch:    Câu hỏi đặt ra thế nào là pháp học, hay thế nào là hiểu biết ở mặt lý thuyết rất hay bởi vì mọi người có những ý niệm khác nhau về cùng một từ này. Có thể có người nghĩ pháp học là có kiến thức về Vi diệu pháp chẳng hạn, hay có một bằng cấp về Phật học đã là pháp học rồi.

Achaan:         Khi ta dùng những từ chẳng hạn như tham hay một thực tại nào đấy, nó chỉ là ngôn từ mà thôi. Ví dụ, khi thấy mình trong một bối cảnh dễ chịu, ta có thể nói “đang có tham”, nhưng thực chất không phải là khoảnh khắc mà đặc tính của thực tại tham xuất hiện để có thể được hiểu. Đó chỉ là nhớ và suy nghĩ về một từ đã từng được nghe mà thôi, bởi ở khoảnh khắc khi thực tại tham xuất hiện, không có ngôn từ ở đó, mà chỉ có đặc tính của tham đang xuất hiện. Nhưng khi gọi thực tại bằng một từ nào đó, sẽ  không còn là cái thấy hay cái nghe thực nữa, mà chỉ là suy nghĩ mà thôi. Chỉ là suy nghĩ về tham, chứ không phải là tham khi nó xuất hiện để trí tuệ có thể tiếp cận và hiểu nó như nó là. Đây là sự khác biệt giữa hiểu biết trực tiếp và hiểu biết về mặt lý thuyết.

Ba giai đoạn của hiểu biết là pháp học, pháp hành và pháp thành, không nên nhầm lẫn ba giai đoạn ấy. Nếu không có sự chân thực, ta sẽ không có được gì từ việc nghiên cứu Giáo lý, ta sẽ vẫn có ý niệm về tự ngã, về bản thân mình, khi ấy ta không hề có Đức Phật là nơi nương tựa, và ta nghĩ rằng tồn tại một con đường tắt, ngắn hơn, nhưng con đường ấy đi ngược lại với con đường của Đức Phật. Bởi vì toàn bộ cốt lõi của Giáo lý của Ngài là về trí tuệ và về vô ngã. Khi nghĩ rằng có bao nhiêu tâm sở ở đây, bao nhiêu loại tâm tất cả, v.v… thì đó chỉ là suy nghĩ – điên đảo tưởng – mà thôi.

Sarah:            Dù có thuộc tất cả các bài Kinh bằng tiếng Pali nhưng nếu không hiểu đúng về những gì đang xuất hiện hiện giờ như cái thấy, cái nghe, suy nghĩ… là vô ngã, thì đó vẫn chưa phải là hiểu biết đúng đắn về mặt lý thuyết, chưa phải là pariyati – pháp học. Kể cả khi ta thuộc lòng các bài kinh đi chăng nữa, nhưng nếu vẫn có ý niệm rằng mình có thể tập trung vào một số đối tượng nào đó theo lựa chọn, hay có một số phương pháp thực hành nào đó để đi theo, thì dường như ta không thực sự trân trọng những lời dạy của Đức Phật về những thực tại hiện khởi là cái duy nhất có thể được hiểu. Cái hiểu đúng về mặt lý thuyết về bất cứ thực tại nào đang xuất hiện – thực tại kinh nghiệm một cái gì đấy và thực tại không kinh nghiệm gì cả – vẫn quý báu hơn thu thập kiến thức từ nhiều cuốn sách nhưng không có cái hiểu thực thụ về vô ngã. Điều này không có nghĩa là chúng ta không nên nghiên cứu Giáo lý và suy xét cẩn thận những gì ở trong đó, tất cả chúng tôi đều nghiên cứu Giáo lý và những gì có trong Tam tạng, kể cả những chú giải cổ. Nhưng cái hiểu đúng có được từ đó và sự suy xét chân chánh về những gì được nghiên cứu mới là điều quý giá nhất. Không phải là vấn đề đếm được bao nhiêu loại tâm hay tâm sở, hay có bao nhiêu loại duyên, mà là hiểu được các pháp hiện giờ đang sinh khởi.

Vị sư 1:          Achaan đã giải thích rất nhiều về cái thấy, cái nghe, về ngũ quan. Bây giờ sư muốn biết thêm về cái thứ sáu. Tâm suy nghĩ về vấn đề nào đó, hay tâm đang biết có sự suy nghĩ về vấn đề nào đó? Ý của sư là tâm không thể suy nghĩ mà chỉ nhận biết thực tại đang xảy ra, suy nghĩ thuộc về danh pháp khác. Achaan có thể giải thích thêm?

Achaan:         Chẳng hạn như hiện giờ chúng ta đang suy nghĩ, suy nghĩ không phải là khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe, ngửi, nếm, xúc chạm.

Vị sư 1:          Như vậy suy nghĩ trở thành đối tượng của cái biết, cái biết đang biết về sự suy nghĩ. Khi chúng ta nói về cái thấy thì đối tượng thị giác là đối tượng của cái thấy, hay âm thanh là đối tượng của cái nghe. Vậy cái gì là đối tượng của tâm trong tiến trình ý môn?

Achaan:         Chúng ta có cần phải phân biệt giữa ý môn và ngũ môn hay không? Ở khoảnh khắc của suy nghĩ hiện giờ, suy nghĩ không cần đến nhãn căn và nhĩ căn. Nếu chúng ta  đã học được rằng sắc là loại thực tại có tuổi thọ dài hơn tuổi thọ của tâm 17 lần, ta có thể biết rằng sắc được kinh nghiệm bởi 17 tâm trước khi nó diệt đi. Dường như hiện giờ cái thấy và cái nghe đang sinh khởi cùng một lúc, nhưng Đức Phật đã dạy cho chúng ta rằng, có nhiều khoảnh khắc của tâm xảy ra giữa cái thấy và cái nghe. Đức Phật dạy về tâm, một tâm sinh khởi rồi tâm tiếp theo sẽ là gì. Có thể có cái thấy hiện giờ mà không có khoảnh khắc trước đó hay không? Có những tâm khác trước khi có cái thấy sinh khởi hay không? Những tâm đó không thấy, như vậy chúng sinh khởi trước khi có cái thấy hiện giờ, và cũng có những tâm sinh khởi sau cái thấy. Có nhiều khoảnh khắc trước khi có sự suy nghĩ về hình dạng của cái được thấy. Ở trong Kinh, Đức Phật không chỉ rõ có những tâm nào đi theo sau nhãn thức, bởi vì điều ấy không thể được biết. Những thứ có thể được nhận biết hiện giờ chỉ có thể là cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và suy nghĩ, kể cả những thứ đó thôi, đã có ai hiểu được chưa?

Chính vì vậy việc nghiên cứu Giáo lý cần phải từ từ, chúng ta không thể hiểu toàn bộ Giáo lý theo cách của ngũ uẩn, của sáu xứ, của các giới hay của Tứ diệu đế v.v… Chúng đang là hiện giờ, chẳng hạn như theo cách của xứ sẽ là như sau: tại khoảnh khắc của cái thấy sinh khởi và thấy, cái gì cần phải có ở đó? Đối tượng thì giác đã sinh khởi và vẫn chưa diệt đi, nhãn căn đã sinh khởi cũng chưa diệt đi; thức hiện giờ sinh khởi để thấy cũng chưa diệt đi, và cùng với thức, có các tâm sở sinh khởi (vì nếu không thức sẽ không thể sinh khởi); ở khoảnh khắc đó, tất cả các thực tại ấy có cùng có mặt, giống như ở một điểm hẹn. Tất cả những thực tại đó đều có mặt ở đó – xứ, và điều ấy có nghĩa là chúng chưa diệt đi. Nếu như đối tượng thị giác đã diệt đi rồi, sẽ không thể có cái thấy, nếu như nhãn căn đã sinh khởi và diệt đi rồi, sẽ không có cái thấy. Chính khoảnh khắc của cái thấy hiện giờ được gọi là xứ. Đối tượng thị giác là xứ bởi vì nó phải có ở đó; nhãn căn là xứ phải có ở đó vì nó chưa diệt đi; tâm và các tâm sở cùng phải có ở đó. Ở khoảnh khắc của cái thấy, tất cả đều là xứ. Đối tượng thị giác là sắc xứ, nó không thể kinh nghiệm gì cả, nhưng khi là đối tượng của cái thấy, nó phải có mặt ở đó, nhãn căn cũng phải có ở đó,  được gọi là sắc nhãn xứ. Trong tiếng Pali, đó là sự tổng hợp giữa hai từ rupaayatana– sắc và xứ; nhãn căn tiếng Pali là cakhupassasada. Tâm khi ấy là thức xứ (manaayatana), mano cũng có nghĩa là tâm. Các tâm sở sinh khởi cùng với cái thấy ở khoảnh khắc đó được gọi là pháp xứ (dhammayatana).

Lời dạy về xứ như vậy có thể tạo duyên cho cái hiểu rằng không có cái gì trường tồn, mọi thứ đều diệt đi, tất cả mọi thứ đều sinh khởi bởi duyên. Nếu không có tứ đại, sẽ không thể có đối tượng thị giác. Nếu không có tứ đại được tạo duyên bởi nghiệp thì sẽ không có nhãn căn và tâm là cái thấy sẽ không thể sinh khởi mà không có nghiệp, vậy thì tất cả các xứ có mặt ở đó đều do duyên tạo. Nói điều ấy để chúng ta hiểu rằng trên thực tế mọi thứ chỉ là xứ mà thôi, không ai có thể làm gì, bởi vì hiện giờ cái thấy đã sinh khởi do duyên và đó cũng là xứ. Vậy ai có thể làm được gì về cái thấy đây, hay về bất cứ thực tại nào khác. Kể cả cái hiểu hiện giờ cũng tới từ việc nghe và suy xét một cách kỹ lưỡng. Ở khoảnh khắc của cái thấy, không có trí tuệ sinh khởi cùng với nó. Mỗi khoảnh khắc đều sinh khởi và diệt đi trong một thời gian vô cùng ngắn ngủi, và như vậy có rất nhiều thực tại do duyên tạo hiện giờ đang sinh diệt, trong đó không có cái gì là ngã cả. Dù lời dạy theo xứ, theo tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên, hay theo ngũ uẩn, thì đều có mục đích là tạo duyên cho hiểu biết về vô ngã mà thôi. Ở khoảnh khắc của suy nghĩ hay cố làm gì đó, thì cái gì đang ở đó? Có những thực tại tuyệt đối, thực tại chân đế khác nhau sinh khởi do duyên đảm nhận chức năng của chúng.

Vị sư 1:          Có một đạo hữu nhờ sư hỏi một câu: Thực tại là một cái gì đang sinh khởi rất nhanh, ví dụ giống như đàn kiến, mỗi con kiến nối nhau thì có những khoảng hở, để kinh nghiệm được thực tại thì phải có Tuệ giác mới thấy được những khoảng hở đó, tức là khoảng sinh và diệt. Với chúng tôi chưa có Tuệ giác thì làm sao kinh nghiệm được điều đó?

Jonathan:      Ý niệm rằng có khoảng trống nhỏ giữa các thực tại chỉ là một giả thiết mà thôi, chứ liệu kinh điển có nói đến những khoảng trống ấy hay không? Rất có thể chúng ta có suy nghĩ như vậy là bởi chúng ta vẫn tư duy dưới góc độ của thế giới chế định. Tuy nhiên, khi nói đến các thực tại chân đế ta nói đến thế giới tối hậu, hoàn toàn khác với thế giới chế định. Nhưng dù thế nào đi nữa, những điều chúng ta đang nói tới trong mấy ngày qua đều là về những thực tại đang xuất hiện hiện giờ, và chỉ những thực tại đang xuất hiện mới có thể được hiểu. Chúng ta nói đến những gì là thực và có những đặc tính có thể xuất hiện và được hiểu một cách trực tiếp bởi Trí tuệ. Chừng nào chúng ta vẫn chưa có được cái hiểu một cách chính xác về các thực tại về mặt lý thuyết thì cũng chưa cần nói đến những ý niệm như đàn kiến hay khoảng trống như vậy, những thứ thực ra không có trong kinh điển.

Achaan:         Chúng ta hãy cùng suy xét bởi vì để có thể hiểu, chúng ta luôn cần phải suy xét một cách kỹ lưỡng. Vậy khi nói đến khoảng trống đó, thì nó là gì?

Vị sư 1:          Nó chỉ là một khái niệm.

Achaan:         Khi có cái thấy rồi có cái nghe, phải chăng cái mà bạn gọi là khoảng trống nằm giữa cái thấy và cái nghe? Ở khoảnh khắc ngủ sâu, có cái gì xuất hiện hay không? khi ấy có khoảng trống hay không? Khi nói đến khoảng trống như vậy, không hề có hiểu biết về thực tại và về thế giới. Mỗi tâm sinh và diệt, không bao giờ quay trở lại, và nó tạo duyên cho tâm tiếp theo sinh khởi, bởi vì tâm và các tâm sở có thể tạo duyên cho sự sinh khởi của tâm tiếp theo. Sau khoảnh khắc sinh khởi của thức tái tục, nó diệt đi ngay lập tức. Nó được tiếp nối bởi các tâm, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, cho đến khi tử thức của một vị A la hán sinh khởi. Ở thời điểm ấy, không còn có duyên cho bất cứ tâm và tâm sở nào sinh khởi nữa.

Mọi người cho là có khoảng trống giữa cái thấy, cái nghe, ngửi, nếm, và xúc chạm. Vậy, có khoảng trống giữa cái thấy và cái nghe hay không? Đức Phật đã dạy cho chúng ta về từng khoảnh khắc của từng tâm một. Vậy thì có cái gì ở giữa tiến trình của thấy và nghe? Phải có những tâm và tâm sở sinh và diệt đảm nhận những chức năng khác vỡi chức năng của thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, bởi vì có tất cả 14 loại chức năng khác nhau của tâm. Chỉ có các tâm đảm nhận chức năng của chúng, không có cái ngã nào cả.

Sarah:           Giữa các tâm như thấy và nghe thì là gì, có phải là khoảng trống không?

Học viên 21: Đó là tâm hộ kiếp.

Sarah:            Tâm hộ kiếp là một tâm, đối tượng của nó khác với đối tượng qua sáu căn, nhưng với mức độ trí tuệ của chúng ta, đối tượng của nó không được nhận biết.

Khi chúng ta ngủ sâu, tâm không kinh nghiệm đối tượng qua sáu căn, khi đó có tâm hộ kiếp (bhavaga citta). Có phải khoảng trống giống như lúc đó, như lúc ta ngủ không có nghe và thấy?

Trong tiến trình của nhãn môn hoặc ý môn, có các tâm hộ kiếp. Câu hỏi đặt ra là: có những tâm nào khác ngoài tâm hộ kiếp không?

Ai đó trả lời:   Là thọ

Sarah:           Tâm sở thọ là tâm sở sinh khởi với mọi tâm. Tâm sở thọ sinh khởi với tất cả tâm trong tiến trình nhãn môn. Nó cũng đi kèm với các tâm hộ kiếp và tất cả các tâm khác, bởi vì nó là một trong bảy biến hành tâm sở.  Như vậy giữa nhãn thức và nhĩ thức, có các tâm hộ kiếp, và có các tâm suy nghĩ thuộc tiến trình ý môn. Thực chất thì không có khoảng trống nào, nhưng ta thấy dường như là khoảng trống bởi vì chưa đủ hiểu biết mà thôi.

Học viên 7:   Vậy đối tượng của tâm hộ kiếp là gì?

Jonathan:     Tại sao bạn muốn nghe về nó?

HV 7:             Bởi vì con được biết là tâm hộ kiếp có đối tượng khác các tâm kinh nghiệm qua sáu căn, con có nghe nói là đối tượng của nó cũng là đối tượng của tử thức và thức tái tục.

Jonathan:     Vì chúng ta đang nói đến đối tượng của tâm cho nên tôi muốn quay về câu hỏi của đại đức ở đây là về đối tượng của tâm suy nghĩ. Achaan có trả lời về các xứ, và tôi nghĩ đây là điểm quan trọng.

Trước khi đặt câu hỏi thì chúng ta cần phải nghĩ về điều mà chúng ta sẽ nói, mỗi khi nói, chúng ta đều suy nghĩ về điều mình đang nói tới. Và khá là dễ để thấy rằng loại suy nghĩ này rất là khác với tất cả những gì được kinh nghiệm qua ngũ quan. Như vậy, đối tượng của suy nghĩ ấy không liên quan đến bất cứ đối tượng nào xuất hiện qua ngũ quan, mặc dù sau khi kinh nghiệm đối tượng qua ngũ quan, luôn  có suy nghĩ về thực tại đã diệt đi rồi. Vậy đối tượng của suy nghĩ ở những khoảnh khắc đó là gì? Chúng có thực hay không? chúng có một đặc tính có thể được kinh nghiệm hay không? Thực chất thì đối tượng của  suy nghĩ đó chỉ được tạo ra bởi tâm mà thôi. Nó cần phải được suy xét dưới góc độ một trong các xứ bởi vì nó không có một đặc tính cụ thể riêng nào cả. Nếu ta nghĩ rằng mình có thể trực tiếp kinh nghiệm đối tượng của suy nghĩ thì đó là một sai lầm. Đối tượng của suy nghĩ khác với những tâm sở sinh khởi cùng nó. Tâm là thực, các tâm sở là thực, nhưng đối tượng của tâm khi ấy không phải là thực, vì thế đó không được gọi là một xứ.

Vị sư 1:          Vậy tại khoảnh khắc của suy nghĩ có phải Tưởng (sanna) trở thành đối tượng của tâm không?

Jonathan:     Đặc tính của tưởng có xuất hiện khi ấy hay không?

Vị sư 1:          Đặc tính của tưởng là nghĩ ngợi về một đối tượng nào đó.

Jonathan:     Nghĩ về đối tượng là chức năng của tâm, còn chức năng của tưởng là đánh dấu và ghi nhớ về đối tượng. Chúng ta biết rằng tâm là một thực tại kinh nghiệm một đối tượng, khoảnh khắc có sự suy nghĩ, tâm sinh khởi cùng những tâm sở khác kinh nghiệm đối tượng ấy. Những tâm sở này, trong đó có tưởng, đảm nhận chức năng riêng của chúng. Những tâm sở ấy khi ấy không rõ hơn, hay rõ kém ở những khoảnh khắc của tiến trình qua ngũ quan. Ở những khoảnh khắc ấy, có thọ cùng các tâm sở khác và sau đó thọ hỷ hoặc thọ ưu có thể xuất hiện. Còn các thực tại, các tâm sở khác như tưởng và xúc thì có mặt nhưng chúng không xuất hiện.

Sarah:            Vậy thì khoảnh khắc của suy nghĩ, suy nghĩ nghĩ về một khái niệm, ví dụ như bây giờ ta có thể nghĩ về những cái ly hay là những từ mà chúng ta đang nghe. Ở khoảnh khắc đó, suy nghĩ là thực tại. Nó là thức xứ. Các tâm sở là các thực tại sinh khởi cùng với tâm ấy là thực tại và được goi là pháp xứ bởi vì chúng đi kèm với thức xứ. Nhưng những ý niệm như “cái ly” thì không phải là thực tại, chúng không phải là xứ. Khi Achaan nói về sự gặp gỡ, về các xứ, bà nói đến sự gặp gỡ hiện giờ của các thực tại. Dù chúng ta nói về các uẩn, giới hay xứ thì đều là những lời mô tả về thực tại, đó là những pháp chân đế được tạo duyên để sinh khởi và là vô ngã. Nó khác với những ý niệm hay những suy nghĩ mà chúng ta nghĩ về.

Học viên 2:    Nếu các ý niệm là đối tượng của tâm suy nghĩ và nó không phải là một thực tại thì nhân duyên của việc sinh khởi những đối tượng đó là như thế nào?

Jonathan:      Bạn nói đến sinh khởi ở đây theo nghĩa sự sinh khởi của các pháp như là âm thanh hay đối tượng thị giác đúng không?

HV 2:             Chỗ này tôi chưa rõ, nếu đã không phải là một thực tại thì dứt khoát là nó không sinh khởi. Vậy thì nó từ đâu đến mà tâm ta nghĩ về nó, nó phải xuất hiện một kiểu gì đó?

Jonathan:     Chính vì vậy chúng ta phải rất chi tiết để hiểu được sự khác biệt giữa những thực tại và những khái niệm hay ý niệm do tâm tạo ra. Chúng ta được học rằng, ở khoảnh khắc cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác thì đối tượng thị giác là một sắc đã sinh khởi trước đó, và sự sinh khởi của sắc ấy là duyên cần thiết để cho nhãn thức sinh khởi. Nhưng chúng ta không nên cho rằng cũng một thứ tương tự như vậy xảy ra trong tiến trình của ý môn. Không có đối tượng nào sinh khởi để được kinh nghiệm ở khoảnh khắc của suy nghĩ. Tâm sinh khởi, đối tượng của tâm khi ấy là một sản phẩm do tâm tạo, chứ không phải là một đối tượng sinh khởi trước khi tâm đó sinh khởi.

HV 2:              Như vậy là do cái tâm đó nó tạo ra?

Jonathan:     Khi chúng ta nói đến duyên là nói đến duyên làm cho tâm sinh khởi, chứ ta không nói đến duyên làm đối tượng của tâm sinh khởi, vì đối tượng ấy không phải được tạo ra bởi duyên, nó chỉ được tạo ra bởi tâm mà thôi.

Sarah:            Chẳng hạn giờ ta nghĩ về cái ly, nhưng cái ly không là thực, nó chỉ là một khái niệm, và suy nghĩ đó được tạo duyên để sinh khởi. Nó có khái niệm về cái được thấy và gọi đó là cái ly.  Như vậy cái ly không được tạo bởi duyên vì nó không phải là một thực tại, nó không sinh và không diệt. Nó chỉ là cái được nghĩ về mà thôi. Chính vì vậy cái ly không được gọi là xứ, hay là uẩn, hay là giới.

Người phiên dịch: Con nghĩ đây là điểm rất hay, có lẽ chúng ta nên thảo luận thêm. Khi nói rằng những cái ly, con người, v.v… là những khái niệm mà chúng ta nghĩ về, nhưng bởi vì khái niệm không có thật nên nếu nói nó là đối tượng của tâm thì rất khó hình dung. Con cũng đồng ý với điều sư vừa nói, đó là chỉ có tưởng có ý niệm và lúc đó thì nó trở thành đối tượng của tâm.

Jonathan:     Bây giờ chúng ta hãy quay trở về ví dụ ban đầu, dù kết luận của chúng ta là gì đi chăng nữa thì phải quay về với việc là những gì được nghĩ tới hoàn toàn không liên quan đến những gì diễn ra qua ngũ quan, và những suy nghĩ như vậy luôn xảy ra. Kể cả khi chúng ta ngồi đây nghe Pháp và nghĩ về những gì được nghe, thỉnh thoảng vẫn có những suy nghĩ khác xảy ra trong tâm, về những gì đã xảy ra rồi, hay là điều mình định làm cuối ngày. Chúng ta đang nói về thực tại là một khoảnh khắc của tâm sinh khởi do duyên bởi sự tích lũy trở thành một thói quen. Những thứ mà chúng ta nghĩ về dù không biết là mình đang làm cái việc ấy. Đối với tôi, tôi thấy không có sự nổi trội của sanna-tưởng ở khoảnh khắc đó, những tâm đó sinh khởi do được tạo duyên bởi những thói quen mà thôi.

Sarah:            Chúng ta biết rằng sanna (tưởng) sinh khởi với mỗi khoảnh khắc kinh nghiệm đối tượng, dù đối tượng đó là khái niệm. Nếu không như vậy sẽ không thể có ý niệm về cái ly, hay về điều sẽ xảy ra trong chiều hôm nay. Nhưng ở khoảnh khắc suy nghĩ về cái ly thì khi ấy ý niệm về cái ly là đối tượng chứ không phải là tưởng.

Jonathan:     Tất nhiên tưởng (sanna) nó giữ vai trò rất quan trọng, chính vì vậy Tưởng được xếp riêng là một uẩn, nhưng như vậy không có nghĩa là nó xuất hiện (là đối tượng của tâm).

HV 2:             Tại thời điểm mà chúng ta nói là tâm tạo ra một ý niệm, một đối tượng, thì theo Sư nói có lẽ Tưởng là đối tượng. Con thì hiểu là cái Tưởng trong qua khứ nó tạo thành cái xu hướng để nghĩ về một đối tượng tại thời điểm này, thì đối tượng đó nó chính là sản phẩm của tâm, còn cái tưởng ở ngay khoảnh khắc này thì nó lại ghi nhận để nó lại tạo ra xu hướng cho khoảnh khắc khác trong tương lại, chứ không phải là đối tượng của khoảnh khắc này. Vậy con hiểu như thế có đúng không?

Jonathan:     Khi chúng ta nghĩ rằng tưởng xuất hiện (là đối tượng của tâm), chúng ta sẽ có xu hướng tìm xem cái tưởng đang ở đâu để cố hiểu. Nhưng thực ra chúng ta nên nhìn tiến trình giữa tâm và đối tượng của tâm, một bên là thực tại, một bên không phải thực tại.

Sarah:            Tưởng sinh khởi với tất cả các loại tâm và nó có hai chức năng như sau: tại mỗi khoảnh khắc, mỗi thời điểm, nó sẽ đánh dấu, ghi nhận những kinh nghiệm đó và nó nhận ra, hay nhớ lại đối tượng đó. Tương tự như chúng ta dạy cho một đứa trẻ chưa biết gì cả “đây là cái ly nhé” thì tại thời điểm đó tưởng của đứa bé sẽ ghi nhận hình dáng và khái niệm về cái ly. Ví dụ mấy hôm trước khi tôi gặp bạn, bạn có mặc áo màu đỏ. Ngay tại thời điểm đó, lập tức tâm sở tưởng ghi nhận hình ảnh cái áo đỏ đó, mặc dù bây giờ bạn không mặc cái áo màu đỏ đó thì hình ảnh đó vẫn sinh khởi trong tâm tôi. Tưởng làm việc như vậy, ghi nhớ và đánh dấu liên tục. Chính vì vậy nó không phải là đối tượng của tâm, đối tượng của tâm là những đối tượng như đối tượng thị giác, hay ý niệm về cái áo đỏ hay cái ly.

Vị sư 1:          Đối tượng xảy ra nơi ý môn chỉ là danh pháp không có sắc pháp, phải vậy không?

Sarah:            Sau khi tiến trình của ngũ môn kết thúc, sắc diệt đi ngay vì nó chỉ kéo dài được 17 satna tâm mà thôi. Tuy vậy đặc tính của sắc đó vẫn là đối tượng của một hoặc hai tiến trình ý môn tiếp theo. Chính vì vậy vẫn có thể có cái hiểu về đặc tính của đối tượng của tiến trình ngũ môn ở trong tiến trình ý môn, không cần biết là ở tiến trình thứ nhất hay tiến trình thứ hai, bởi khi ấy chỉ là đặc tính của đối tượng thị giác đó xuất hiện mà thôi. Sau hai hay ba tiến trình ý môn như vậy, bắt đầu có sự chú ý đến hình và dạng của đối tượng thị giác, và sau đó thì bắt đầu có ý niệm về cái ly hay cái áo màu đỏ. Như vậy đặc tính của đối tượng thị giác vẫn tiếp tục được kinh nghiệm trong tiến trình ý môn, trong khi bản thân đối tượng thị giác ấy đã diệt đi sau tiến trình nhãn môn. Đây là một điểm rất vi tế.

Vị sư 1:          Đặc tính của đối tượng thị giác được biết qua tiến trình ý môn thì là thực tại hay là một khái niệm?

Jonathan:     Khi chúng ta nói đến thực tại, chúng ta đang nói đến pháp, bởi vì chỉ có pháp mới có đặc tính mà thôi. Nhưng chúng ta không thể biết được sự tiếp nối giữa khoảnh khắc khi đặc tính của đối tượng thị giác vẫn còn và rồi diệt đi, và khoảnh khắc khái niệm về đối tượng thị giác đó được nhận biết. Vì vậy để diễn tả, chúng ta có thể nói là: trong tiến trình của nhãn môn, đối tượng là thực tại là sắc, nhưng sau đó trong tiến trình của ý môn, trước khi khái niệm về nó được nhận biết thì được gọi là nimita.

Vị sư 1:          Nimitta thuộc thực tại hay khái niệm?

Jonathan:     Trên thực tế, đối tượng thị giác được nhận biết bởi nhãn căn của tiến trình của nhãn môn đã diệt đi rồi, nhưng các tâm tiếp theo tiếp nối rất nhanh, nên khi ta nói đến nimita, dường như nó cũng cùng đặc tính hệt như đối tượng thị giác vừa diệt đi.

Sarah:            Như vậy nimita là tướng của thực tại có thể là đối tượng trí tuệ ở khoảnh khắc ấy. Kể cả ở mức độ tuệ giác rất cao như các tuệ minh sát, đối tượng của tuệ giác vẫn chỉ là nimita mà thôi. Nhưng ngôn từ thì không thực sự quan trọng, mà cái quan trọng là hiểu về thực tại. Nhưng vì câu hỏi đã được đặt ra nên có câu trả lời, nhưng đây cũng là điểm rất vi tế. Sự vi tế này không nên làm chúng ta xa rời hiểu biết rằng cái được thấy chỉ là đối tượng thị giác mà thôi, và đó là cái cần được hiểu. Nếu không, chúng ta sẽ rất dễ dàng bị chìm đắm vào suy nghĩ để tìm ra câu trả lời thay cho hiểu thực tại hiện giờ đang xuất hiện.

Học viên 2:    Con ghi nhận là cần phải hiểu pháp sinh và diệt trong từng khoảnh khắc, nhưng rõ ràng là mình phải có một cái tâm sắc bén để theo kịp tốc độ này vì nó rất nhanh. Bây giờ chúng ta phải làm gì để rèn luyện cái tâm sắc bén như vậy, có cách nào dễ hiểu đưa pháp lên một trục thời gian để mình có thể biết được cái gì trước cái gì sau, từ từ từng bước mình có thể nhìn thấy từng pháp một. Nếu mà cứ như thế này thì không biết là đến bao giờ mới nhìn thấy được hiện tại.

Achaan:         Nếu tôi nói với bạn sẽ phải làm thế nào, bạn có thể làm theo không? Bạn có thể không?

HV 2:             Dạ

Achaan:         Vậy, hãy quên câu hỏi “làm thế nào đi”, bạn có làm được điều này không?

HV 2:             Dạ, con đã quên rồi.

Học viên 16: Như vậy ta càng bớt câu hỏi “tại sao” đi trong cuộc đời thì càng tốt phải không ạ? Bởi vì càng hỏi tại sao thì càng rắc rối.

Achaan:         Vấn đề là ở chỗ vô minh tự suy nghĩ mà không hề nghiên cứu Giáo lý. Bạn có thể nhớ được đối tượng ở vài khoảnh khắc trước đây không?

HV 16:           Có lúc con nhớ và có lúc con không. Con cũng thấy nếu cứ theo đuổi theo nó và đặt câu hỏi tại sao thì nó chỉ làm mình rối tung lên. Nên con nghĩ nghiên cứu, nắm bắt về nó nhưng đừng tại sao nhiều quá, đó là một thực tế với chính con.

Achaan:         Tuy nhiên câu hỏi tại sao thì vẫn tốt hơn câu hỏi làm thế nào.

Vậy quay lại câu hỏi: đâu là đối tượng của thức tái tục, khoảnh khắc đầu tiên của một kiếp sống?

Học viên 7:   Con không biết

Achaan:         Bạn có thể nhớ được đối tượng của vài khoảnh khắc trước đây không?

HV 7:             Không

Achaan:         Kể cả một khoảnh khắc trước thôi bạn cũng chưa nhớ được, đúng không? Vậy thì bạn có thể biết được những khoảnh khắc của tiến trình tâm cuối cùng trước khi thức tái tục sinh khởi, tức là khoảnh khắc cuối cùng của kiếp sống trước hay không? Đối tượng khi đó cũng là đối tượng của thức tái tục, của tất cả các tâm hộ kiếp và tử thức của kiếp sống này. Những gì không phải là đối tượng của ngũ quan và ý môn không thể xuất hiện.  Cái đang xuất hiện hiện giờ chỉ có thể là đối tượng của một trong sáu căn mà thôi. Nói kỹ hơn một chút, đối tượng là đối tượng của thức tái tục, của các tâm hộ kiếp, của tử thức của kiếp này cũng giống như đối tượng của nghiệp cuối cùng trước khi kiếp trước chấm dứt, tức là của luồng tốc hành tâm cuối cùng.

Luồng tốc hành tâm cuối cùng của một kiếp sống có thể là thiện hay bất thiện, và việc nó là thiện hay bất thiện ấy sẽ tạo duyên cho sự tái sinh ở cõi này hay cõi kia trong kiếp tiếp theo. Và bây giờ thì chúng ta không thể có sự lựa chọn chút nào.

HV 7:             Khi ta nói rằng đối tượng đó là đối tượng của tiến trình chặp tốc hành tâm cuối cùng của kiếp sống thì nó sẽ là đối tượng của sáu cửa giác quan, và ta lại nói là đó cũng là đối tượng của bhavaga citta, nhưng chúng ta lại nói là đối tượng của bhavaga citta lại không phải là đối tượng của sáu căn. Điều này hơi khó hiểu. Vậy xin Achaan hãy giải thích thêm điểm này

Achaan:         Tử thức có thể xuất hiện bây giờ không?

Ai đó trả lời: Có thể bất cứ lúc nào.

Achaan:         Dù bây giờ tử thức sinh khởi thì nghiệp tạo duyên cho chặp tốc hành tâm cuối cùng sẽ tiếp tục tạo duyên cho thức tái tục của kiếp sau sinh khởi.

Jonathan:     Chẳng hạn đối tượng của một chặp tâm thiện hoặc bất thiện hiện giờ có thể là một sắc và nó được tạo duyên bởi nhiệt độ, nó không được tạo duyên bởi nghiệp. Nhưng ở trong tiến trình tốc hành tâm cuối cùng của kiếp sống trước, đối tượng được tạo duyên bởi nghiệp sẽ tạo ra sự tái sinh tiếp theo.

Achaan:         Cái gì sẽ tạo duyên cho thức tái tục, hay khoảnh khắc đầu tiên của kiếp sống mới?

HV 7:             Nghiệp – kamma

Achaan:         Đó là do nghiệp, vậy thì chính  nghiệp ấy sẽ tạo duyên cho khoảnh khắc thiện hoặc bất thiện ở chặp cuối cùng trước khi chết. Thông thường, nếu đó là một đối tượng của ngũ quan thì khi đó tâm cũng có đối tượng giống như đối tượng ở ngũ quan. Và thay cho được tiếp nối bởi tiến trình của ý môn như thông thường, khi ấy tử thức sinh khởi. Đó chính là lý do khiến thức tái tục tiếp theo sẽ có đối tượng cùng đối tượng với chặp tâm cuối cùng trước khi chết. Nếu chưa phải là khoảnh khắc của cái chết, sẽ là tiến trình của ý môn như thông thường và cũng tương tự như trong tiến trình ý môn ấy, đối tượng của bất cứ môn nào đều có thể là đối tượng của thức tái tục. Bởi vì nghiệp ở trong chặp tâm cuối cùng sẽ tạo duyên cho cảnh, và cho tâm thiện hoặc bất thiện. Khi tâm bất thiện sinh khởi trước khi chết thì cái thức tái tục sau đó sẽ là gì? Khi ấy nó sẽ là quả của nghiệp bất thiện. Nếu như tâm trước khi chết là thiện thì tâm nào là khoảnh khắc đầu tiên của kiếp sau? Sẽ là thiện, và cảnh hay đối tượng của nó cũng là một với đối tượng của luồng tốc hành trước đó. Khi ngủ say, liệu chúng ta có thể cố gắng để hay biết đối tượng của tâm khi ấy là gì không? Lúc ấy chẳng có ý niệm mình là ai, mình đang ở đâu. Chính vì vậy đối tượng ở khoảnh khắc của thức tái tục, của các tâm hộ kiếp và của tử thức không xuất hiện giống như bình thường. Bởi vì không có môn nào cho việc kinh nghiệm đối tượng ấy. Nhưng thế giới  bắt đầu ở bất cứ khoảnh khắc nào có sự kinh nghiệm đối tượng thông qua sáu căn. Thực chất thì thế giới bắt đầu ở khoảnh khắc của thức tái tục nhưng nó không xuất hiện, giống như bây giờ. Ai có thể biết được đối tượng của thức tái tục của mình không?

Sarah:            Chỉ có Đức Phật mới biết mà thôi.

Người phiên dịch:    Thậm chí cả ngài Mục Kiều Liên hay Ngài Xá lợi Phất hay sao?

Achaan:         Chúng ta không phải là họ.

Sarah:            Tuy nhiên nhờ năng lực của định và tuệ rất lớn nên họ có thể nhớ được đối tượng của tâm hộ kiếp ở kiếp trước của họ.

Jonathan:     Để trả lời cho câu hỏi “Liệu có thể có cuốn hướng dẫn từng bước cho Tứ niệm xứ không?”  Tôi đoán bạn nghĩ đến một ứng dụng trên iphone mà bạn có thể dùng. Tuy nhiên với những gì mà chúng ta trao đổi trong tám ngày vừa qua, bạn có đồng ý rằng, nếu như có giả định là tồn tại những bước đi như vậy, thì dưới ánh sáng của những gì chúng ta đã thảo luận, nó không phải là một ứng dụng, đúng không?

Sadhu sadhu sadhu!

 

, , , ,

Translate »