Monthly Archive May 15, 2014

Pháp đàm buổi chiều ngày 02-09-2013 tại Sài Gòn

7/ Pháp đàm buổi chiều ngày 02.09.2013 tại SG

 

Vị sư 1:          Trong cách hướng dẫn của Achaan, Bà khuyến khích mọi người kinh nghiệm thực tại từ cái thấy, cái nghe. Vậy theo Bà liệu có nên kiểm tra xem trong sự kinh nghiệm đó có chánh kiến không hay là có tà kiến ví dụ tôi đang kinh nghiệm, tôi như thế này thế kia?

Achaan:         Hiện giờ có âm thanh không? Hiện giờ đang có âm thanh cũng như có các thực tại khác như thấy- nghe -ngửi -nếm -xúc chạm, tất cả thực tại này là vô ngã, không trường tồn, đều sinh và diệt, Đức Phật đã dạy cho chúng ta về bản chất của những thực tại đó, đều không phải là ai đó, mà là các thực tại sinh khởi do duyên ,và sau khi sinh khởi thì chúng diệt đi chứ không tồn tại kéo dài. Đức Phật khuyến khích chúng ta suy xét liệu những gì Ngài giảng có đúng hay không, chẳng hạn như về cái thấy, nếu cái thấy không diệt đi thì sẽ không thể có cái nghe, âm thanh xuất hiện. Hiện giờ có cái thấy, cái nghe, và suy nghĩ, điều đó chứng tỏ các thực tại ấy đã sinh khởi và diệt đi. Nhưng điều ấy đã không được nhận biết. Nếu có cái ý niệm cho rằng đây là “tôi” thì đó cũng chỉ là một thực tại trong chuỗi thực tại sinh và diệt tiếp nối lẫn nhau.

Vị sư 1:          Nếu ngay đó có một ý niệm nghĩ rằng tôi đang thấy, tôi đang nghe thì chỉ nhận biết đó cũng là một thực tại?

Achaan:         Cái thấy có thực không?

Vị sư 1:          Có thực.

Achaan:         Và cái đó chính là ý nghĩa của từ thực tại. Tất cả chúng ta đều nghe và thấy rất nhiều thứ trong một ngày và đều nghĩ rằng tôi đang thấy và tôi đang nghe. Nhưng cái thấy là gì, cái nghe là gì? Chúng đã qua rồi, chỉ có tưởng –sanna- ghi nhớ và tiếp tục nghĩ về cái đã diệt đi: “tôi đã nghe cái này”, “tôi đã thấy cái kia”. Nhưng cái nghe, cái thấy đã diệt đi hoàn toàn rồi, ai có thể tìm thấy được nó đây?

Vị sư 1:          Khi có suy nghĩ về cái được thấy, được nghe thì cũng có suy nghĩ là tôi đang thấy tôi đang nghe. Có phải Achaan muốn nói rằng chúng ta không nên cố gắng chuyển đổi một cái gì hết mà chỉ nhận ngay cái suy nghĩ tôi đang thấy, tôi đang nghe đó cũng là một thực tại. Bản thân sự suy nghĩ đó cũng là một thực tại đang sinh khởi.

Achaan:         Ta sẽ làm gì nếu không phải như vậy.

Vị sư 1:          Chỉ là chấp nhận và thấy đó là một thực tại chứ không có ta trong đó, có phải như vậy không?

Achaan:         Vậy ai là người chấp nhận?

Vị sư 1:          Đôi lúc có cái hiểu rằng chỉ là cái tâm đang kinh nghiệm nhưng đôi lúc có suy nghĩ rằng tôi đang suy nghĩ. Nó thường trộn lẫn hai cái qua lại như vậy.

Achaan:         Nếu như không có thực tại là suy nghĩ sinh khởi trước đó thì có thể có cái ý niệm rằng tôi đang suy nghĩ không?

Vị sư 1:          Không thể có được.

Achaan:         Vậy bản thân suy nghĩ làm nhiệm vụ nghĩ chứ không phải là tôi suy nghĩ, đúng không?

Vị sư 1:          Đúng vậy.

Người phiên dịch: Cho phép con hỏi có phải ý của sư là muốn Achaan hướng dẫn một phương pháp hay một cách thức, đúng không ạ?

Vị sư 1:          Không phải. Ý sư muốn nói ở đây là: Tất cả thực tại là do duyên khởi, vậy cái xưa nay mình gọi là thực tập thì kỳ thực đó chỉ là kinh nghiệm những gì đang xảy ra và nó có xu hướng là không chuyển đổi hay chống đối bất cứ một cái gì vì tất cả những gì đang sinh khởi đều mang bản chất của thực tại. Như vậy cho dù bất cứ cái gì xuất hiện thì chỉ kinh nghiệm chứ không có ý muốn làm cái gì khác, phải vậy không?

Achaan:         Nếu nói “không làm gì hết” thì có nghĩa là phải có một trường hợp khác là “làm một cái gì đấy”. Vậy “làm một cái gì đấy” là cái gì?

Vị sư 1:          Thường có xu hướng kiểm tra lại, ví dụ như thế này đã phải là chánh niệm chưa, đối tượng đó thuộc về thực tại hay khái niệm.

Achaan:         Cái đã xảy ra thì đã qua rồi, vậy ta còn có đối tượng nào để mà kiểm tra nữa đây?

Vị sư 1:          Như vậy nếu có mong muốn kiểm tra thì đó cũng là một sự dính mắc, một ảo tưởng về ngã hay không?

Achaan:         Chính là như vậy. Khi Đức Phật giác ngộ, Ngài đã nói là Ta đã nhìn thấy người xây nhà. Và ngôi nhà đó ở đâu? Ngôi nhà đó chính mỗi khoảnh khắc của luân hồi, hay một từ khác là uẩn. Thực tại của uẩn là gì?

Vị sư 1:          Chỉ là cái sinh và diệt thôi, đó là nói theo lý thuyết. Còn nói theo một cách khác là cái đã sinh khởi.

Achaan:         Cái thấy có phải là uẩn không?

Vị sư 1:          Phải.

Achaan:         Trong ngũ uẩn thì cái thấy thuộc về uẩn nào?

Vị sư 1:          Theo lý thuyết thì nó thuộc về thức uẩn.

Achaan:         Nó không “thuộc về”, nó thức uẩn. thức sinh khởi và kinh nghiệm những đối tượng như đối tượng thị giác, âm thanh, mùi, vị hay đối tượng xúc chạm, tất cả những cái đó là thức. Đối tượng của ngũ thức là sắc. Sắc cũng là một uẩn. Riêng từng thứ ấy đã là uẩn rồi, chứ không phải chỉ tổng hợp những thứ ấy mới là uẩn.

Vị sư 1:          Như Achaan nói thì sự hiện bày ở đây chỉ là Ngũ uẩn. Ngũ uẩn là do duyên khởi, nó biểu hiện ý nghĩa của Vô ngã. Vậy ví dụ trong lúc Achaan tọa thiền nhưng cái tâm bảo rằng không thích ngồi nữa muốn đứng lên thì lúc đó Achaan xử lý như thế nào? Nên tiếp tục ngồi hay đứng lên?

Achaan:         Nhưng tôi không ngồi thiền.

Vị sư 1:          Vậy thì sư ngồi thiền, những lúc như vậy sư nên tiếp tục ngồi hay đứng lên?

Achaan:         Chúng ta nên làm một cái gì đấy hay là nên hiểu?

Vị sư 1:          Xin Achaan chia sẻ thêm chỗ này. Bây giờ sư cũng chưa biết thế nào là đúng.

Achaan:         Tôi sẽ không làm theo cái người khác bảo tôi làm. Nhưng tôi sẽ lắng nghe và hiểu, thay cho làm một cái gì đó. Tại sao Đức Phật thuyết pháp cho chúng ta? Đức Phật đã dạy chúng ta làm hay hiểu? Nếu chỉ đơn giản là bảo mọi người hãy làm cái gì đó cụ thể thì Đức Phật đã không cần phải giảng pháp trong suốt 45 năm, nếu chỉ cần làm thôi và không cần hiểu gì cả.

Vị sư 1:          Vậy Achaan muốn nói rằng việc đứng dậy hay ngồi tiếp tục không phải là vần đế mà vấn đề là phải có sự hiểu trong đó?

Achaan:         Hiện giờ chúng ta đang ngồi, đúng không? Chúng ta sẽ làm gì đây, hay là chỉ cần tiếp tục nghe pháp thôi?

Sarah:            Tôi nghĩ rằng chúng ta luôn quên rằng tất cả các thực tại hữu vi đều vô ngã. Vừa rồi Achaan có nói khi có ý niệm phải kiểm tra xem liệu đã có chánh niệm về cái vừa sinh khởi hay chưa, thì khi đó đã có ý niệm về ngã có thể kiểm soát chánh niệm. Đúng là vậy. Bởi vì thực tại, chẳng hạn cái thấy, đã sinh và diệt mất rồi. Vậy ý niệm kiểm tra hoàn toàn là ý niệm về ngã mà thôi vì có cái gì để kiểm tra nữa đâu? Cetana hay  ý định, tư, là một trong những uẩn là Hành uẩn, nó là một thực tại hữu vi, nó sinh và diệt, nó sinh khởi do những duyên của nó và rồi diệt đi, không ai là cetana cả.

Bây giờ ta có thể có ý niệm rằng chúng ta đang ngồi đây, nhưng về mặt thực chất, đó chỉ là suy nghĩ về ý niệm rằng tôi đang ngồi trong một căn phòng. Nhưng thực chất đều chỉ là các thực tại sinh và diệt, ví dụ  như: cái thấy, cái nghe, sự xúc chạm, v.v…, chúng sinh khởi và tất cả đều chỉ là ngũ uẩn, chúng sinh và diệt tiếp nối lẫn nhau. Nếu có việc thay đổi một tư thế nào đấy, điều đó cũng xảy ra do duyên, đó là hoạt động của ngũ uẩn chứ không phải một ai đó ở bên ngoài tác ý  để thay đổi theo một cách đặc biệt nào đó. Bất cứ khi nào có ý niệm rằng “ta” có thể lựa chọn một pháp khác ngoại trừ pháp đang sinh khởi hiện giờ để hay biết, thì đồng thời lúc đó cũng có tâm tham cùng với tà kiến cho rằng có một cái ngã có thể lựa chọn đối tượng của chánh niệm và hiểu biết. Cái mà chúng ta gọi là Bhavana thường được dịch là Thiền, Tu thực chất là phát triển tâm trí,  và sự phát triển tâm trí luôn xoay quanh cái hiểu của pháp hiện giờ đang xuất hiện, bởi vì mọi thứ đã được tạo duyên rồi.

Vị sư 1:          Về thực tại thì không có ai hết, không có tôi. Nhưng với sự hiểu biết của những người như chúng tôi và những người mới chưa có được sự hiểu biết đó, trong cuộc sống hàng ngày, nổi lên phiền não ví dụ như sân hận, muốn đánh người hay tham lam muốn lấy của người thì khi đó phải làm như thế nào?

Sarah:            Tùy thuộc vào duyên khi đó. Kể cả đối với người chưa bao giờ được nghe giáo lý thì về mặt bản chất cũng chỉ là ngũ uẩn và tất cả các khoảnh khắc đó đều sinh khởi do duyên. Cho nên không có ai có thể quyết định được ở khoảnh khắc kia, loại duyên gì sẽ sinh khởi. Chẳng hạn chúng ta không thể nào quyết định được rằng từ giờ tôi sẽ chỉ nói những lời ái ngữ. Kể cả có ý muốn đó thì điều ấy cũng không thể xảy ra nếu không có đủ duyên. Như vậy việc gì xảy ra không tùy thuộc vào mong muốn, vào ý định của mình, vạn pháp đều là do duyên. Nếu có duyên cho một điều nào đó xảy ra thì nó sẽ xảy ra.

Vị sư 1:          Như vậy, nếu có mong muốn hoàn thiện cũng là dư thừa. Mỗi khoảnh khắc chỉ là do nhân duyên sinh khởi và khi nó sinh khởi thì ta biết là nó như vậy, chứ không cần thiết phải mong mỏi nó được tốt hơn hay là ta phải ngăn ngừa một cái gì đó đừng để không xảy ra. Tất cả ta không thể đoán trước được.

Sarah:            Bây giờ chúng ta sẽ nói về cái thấy. Cái thấy là tâm quả, nó là quả của nghiệp quá khứ, tùy vào nghiệp thiện hay bất thiện mà hiện giờ cái thấy nó sẽ thấy đối tượng dễ chịu hay khó chịu. Nó là quả của nghiệp quá khứ, không thể nào thay đổi được quả. Sau khi có cái thấy, một loại duyên hệ gọi là cận hành duyên, do những tích lũy trong quá khứ từ nhiều kiếp hay thói quen, có thể có tham hoặc sân với đối tượng vừa được thấy và được nghe. Chẳng hạn như hiện giờ chúng ta đang nghe Pháp, nếu có sự chú ý lắng nghe thì đó là bởi đã có tích lũy cho việc nghe và suy xét về Giáo lý. Hiểu biết từ việc nghe ấy có thể tiếp tục phát triển và lớn mạnh. Đó chính là sự phát triển tâm trí- bhavana. Nếu có hiểu biết đúng đắn về các pháp là vô ngã, sẽ có thể có duyên cho hiểu biết trực tiếp, bởi hiểu biết về lý thuyết- pháp học sẽ làm duyên cho pháp hành. Tất cả các thực tại mà chúng ta nói đến như cái thấy, cái nghe, suy nghĩ, dính mắc, si mê, trí tuệ v.v…, từng thứ trong đó đều là khanda- uẩn và đều là vô ngã.

Ngoài những thực tại hữu vi mà chúng ta gọi là uẩn thì chẳng còn gì khác ở cuộc sống mà chúng ta đang sống. Nếu có những ý niệm rằng chúng ta phải thực hành hay làm cái gì đó đặc biệt, đó cũng chỉ là một suy nghĩ và suy nghĩ đó cũng được tạo duyên, nó sinh khởi do duyên. Bản chất của cái chúng ta vẫn gọi là thực hành hay thiền- tiếng Pali là Bhavana, mà dịch đúng là sự phát triển tâm trí thực chất chỉ là sự phát triển của trí tuệ cùng với các tâm sở đồng sinh.

Achaan:         Nếu Đức Phật ở đây thì các bạn sẽ làm gi nào?

Vị sư 1:          Thì cũng là thấy, nghe, xúc chạm, không có gì khác.

Achaan:         Nếu có Đức Phật ở đây thì các bạn có nghe những gì Đức Phật giảng không?

Trả lời:           Có

Achaan:         Đức Phật đã không còn tại thế nhưng chúng ta vẫn còn những lời giảng từ khẩu ngôn của Ngài đã được truyền tụng cho tới ngày nay. Trước khi Đức Phật thuyết giảng, Đức Phật luôn nói từ Bhikkhuve. Từ này có rất nhiều nghĩa chứ không chỉ có nghĩa là “tỳ kheo”.  Từ này cũng để chỉ tất cả những người thấy được mối hiểm họa của vòng sinh tử luân hồi, của  các thực tại hữu vi sinh và diệt do duyên không thể nào ngưng. Khi Đức Phật nói “Bhikkhuve”, đó cũng là một lời nhắc nhở để mọi người lắng nghe điều Ngài sẽ nói. Chúng ta có thể nói về điều này hay điều kia, nhưng Đức Phật luôn luôn dạy về cái đang xuất hiện hiện giờ, về cái thấy, về cái nghe, chúng được tạo ra bởi duyên hay bởi một người nào đấy? Nếu các thực tại ấy sinh khởi do duyên, chúng có thuộc về ai không? Có ai sở hữu chúng không? Thực tại  đã sinh và diệt hoàn toàn rồi thì không bao giờ trở lại nữa. Nếu xuyên thấu được điều ấy, nó sẽ tạo duyên cho việc có sự xả ly với những thứ mà chúng ta vẫn cho là tôi hay là của tôi. Tuy nhiên, hiện giờ mức độ tuệ giác như vậy chưa sinh khởi, do chưa có đủ duyên cho sự sinh khởi của nó, cho nên khi có cái thấy thì ngay lập tức đã có một ý niệm về “tôi”; nếu không phải là tôi thì sẽ là ý niệm về một bông hoa, một cái bàn hay cái gì đó khác.

Một trong thập thiện là sửa Tà kiến thành Chánh kiến. Nếu không có những lời chân lý của Đức Phật, làm sao có thể thấy được sự vô thường của những thực tại hiện giờ? Chúng ta chỉ có thể nghĩ rằng chẳng có gì trường tồn mà thôi. Cuộc sống không trường tồn, ngày hôm qua không phải là ngày hôm nay và không phải là ngày mai. Và không có ai ở đó cả, bởi vì ngày hôm qua đã hoàn toàn qua rồi. Ngày hôm nay của ngày hôm qua thì cũng giống như ngày mai của ngày hôm nay. Mọi thứ đều qua đi khi ngày mai sẽ tới. Cũng giống như cuộc đời này, kiếp trước và kiếp sau cũng vậy. Ai biết được khi nào ta sẽ còn có cơ hội được nghe những lời những lời chân lý (vacca sacca) nữa đây? Vậy bây giờ hãy là lúc suy xét những gì được nghe, chẳng hạn như từ dhamma-pháp. Nếu chúng ta chưa từng được nghe thì sẽ không thể có ý niệm “pháp” là gì. Những người chưa nghiên cứu Pháp thì sẽ tưởng rằng từ “pháp” chỉ là có nghĩa là Giáo lý của Đức Phật mà thôi.

Pháp thực chất là gì? Chính là khoảnh khắc này, bởi vì khoảnh khắc này cũng chính là một khoảnh khắc của vòng luân hồi. Nếu không có khoảnh khắc này thì có thể có vòng luân hồi hay không? Vì samsara – vòng luân hồi – là sự tiếp nối của các thực tại sinh và diệt, không thể kiểm soát, không thể có được nhờ ý chí. Không ai muốn bị đau ốm, bị mất chân hay tay. Nhưng bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào. Ai làm cái đó? Chính là cái bàn tay vô hình. Thông thường, khi chúng ta làm các việc, chúng ta vẫn nghĩ rằng đây là cái tay đang làm, nhưng thực ra bàn tay ấy là cái mà không ai thấy được, là nghiệp đã tạo trong quá khứ. Nhân đã ở đó rồi nên nó có thể tạo ra quả ở bất cứ thời điểm nào có thể. Không có ai ở đó cả. Tưởng hay trí nhớ thì không phải là bàn tay vô hình. Chức năng của tưởng chỉ là ghi nhận và đánh dấu.

Chúng ta phải học về các thực tại mà chúng ta hoàn toàn chưa hay biết hiện giờ, để hiểu rằng mỗi một thực tại đó đều là vô ngã. Nếu từng thực tại đều không phải là ngã thì làm gì có cái ngã, cái ta nào ở đây? Chẳng hạn, cái thấy thấy chứ có ai thấy đâu? Suy nghĩ nghĩ, nó chỉ sinh khởi để nghĩ và rồi diệt đi, chỉ có một thế giới ở một thời điểm. Và cái suy nghĩ trước đó đã ở đâu rồi? Cái đã qua rồi thì không bao giờ trở lại, giống như một ngọn lửa đã tắt ngấm. Tự ngã có thể nằm ở đâu nữa đây? Đức Phật đã dạy tất cả những chi tiết ấy để mọi người có thể suy xét và thực sự hiểu rằng không có một cái ngã nào cả.

Cái gì sinh ra, tôi sinh ra hay cái gì sinh ra? Hoàn toàn không có ý niệm nào về “tôi” ở khoảnh khắc của tái sinh, mà chỉ có thực tại sinh khởi mà thôi. Nếu không có thực tại thì sẽ không có chúng sinh nào cả. Nếu chỉ có thực tại “không có khả năng kinh nghiệm gì cả” sinh khởi thì cũng không có chúng sinh nào cả. Không hề có ý niệm rằng là “tôi” đã sinh ra khi ấy. Chỉ có cái tâm cùng với các tâm sở sinh khởi, là kết quả của một nghiệp đã tạo trong quá khứ., để đảm nhận chức năng tái tục gọi là paṭisandhi kicca. Thức này tiếp nối tử thức của kiếp  trước ngay lập tức không có sự gián đoạn. Như vậy tâm cùng tâm sở sinh khởi không có sự ngừng nghỉ. Các thiện cũng như bất thiện được tích lũy từ tâm này qua tâm khác. Chính vì thế mọi người rất khác nhau. Ở thời Đức Phật có rất nhiều người đến nghe Đức Phật giảng. Một số vị đạt A la hán quả, một số vị đạt Thánh Bất lai, một số vị đạt Thánh Nhất lai, một số vị đạt Thánh Dự lưu và một số thì không có sự chứng đắc nào cả. Việc chứng đắc tùy thuộc vào trí tuệ đã tích lũy hiểu được chừng nào những gì Đức Phật dạy, chứ không dựa trên ý niệm riêng của mình hay của một người khác không phải là Đức Phật. Kể cả ở thời Đức Phật còn tại thế, cũng có rất nhiều tà kiến hiện hữu, và cũng không có ai có thể thay đổi tà kiến của những người ấy. Một trong những vị thầy lớn đương thời ở rất gần nơi cư ngụ của Đức Phật, nhưng cũng không bao giờ đến nghe Đức Phật giảng pháp. Thời đó có sáu người đứng đầu sáu trường phái triết học khác nhau và một trong số đó không bao giờ đến nghe Đức Phật giảng pháp. Chúng ta có thể thấy rằng, trong bất cứ cộng động nào luôn có những người không bao giờ đến nghe Đức Phật giảng pháp. Họ không thể tiếp nhận những luồng tư tưởng khác với các ý niệm mà họ bám chặt vào. Mặc dù Đức Phật thuyết giảng ở nhiều nơi khác nhau, nhưng những người không có tích lũy để nghe Ngài vẫn không tham dự.

Đức Phật dạy rằng, thật ra là chúng ta sống một mình. Hiện giờ chúng ta có một mình không? Nếu có hiểu biết đúng thì sẽ thấy rằng không có ai cả nếu không có suy nghĩ. Cái thấy không biết có ai ở đây. Cái thấy là một yếu tố mà không thể sinh khởi nếu không có nhãn căn, mặc dù bây giờ nhãn căn chưa phải là đối tượng của chánh niệm và hiểu biết, nhưng chúng ta có thể thấy rằng nếu không có thực tại có thể tiếp xúc với đối tượng được thấy (đối tượng thị giác- cảnh sắc) thì không thể có nhãn thức sinh khởi để có cái thấy. Vậy tôi nằm ở đâu trong này? Cakkhu pasādasắc thần kinh ở mắt, hay còn gọi là nhãn căn, là một thực tại nằm ở giữa mắt, bản thân nó không biết gì cả, nó không thể thấy nhưng có thể tiếp xúc với đối tượng thị giác, tức là cái có thể được thấy, và nó tạo duyên cho nhãn thức sinh khởi. Vậy có thể nói là mắt của tôi không? Đối tượng thị giác hiện giờ có phải là sắc của tôi không? Tâm là yếu tố dẫn đầu trong việc nhận biết, khi có duyên cho nó sinh khởi thì nó sinh khởi, nó có phải là tôi hay là ta không? Hay nó chỉ là một khoảnh khắc của cái có thể kinh nghiệm một đối tượng, nó sinh và diệt.

Nếu không có ai từng chứng ngộ sự thực mà Đức Phật đã thuyết giảng dạy thì cũng không có ai có thể được coi là savaka -Thanh văn đệ tử phật. Khi Đức Phật giảng bài kinh đầu tiên, một trong số những người nghe bài pháp này đã có đủ tích lũy để xuyên thấu sự thật mà Đức Phật nói tới và đã trở thành một vị Tu đà hoàn. Cái đó có phải là thực hành không? Nó có giống như cái chúng ta vẫn coi là thực hành- thiền đi, thiền ngồi – hay không? Dù ta đang ngồi tư thế nào, đang đi hay đang làm gì, nếu không có hiểu biết thì không phải là theo lời dạy của Đức Phật. Nếu chúng ta nghe đi, nghe lại và cứ tiếp tục nghe để phát triển hiểu biết một cách dần dần, đến khi trở nên vững chãi, khi đó gọi là sacca nanāṇa – hiểu biết rõ ràng về Tứ đế. Đức Phật dạy nhiều khía cạnh khác nhau để giúp những người có ít hiểu biết suy xét về những thứ đó, để thấy được sự thật về mức độ trí tuệ của mình.

Khi có rất ít hiểu biết, nó có thể tạo duyên cho những suy nghĩ che lấp hiểu biết đúng hay suy nghĩ chân chánh. Giáo lý và các thực tại mà Giáo lý đề cập tới là vô cùng vi tế. Nếu ta có hiểu biết đúng về sự vi tế của các thực tại, sẽ giảm bớt sự dính mắc vào việc chứng đắc hay muốn đạt được gì đó ngoài việc hiểu biết thêm về các thực tại. Bất cứ khoảnh khắc nào không có hiểu biết sẽ không phải là con đường dẫn tới sự giác ngộ. Cái ta gọi là giác ngộ không chỉ là việc hiểu khi nghe. Nghe và hiểu một chút mới chỉ là sự khởi đầu của con đường phát triển đúng đắn. Nó vẫn chưa phải là sự xuyên thấu trực tiếp bản chất của thực tại, nhưng nó là sự khởi đầu hiểu biết về vô ngã, để hiểu biết có thể phát triển thêm nữa.

Có rất nhiều câu chuyện về các đệ tử Thanh văn của Đức Phật. Họ đã phát triển Tuệ giác trong rất nhiều kiếp sống, đúng hơn là trong nhiều đại kiếp. Hiện giờ hiểu biết của chúng ta ở mức độ nào đây? Chúng ta cứ hi vọng, cứ mong muốn, cứ làm một cái gì đấy thay cho việc hiểu về cái đang xuất hiện hiện giờ. Đó không phải là những gì mà Đức Phật đã dạy về việc phát triển hiểu biết về cái đang xuất hiện hiện giờ, để khởi đầu cho con đường phát triển tuệ giác trực tiếp về thực tại. Nếu như có sự sinh khởi của tuệ giác về sự sinh diệt của thực tại, khi đó sẽ không còn hoài nghi về vô thường, khổ, vô ngã. Nếu không có sự trợ giúp của các Ba la mật, sẽ không có sự xuyên thấu bản chất của các thực tại đang xuất hiện hiện giờ. Chúng ta cần phải rất chân thực, tại sao chúng ta nghe giáo lý của Đức Phật? có phải là để đi đến một nơi nào đấy để ngồi thiền? Bất cứ khoảnh khắc nào có hiểu biết đúng, khi đó đã là sự phát triển của tuệ giác rồi. Mỗi một từ mà đức Phật đã dạy lại dẫn tới thêm hiểu biết và trí tuệ. Vậy khi nào còn ý niệm phải tới một nơi nào đấy và ở một thời điểm nào đấy,  lúc đó vẫn chưa phải là sacca ñāṇa, nếu không có sacca ñāṇa, thì không thể nào có được kicca ñāṇa (hiểu biết về phận sự của Tứ đế)- cái mà ta gọi là thực hành (pattipati); về bản chất kicca ñāṇa chính là trí tuệ đảm nhận chức năng của mình cùng với các tâm sở tịnh hảo khác, cùng với tàmquý. Hiện giờ có tàmquý hay không? Ở khoảnh khắc có sự lắng nghe để hiểu một cách tôn trọng thì khi đó có tàm (hiri), nó xấu hổ với việc nghe mà không hiểu. Nhưng ai biết được nó đang có đó hay không? Có nhiều mức độ của chánh niệm khác nhau, nếu nói đến con đường Bát Chánh Đạo, chánh niệm luôn luôn phải đi kèm với trí tuệ – hiểu biết đúng. Khi có những kinh nghiệm kỳ lạ xảy ra, bắt đầu có hoài nghi không biết đấy có phải là tuệ giác hay không? Và cái đó tạo duyên cho sự dính mắc

Học viên 9:   Con không hiểu về bài kinh thứ hai của Đức Phật sau khi Ngài chứng đắc, có nói về vô thường, khổ và vô ngã. Con không hiểu nhiều về vô ngã, giữa cái ngã và vô ngã. Con chỉ hiểu về như người thế gian vẫn hiểu. Xin Achaan giải thích ý nghĩa vi tế hơn cho con được rõ.

Jonathan:     Từ ba ngày nay thì chúng ta đã nói về phamma- pháp. Và pháp là điều Đức Phật đã dành 45 năm thời gian hoằng pháp của mình để nói về. Có lúc Đức Phật dạy pháp là uẩn, có lúc Đức Phật gọi đó là giới –dhatu, có lúc Đức Phật gọi đó là xứ. Dù Đức Phật có dùng từ nào, hay cách phân loại nào, Ngài luôn nói rằng các pháp đó là vô thường- aniccam, là khổ- dukkham, và là vô ngã –anatta. Để hiểu về vô thường, khổ, vô ngã, chúng ta cần phải hiểu dhamma – pháp. Chứ không chỉ có ý niệm vô ngã một cách chung chung và trìu tượng. Bao giờ cái hiểu đúng về vô ngã cũng gắn với cái hiểu về pháp là vô ngã.

Chẳng hạn bây giờ đang có cái thấy và đang có đối tượng thị giác- đối tượng của cái thấy. Tất cả những cái đó đều là pháp. Cái thấy không phải là Ta, đối tượng thị giác cũng vậy cũng không phải là Ta. Nhưng hiểu biết về cái pháp đó, về cái thấy đó là vô ngã cần phải được phát triển. Vậy bước đầu tiên là phải hiểu pháp chỉ là pháp. Ở khoảnh khắc hiện tại có những pháp như cái thấy và đối tượng thị giác, âm thanh và cái nghe, nhưng vẫn chưa có cái hiểu về những khoảnh khắc hiện tại chỉ là các pháp sinh khởi mà thôi.

Achaan:         Cái thấy có phải là pháp không?

HV 9:             Phải ạ.

Achaan:         Tại sao bạn lại nói đó là pháp? Đừng chỉ vì được nghe nói như vậy, Cái gì hiện giờ ở đó? Hãy nói gì về cái đó đi. Hay là chẳng có cái gì cả? Bây giờ đang có cái gì nào? Ai muốn nói ?

Học viên 2:    Hiện giờ có nhãn căn, có đối tượng thị giác.

Achaan:         Hiện giờ đang có suy nghĩ đúng không?

HV 2:             Đúng như vậy, đang có suy nghĩ.

Achaan:         Tại sao bạn không nghĩ giống như là bạn kia? Rõ ràng hai người có suy nghĩ khác nhau là bởi vì các suy nghĩ cũng đều được tạo duyên. Nếu không có suy nghĩ, liệu có thể có các câu chuyện dài hay không? Suy nghĩ có phải là pháp không? Có, bởi vì suy nghĩ là thực, cái thấy cũng là thực, tất cả những thực tại đó trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta đều là thực và khác nhau, cái thấy không phải là cái nghe, bởi vì cái thấy không thể nghe, còn cái nghe không thể thấy. Cái thấy phải sinh và diệt rồi thì sau đó cái nghe mới có thể sinh khởi. Khi có một chút hiểu biết về sự xuất hiện ngắn ngủi của các thực tại, khi ấy sẽ hiểu rằng chúng không mang lại sự toại nguyện, không mang lại lạc thú, vì có ích gì đây khi nó xuất hiện và biến mất chỉ trong khoảnh khắc? Và đó chính là Khổ. Cái còn lại chỉ là vô minh và dính mắc.

Cái xuất hiện hiện giờ là thế giới bên ngoài, thế còn thế giới ở bên trong thì sao? Thế giới ở  đằng sau cái xuất hiện như là con người và mọi thứ ấy là gì?

HV 2:             Khandhā- Uẩn

Achaan:         Đúng, nếu là ngôn từ thì là Khandhā. Khi ta sử dụng từ đó thì đã có nghĩa là ta thực sự hiểu về nó chưa? Trước khi nghiên cứu giáo lý, chúng ta có thể nói về những thứ thậm chí chúng ta không hiểu.

Học viên 1:  Để trả lời câu hỏi của Achaan thì câu trả lời là tất cả những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm,  tất cả những cái sinh khởi như vậy đều là pháp, và cuộc sống thì hoàn toàn chỉ có pháp mà thôi.

Achaan:         Đúng rồi, nhưng đó không chỉ là ngôn từ, mà thực sự là những thực tại đang xuất hiện và có đặc tính riêng. Không nhất thiết phải có những từ đó thì mới có thể hiểu được các thực tại ấy. Thực tại đó là thực tại kinh nghiệm. Nhưng chúng ta cần phải có các từ để giao tiếp, chẳng hạn để nói về cái thấy, vì cái thấy thì không phải là cái nghe, chúng là những thực tại khác nhau. Chúng ta không cần phải nhắc đi nhắc lại “thấy, thấy” hay “nghe, nghe”, thấy và nghe đã xảy ra rồi. Nhưng cần phải hiểu rằng bản chất không nằm ở ngôn từ mà ở đặc tính của các thực tại ấy.

Làm sao bạn có thể biết được rằng âm thanh là thực?

Ai đó trả lời: Tôi đang nghe.

Achaan:         Nếu không có cái nghe thì ai biết được âm thanh là thực? Âm thanh có phải là uẩn không?

Học viên 9:   Không phải ạ.

Achaan:         Vậy ý nghĩa từ uẩn là gì? Ý nghĩa của từ Uẩn là cái sinh rồi diệt và không phải là tự ngã.

Học viên 2:    Âm thanh là rūpa khandhā- Sắc uẩn.

Achaan:         Tại sao?

HV 2:             Bởi vì Đức Phật đã nói như vậy.

Achaan:         Nếu như Đức Phật không nói như vậy, thì nó có còn là sắc uẩn nữa hay không? Âm thanh là một thực tại là sắc, nó là thực tại không kinh nghiệm gì cả. Bất cứ thực tại nào không kinh nghiệm gì cả thì được gọi là sắc uẩn, để phân biệt với thực tại kinh nghiệm một cái gì đó mỗi khi sinh khởi. Đôi khi khandhā cũng được dịch là không gian (ākāsa). Bởi vì khi nó sinh và diệt và chẳng có gì còn lại thì nó cũng giống như không gian vậy, không có gì ở trong đó.

Vị sư 1:          Như Achaan mới nói bản chất của uẩn là sinh và diệt, cái gì sinh và diệt thì đều là uẩn. Sư có thắc mắc, vì theo lý thuyết thì uẩn được tạo nên bởi nghiệp, vậy những sắc pháp vô tri ví dụ đối tượng của cái thấy thì có thể được gọi là uẩn được hay không?

Sarah:            Vừa rồi Achaan có nói tất cả sắc như âm thanh, đối tượng thị giác thì đều là sắc uẩn. Nhưng không phải tất cả các sắc đều được tạo duyên bởi nghiệp mà cũng có những sắc được tạo bởi tâm, vật thực, thời tiết, có những nguyên nhân khác nhau để tạo sắc.

Bốn uẩn còn lại là những thực tại có thể kinh nghiệm một đối tượng. Trong bốn uẩn còn lại đó thì một số là quả của nghiệp và một số thì không phải là quả của nghiệp. Chẳng hạn nhãn thức- thức thấy hiện giờ, nó là thức uẩn và là kết quả của nghiệp. Sau khi nhãn thức diệt đi, lại có những tâm khác sinh khởi và suy nghĩ về cái được thấy, đó cũng là thức nhưng không phải là quả của nghiệp. Cũng tương tự như vậy, tâm ở khoảnh khắc của nhãn thức là quả của nghiệp thì những tâm sở đồng sinh như xúc, thọ, tưởng, nhất tâm v.v… cũng là quả của Nghiệp. Những tâm sở  thiện hoặc bất thiện sinh khởi sau cái thấy không phải là quả của Nghiệp.

Vị sư 1:          Sư có hiểu thêm một vài vấn đề. Tuy nhiên vẫn còn thắc mắc, chưa rõ được nghi ngờ. Sư muốn hỏi chẳng hạn bản chất của cái ly này có sinh và diệt hay không?

Sarah:            Cái mà chúng ta gọi là ly đó là gì về mặt thực tại, đó là uẩn nào?

Vị sư 1:          Đó là điều sư muốn hỏi, nó có thuộc về Sắc uẩn hay không?

Sarah:            Cái cứng hoặc đối tượng thị giác thì là sắc uẩn. Nhưng cái ly thì không phải là một thực tại mà là khái niệm, nó không sinh và diệt. Nếu không có suy nghĩ nghĩ về cái được thấy và được xúc chạm thì không thể có suy nghĩ về cái ly. Cái ly không thể được xúc chạm, không thể được thấy. Cái được xúc chạm là cái cứng, cái được thấy là đối tượng thị giác. Do vậy cái ly thì không phải là uẩn.

Vị sư 1:          Ý sư không phải nói đến cái ly mà là bản chất của cái ly tức là đối tượng được thấy, nó có sinh và diệt hay không?

Sarah:            Cái được thấy là sắc uẩn, đó là đối tượng thị giác, nó sinh và diệt. Vì nó sinh và diệt, nó là sắc uẩn, không phải là một cái gì đấy, không phải là tự ngã.

Người phiên dịch: Con xin phép hỏi sư, bởi vì câu này con đã từng hỏi Achaan, khi con hỏi như vậy Achaan có nói là “Làm sao biết được đây là cái ly?”

Vị sư 1:          Biết đó là cái ly thì phải có tưởng để biết rằng đó là cái ly.

Người phiên dịch: Để biết khái niệm về cái ly thì phải có đối tượng thị giác, phải có sự xúc chạm sinh khởi trước đó, đúng không ạ?

Vị sư 1:          Đúng

Người phiên dịch: Do đó bản chất thực sự của cái ly là các thực tại sinh và diệt, vì thế nó là uẩn.

Vị sư 1:          Trước giờ sư cứ nghĩ cái gì thuộc về uẩn là thuộc về cơ thể vật chất này còn những thứ bên ngoài chẳng hạn âm thanh cũng sinh và diệt nhưng nó không phải là sắc uẩn.

Sarah:            Có 28 loại sắc và 28 loại sắc đó bao gồm tất cả các thực tại có thể được thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, là những thực tại không kinh nghiệm gì cả, mà ta vẫn gọi là thân người hay bàn, ghế. Vừa nãy sư có nói “ngồi thiền khi đau có nên đứng dậy hay không?” Cái mà ta coi là thân thực chất là sắc. Nhưng không phải chỉ sắc của thân, mà bất cứ cái gì không kinh nghiệm thì đều là sắc, nhưng do sự dính mắc nên ta mới chỉ coi thân mình là sắc uẩn mà thôi. Trong phần niệm thân- kayanupassana trong Tứ niệm xứ không chỉ nói đến sắc của thân, mà còn nói đến các sắc mà ta vẫn nhầm tưởng là thân của tôi. Bởi lẽ, về mặt thực chất, khi có kinh nghiệm về sự xúc chạm, dù sự xúc chạm đó diễn ra ở đây – khi chạm vào tay mình-,  hay khi chạm vào cái bàn thì về mặt bản chất chỉ có kinh nghiệm sắc mà thôi, chứ không phải đây là chạm vào thân tôi còn kia là chạm vào cái bàn – đó chỉ là chế định. Chính vì vậy khi có ý niệm đây là thân của tôi đang đau, liệu tôi có cần phải cử động thân của tôi hay không, thì ở khoảnh khắc đó không có cái hiểu đúng về sắc chỉ là sắc, mà ngược lại có ý niệm là thân của tôi.

Vị sư 1:          Như vậy tất cả những gì thể hiện tính chất như cứng mềm nóng lạnh, chuyển động thì đều là sắc uẩn?

Sarah:            Đúng vậy. Khi chúng ta nói đến thọ khổ, và rằng bây giờ nên thay đổi tư thế để bớt đau thì khi đó có ý niệm về sự kiểm soát, nhưng điều đó không đúng với sự thực, bởi cái đau là một cảm thọ, nó được kinh nghiệm bởi thân thức và đó là quả của nghiệp quá khứ, nếu nghiêp là thiện thì quả của nó sẽ là thọ lạc trên thân, nếu nghiệp là bất thiện thì quả của nó sẽ là thọ khổ trên thân, không có ai có thể kiểm soát được.Thân thức là một thực tại hữu vi, là thức uẩn, không phải là tự ngã, không phải là ai cả. Thọ lạc hay thọ khổ cũng đều là thực tại hữu vi, những  uẩn do duyên tạo thành và không phải là ta, không ai có thể kiểm soát được.

Học viên 5:    Vừa rồi mới nói về sắc uẩn, tiếp theo con muốn được nghe chia sẻ về  danh uẩn. Ví dụ lúc mình đói bụng có cảm giác cồn cào nơi bụng thì có phải thuộc sắc uẩn, vậy còn cảm giác thèm ăn muốn ăn thì có phải là danh uẩn không?

Achaan:         Để có thể hiểu ý nghĩa từ uẩn một cách kỹ lưõng, tôi sẽ đặt câu hỏi thay cho việc trả lời ngay vào câu hỏi của bạn. Liệu khandhā – uẩn có thể được thấy không?

HV 5:             Không.

Học viên 2:   Có

Achaan:         Loại uẩn nào có thể được thấy?

HV 2:             Sắc uẩn.

Achaan:         Vậy cái gì trong sắc uẩn có thể được thấy, có phải là tất cả sắc uẩn được thấy không?

HV 2:             Chỉ đối tượng thị giác là có thể được thấy.

Achaan:         Âm thanh cũng là sắc uẩn, nhưng âm thanh không thể được thấy, chỉ duy nhất một sắc uẩn có thể được thấy, đó là đối tượng thị giác. Đó chính là cái đang xuất hiện hiện giờ đối với cái thấy trong khoảnh khắc này. Cái được thấy không thể kinh nghiệm gì cả, nó là thực, và đó là nghĩa của sắc uẩn. Sắc uẩn có thể được thấy hoặc không. Chẳng hạn như âm thanh, không ai có thể thấy âm thanh, nhưng âm thanh là thực Trong giấc mơ  đối tượng thị giác có xuất hiện không ?

Ai đó trả lời: Không

Achaan:         Bởi vì khoảnh khắc của giấc mơ thì không có cái thấy, không có đối tượng thị giác xuất hiện. Đó chỉ là sự nhớ tưởng về cái đã được kinh nghiệm, dù đó là âm thanh hay đối tượng thị giác hay cái gì khác. Những thực tại khác cũng là thực nhưng không thể là đối tượng của cái thấy. Chỉ có duy nhất một sắc là có thể được thấy, đó là đối tượng thị giác. Tất cả các sắc là các thực tại hữu vi đều sinh và diệt, chúng ta không cần gọi đó là uẩn với nghĩa một nhóm nào đó cụ thể, nhưng chúng ta cần phải hiểu bất cứ cái gi đã sinh thì phải diệt, và cái sinh và diệt thì đều là uẩn.

Cái nghe có phải là uẩn không? Hiện giờ đang có nhĩ thức, nó thuôc loại uẩn nào? Cái nghe có phải là sắc uẩn hay không? Nó là uẩn nhưng không phải là sắc uẩn. Bây giờ có nhĩ thức sinh khởi và nó kinh nghiệm một âm thanh, nó không thể làm nhiệm vụ nào khác, nó không thể thấy, không thể ngửi hay xúc chạm, nhưng nó nghe âm thanh và cũng sinh và diệt. Đau có phải là uẩn không ?

HV 2:             Có.

Achaan:         Tại sao?

HV 2:             Bởi vì nó cũng sinh và diệt

Achaan:         Đau là uẩn nào? Nó có phải là sắc uẩn không?

HV 2:             Nó là thọ uẩn.

Achaan:         Đừng vội đặt tên cho nó, chúng ta hãy suy xét về nó, chẳng hạn đau là thực đúng không? Nó thực nhưng nó sinh và diệt và không còn ở đấy nữa, do đó nó là uẩn. Khi cái đau đã diệt đi rồi thì nó ở đâu?

Vị sư 1:          Không thể nói nó ở đâu được.

Achaan:         Nó không ở đâu cả, khi không có duyên cho nó sinh khởi thì nó không có mặt. Chỉ ở khoảnh khắc được tạo duyên thì nó mới sinh khởi và rồi nó diệt đi, chính vì vậy nó là uẩn. Đau thì là thọ và không phải là sắc. Trước khi chia thành nhóm hay đặt tên nó là loại uẩn này hay uẩn kia thì chúng ta chỉ cần biết về sự khác nhau giữa danh uẩn và sắc uẩn mà thôi. Chúng ta không cần vội đi sâu vào thọ uẩn, trước hết hãy phân biệt cái nào là danh uẩn cái nào là sắc uẩn.

Bây giờ chúng ta sẽ bàn về đói, đói là uẩn nào? Đói thì dễ chịu hay khó chịu?

Vị sư 1:          Khó chịu.

Achaan:         Cái gì kinh nghiệm sự khó chịu đó? nếu không có yếu tố kinh nghiệm thì sẽ không thể có cảm nhận gì cả. Vậy cái gì kinh nghiệm nó? Khi cái đau xuất hiện, đối tượng của sự kinh nghiệm đó (cái cứng, mềm….) không xuất hiện. Khi chạm vào một thứ rất cứng thì có dễ chịu không?

Vị sư 1:          Không dễ chịu.

Achaan:         Ở khoảnh khắc đó có thọ khổ sinh khởi tức là đau sinh khởi. Chẳng hạn, khi ta chạm vào một lưỡi dao, trước khi kịp có ý niệm về lưỡi dao thì thọ đau đã khởi lên rồi. Thực tại sinh khởi làm nhiệm vụ cảm nhận thì khác với các thực tại khác như tưởng hoặc tác ý. Nó chỉ sinh khởi để cảm nhận đối tượng mà thôi. Cái bàn có thể đói được không? Vậy cái gì đói, thế nào là đói? Về bản chất, đó là một thực tại cảm nhận. Chúng ta gọi đó là đói. Ở khoảnh khắc cái đói sinh khởi, không phải là toàn thân đói, nó chỉ xuất hiện ở một số nơi cụ thể, nó không phải ở mắt, ở mũi hay ở tay. Tại sao Đức Phật lại dạy về tất cả những thứ này, là để chúng ta thấy rõ bản chất vô ngã của tất cả các pháp. Chúng ta có thể thực sự quy y Pháp khi hiểu rằng tất cả các pháp đều là vô ngã.

HV 5:              Như vậy cảm giác đói có phải là sắc uẩn không? Cái biết mình đang đói có phải là danh uẩn không?

Achaan:         Sự khác biệt giữa cái cứng ở trong thân và cái cứng ở bàn này là gì? Cái cứng không thể kinh nghiệm gì cả, dù ở đâu cũng thế, nó không thể cảm nhận. Chính vì vậy ta phải làm rõ sự khác biệt giữa sắc uẩn và danh uẩn. Vậy cái đói có phải là uẩn không?

HV 5:             Cái đói cũng là uẩn ạ.

Achaan:         Cái đói có phải là sắc uẩn không?

HV 5:             Cái cảm giác đói thì là sắc uẩn.

Achaan:         Sắc thì nó có thể cảm nghiệm gì không?

HV 5:             Cảm thọ khổ ạ.

Achaan:         Vậy cảm thọ khổ có phải là sắc uẩn không?

HV 5:             Cảm thọ khổ thì nó thuộc về danh uẩn. Dạ con đã hiểu rồi

Câu hỏi online: Bước tiếp theo chúng ta nên làm gì khi đã có hiểu biết đầy đủ ở mức độ lý thuyết về vô thường, khổ và vô ngã?

Achaan:         Tiếp tục thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm do duyên như thường lệ mà thôi.

Câu hỏi online: Làm thế nào để hiểu về tâm từ một cách đúng đắn và kinh nghiệm nó như nó là?

Achaan:         Chúng ta cần phải hiểu tâm từ là gì? Nó có thực không? Nó có phải là sân không? Hay nó là sự thân thiện? Bất cứ cái gì sinh khởi đều có đặc tính riêng của nó. Nhưng chúng ta không hiểu rằng đó chỉ là Uẩn mà thôi.

Câu hỏi online:        Xin bà cho lời khuyên đối với người cư sỹ, làm thế nào để giữ giới trong đời sống hàng ngày?

Achaan:         Câu hỏi thực sự phải đặt ra là sẽ giữ giới với ý niệm về ngã hay với sự hiểu biết đây? Thông thường thì bất cứ ai cũng có thể giữ giới nhưng vẫn có cái ý niệm rằng tôi giữ giới. Nhưng về bản chất, đó chỉ là một thực tại sinh khởi với hiểu biết rằng bất thiện pháp này sẽ mang tới những quả xấu, nó là bất thiện, nó không có lợi. Chính hiểu biết đó sẽ tạo duyên cho sự giữ giới, chứ không có ai ở đó cả. Một cách tuyệt đối, ai là người sẽ không bao giờ phạm phải ngũ giới đây?

Người phiên dịch: Một vị Tu đà hoàn.

Achaan:         Đúng vậy. Chúng ta có thể thấy rằng kể cả những khi không phạm tội ác lớn, nhưng những nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày, ví dụ như khi chúng ta chơi trò đá bóng có sử dụng những tiểu xảo khác nhau, đó cũng là bất thiện, đúng không? Dù là lừa đảo lớn hay ăn gian nhỏ thôi thì vẫn là bất thiện.

Chính vì vậy Đức Phật không ra lệnh cho mọi người không được sát sinh, mà Đức Phật dạy cho mọi người hiểu được hiểm họa của việc sát sinh để người đó hiểu và không còn sát sinh. Khoảnh khắc giữ giới có phải là khandha không? Đúng, bất cái gì sinh khởi cũng đều là khanda, giữ giới cũng là uẩn mà thôi. Ở khoảnh khắc có cái hiểu về vô ngã, khi chúng ta nói về khandha, bất cứ uẩn nào cũng là vô ngã. Kể cả khi chúng ta nói câu “ ngũ uẩn ngũ uẩn” nhưng thực chất ý niệm về tôi, về một cái ngã vẫn có đó. Cho nên khi chúng ta nói “sắc uẩn” chẳng hạn, cần phải hiểu thực sự sắc uẩn là gì, chỉ là uẩn thôi, hiểu rõ chứ không phải chỉ là ngôn từ.

Học viên 1:    Trước tiên con xin tri ân Achaan, trong suốt ba ngày qua những lời giảng của Bà đã mang đến những hiểu biết rất mới mẻ, những điều trước đây chúng ta đã từng học mà tưởng là đã hiểu, nhưng vẫn chưa hiểu một cách thực sự. Một số người đến với chương trình này với ý nghĩ là sẽ học một phương pháp nào đó để họ có thể tự thực hành. Nhưng rõ ràng cái điểm tóm tắt về những điều Achaan thuyết giảng đó là: Không thể có sự thực hành nếu không có hiểu biết; Không có phương pháp của ai đó ấn định mà thực chất đó là giáo lý phải được truyền dạy bởi một vị có thẩm quyền và hiểu biết sâu sắc về những lời dạy của Đức Phật; Giáo pháp phải được nghe và suy xét một cách chân thật để có thể tạo duyên cho những hiểu biết và những hiểu biết đó sinh khởi thì nó sẽ làm duyên cho hiểu biết ở mức cao hơn và dẫn đến sinh khởi của Trí tuệ. Nói một cách khác cái hiểu biết đó nó sẽ làm duyên cho sự phát triển của chánh niệm và Trí tuệ. Xin Achaan cho biết con hiểu như thế có đúng hay không?

Achaan:         Mặc dù là đúng nhưng hiểu biết phải rất chi tiết, chẳng hạn chúng ta nói về khandhā- uẩn. Không chỉ dùng từ “khandha” mà thôi, mà cần phải hiểu thực tại của khandha mà chúng ta đang nói tới, đặc tính của thực tại đó là gì.

HV 1:             Như vậy để hiểu được thì chúng ta cần phải phát triển hiểu biết về các đặc tính của các thực tại? Tức là trước khi chúng ta có thể hiểu về vô thường, vô ngã và khổ, nếu mà chúng ta không hiểu được đặc tính của các thực tại thì chúng ta sẽ không hiểu được vô thường, vô ngã và khổ.

Achaan:         Chỉ có một tâm kinh nghiệm một đối tượng ở một khoảnh khắc mà thôi, như vậy chỉ có một thực tại có thể là đối tượng của trí tuệ ở một khoảnh khắc. Ở khoảnh khắc của cái thấy, không có ai thấy, mà là tâm và tâm sở thấy, chúng sinh khởi để thấy đối tượng được thấy, và rồi chúng diệt đi. Hiểu biết phải rất chi tiết. Khổ đế là sự thật về tất cả các thực tại hữu vi. Tuệ giác có thể xuyên thấu sự sinh diệt của thực tại, chứ không chỉ đơn thuần nghĩ về nó mà thôi. Như vậy từ giờ trở đi, chúng ta không cần đi tìm pháp ở đâu cả, không cần đi tìm uẩn ở đâu cả, bởi vì bây giờ đang có uẩn, đang có pháp, nhưng không có hiểu biết đúng về những gì đang sinh khởi. Như vậy chỉ cần tiếp tục nghiên cứu và lắng nghe để hiểu hơn một cách đúng đắn về tất cả những gì đã có sẵn hiện giờ. Mặt trăng là gì nào? Mặt trăng xuất hiện đối với cái thấy chứ không thể xuất hiện đối với sự xúc chạm đúng không? Nhưng vì nó là đối tượng được thấy, nó là thực. Vậy thì nó là uẩn nào đây?

Ai đó trả lời: Rupa khandhā.

Achaan:         Mặt trăng không thể cảm nhận, không thể kinh nghiệm, vì vậy nó là sắc uẩn. Nó có cứng không? Mặc dù chúng ta không thể chạm vào nó nhưng chúng ta hiểu rằng nếu không có tứ đại, sẽ không thể có cái được thấy, bởi vì đối tượng thị giác luôn sinh khởi với tứ đại. Mặt trăng cũng là cứng mềm nhưng mà ta không thể chạm vào nó. Ngoài ra, cùng sinh khởi với tứ đại còn có những sắc khác như dưỡng chất, mùi, vị luôn luôn sinh khởi cùng nhau không bao giờ tách rời.

Sadhu sadhu sadhu!            

, , , , , , ,

Pháp đàm với các vị sư buổi chiều ngày 02-09-2013

6/ Pháp đàm phụ với các vị sư buổi chiều ngày 02.09.2013

 

Achaan:         Hiện giờ đang có cái thấy. Đức Phật biết rõ thực tại này bởi vì lúc nào cũng có cái thấy: nhiều năm trước, nhiều kiếp trước và trong tương lai vẫn vậy. Bây giờ chúng ta có thể nghĩ về cái thấy, tất cả mọi người đều có thể nghĩ về cái thấy, nhưng nó là gì? Có cái thấy nhưng ai tạo ra cái thấy? Nó không thể sinh khởi do ý chí, phải có duyên để cho chúng sinh khởi. Nếu không có nhãn căn, không có đối tượng được thấy thì không thể có nhãn thức sinh khởi bây giờ. Bất cứ khi nào ta mở mắt thì cái được thấy đã ở đó rồi. Ta luôn có ý niệm về cái được thấy, nhưng trước khi có suy nghĩ hay ý niệm về cái được thấy thì nó đã có ở đó rồi. Khi ta mở mắt, ở khoảnh khắc ấy không thể nói là không có gì cả. Cái xuất hiện lúc đó chỉ là một thực tại, dù ta không đặt tên hay gọi nó là một cái gì đó. Nó khác với cái thấy, nó là cái được thấy hiện giờ. Vậy hãy hiểu thực tại ngay chính lúc này đây. Nhưng cần phải có thời gian để thấy được rằng tất cả những gì xuất hiện không phải là gì khác ngoài các thực tại khác nhau. Nhưng nếu không dùng ngôn từ, người khác sẽ không thấy được sự khác biệt giữa các thực tại ấy. Chính vì vậy ta có từ  “cái thấy”, nhưng dù chúng ta dùng từ trong ngôn ngữ nào đi nữa thì vẫn để chỉ tới thực tại đó mà thôi. Ngôn từ của bất cứ ngôn ngữ nào không thể thay đổi đặc tính của cái thấy hiện giờ, cũng như không thể thay đổi đặc tính của cái được thấy. Khi ta mở mắt, trong tích tắc đã có ý niệm về cái được thấy là gì. Tuy nhiên, khoảnh khắc của cái thấy không giống với khoảnh khắc có suy nghĩ về cái được thấy. Hiểu vậy chính là hiểu biết đúng về vô ngã, rằng không có ai ở đó cả. Nếu không sẽ không có cách nào hiểu được bản chất của cuộc sống, hay của thế giới, hay bất cứ thứ gì theo nghĩa tối hậu.

Vị sư 2:          Sư muốn nói về kinh nghiệm khi sư thực hành thiền, có khoảnh khắc dường như sư có thể kinh nghiệm sự tiếp nối của thực tại nhưng không có hiểu biết ở đó, như vậy có phải là thực hành đúng không?

Achaan:         Hãy quên những gì không có hiểu biết trong đó. Vì ngoài hiểu biết, cái còn lại đó thật ra là sự dính mắc vào kinh nghiệm và vào cái gọi là “tôi”. Bởi vì hiện giờ  kinh nghiệm đó đã qua rồi. Cái có thể được hiểu là những gì đang xuất hiện trong hiện tại. Hiện giờ ai đang suy nghĩ về kinh nghiệm trước đây đã qua? Và hiện giờ đang không có hiểu biết rằng cái đó đã qua rồi. Cũng giống như khoảnh khắc trước đây thôi, nó đã diệt đi rồi không còn nữa. Đây chính là cách để có được sự  xả ly với những dính mắc vào đủ loại đối tượng. Bất cứ khi nào có vô minh và dính mắc, sẽ không có sự xả ly. Bất cứ lúc nào có trí tuệ, khi ấy cũng có sự xả ly. Chúng ta phải luôn nhớ điều này, nếu không dính mắc sẽ lại luôn có mặt. Bất cứ khi nào có sự dính mắc nhưng ngay sau đó có trí tuệ sinh khởi, trí tuệ sẽ hiểu rằng dính mắc đó là không đúng đắn.

Vị sư 2:          Trong sự thực tập có những câu thường được nghe nhắc nhở như “đây không phải là tôi”, “không có ai cả”, “đó chỉ là cái thấy”, khi đó nên thực hành như thế nào cho đúng?

Achaan:         Khi sư nói đến thực hành cho đúng, thì hàm ý của sư với từ “thực hành” là gì?

Vị sư 2:          Đó chỉ là cái tâm nó tự động suy nghĩ như vậy.

Achaan:         Chừng nào chưa có hiểu biết ở khoảnh khắc này thì hiểu biết chưa thể được phát triển. Không ai có thể vội vã hiểu nhiều hơn là cái mà ta đang hiểu hiện giờ. Nó cần phải được bắt đầu từ khoảnh khắc này rồi mới đến khoảnh khắc khác. Từng chút một, một cách rất từ từ, ở bất cứ lúc nào. Không phải chỉ riêng cái thấy, mà cả khoảnh khắc sư nói đến, suy nghĩ đó cũng không phải là ta. Chính vì thế nghiên cứu giáo lý là vô cùng cần thiết. Nếu không mỗi người sẽ lại có những ý niệm riêng của mình.

Vị sư 2:          Việc học và nghe pháp sẽ dẫn đến có chánh niệm. Vậy thì việc có chánh niệm thì chỉ phụ thuộc vào việc nghe và học pháp hay sao?

Achaan:         Nếu không phải là như vậy thì ta đi theo cái gì đây? Chúng ta đã nghe rất nhiều về vô minh; theo thập nhị nhân duyên, vô minh sẽ tạo duyên cho hành, nhưng chúng ta lại không hề hiểu gì về vô minh trong khi bây giờ đang có vô minh. Chúng ta vẫn tiếp tục nói về vô minh, nhưng nó có mặt ở bất cứ thời điểm nào không có hiểu biết và có bất thiện pháp. Bây giờ có thể có cái hiểu về vô minh. Còn khi có hoài nghi về vô minh là gì và nó ở đâu, ở khoảnh khắc đó không có hiểu biết đúng. Hiểu thế nào là vô minh cũng là bắt đầu của hiểu biết. Nếu chúng ta không biết rõ về vô minh thì làm sao chúng ta có thể thoát khỏi vô minh đây? Để có thể tận diệt được các bất thiện pháp thì cần phải có hiểu biết đúng về cái đang có mặt. Với sự khởi đầu của hiểu biết về vô minh, trí tuệ sẽ dần dần biết được sự khác biệt (giữa khoảnh khắc có vô minh và khoảnh khắc không có vô minh).

Vị sư 2:          Như bà thường dạy, phải biết khoảnh khắc hiện tại là vô ngã. Vậy còn về vô thường và khổ?

Achaan:         Hiện giờ chỉ có cái thấy hay có cả những thực tại khác? Ở khoảnh khắc của cái nghe, sẽ không có cái thấy, đúng không ? Điều đó có nghĩa rằng cái thấy sinh và diệt trước khi cái nghe sinh khởi, và rồi lại không có cái nghe nữa. Đây chính là sự vô thường của các thực tại, và tuệ giác hiểu rằng cần phải có một thực tại sinh và diệt đi để rồi các thực tại khác lại sinh khởi, và hiểu biết ấy sinh ra là bởi do duyên chứ không phải do cái gì khác. Bình thường mọi khoảnh khắc đều như vậy, nhưng nếu không có giáo lý thì ai biết được những điều ấy đây?

Vị sư 2:          Vậy còn về Khổ?

Achaan:         Tương tự, chúng ta hãy suy xét về các thực tại, chẳng hạn như cái thấy, nó sinh khởi trong một thời gian vô cùng ngắn ngủi và rồi lại diệt đi. Vậy có hữu ích gì đây khi một thứ chỉ sinh khởi trong thời gian vô cùng ngắn ngủi, rồi lại diệt đi, không bao giờ quay trở lại?

Vị sư 2:          Ý bà nói về sự bất toại nguyện, về Khổ?

Achaan:         Đó chính là Tứ diệu đế thứ nhất – Khổ đế. Tứ diệu đế là để nói đến tất cả các thực tại hữu vi sinh và diệt. Thực tại kinh nghiệm Niết bàn hiện giờ chưa sinh khởi. Vậy chưa ai hiểu được kinh nghiệm của khoảnh khắc đó. Bất kể đối tượng là gì thì thực tại sinh khởi và kinh nghiệm đối tượng  ấy đều diệt đi, chính vì vậy không phải lúc nào cũng có tâm siêu thế.

Vị sư 2:          Ngoài việc nghe pháp, còn có nguyên nhân nào khác để chánh niệm sinh khởi không?

Achaan:         Ngoài việc nghe, cần phải suy xét về những gì được nghe một cách rất thường xuyên cho đến khi sinh khởi cái hiểu thực sự về cái được nghe. Chính vì vậy trong kinh điển có nói đến 3 mức độ khác nhau của Trí tuệ , tức là Văn tuệ – Sutta mayapanna , Tư tuệ- Citta mayapanna , Bhavana mayapanna – Tu tuệ. Như đại đức Ananda, ngài đã nghe Đức Phật giảng pháp, nhưng không chỉ nghe mà còn suy xét rất nhiều về những gì được nghe và sau đó, nói lại cho những người khác về những gì được nghe. Vì vậy, Ngài được gọi là Pahu Sutta, người đã nghe nhiều, và Pahu Sacca là người đã nghe đúng.

Chỉ nghe pháp thôi thì chưa đủ. Nếu chỉ nghe một hay hai từ thôi cũng chưa đủ. Hiểu biết cần phải rộng hơn và sâu hơn. Chỉ một từ Dhamma- Pháp thôi đã bao trùm tất cả. Bởi vì dhamma – pháp là bất cứ cái gì là thực, cho nên bất cứ cái gì là thực cũng là dhamma – pháp. Hiện giờ có ai có thể nói là mình đã hiểu dhamma một cách sâu sắc và rõ ràng hay không? Chính vì vậy chúng ta vẫn cần phải tiếp tục nghe, nghiên cứu. Kể cả các vị A la hán vẫn còn tiếp tục nghe Đức Phật thuyết giảng, các Ngài vẫn tới gặp Đức Phật. Bởi vì các vị biết rằng Tuệ giác của các vị không lớn, không vĩ đại như Đức Phật.

Vị sư 2:          Sư muốn biết thêm ý nghĩa của Tu tuệ.

Achaan:         Từ Bhavana ở đây có nghĩa là sự phát triển, đó là phát triển hiểu biết đúng, nếu nói đến phát triển, có nghĩa là nó phải phát triển một cách từ từ, nó lớn mạnh một cách từ từ, từ kiếp này sang kiếp khác.

Người phiên dịch: Như vậy Bhavana- Tu tập có phải là ai đấy đang làm cái gì đấy không ạ?

Achaan:         Nếu cho rằng đó là “ai đấy làm một cái gì đấy” là sai, nó có nghĩa là chỉ hiểu đúng mà thôi. Hiện giờ tất cả mọi người đang làm một cái gì đấy, đúng không? Nếu theo nghĩa chế định, tất cả mọi người đều đang thấy, mặc dù không cần phải cố để thấy. Bây giờ đang có cái nghe mặc dù chẳng ai phải cố gắng để nghe. Như vậy chẳng ai có thể làm cái gì cả, nhưng tất cả những thực tại ấy đều có thể được hiểu. Đây chính là con đường đúng, con đường Chánh đạo.

Chi thứ hai của Bát chánh đạo là vitaka- tâm sở tầm, vẫn được dịch là Chánh tư duy. Bản thân vitakka –tâm sở tầm cũng có nhiều giai đoạn khác nhau, thông thường ta mới chỉ hiểu được một khía cạnh nhỏ của tâm sở tầm. Nhưng tính chất của vitaka đã sinh khởi trước khi có cái mà chúng ta vẫn gọi là suy nghĩ – tư duy.  Chánh tư duy và Tư duy khác nhau. Vitakka không sinh khởi với các tâm quả như thấy- nghe- ngửi -nếm- xúc chạm. Thông thường vitakka sinh khởi ngay sau khi các tâm quả thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm đó diệt đi. Bây giờ có lúc có âm thanh, rồi không có âm thanh, rồi lại có âm thanh, vitakka đã sinh khởi trước khi âm thanh diệt đi rồi. Tại sao Đức Phật lại dạy về tất cả những điều này? Đức Phật dậy điều ấy để những ai có tà kiến suy xét và hiểu được rằng không có ai cả mà tất cả chỉ là các thực tại sinh khởi, đảm nhận chức năng của mình rồi lại diệt đi. Ở khoảnh khắc của suy nghĩ, thực tại khi đó là gì? Vẫn không có ai cả, từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, từ kiếp này sang kiếp khác. Nếu không phải vậy, chúng ta có thể nói Đức Phật đã giác ngộ gì đây? Nếu Đức Phật không biết về tất cả những thực tại hiện giờ thì Đức Phật biết về cái gì đây? Vậy sự giác ngộ đó là về cái gì? Nhưng Đức Phật đã giác ngộ bởi vì Ngài biết về tất cả những cái gì là thực hiện giờ.

Vị sư 2:          Khi đã hiểu rằng tất cả các thực tại đều là vô ngã thì tại sao Đức Phật lại chế ra giới sám hối cho các chư tăng. Bởi vì sám hối nghĩa là về những việc đã làm trong quá khứ.

Achaan:         Không phải chỉ có các vị tỳ kheo mà tất cả các chúng sinh đều có  những khoảnh khắc thấy, nghe, của thiện và bất thiện. Là một vị tỳ kheo không có nghĩa rằng  không còn phiền não nữa. Nhưng sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, ta bắt đầu biết được những tích lũy riêng của mình, để xác định việc sẽ tiếp tục phát triển hiểu biết dưới hình thức của một vị tỳ kheo hay là một người cư sỹ. Khi quyết định trở thành một vị tỳ kheo, ta phải biết rõ sự khác biệt của việc sống cuộc đời của một vị tỳ kheo và của một cư sỹ tại gia. Lúc khởi đầu (khi đức Phật mới thành lập Tăng đoàn), không hề có các giới luật của các vị tỳ kheo. Khi một số vị tỳ kheo không giữ được cuộc sống phạm hạnh thì Đức Phật mới bắt đầu chế ra các giới. Trước khi thiết lập một giới luật, Đức Phật tập hợp các vị tỳ kheo và hỏi ý kiến các vị là liệu có lợi ích không, có phù hợp không để chế ra các giới đó. Và mỗi giới luật đều được sự tán đồng của tất cả các vị tỳ kheo ở thời điểm ấy. Như vậy bất cứ ai muốn trở thành một vị tỳ kheo cần phải biết rằng liệu mình có giữ được giới hay không? Vì vậy các vị tỳ kheo sẽ tự biết khi những gì mình làm là phạm giới. Nhưng Đức Phật có rất nhiều bi mẫn, Ngài biết rằng mọi người vẫn còn nhiều phiền não, chính vì vậy có những mức độ khác nhau trong cuộc đời của một vị sư. Điều ấy cho phép các vị tỳ kheo có thể sám hối với mục đích không còn tái phạm nữa. Như vậy cuộc đời của các vị tỳ kheo thật sự rất thanh cao và đáng được kính trọng trong quyết định trở thành một vị tỳ kheo của mình. Nếu như  một vị sư nào đó phạm trọng giới thì Đức Phật gọi là ác Tỳ kheo. Nghĩa tương ứng của nó là “người ăn trộm” bởi khi họ không xứng đáng với phạm hạnh của một vị tỳ kheo thì cũng giống như là đã ăn trộm vật thực cúng dường của các thí chủ. Ngài dùng từ đó để giúp cho các vị tỳ kheo thực sự hay biết về ý nghĩa của việc trở thành một vị tỳ kheo.

Bây giờ chúng ta quay về với Vitakka, ở mỗi khoảnh khắc sau cái thấy, cái nghe v.v… đã có Vitaka- Chánh tư duy, một trong các chi của Bát chánh đạo. Và như vậy thì không có ai làm gì, không có ai thực hành Bát chánh đạo. Chỉ có các tâm và các tâm sở sinh khởi và đảm nhận chức năng của chúng mà thôi. Ở khoảnh khắc ta nghĩ “tôi đang làm cái này”, về mặt bản chất chỉ có tâm sinh khởi và suy nghĩ. Kể cả ở khoảnh khắc này, thân đang ngồi, nhưng sẽ đứng dậy chỉ khi tâm muốn như vậy. Thân không thể biết gì cả, nó không thể kinh nghiệm gì cả, nó thậm chí cũng không biết tâm suy nghĩ cái gì. Thân không thể cử động hay làm bất cứ gì trừ phi có tâm sinh khởi muốn cử động, muốn làm việc này việc kia. Chính vì vậy thân là một thực tại không kinh nghiệm gì cả, còn tâm là thực tại có khả năng kinh nghiệm. Bất cứ khi nào tâm sinh khởi thì nhiệm vụ của nó là kinh nghiệm một cái gì đó, còn thân thì không thể kinh nghiệm một cái gì cả và chúng khác nhau. Chúng ta dùng hai từ khác nhau “danh” và “sắc” bởi đặc tính của chúng khác nhau. Hiện giờ đang có danh và sắc. Sắc là thực tại không kinh nghiệm gì cả, dù nó là cứng hay mềm hay một tính chất nào đó, thì nó cũng không kinh nghiệm gì cả. Chúng ta gọi đó là sắc. Danh – thực tại có khả năng kinh nghiệm đối tượng bao gồm hai loại: Thực tại dẫn đầu trong việc kinh nghiệm một đối tượng gọi là tâm; những thực tại làm nhiệm vụ nhớ lại, thích hay là không thích v.v… được gọi là tâm sở. Hiện giờ về thực chất, chỉ có các thực tại đang sinh khởi và diệt đi rất nhanh do những duyên riêng của chúng. Ở khoảnh khắc không có hiểu biết, lúc đó là vô minh. Nếu không chúng ta sẽ không thể thấy được vô minh trong một ngày là rất nhiều, ở bất cứ khoảnh khắc nào không có thiện pháp. Khi chúng ta lắng nghe Giáo pháp của bậc giác ngộ và có hiểu biết thì ở khoảnh khắc đó thì không có vô minh, bởi vì với hiểu biết không sinh khởi cùng với vô minh. Càng có thêm hiểu biết thì càng bớt vô minh. Đó chính là quá trình phát triển hiểu biết đúng. Trí tuệ là thực tại tốt nhất trong tất cả các thực tại hữu vi. Nó có thể hiểu được bất kỳ những gì xuất hiện trong hiện tại, một khi nó được phát triển tới mức độ đó. Nhưng khi trí tuệ vẫn chưa đạt được tới mức độ đó thì khoảnh khắc hiện giờ vẫn chỉ là khoảnh khắc của phát triển trí tuệ để dần dần nó có thể đạt được mức độ ấy. Tiến trình ấy diễn ra từ từ, cũng giống như việc ta cầm chuôi một con dao vậy. Kể cả khi dấu ấn tay của ta không thể hiện trên cán dao nhưng một ngày nào đấy cán dao sẽ bị mòn đi. Chính vì lý do đó, các vị tỳ kheo đi theo Đức Phật bất cứ khi nào Ngài di chuyển để họ có thể được nghe Pháp từ Ngài. Sau khi nghe, mỗi một người lại có những suy xét khác nhau. Chính vì vậy mỗi người lại có thiên hướng hay năng lực ở những khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn có vị là đệ nhất (thượng thủ) thần thông, có vị là đệ nhất trí tuệ, v.v….

Vị sư 1:          Khi có ý nghĩ kiểm tra xem trong hiện tại có chánh niệm không hay nó đang chánh niệm về đối tượng gì, phải chăng ngay khi nghĩ như vậy là đã rời khỏi chánh niệm?

Achaan:          Bất cứ khoảnh khắc nào không có hiểu biết, khoảnh khắc ấy đều là không có chánh niệm. Đức Phật dạy chúng ta về bản chất của chánh niệm, chánh niệm là gì? Cũng như là Đức Phật đã dạy về những thực tại như cái nghe, tàm, quý v.v… Chánh niệm là một thực tại thiện và nó sinh khởi với tất cả những tâm thiện. Khi nghe pháp nếu ở khoảnh khắc có cái hiểu đúng thì ngay tại khoảnh khắc đó đã có chánh niệm rồi.  Ở khoảnh khắc của bố thí, ở đó có chánh niệm, nó biết về thiện pháp. Chính nhờ đó mới có việc bố thí cho người khác vì lợi ích của họ. Ở khoảnh khắc của trì giới cũng có chánh niệm. Chánh niệm này không giống như chánh niệm ở khoảnh khắc bố thí cho những người khác. Khi đó chánh niệm biết về thiện pháp không làm tổn hại đến người khác. Ở khoảnh khắc nghe pháp và có hiểu biết đúng cũng có chánh niệm, nhưng nó cũng khác với chánh niệm ở khoảnh khắc bố thí và trì giới. Hiện giờ tất cả các tâm sở đều đang phát triển để đến một lúc nào đó, có khoảnh khắc chánh niệm sinh khởi hay biết về thực tại hiện giờ một cách trực tiếp, về những thực tại đã được nghe rất nhiều lần, ví dụ như cái thấy chẳng hạn, rằng không có ai trong đó cả. Khoảnh khắc đólà khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp chỉ cái đang xuất hiện. Khoảnh khắc đó không giống như những khoảnh khắc khác, nó là khoảnh khắc sinh khởi với hiểu biết về thực tại đó. Như vậy ta có thể xem xét xem liệu hiện giờ hiểu biết mới chỉ ở mức độ hiểu lý thuyết về những gì được nghe, hay đã là hiểu biết về đặc tính cụ thể của thực tại đó, chẳng hạn đặc tính của thực tại sinh khởi để thấy. Vô minh không thể là duyên cho chánh niệm. Vô minh không phải là một chi của Bát chánh đạo.

Vị sư 1:          Khi Achaan nói chánh niệm kinh nghiệm thực tại thì liệu lúc đó có chánh niệm thực sự hay không hay là ý niệm về thực tại?

Achaan:         Chánh niệm chỉ có thể sinh khởi do duyên. Giống như là cái thấy và cái nghe sinh khởi do duyên, cũng hệt như vậy, chánh niệm cũng chỉ sinh khởi do duyên. Cetana hay tư tâm sở là một thực tại sinh khởi với tất cả các tâm thiện cũng như tâm bất thiện. Có cetana- tư với hành động bất thiện như sát sinh hoặc với hành động thiện như nghe pháp, bố thí,  v.v… Ở mọi khoảnh khắc đều có cetana, nhưng cetana có thể là thiện hoặc bất thiện.

Đức Phật chưa bao giờ nói rằng cetana là một chi của Bát chánh đạo. Đức Phật chỉ nói đến tám tâm sở- tám chi như ta đã biết.

Bất cứ khi nào có sự cố ý để làm cái gì đó, lúc đó cũng đồng nghĩa với việc có ý niệm về ngã bởi khoảnh khắc đó không có cái hiểu về vô ngã. Việc cố ý làm thế này hay làm thế kia cũng là một thực tại, không phải là ngã, không phải là “ta” cố. Bất cứ ai đọc Tam tạng nhưng không có hiểu biết đúng sẽ nghĩ rằng có một “ai” đấy cần phải đi theo lời dạy của Giáo lý, thay cho hiểu đúng rằng không có một ai cả. Chẳng hạn như giữ giới tránh xa sự sát sinh. Nếu không có hiểu biết đúng thì ta sẽ đọc giới đó như là Đừng sát sinh, như là một lời ra lệnh. Nhưng thực chất Đức Phật không trình bày như vậy. Điều gì xảy ra tùy thuộc vào sự hiểu biết. Nếu ở khoảnh khắc đó có hiểu biết rằng sát sinh là làm tổn hại chúng sinh khác, nó sẽ làm duyên cho việc giữ được giới không sát sinh, chứ không có “người” nào làm việc đó cả. Chính vì vậy có những từ như là thiện pháp và bất thiện pháp. Nếu chúng ta nói với một ai đó rằng người này là một người tốt thì thực chất, điều ấy chỉ có nghĩa là ở người này có sự sinh khởi của tâm thiện một cách thường xuyên. Nhưng ở những khoảnh khắc khác, khi có những bất thiện tâm sinh khởi, liệu ta có thể nói rằng người ấy là người tốt nữa hay không? Nên cần phải hiểu về mặt tối hậu là không có người tốt hay người xấu, mà thực chất chỉ là các pháp bất thiện hay pháp thiện đã sinh khởi. Vậy cái thấy là thiện hay không? Hiện giờ có cái thấy, nó có thiện hay không?

Vị sư 1:          Nếu nói là thiện thì có thể trong khái niệm chứ trong thực tại thì cái thấy nó chỉ thấy, không có thiện và bất thiện?

Achaan:         Sư đã trả lời chính xác. Những lời dạy của Đức Phật rất chi tiết, chính vì vậy được gọi là những lời chân lý. Cái thấy thì là một tâm quả, nó có thể là quả của nghiệp thiện hoặc bất thiện. Nếu là quả của nghiệp bất thiện, cái thấy sẽ thấy đối tượng không khả ái. Nếu là quả của nghiệp thiện, cái thấy sẽ thấy đối tượng khả ái. Nhưng về mặt bản chất,  cái thấy chỉ thấy mà thôi. Bây giờ ta sẽ biết thêm một từ khác, không phải thiện mà cũng không phải bất thiện. Từ đó là avyakata- vô ký,  nó để chỉ tất cả các thực tại không phải là thiện hay bất thiện. Tất cả các thực tại không phải là thiện và bất thiện thì đều là avyakata -thực tại vô ký.

Vậy cái thấy không phải là thiện cũng không phải là bất thiện mà là avyakata- vô ký. Thiện không thể là bất thiện, bất thiện không thể là thiện và hai thứ đó không thể là vô ký.

Sadhu sadhu sadhu!

 

, , , ,

Pháp đàm sáng ngày 02-09-2013 tại Sài gòn

5/ Pháp đàm buổi sáng ngày 02.09.2013 tại Sài Gòn

 

Học viên 5:   Hôm qua Achaan có chia sẻ về ý nghĩa thực sự của chánh niệm. Như vậy thì chánh niệm giống như lâu nay là ảo kiến, bị sai lầm nghĩ rằng mình thực tập có chánh niệm; chánh niệm đó không đúng vì nó thiếu chánh kiến, thiếu sự hiểu biết.

Khi về nhà con có thực tập thế này không biết là đúng hay sai? Khi nào có chánh kiến là khi mình làm việc thiện lúc đó mình có chánh niệm. Bố thí là có chánh niệm, trì giới là có chánh niệm, tác ý thuộc về thiện là có chánh niệm, tinh tấn trong lúc nghe pháp là có chánh niệm. Nếu trong một ngày cứ để cho tâm thoải mái nổi sân nổi si và nói là tôi đang chánh niệm về tâm tham tâm sân. Khi đó nếu có suy nghĩ đúng sẽ có hành động đúng, thì cái đó có phải là thuộc về sati? Khi đó nếu có suy nghĩ sai sẽ hành động sai, thì nó thuộc về tà kiến, vậy có đúng không?

Sarah:            Trước hết sẽ chia sẻ từng ý một: việc bạn nghe và suy xét về những điều Achaan nói là rất tốt, vì nghe pháp và suy xét là điều nên làm. Tuy nhiên khi nói đến việc trở về thực hành, bản thân ý nghĩ là mình thực hành cái gì đó đã hàm chứa một ý niệm về một cái ngã có thể tạo ra chánh niệm, Liệu đó có phải là chánh niệm hay không? Bất cứ khi nào chúng ta có cái ý niệm cố gắng thực hành, hay mong muốn có chánh niệm, hay nghĩ đến việc bây giờ sẽ chánh niệm, sẽ không thể có được chánh niệm, bởi vì có sự dính mắc ở trong đó, dính mắc để có chánh niệm thay cho một sự phát triển tự nhiên, đó sẽ không phải là duyên để cho chánh niệm hay trí tuệ sinh khởi.

HV 5:             Bà có thể nhắc lại những duyên để chánh niệm sinh khởi?

Sarah:            Hiện giờ chúng ta đến đây nghe Achaan giảng pháp, nói về những gì đang sinh khởi hiện giờ, về cái thấy, cái nghe… Thông thường chúng ta có ý niệm rằng chúng ta đến đây và đang ngồi nghe pháp với những người bạn đạo. Nhưng về mặt chân đế, đó chỉ là những khoảnh khắc của cái nghe, những khoảnh khắc của cái thấy, rồi được tiếp nối bởi các suy nghĩ,… và tất cả những cái đó đều là thực tại. Khi được chỉ ra rằng đó là những khoảnh khắc của các thực tại sinh khởi và diệt đi tiếp nối lẫn nhau, nếu có sự suy xét chân chánh ở khoảnh khắc nghe, ở chính khoảnh khắc ấy đã có chánh niệm. Còn nếu không có hiểu biết ở khoảnh khắc được nghe nói về giây phút hiện tại như vậy, sẽ chưa thể hiểu đúng chánh niệm là gì. Nếu chưa có hiểu biết đúng thế nào là chánh niệm, sẽ chưa có đủ duyên để chánh niệm sinh khởi.

Cần phân biệt thêm các mức độ khác nhau của chánh niệm: chánh niệm sinh khởi với tất cả các tâm thiện, vì vậy chánh niệm có nhiều mức độ khác nhau: có chánh niệm ở mức độ khi làm các việc thiện như bố thí, trì giới, khi chúng ta có những lời ái ngữ – ở những khoảnh khắc đó là có chánh niệm. Nhưng  loại chánh niệm mà ta đang bàn tới đây – loại chánh niệm hợp với trí (hiểu biết), loại chánh niệm hay biết các thực tại – thì chỉ sinh khởi với sự phát triển của Tứ niệm xứ . Lại nhắc lại một chút về các duyên để có chánh niệm, như hôm qua chúng ta có nói, đó là: được gần gũi bậc thiện trí thức và được nghe Chánh Pháp. Giải thích cụ thể hơn, khi chúng ta được nghe pháp về các loại thực tại khác nhau, chẳng hạn về cái thấy – cái thấy là một thực tại kinh nghiệm đối tượng thị giác, còn đối tượng thị giác là thực tại không kinh nghiệm  gì cả; về tâm từ, tâm bi là các thực tại sinh khởi kinh nghiệm đối tượng là chúng sinh, đối nghịch với tâm sân v.v… điều đó có thể tạo duyên cho chánh niệm sinh khởi  hiểu về những thực tại đó khi chúng xuất hiện. Khi đó sẽ có hiểu biết rõ dần hơn về sự khác biệt giữa khoảnh khắc có chánh niệm và khoảnh khắc không có chánh niệm. Nếu không có hiểu biết đó sinh khởi thì chúng ta sẽ bị nhầm lần, chúng ta sẽ tưởng cái không phải chánh niệm là chánh niệm, chẳng hạn như việc hay biết khi chúng ta đi ra mở cửa, hoặc thực hành chánh niệm, chúng ta tưởng đó là chánh niệm, nhưng một khi chánh niệm sinh khởi để hay biết cùng với hiểu biết đúng, lúc đó sẽ biết rằng đâu là chánh niệm thực sự và đâu không phải là chánh niệm thực sự.

HV 5:             Như vậy những khoảnh khắc của phiền não mà được phát hiện và ghi nhận thì lúc đó có được gọi là chánh niệm hay không?

Sarah:            Tất cả những khoảnh khắc của thiện tâm đều có chánh niệm, chẳng hạn khoảnh khắc có tâm từ sinh khởi với một người khác thì ở khoảnh khắc đó có sati (chánh niệm). Nhưng nếu khoảnh khắc đó không đi kèm với hiểu biết đúng thì nó chỉ đơn thuần là chánh niệm sinh khởi cùng với tâm thiện mà thôi và không có trí tuệ đi kèm. Nhưng khi có hiểu biết sinh khởi đồng thời thì ở khoảnh khắc đó có chánh niệm ở một mức độ cao hơn. Đối với tâm bất thiện, khi có sự dính mắc, chẳng hạn dính mắc vào việc thực hành hay dính mắc vào việc có chánh niệm, chắc chắn ở khoảnh khắc dính mắc thì không có sati. Nhưng khoảnh khắc thấy được tính chất của sự dính mắc và hiểu đúng về nó thì khoảnh khắc đó lại là có sati.

HV 5:              Theo như lời Achaan dạy là hoàn toàn triệt để phá ngã không còn một chút dính mắc nào, ngay cả thiện và bất thiện cũng đều là vô ngã. Nói đến khoảnh khắc thực tại thì không thể nào dùng ngôn từ để mà diễn đạt. Đó là một sự cảm nhận. Sau khi học Achaan thì có cái tâm sinh khởi ý muốn thực hành có sự tinh tấn nhưng ngay cái tâm đó nó lại nghĩ là không biết có dính vào ngã hay không? Nên muốn diễn đạt ra, muốn nói lên thì lại kẹt vào cái ngã. Vậy những hành động thiện như bố thí thì cái chánh niệm chỉ là thầm cảm nhận hay sao. Làm thế nào có thể hoàn toàn sống với tinh thần vô ngã khi mà ý niệm về ngã luôn ở đó?

Achaan:         Hiểu biết không thể diễn ra một cách nhanh chóng được. Ví dụ việc tôi học Tiếng Việt. Vì không phải là người Việt nên tôi phải học từ từ, cần có thời gian. Ngay một từ như  Xin chào,  ngay lập tức tôi không thể nhớ ngay được, mà đầu tiên phải nghe rồi nhắc lại một lần, hai lần, rồi sau đó dần dần mới nhớ được. Sau đó mới học đến từ Cảm ơn, và để học được tôi phải nghe đi nghe lại. Ngay vừa rồi thôi, tôi phải nghĩ mới nhớ được từ Cảm ơn và không chắc, tối nay còn nhớ hay không? Đó mới chỉ là vấn đề ngôn ngữ thôi, vậy mà đã không dễ dàng rồi, nói chi đến giáo lý của Đức Phật. Giáo lý của Đức Phật khó hơn rất nhiều, bởi vì chúng ta chưa nghe được là bao, kể cả chỉ trong kiếp này. Chính vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu từng từ một, một cách rõ ràng từng từ từ một, nếu không ta sẽ cho là mình đã hiểu, nhưng thực chất hiểu biết của chúng ta  rất hời hợt. Trong 45 năm, Đức Phật đã dạy rất nhiều từ, không đếm được, nhưng mỗi lần chúng ta chỉ học được một từ mà thôi, và đã cần phải rất nhiều thời gian. Những gì Đức Phật giảng đều tới từ sự giác ngộ của Ngài và rất khác với những gi mà chúng ta vẫn quen nghĩ tới. Chúng ta luôn thấy con người và vạn vật, điều này đã xảy ra từ rất lâu rồi, từ nhiều a tăng kỳ kiếp, luôn luôn có ý niệm về con người và vạn vật. Bây giờ chúng ta nói đến vô ngã, vậy ý nghĩa của nó thực sự là gì? Nó có nghĩa là không có những con người thường hằng, không có những thứ thường hằng, không có một cái gì xuất hiện mà thường hằng. Thế giới của thực tại chân đế rất khác với thế giới mà chúng ta quen nghĩ về cho tới giờ. Hiện giờ, nếu có hiểu biết đúng thì ở cùng thời điểm đó, có rất nhiều tâm sở thiện xuất hiện cùng nhau. Ai biết được điều đó ? Nó xảy ra chỉ trong một khoảnh khắc mà thôi. Nếu chưa có hiểu biết vững vàng ở mức độ tư duy về những những gì được nghe, sẽ không thể đi xa hơn như nói đến việc thực hành, phát triển… Như vậy, thái độ đúng khi nghe pháp là hãy chỉ hiểu mà thôi, chứ không để làm cái gì cả,.. Nếu không thì người đó sẽ thông thái hơn cả chính Đức Phật. Bởi vì trước khi Đức Phật giác ngộ, Ngài đã phải tích lũy các Ba la mật trong một thời gian rất dài và phát triển hiểu biết về các thực tại sinh khởi trong khoảnh khắc hiện giờ. Cách mà tốt nhất để thể hiện sự tôn kính tới Tam bảo là nghiên cứu Giáo lý của Đức Phật, các từ mà Ngài dậy. Đừng nghĩ rằng mình có thể hiểu ngay lập tức được. Mặc dù Đức Phật nói rằng tất cả các pháp là vô ngã nhưng khi chúng ta nghe điều ấy thì chúng ta lại có ý niệm, ôi “tôi” có thể làm được điều ấy, có thể chứng ngộ, nhưng điều đó hoàn toàn đi ngược với Giáo lý của Ngài. Nếu như ai đó nói rằng tôi quy y Phật, Pháp, Tăng nhưng không có hiểu biết thực sự thì người đó chưa thực sự chân thành. Vậy đừng vội nghĩ chúng ta có thể hiểu ngay được những từ này. Kể cả những từ như là Ngã và Vô ngã cũng hoàn toàn không đơn giản. Hiện giờ cái gì được thấy và ai thấy đây? Vẫn có cái ý niệm rằng tôi đang thấy và cái được thấy là một cái gì đấy tồn tại kéo dài. Đừng vội vàng làm một cái gì đó, hay cố thực hành mà hãy chỉ hiểu và hiểu biết sẽ tự phát triển. Nếu như có ý nghĩ “tôi” sẽ thực hành hoặc “tôi” có thể làm điều ấy, khoảnh khắc đó là có [ý niệm về] ngã, chứ không phải vô ngã. Trong Tam tạng có nói, những lời dạy của các Giáo lý khác không thể phá bỏ được cái ý niệm về ngã, mà chỉ giáo lý của Đức Phật mà thôi mới làm được điều ấy mà thôi. Những ý niệm có hàm ý về ngã ấy được giảng dạy bởi những người chưa nghiên cứu giáo lý của Đức Phật một cách kỹ lưỡng, vậy chúng ta không nên là một trong số đó. Kể cả những từ đơn giản như ngã, vô ngã, cái thấy, cái nghe, cái ngửi v.v… là những thực tại hàng ngày nhưng có ai biết được sự thực về chúng nếu như không có Giáo lý của đức Phật. Khi Đức Phật nói  tất cả các pháp đều là vô ngã, Ngài không chỉ dừng lại ở đó. Ngài đã dạy cho bất kỳ ai, ở bất kỳ nơi nào có được hiểu biết thực sự về điều ấy. Những ý niệm khác không đề cập đến hiểu biết đúng thì không thể tận diệt được các bất thiện pháp, nếu đi ra khỏi hiểu biết đúng thì không phải là lời dạy của Đức Phật. Chẳng hạn như bây giờ, cái gì là thực? Sự thực tuyệt đối và sự thực chế định rất khác nhau. Dường như phải lộn thế giới bên trong ra ngoài để thấy được sự thực. Cái đang kinh nghiệm cái được thấy hiện giờ không phải là tự ngã.

Đêm qua tất cả mọi người đều ngủ đúng không? Có ai mơ không? Ồ, tất cả mọi người. Chúng ta mơ về cái gì? Chúng ta mơ về những  gì đã thấy, đã nghe, có thể là những thứ đã diễn ra trong ngày hôm qua. Nhưng tại sao chúng ta lại nói là đó chỉ là một giấc mơ thôi? Tất cả mọi người đều biết được sự khác biệt giữa mơ và không mơ, nhưng lại không chỉ ra được sự thực về điều ấy. Vậy sự khác biệt giữa giấc mơ và khi không mơ, như bây giờ là gì nào? Điều này không thể được biết chỉ bằng việc cứ cố thực hành. Đức Phật đã không cần phải dạy đến 45 năm nếu chỉ cần bảo mọi người đi thực hành mà thôi. Lời dạy của Đức Phật không làm tăng sự vô minh và dính mắc. Ngược lại, lời dạy của Đức Phật dẫn tới thêm trí tuệ, ở những mức độ khác nhau. Trong tiếng Pali, chúng ta biết đến các từ Pariyatti- pháp học, Patipatti – pháp hành, Pativeda- pháp thành.

Sarah:            Pariyati là pháp học, chẳng hạn chúng ta đang được nghe về các thực tại khác nhau, các thực tại sinh và diệt. Việc nghiên cứu về các thực tại ấy không phải là việc chỉ đơn thuần đọc sách mà không có hiểu biết đúng. Việc chúng ta tiếp tục nghe,  nghiên cứu và suy xét về các thực tại sinh khởi trong một ngày, ví dụ như cái thấy, cái nghe, xúc chạm, chánh niệm, hiểu biết, chánh tinh tấn v.v…sẽ khiến hiểu biết phát triển dần dần, hiểu rõ hơn và rõ hơn nữa về các thực tại ấy, và tới một lúc, nó sẽ dẫn đến những khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp về thực tại, khoảnh khắc đó chính là khoảnh khắc của patipati– pháp hành. Khi những khoảnh khắc của kinh nghiệm trực tiếp hay pháp hành diễn ra ngày càng nhiều hơn và sâu sắc hơn, đó cũng chính là Tứ niệm xứ. Tuy nhiên, nếu không có pháp học làm nền tảng- hiểu biết rõ ràng hiện giờ đâu là các thực tại như cái thấy, tham, sân, v.v…, sẽ không thể có sự sinh khởi của pháp hành, của tứ niệm xứ, sẽ không dần dần  dẫn tới  pativeda– pháp thành. Khi sự phát triển của pháp hành đã diễn ra một cách thường xuyên hơn và nhiều lần hơn, dần dần nó sẽ dẫn tới pháp thành, tức là những khoảnh khắc của các vipassanā ñāṇa- tuệ minh sát, và khoảnh khắc của sự chứng ngộ Tứ diệu đế. Nhưng để khoảnh khắc của pháp hành và pháp thành  sinh khởi thì cần phải có pháp học ở bước ban đầu. Pariyati – tức là nghiên cứu các thực tại đã được giảng được nghe là những bước rất sơ khởi để dần đặt nền tảng cho Bát chánh đạo hiệp thế. Bát chánh đạo hiệp thế sinh khởi khi có hiểu biết về các thực tại sinh khởi hiện giờ. Khi Bát chánh đạo hiệp thế được phát triển viên mãn, nó sẽ dẫn đến Bát chánh đạo siêu thế.

Học viên 2:    Bát chánh đạo tôi thường hiểu khá đơn giản, chúng ta đang hành việc là mỗi ngày chúng ta làm cho cái tâm tốt hơn bằng việc thực hiện các yếu tố trong Bát chánh đạo. Đơn giản rằng chúng ta cố gắng nói lời chân chánh khi thấy ta nói lời không chân chánh. Trong hành động cũng vậy. Đấy là việc chúng ta cho là chúng ta giữ giới. Trong các khóa tu thiền chúng ta đạt được một sự an ổn trong tâm, biết được vài phương pháp quán thân, quán thọ, quán pháp. Khi nghe pháp chúng ta cũng biết quan sát các pháp vận hành và chúng ta từ từ có một chút hiểu biết đúng đắn, có nghĩa là chúng ta đi vào phần tuệ trong con đường bát chánh đạo, cứ như vậy, mỗi ngày chúng ta góp nhặt một chút, chúng ta chịu khó đọc kinh sách, nghe pháp. Vậy có phải là đang hành trên con đường của Đức Phật hay không? Đến khi đẩy đủ nhân duyên thì tuệ giác của chúng ta sinh khởi. Hôm qua Sarah có nói với tôi rằng, Bát chánh đạo như vậy chỉ là Bát chánh đạo hiệp thế. Chỉ khi đạt đến những tầng tuệ giác cao thì chúng ta mới thực sự kinh nghiệm được Bát chánh đạo. Đấy không phải là con đường chúng ta bước đi như chúng ta vẫn thường hiểu, mà phải là những gì chúng ta trực nghiệm. Điều đó làm tôi khó hiểu. Hôm nay tôi muốn được nghe Achaan giải thích thêm về điều này.

Người phiên dịch: Vừa rồi Sarah có tóm tắt lại câu hỏi cho đơn giản hơn, có nói ý cơ bản nhất trong những gì bạn trình bày, đó là cái hiểu của bạn về Bát chánh đạo, bao gồm Giới- Định -Tuệ, và rằng Giới – Định phải được thực hành trước khi Tuệ có thể sinh khởi.

Achaan:         Đó vẫn là ý niệm riêng của bạn về Bát chánh đạo mà thôi. Như vừa rồi đã chia sẻ, tôi mới học được hai từ tiếng Việt, và hi vọng là hôm nay sẽ học thêm được một từ nữa. Nhưng khi quay về Thái lan tôi không chắc có thể nhớ được những từ đã học hay không. Tương tự, khi chúng ta nghe pháp, có thể có những khoảnh khắc hiểu biết có vẻ rõ ràng, nhưng sau đó lại có những, khoảnh khắc của tâm bất thiện, những tình huống khác, những thông tin khác, v.v…, tất cả những cái đó che lấp cái hiểu đã sinh khởi và đã diệt đi rồi, khiến cho nó trở nên mờ nhạt. Chính vì lẽ đó, mỗi từ mà chúng ta tìm hiểu cần phải bám rễ thật sâu. Cũng như cái cây phải có rễ để không bị đổ ngã, cái hiểu của ta về từng từ phải thật sâu thì mới không bị che lấp bởi bóng tối, khi hiểu biết chưa thực sự chắc chắn. Và cũng tương tự  việc chỉ học được mỗi lúc một hai từ Tiếng Việt mà thôi, nếu ai đó đọc rất nhiều từ trong Tam tạng mà không có hiểu biết thực sự thì điều đó cũng không có ích lợi gì. Sẽ giống như tôi nghe nhiều từ tiếng Việt mà không hiểu gi cả. Như vậy chúng ta nghe về những từ như Định, Niệm và Bát chánh đạo, chúng ta hiểu những từ đó như thế nào đây? Học về những gì mà Đức Phật đã dạy từ sự giác ngộ của Ngài cũng giống như việc học ngôn ngữ? Nó cũng như vậy nhưng khó khăn hơn rất nhiều. Chúng ta có thể nghe đi nghe lại một thứ, nhưng học được hay không còn tùy thuộc vào hiểu biết và trí nhớ. Chẳng hạn như từ Anatta –Vô ngã. Có bao nhiều lần chúng ta hiểu đúng nó như  chúng ta cần phải hiểu? Cho đến khi nó được hiểu một cách rất thấu đáo và được ghi nhớ vững chắc bởi tưởng để không bao giờ quên được ý nghĩa thực sự của nó nữa. Ở bất cứ khoảnh khắc nào có ý nghĩ “tôi” có thể làm, ở khoảnh khắc đó không có cái hiểu đúng về anatta hay là về từ thực hành. Cái ngã thực hành hay là vô ngã thực hành đây? Chính vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, cụ thể, chẳng hạn như  bây giờ liệu đã có cái hiểu rõ về anatta chưa? Sati (chánh niệm) là có thực, đó là một thực tại, sati có vô ngã hay không? Samadhi– định là một thực tại, nó có vô ngã hay không? Cần hiểu thực sự rằng tất cả các thực tại đều không thường hằng và đều là vô ngã. Hiện giờ có rất nhiều thực tại để nghiên cứu mà vẫn chưa được biết, cũng giống như đối với tôi, nhiều từ tiếng Việt hoàn toàn chưa được biết. Tôi không thể nào học tất cả những từ ấy cùng một lúc. Hiện giờ đang có rất nhiều thực tại, các thực tại kinh nghiệm và những thực tại được kinh nghiệm, và những thực tại này cần phải được nghiên cứu để bản chất vô ngã của chúng được hiểu đúng. Nếu chúng ta hiểu đúng cách Tuệ giác phát triển, thì chẳng phải giây phút này cũng là thực hành hay sao? Nhiều người nghĩ rằng cần phải ở một nơi nào đó đặc biệt khác với bây giờ. Nhưng ở bất cứ nơi nào cũng có cái thấy, cái nghe, sự suy nghĩ … cũng hệt như bây giờ mà thôi. Nếu hiện giờ đang có cái nghe nhưng không có hiểu biết về cái nghe đang xuất hiện, liệu thực tại đó có thể được biết ở những nơi khác, ở những thời điểm khác  hay không? Hiểu biết hiện giờ sẽ dần dần là duyên cho những khoảnh khắc hiểu về sau và sẽ dẫn tới khoảnh khắc trực nhận về thực tại. Quá trình đó được gọi là bhavana – là sự phát triển hiểu biết về thực tại hay sự phát triển tâm trí. Mỗi từ trong giáo lý của Đức Phật đều là chân lý và đều có thể dẫn chúng ta đến việc hiểu đúng về những gì đang xuất hiện hiện giờ, đó chẳng phải là điều tốt đẹp nhất trong vòng luân hồi này hay sao? Hiểu về cái xuất hiện  đã sinh khởi bởi duyên. Dù chúng ta nghĩ về cái gì đi nữa, đó cũng là do duyên. Nếu các bạn nghĩ rằng có những cách thức khác để hiểu đúng thì hãy nói cho tôi biết đi. Để hiểu được đúng cái gì đang xuất hiện hiện giờ, ví dụ như cái thấy cái nghe hay suy nghĩ. Đối với tôi, khi nói “con xin quy y Pháp” chính là “pariyati, patipati và pativeda” (Pháp học- pháp hành- pháp thành). Nếu ai đó nói rằng pháp hành sẽ dẫn đến pháp học và pháp thành thì điều ấy liệu có thể đúng không? Kể cả nghĩa của từ pháp hành cũng đã bị hiểu sai rồi.

 

Hiện giờ chúng ta đang nghe về tất cả những thực tại thấy – ngửi -nếm -xúc chạm đang xuất hiện, và điều ấy sẽ dẫn tới sự xả ly hay bớt vô minh về những gì đang xuất hiện hiện giờ, ở ngay chính khoảnh khắc  này. Nếu như vô minh dầy đặc thì làm sao có thể thấy được cái đang xuất hiện hiện giờ? Chính vì vậy vô minh cần phải được loại bỏ một cách từ từ qua việc nghe Pháp, cho đến khi hiểu biết đúng lý thuyết có thể đủ để làm duyên cho hiểu biết trực nhận. Đó chính là điều mà Đức Phật đã làm trước khi giác ngộ. Ai có thể thông minh hơn Đức Phật đây? Hiểu biết đúng là quan trọng hay thực hành là quan trọng đây? Bởi vì hiểu biết đúng thì không bao giờ sai cả. Còn thực hành mà không có hiểu biết đúng thì chắc chắn là sai. Nó không thể hiểu được đúng các thực tại hiện giờ. Còn trí tuệ đã được phát triển thì có thể hiểu bất cứ thứ gì.

Sarah:            Trong buổi nói chuyện hôm qua, quan điểm cụ thể của bạn về Định như thế nào?

HV 2:             Lúc nãy Achaan nói việc học giáo lý Đức Phật như học một ngôn ngữ rất khó. Lấy ví dụ ngôn ngữ khó như tiếng Hoa tôi đang học. Mình là người lớn thì sẽ học kỹ ngữ pháp, từ vựng, cách kết hợp, cuối cùng thành khả năng tiếng Hoa. Nhưng một đứa trẻ thì nó lại được dạy theo cách khác thông qua các trò chơi, các bài hát, các đoạn phim, nhưng cuối cùng thì nó cũng nói được tiếng Hoa như mình, có khi còn nói hay hơn mình. Cho nên chưa chắc là mình cứ cố chấp vào việc tìm hiểu hiểu biết mình cho là đúng thì mình sẽ đi nhanh hơn con đường khác. Trên con đường Bát chánh đạo, có người có thể tìm Định là yếu tố để phát triển trước, khi có Định rồi họ dễ dàng học giáo pháp hơn. Khi tâm chúng ta định hơn thì chúng ta sẽ kiên nhẫn hơn, chúng ta sẽ lắng nghe giáo pháp hơn, chúng ta sẽ rèn luyện chánh ngữ của mình. Như thế có phải chăng chúng ta rèn luyện Giới Định Tuệ theo cách mà chúng ta hiểu thông thường thì vẫn là con đường đi đúng hay không?

Achaan:         Tất cả chúng ta đều khác nhau và sự khác nhau đó là do tích lũy. Khi tôi nghe Giáo lý và gặp một từ không hiểu, tôi sẽ không đi tìm ai đó để hỏi, vì đó không phải là nơi mà tôi đã quy y, mà tôi phải đi đến cội nguồn của Giáo lý để hiểu rõ từ đó. Bởi tôi biết rằng không ai có thể giảng về Giáo lý đúng đắn hơn chính Đức Phật, Ngài đã dậy rất chi tiết. Cho nên tôi đi vào kinh điển để tìm câu trả lời, chứ không bỏ qua từ đó để chuyển sang từ khác. Chẳng hạn như từ  Sila – Giới. Tất cả chúng ta đều biết từ Giới, nhưng trong kinh điển có nói đến rất nhiều nghĩa khác nhau của Giới. Một bông hoa có thể giữ giới không, một cái bàn có giới không? Về mặt thực tại thì giới là gì? Nó phải là một thực tại có thể kinh nghiệm một đối tượng.

Trước hết chúng ta cần phải biết phân biệt hai yếu tố thuộc về danh, đó là tâm – yếu tố dẫn đầu trong việc kinh nghiệm một đối tượng và tâm sở –  cũng là yếu tố kinh nghiệm một đối tượng, nhưng nó khác với tâm- yếu tố dẫn đầu. Ví dụ ở khoảnh khắc của cái thấy thì cũng có cảm thọ, nhưng yếu tố cảm nhận đối tượng ấy rất khác với thực tại kinh nghiệm đối tượng ấy. Thực tại làm nhiệm vụ thấy, có khả năng kinh nghiệm một đối tượng thị giác đó trong tiếng Pali gọi là Citta – Tâm hoặc Tâm Vương. Ở mỗi khoảnh khắc có một tâm kinh nghiệm một đối tượng, ở mỗi cũng cần phải có một đối tượng được kinh nghiệm. Chẳng hạn, ở khoảnh khắc của cái thấy phải có đối tượng của cái thấy (hay còn gọi là đối tượng thị giác). Đó chính là cuộc sống, nó tiếp nối từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, từ khi sinh ra đến khi chết đi nhưng với vô minh và ý niệm về tự ngã, về một cái gì đó trường tồn, từ vô thủy. Vậy làm sao vô minh có thể được tận diệt một cách dễ dàng đây? Như hiện giờ ai biết được mức độ của bất thiện nào đã sinh khởi? Chính vì vậy chúng ta hãy “Con xin quy y Pháp”  để học để hiểu về những thứ luôn luôn bị che lấp. Như hiện giờ cái đang được kinh nghiệm đang bị che lấp. Cái xuất hiện là thế giới bên ngoài, thế giới của con người và đồ vật. Nhưng nếu không có những thực tại như cái thấy và suy nghĩ thì sẽ không có gì cả.

Một từ nữa dùng để chỉ tất cả các thực tại hữu vi là từ loka – thế gian hay là hiệp thế. Người Thái dùng rất nhiều tiếng Pali trong ngôn ngữ cho nên đối với họ việc sử dụng từ Pali rất dễ dàng, chẳng hạn như từ loka, tuy nhiên họ lại không có hiểu biết đúng về nghĩa của từ Loka, cho đến khi họ nghiên cứu Giáo lý. Tôi vẫn chưa biết từ loka trong tiếng Việt. Có ai có thể nói cho tôi biết về từ loka không?

Học viên 11: Ý nghĩa trong tiếng việt là Đời hay thế gian.

Achaan:         Nhưng nó là gì?

HV 11:           Có ba loại: đời bản chất, đời thế gian và hay đời vũ trụ. Đời bản chất là tâm và tâm sở; đời vũ trụ là toàn bộ chúng sinh; đời thế gian thì con không nhớ.

Achaan:         Nghĩa tối hậu của tâm và tâm sở là gì, khiến nó có thể trở thành Thế giới hay thế gian? Điều bạn nói là đúng nhưng chưa được đầy đủ, bạn có thể nói thêm được không?

HV 11:           Trong tất cả các pháp vận hành đều gồm danh và sắc, danh gồm tâm và tâm sở, sắc là vật chất nó biến đổi hoại diệt. Tâm là sự biết thì chỉ biết thôi, tâm sở là nó phải phụ thuộc vào tâm. Không có chúng sinh gì cả mà chỉ có danh và sắc thôi, cho nên mới hình thành được thế giới. Do những danh sắc đó.

Achaan:         Khi không có gì sinh khởi thì có thế gian không?

HV 11:           Không bao giờ không có cái gì sinh khởi cả. Luôn luôn nó sinh rồi diệt không bao giờ chấm dứt cả.

Achaan:         Có phải bạn muốn nói rằng nếu như không có gì sinh khởi thì không có thế giới, đúng không?

HV 11:           Con chưa được chứng kiến cho nên không thể khẳng định, nhưng mà chắc là như vậy.

Achaan:         Bây giờ chúng ta mới chỉ đang thảo luận ở mức độ lý thuyết thôi. Chúng ta chỉ đang tìm hiểu về mặt lý thuyết về những gì mà trí tuệ có thể kinh nghiệm, và trí tuệ thì không phải là tôi, là bạn, hay là một người nào đó. Nhưng hiểu biết về mặt lý thuyết sẽ dẫn tới hiểu biết rằng, cái đang xuất hiện hiện giờ là thế gian – thế giới, và rằng nó không trường tồn, nó sinh và diệt một cách rất tự nhiên. Nếu không, sẽ vẫn có ý niệm về một ai đó thực hành, và vậy thì có thể có trí tuệ thực sự được không? Nhưng ở khoảnh khắc của sự thực hành thực sự, sẽ có hiểu biết rằng bất cứ cái gì sinh khởi đều có thể được hiểu, và sẽ thấy rằng không có ai cả, không có thế giới. Điều này sẽ dẫn đến hiểu biết về ý nghĩa thực sự của sila- giới, bởi vì cái không kinh nghiệm gì cả thì không thể có giới. Hiện giờ chúng ta đang ngồi đây có giới hay không? Bởi yếu tố kinh nghiệm có lúc là thiện, có lúc là bất thiện, đúng không? Hiện giờ chúng ta chỉ biết có thiện và bất thiện, nhưng cần phải biết thêm nữa. Chẳng hạn như, tâm của một vị A la hán đã hoàn toàn hết sạch ô nhiễm, không còn tâm thiện và tâm bất thiện mà chỉ còn tâm duy tác – kiriya citta mà thôi. Thế giới ở bên trong bây giờ đang sinh và diệt trong từng khoảnh khắc. Ở khoảnh khắc của tâm bất thiện, thân và khẩu đi kèm và khi ấy sẽ có giới bất thiện. Như vậy có cả giới thiện cũng như giới bất thiện. Ta không biết rằng trong một ngày bình thường, có nhiều giới bất thiện hơn là giới thiện

Sarah:            Đối với người bình thường, ngay khi tâm sinh khởi sẽ được kèm theo thiện hoặc bất thiện, khi đó được gọi là giới thiện và giới bất thiện. Nhưng với một vị Arahan thì sẽ có các pháp gọi là avyakata pháp vô ký – tức là không phải là thiện, cũng không phải là bất thiện.

Achaan:         Tất cả các thực tại này đều đang có mặt hiện giờ – giới thiện và giới bất thiện. Có nên biết về điều này không? Nếu ta hiểu càng chi tiết thì sẽ càng bớt dính mắc vào ý niệm về ngã. Sau đây tôi sẽ mời cô Sarah giải thích cho các bạn những mức độ phiền não rất vi tế hầu như không được biết tới trong cuộc sống hàng ngày, đó là asava – ogha –yoga. Có thể ta không biết rõ vì sao ta thực hành, và liệu điều mình biết có tận diệt được phiền não hay không. Nhưng nếu có sự nghiên cứu, chúng ta sẽ thấy rằng là chúng ta đang rất may mắn có được một cơ hội quý báu trong cuộc đời là được nghe Giáo pháp, vì việc nghe Pháp chính là duyên cho sự tích lũy hiểu biết có thể dẫn tới những khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp.

Sarah:            Có nhiều loại và mức độ khác nhau của tham ái và vô minh, tà kiến. Ở những khoảnh khắc có ý niệm rằng có ai đó thực hành, hay rằng phải cố chánh niệm, phải luyện định, hay phải trở thành “người” giữ giới trong sạch chẳng hạn, đó là những khoảnh khắc có tham đi kèm với tà kiến về ngã – tức là tâm tham hợp với tà kiến. Hôm trước chúng ta có nói đến các asava – các lậu hoặc, chúng được ví như thuốc độc bởi chúng rất độc hại và vi tế. Chẳng hạn, khi chúng ta thức dậy, ngay lập tức có sự dính mắc vào những đối tượng được kinh nghiệm ở khoảnh khắc đó mà không hề được biết, đó gọi là kama asava – dục lậu hoặc.  Chỉ  ở tầng thánh thứ ba- thánh Bất lai, loại lậu hoặc này mới được tận diệt. Loại lậu hoặc thứ hai là bhava asava hữu lậu hoặc, đây là sự dính mắc vào hữu – là sự trở thành, loại lậu hoặc này chỉ được tận diệt ở tầng thánh A a hán. Loại lậu hoặc thứ ba là ditthi asava – kiến lậu hoặc.  Đó là sự dính mắc vào những ý niệm về ngã, có những loại tà kiến về ngã rất thô, chẳng hạn như cố nhấc cái ly một cách chậm rãi để có chánh niệm, khi đó có ý niệm về một ai đấy có thể làm một cái gì đấy để có chánh niệm, đó là tà kiến rất thô. Nhưng có những loại tà kiến vi tế hơn, như khi chúng ta nghĩ về cái tay và cảm nhận đây là tay mình, khi đó cũng là một loại tà kiến nhưng nó vi tế hơn. Một vị Tu đà hoàn–Sotapana đã hoàn toàn diệt mọi loại ditthi- tà kiến kể cả  vi tế nhất. Với vị ấy, sẽ không bao giờ có những ý niệm như “có ai đó có định”, hay “đây là tay của tôi”. Điều đó sẽ không bao giờ xuất hiện trong tâm vị ấy, vì nó đã hoàn toàn bị tận diệt. Loại lậu hoặc thứ tư là avijja asavavô minh lậu hoặc, avija là một từ đồng nghĩa với si-moha, và có nghĩa là “không hiểu đúng thực tại như nó là”, và điều đó xảy ra thường xuyên hàng ngày. Trong một ngày, ngoại trừ những khoảnh khắc của bố thí, trì giới và phát triển tâm trí (bhavana), sẽ luôn có vô minh lậu hoặc, chỉ duy nhất  vị A la hán mới hoàn toàn tận diệt được loại lậu hoặc này.

Một từ nữa mà Achaan có nhắc đến là từ ogha có nghĩa là lụt (bộc). Khi các phiền não lớn mạnh thì chúng giống như trận lụt, một khi sinh khởi chúng sẽ như một dòng nước lớn cuốn đi tất cả. Dù có hiểu biết sinh khởi, nhưng khi có nhiều bất thiện pháp nó vẫn sẽ cuốn đi mọi thứ. Về mặt bản chất, ogha cùng là một loại thực tại với các lậu hoặc đã kể trước nhưng ở mức độ mạnh mẽ hơn, thô tháo hơn và dễ được nhận thấy hơn trong cuộc sống, còn mức độ của asava thì rất vi tế.

Từ thứ ba là Yoke, có nghĩa là như sự trói buộc, xiềng xích. Một con thú bị yoke là một con thú bị giam hãm, bị cột trong một cái chuồng. Giống như vậy, chúng ta bị trói buộc, bị cầm tù bởi phiền não. Đây là mức độ rất mạnh của phiền não.

Achaan:         Có ai trong chúng ta có suy nghĩ rằng nếu  Đức Phật đã thuyết giảnh những điều này thì điều ấy hẳn phải có ý nghĩa và hữu ích? Nếu điều ấy không hữu ích thì Đức Phật đã không cần phải dậy về nó. Đó là lời dậy của Ngài, vì vậy, hẳn việc học hiểu về nó là rất thiết yếu. Hiểu biết đúng khi được phát triển có thể tận diệt được mọi loại tà kiến, bất kể là ở mức độ nào. Khi nghiên cứu thêm, ta có thể thấy được nhiều hơn các loại phiền não sinh khởi trong một ngày, tất nhiên điều đó tùy thuộc vào mức độ của hiểu biết.

Cần phải tích lũy những gì để có thể tạo duyên cho sự tận diệt Tà kiến? Chúng ta đã nói có 3 loại sila: kusala sila (giới thiện), akusala sila (giới ác), và loại thứ ba thì khó hiểu hơn vì nó rất vi tế, nhưng nó có đó. Có rất nhiều người không sát sinh, đúng không? Chúng ta không sát sinh hàng ngày, một số người sát sinh những con nhỏ như kiến hay côn trùng, động vật và sâu bọ, nhưng không sát sinh người chẳng hạn. Khi có sát sinh xảy ra, cái đó được gọi là akusala sila – giới ác, khi không có sát sinh, đó được gọi là kusala sila- giới thiện. Tuy nhiên giới thiện có thể được thực hiện mà không đi kèm chút hiểu biết nào. Hiểu biết hiểu rằng, cả khoảnh khắc có sát sinh hoặc không có sát sinh đều là vô ngã. Yếu tố làm duyên quan trọng nhất vẫn là hiểu biết đúng. Nếu không, sẽ không có cách nào để thấy rằng không có cái ngã nào cả, dù ta cử động, nói hay suy nghĩ.

Ngay cả cách ngồi hiện giờ của mọi người ở đây đều rất khác nhau, mỗi người trong một tư thế. Đó là do tích lũy của chúng ta từ vô lượng kiếp. Nhưng tà kiến có thể được tận diệt khi có thêm hiểu biết đúng. Tà kiến là một thực tại, cũng như Chánh kiến là một thực tại. Chính vì vậy Đức Phật có chỉ ra rằng Bát chánh đạo khác với Tà đạo. Khi không có hiểu biết thì các yếu tố trở thành tà, và như vậy sẽ có Bát tà đạo. Vậy làm sao ta có thể biết được con đường đạo này là chánh hay tà đây? Nếu không có hiểu biết đúng về thực tại hiện giờ, sẽ có ý niệm về ngã.  Bản thân hiểu biết đúng hoặc vô minh cũng là vô ngã, tất cả các thực tại đều là vô ngã, đều không phải là “tôi”. Và khi không cho các thực tại là tôi hay ta, sẽ có Con xin quy y Pháp thực sự. Đó là cách duy nhất để phát triển hiểu biết và loại trừ Tà kiến.

Trong một ngày, khi không có sự xao lãng, sẽ có thể có sự suy xét liệu cái này có phải là sila hay không? Mặc dù có suy xét như vậy, nhưng khoảnh khắc đó vẫn chỉ là suy nghĩ chứ không phải là kinh nghiệm trực tiếp về thực tại đó ở khoảnh khắc nó sinh khởi. Nhưng bản thân việc suy nghĩ ấy cũng có thể dẫn tới  hiểu biết kỹ càng hơn về thực tại. Cái thấy hiện giờ đã được hiểu là vô ngã một cách trực tiếp hay chưa? Những khoảnh khắc như vậy chính là quá trình phát triển hiểu biết mà chúng ta gọi là bhavana. Bhavana không phải là việc “làm” một cái gì đó mà chúng ta vẫn coi là thực hành. Hiện giờ liệu có thể có bhavana hay không? Liệu có thể có thực hành hiện giờ hay không? Liệu có cần đi đến một nơi nào đó để thực hành khi vẫn chưa có hiểu biết về mặt lý thuyết về cái đang xuất hiện hiện giờ?

Jonathan:     Như vậy sự thực hành đúng nhất chính là khoảnh khắc chánh niệm về thực tại. Khi Đức Phật nói đến sự thực hành, ý nghĩa thực sự mà Ngài muốn nói đến không phải là ai đó có thể làm một cái gì đấy để chánh niệm, mà là nói đến sự sinh khởi của khoảnh khắc thực sự có chánh niệm về thực tại. Nếu chúng ta vẫn chưa hiểu được sự khác biệt giữa “ý nghĩa thực sự của sự thực hành” (là những khoảnh khắc có chánh niệm thực sự sinh khởi) với việc cho rằng “thực hành là ai đó làm một cái gì đó”, sẽ không thể nào hiểu được những phần còn lại của giáo lý. Điều này sẽ đưa chúng ta quay về câu hỏi ban nãy rằng “làm những việc thiện tách rời với hiểu biết thì có phải là phát triển Bát chánh đạo hay không?” Mặc dù Giới, Định hay Bố thí là những thiện pháp sẽ hỗ trợ cho việc phát triển hiểu biết, nhưng bản thân chúng không phải là những bước để đi tới con đường phát triển Tuệ giác. Bởi lẽ, lời dạy về Vô ngã và về các thực tại là lời dạy duy nhất chỉ có Đức Phật mới thuyết giảng, không một ai khác có thể thuyết giảng về những điều ấy. Mặc dù chúng ta cần phát triển mọi loại thiện pháp nhưng chúng ta không nên nhầm lẫn cho rằng tất cả các loại thiện pháp đều là sự phát triển tuệ giác. Tất cả các thiện pháp đều cần được phát triển, nhưng cái mà chúng ta cần phải phát triển nhất chính là chánh niệm và hiểu biết về các thực tại.

Achaan:         Có ai muốn hỏi gì về hai loại kusala sila và akusala sila hay không? Và kusala sila- giới thiện thì có tôn giáo hay quốc tịch không? Nó có phải là Việt nam hay Thái lan hay không? Giới không thuộc về quốc tịch nào cả, cả giới bất thiện cũng không thuộc về quốc tịch nào cả. Tất cả đều là pháp, không phải là ai, không phải là chúng sinh nào cả. Chúng chỉ là pháp thiện hoặc pháp bất thiện mà thôi. Hiểu như vậy mới có thể tận diệt được các ý niệm về “tôi”, về “người ấy” hay “cô ấy”. Nếu các bạn không có câu hỏi gì về sila thì chúng ta có thể chuyển sang nói về Định- samadhi.

Bất cứ ai cũng có thể giữ giới mà không có trí tuệ, nhưng nếu có hiểu biết, hiểu biết sẽ thấy được lợi ích của giữ giới và tác hại của bất thiện pháp. Chính vì vậy trí tuệ hay hiểu biết đúng sẽ dẫn tới càng nhiều thiện pháp hơn, bởi vì trí tuệ thì thấy được hiểm họa của bất thiện pháp và ích lợi của thiện pháp. Chính vì vậy thực tại tốt đẹp nhất trong tất cả các thực tại hữu vi chính là Trí tuệ – panna, không phải chỉ là Giới và Định.  Có câu hỏi gì về sila nữa không?

Học viên 3:   Xin bà nhắc lại về akusala sila- ác giới, nó có nghĩa là gì?

Achaan:         Không phải chỉ có tâm và tâm sở đúng không? Cũng có cả thân nữa. Thân là gì, thân là một thực tại không kinh nghiệm gì cả. Bản thân cái thân thì không có giới. Bất cứ khi nào có khẩu và thân thì về mặt thực chất, đó là do tâm cùng với các tâm sở đã tạo duyên để cho thân cử động và khẩu được phát ra. Bản thân cái thân không thể có tác ý làm gì cả, nó không thể tự cử động hay có bất cứ hành động nào hết. Như vậy chỉ ở trong tâm mới có ý niệm làm việc tốt hay là làm việc xấu. Khi có tâm thiện, nó sẽ tạo duyên để thân cử động theo cách thiện. Lời giải thích này sẽ tạo duyên cho hiểu biết rằng chỉ có các tâm, tâm sở và sắc (hay than). Khi tâm là bất thiện, chẳng hạn như tâm tham, nó sẽ tạo duyên cho thân cử động theo cách biểu hiện của cái tham đó. Như vậy ở khoảnh khắc của giới bất thiện, tâm sẽ tạo duyên cho thân cử động làm việc sát sinh hay trộm cắp. Ngược lại khi tâm là thiện, nó sẽ tạo duyên cho thân cử động theo cách là thiện, chẳng hạn như giúp đỡ người khác, hay là đảnh lễ người đáng đảnh lễ. Đó là giới thiện. Tuy nhiên giới thiện có thể được thực hiện với hiểu biết đúng hoặc không với hiểu biết đúng. Khi không có hiểu biết đúng về thực tại ở khoảnh khắc của giữ giới, đó không phải là adhi sila – thượng giới – tức là giới ở mức độ cao hơn. Chỉ có Đức Phật mới có được hiểu biết cụ thể, chi tiết về mọi thứ. Mức độ cao thượng của Giới Định Tuệ là adhi silathượng giới, adhi citta/adhi samadhi – thượng định, và  adhi panna –  thượng tuệ

Sarah:            Khi nói đến con đường Bát chánh đạo là nói đến Giới- Định- Tuệ ở mức độ cao thượng hơn tức là adhi sila -adhi citta- adhi panna. Nó khác với những gì mà chúng ta vẫn nghĩ đến Giới- Định- Tuệ theo cách thông thường. Trong một ngày ở những khoảnh khắc của ác giới hoặc thiện giới, nếu không có hiểu biết đúng thì khoảnh khắc đó đều không phải là adhi sila. Nó không thể dẫn đến sự sinh khởi của ahi sila,  tức là Giới thuộc về Bát chánh đạo. Xin nhắc lại, adhi có nghĩa là cao hơn, cao thượng hơn. Adhi sila – adhi samadhi – adhi panna chính là con đường dẫn tới giác ngộ. Định cũng vậy, nếu Định bình thường không kèm với trí tuệ thì cũng không phải là chánh định của Bát chánh đạo.

Achaan:         Nói rằng nếu không có giới thì ta không thể thực hành là đúng hay sai? Chẳng hạn bây giờ chúng ta đang ngồi đây, không sát sinh không trộm cắp, không làm việc bất thiện thì có thể gọi là đang thực hành không ? Vì vậy để có hiểu biết đúng hơn về các thực tại là vô ngã thì cần phải nghiên cứu rõ hơn. Để thấy được rằng chỉ ở những khoảnh khắc của hiểu biết trực tiếp về thực tại, khi đó mới có adhi sila – adhi samadhi – adhi panna. Nếu vẫn chưa có khoảnh khắc đó sinh khởi thì vẫn chưa phải là adhi sila – adhi samadhi – adhi panna. Nếu nói rằng không có giới thì ta không thể thực hành thì điều đó có nghĩa như thế nào?

HV 3:             Do trong quá khứ nhiều đời mình huân tập các hành động bất thiện nên nó thành thói quen. Chẳng hạn khi con muỗi cắn thì liền theo phản xạ tự nhiên là muốn đập con muối, nhưng khi giơ tay lên thì nhớ tới là giữ giới không sát sinh và mình dừng cái hành động đó lại hoặc rải tâm từ. Vậy lúc đó cái ý niệm biết cái tác ý muốn đập con muỗi và tiếp theo cái ý niệm khởi lên biết đây là hành động bất thiện và dừng lại thì đó có phải là thiện giới, kusala sila không?

Achaan:         Khi đó là bạn hay biết hay là chánh niệm hay biết?

HV 3:             Đó không phải là con mà là pháp sinh khởi.

Achaan:         Về mặt bản chất thì đó không phải là một ai đó, mà đúng là một thực tại. Nó chỉ sinh khởi do duyên và thực hiện chức năng của mình. Nhưng do tích lũy vô minh của chúng ta nên thông thường, vẫn có sự chấp vào “đây là giới của tôi”, đây là sự giữ giới của tôi. Cho đến khi có hiểu biết đúng cùng với chánh niệm sinh khởi để hiểu rằng thực tại đang sinh khởi này là vô ngã không phải là ai cả.

Để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về sila. Tôi lại đặt câu hỏi lần nữa. Hiện giờ có sila không? Hiện giờ chúng ta đang ngồi, không sát sinh, không trộm cắp mà chỉ chú ý lắng nghe, nếu có hiểu biết, khi đó có thiện và cũng được coi là có sila, có giới. Tất cả các thiện pháp (kusala) đều là sila. Nhưng đó mới chỉ là sila thôi, chưa phải là adhi sila. Chỉ đến khi có chánh niệm cùng hiểu biết sinh khởi và hiểu được đúng thực tại hiện giờ như nó là, khi ấy sẽ không còn hoài nghi về sự khác biệt giữa Giới và Giới cao thượng. Đó là những mức độ khác nhau của thiện pháp.

Sadhu sadhu sadhu!

 

, , , ,

Pháp đàm tại miền Trung tháng 5 2014 – các bản thu âm

Xin mời các quý vị truy cập trang:

https://archive.org/details/20140518Pm

Các phần thu âm này chưa được hiệu đính nên không tránh khỏi có những chi tiết chưa được chính xác trong dịch thuật, kính mong các quý vị lượng thứ.

, , , , , ,

Pháp đàm phụ với các vị sư chiều 01- 09 – 2013 tại Sài gòn

4/ Pháp đàm phụ với các vị sư chiều 01.09.2013.

 

Vị sư 1:          Trước hết xin cảm ơn Achaan đã dành thời gian cho các sư

Achaan:         Rất hoan hỉ, thưa quý sư.

Vị sư 1:          Thời gian của hai sư trao đổi với Achaan không nhiều nên sư muốn đi thẳng vào vấn đề. Sư có thực tập, mong Achaan kiểm tra thấy điểm nào chưa đúng đắn, bằng sự trung thực, không có ngại ngùng gì hết để giúp đỡ cho sư có sự hiểu biết đúng đắn hơn.

Achaan:         Xin mời sư cứ nói từng điểm một, thảo luận từng điểm sẽ dễ dàng hơn là nói cả một câu chuyện dài.

Vị sư 1:          Sư không biết xuất phát từ điểm nào, nhưng sư muốn nói từ sự thực tập của mình được không?

Achaan:         Mời sư!

Vị sư 1:          Sư có chút ít kinh nghiệm đối với sự hay biết, trong khi mình biết nó luôn luôn xảy ra sự hay biết. Trước đây khi sư chưa được được duyên biết về Tứ niệm xứ, thì sư cho cái hay biết nó là cái thường hằng, cái chân tâm chẳng hạn.

Achaan:         Thế nào là tâm? Cái gì là tâm?

Vị sư 1:          Cái biết

Achaan:         Thế còn cái tâm hiện giờ thì sao?

Vị sư 1:          Tâm hiện giờ cũng là cái đang nhận biết, nếu có âm thanh thì nhận biết nghe

Achaan:         HIện giờ, có đúng không? Cái gì kinh nghiệm hiểu biết? Thế còn trí tuệ hiện giờ thì sao?

Vị sư 1:          Có thể khi mình kinh nghiệm cái ý thức đó là hay biết. Bên cạnh đó sư có nghiên cứu từng điều Achaan nói, thì có thấy nó hoàn toàn là tự ngã. Chẳng hạn khi kinh nghiệm thì đôi lúc nó chỉ nghĩ đó là tính chất của tâm đang kinh nghiệm đối tượng, nhưng đôi lúc thất niệm, quên thì có sự nhầm tưởng là tôi đang chánh niệm.

Achaan:         Ở khoảnh khắc có sự hay biết, khi đó có những thực tại nào?

Vị sư 1:          Có thể là sự hay biết về cái thấy, tại thời điểm của cái thấy.

Achaan:         Chánh niệm có khác với trí tuệ không?

Vị sư 1:          Chánh niệm theo sư nghĩ là kinh nghiệm cái trạng thái nó xảy ra, nhưng sau đó sự hiểu biết sẽ biết đó là trạng thái đó thuộc về khái niệm hay thuộc về chân đế. Đồng thời nó hiểu theo những mối nhân duyên mà tại sao nó lại sinh khởi ra cái này.

Achaan:         Những điều mà sư vừa mô tả xảy ra cùng một lúc hay ở những khoảnh khắc khác nhau?

Vị sư 1:          Ở những khoảnh khắc khác nhau.

Achaan:         Đó là những mức độ hiểu biết khác nhau. Cái đó có tự nhiên như là bây giờ không?

Vị sư 1:          Phần lớn hiểu biết đến là do việc đọc những lời giảng từ Achaan về thực tại, nhưng đôi khi nó có thể có sự ngầm hiểu rằng không có ai ở đó

Achaan:         Và sau đó có sự hoài nghi không?

Vị sư 1:          Chắc chắn rồi, rất nhiều. Chẳng hạn liệu mình hiểu như vậy được đúng chưa? Nó có nhiều sự dính mắc trong đó không?

Achaan:         Hoài nghi có phải cũng là pháp, không phải là ta, đúng không?

Vị sư 1:          Đúng.

Achaan:         Và trí tuệ thì vẫn tiếp tục hiểu về các thực tại xuất hiện ở bất cứ thời điểm nào.

Vị sư 1:          Ban đầu sư có xu hướng là thích phát triển tâm thiện và sợ hãi tâm bất thiện. Sau đó hiểu ra rằng thiện và bất thiện là do mình đặt tên cho nó chứ thực sự trạng thái đang xảy ra đều là nhân duyên cho sự hay biết, dù thiện hay bất thiện đều làm nhân duyên cho chánh niệm sinh khởi. Do đó nó làm giảm thiểu sự chối bỏ hay sợ hãi.

Achaan:         Vậy bản thân bất thiện cũng không có gì là phiền, đúng không?

Vị sư 1:          Nhưng khoảnh khắc quên thì có xu hướng có sự sợ hãi, còn khi có sự nhớ trở lại thì thấy nó là tự nhiên, không có gì phải sợ hãi.

Achaan:         Cho đến khi nào mà mọi thứ chỉ còn là pháp mà thôi. Kể cả sợ hãi cũng là một thực tại. Trong cuộc đời của mỗi người, sau khi mệnh chung  chúng ta không thể nhớ được những gì đã kinh nghiệm hay những gì đã đọc về ngôn từ. Nhưng những gì đã được hiểu thì được tích lũy và được chuyển sang một kiếp sống khác.

Vị sư 1:          Trong một đoạn sách Achaan nói, chúng ta có xu hướng là kinh nghiệm một đối tượng thuộc về sắc, chẳng hạn âm thanh. Tiếp theo là xu hướng kinh nghiệm cái gì đó thuôc về danh, để phân biệt thế nào là sắc thế nào là danh.  Achaan có dạy là không nên cố ý làm như vậy, sư muốn biết là tại sao?

Achaan:         Làm sao ta biết được xu hướng của mình?

Vị sư 1:          Khi kinh nghiệm gì thì giống như có một sự lập trình theo thói quen. Chẳng hạn trước hết sư kinh nghiệm về âm thanh, sau đó để ý đến sự hay biết thì thấy sự hay biết và âm thanh có sự khác nhau thế nào. Sư có xu hướng là như vậy. Nhưng khi đọc thì Achaan nói là không nên cố ý so sánh cái nào là sắc, cái nào là danh. Điều này sư chưa hiểu?

Achaan:         Làm sao ta biết được xu hướng của mình? Khi thường có chánh niệm hay biết về các thực tại, ta sẽ nhận ra được cái đó là sự tích lũy hay là một xu hướng theo thói quen. Sau khi có hoài nghi sinh khởi thì tiếp theo hoài nghi là gì?

Vị sư 1:          Có hai trường hợp, thứ nhất là bị cuốn theo trạng thái hoài nghi là bất an, nhưng đôi khi nhận thức sự hoài nghi cũng là đối tượng đang sinh khởi, là nhân duyên cho sự hay biết sinh khởi, nhận biết hoài nghi cũng là một bản chất tự nhiên.

Achaan:         Cách nào là cách đúng?

Vị sư 1:          Cách sau

Achaan:         Đó chính là lý do mà mọi thứ đều có thể trở thành đối tượng để phát triển hiểu biết, cho đến khi mọi thứ đều là pháp và đó là cách duy nhất mà thôi.

Không cần có sự cố gắng thêm nào hết bởi tinh tấn bản thân nó đã tự sinh khởi rồi. Chúng ta biết rằng trong cuộc sống hàng ngày, ngoại trừ khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, của ngũ song thức, đều có tinh tấn sinh khởi với các khoảnh khắc của tâm. Đâu là sự khác biệt giữa đối tượng được thấy với con người và đồ vật?

Vị sư 1:          Đầu tiên có một sự hay biết là một đối tượng, tiếp đó thì sẽ định danh đối tượng đó. Nó định danh là con người hay đồ vật.

Achaan:         Nhưng đối tượng được thấy thì khác với những gì mà chúng ta cho là cái này hay cái kia trong cuộc sống của mình. Khi vẫn còn ý niệm là có một cái gì đấy trong cái được thấy – là con người hay là đồ vật, thì đó vẫn là một ý niệm về một cái gì đó. Như vậy ở khoảnh khắc của cái thấy, để có thể bớt dần đi những ý niệm về con người hay đồ vật, thì cần phải hiểu rõ hơn về đối tượng được thấy, hay đối tượng thị giác một cách rõ ràng hơn, kỹ càng hơn.

Vị sư 1:          Khi nhìn sự vật thì theo lý thuyết biết đó là khái niệm. Chính vì thế nó có xu hướng nghĩ rằng đấy chỉ là cái thấy đang xảy ra chứ không có con người hay sự vât, nó chỉ là đối tượng thị giác mà thôi. Có nên như vậy không?

Achaan:         Vấn đề chính yếu là phát triển hiểu biết vững vàng về đối tượng thị giác, nó không phải là con người hay đồ vật, ở bất cứ lúc nào. Hiểu biết đúng sẽ biết rất rõ sự khác biệt giữa khoảnh khắc chỉ thấy đối tượng thị giác và khoảnh khắc có suy nghĩ về con người và sự vật.

Vị sư 1:          Bà nói rằng chúng ta không cần phải cố gắng để biết về danh, bởi vì khi cố gắng làm như vậy thì đằng sau đó đã có ý niệm về ngã?

Achaan:         Sự cố gắng đó có thể là đối tượng của hiểu biết và nó cũng là vô ngã, đúng không?

Vị sư 1:          Đúng vậy.

Achaan:         Như vậy thì hãy cứ phát triển sự hiểu biết một cách tự nhiên, dù thế nào đi nữa thì cả ở khoảnh khắc của sự dính mắc, dính mắc cũng là một thực tại có thể được hiểu. Hãy dũng cảm để trí tuệ tự phát triển bởi hiểu biết, chứ không phải bởi “ta” hay một cái ngã nào. Sư có muốn biết thêm về điều gì nữa không?

Vị sư 1:          Khi được học nghiên cứu một chút về Vi diệu pháp, sư rất hoan hỉ với những gì Achan chỉ dạy, thấy rất phù hợp với  tinh thần của Vi diệu pháp và thấy con đường nó phải là như vậy. Sư đã nói sơ lược về sự thực hành của sư, với kinh nghiệm của mình Achaan hãy đặt câu hỏi hoặc triển khai thêm để sư hiểu rộng vấn đề hơn.

Achaan:         Chúng ta cần phải rất kiên nhẫn, giống như là chờ đợi, nhưng không phải là một cái ngã chờ đợi, mà bởi vì chừng nào chưa đủ duyên để hiểu được các thực tại đều vô ngã, hiểu biết ấy chưa thể sinh khởi, cần phải có sự kiên nhẫn.

Người phiên dịch: Vừa nãy sư nói về từ “thực hành”, vậy sư có muốn nói thêm về cách sư hiểu về từ “thực hành” không ạ?

Vị sư 1:          Đó là do thói quen sử dụng ngôn ngữ trước đây, nhưng khi đọc những tài liệu của Achaan thì khi nói tới sự thực hành sư hiểu đó chỉ là tính chất của tâm đang làm, chứ không phải là tôi đang làm, tôi đang cố gắng.

Achaan:         Vậy bây giờ chúng ta có nên đổi sang một từ khác tương ứng hơn với sự hiểu biết hiện giờ của chúng ta không?

Vị sư 1:          Khi có suy nghĩ về sự thực hành hoặc là sự thực hành này chỉ là tâm thôi thì nó cũng chỉ là thực tại, hiểu như vậy là được. Sư nghĩ không cần thay đổi ngôn từ.

Achaan:         Nếu chính xác hơn thì phải nói là sự phát triển hiểu biết, bởi vì khi ta dùng từ thực hành thì nó hàm ý như là có người nào đó làm một cái gì đó. Nếu ta dùng từ ứng dụng hiểu biết và chánh niệm thì như vậy có chuẩn xác hơn không?

Vị sư 2:          Nó có chút gì đó ảo tưởng về ngã, vì vẫn có ai đó ứng dụng.

Achaan:         Đúng vậy. Để có thể hiểu được giáo lý của Đức Phật thì đều phải hiểu rõ là không có ai cả, mà chỉ là các thực tại mà thôi. Chính vì lý do đó mà Đức Phật đã giải thích một cách kỹ lưỡng về từng khoảnh khắc khác nhau của tâm, chỉ để tạo duyên để hiểu rằng không có một ai cả, mà chỉ là các thực tại khác nhau sinh khởi đảm nhận chức năng của mình. Mỗi một từ mà Đức Phật đã dạy đều có thể làm duyên cho khoảnh khắc của hiểu biết đúng về vô ngã sinh khởi. Chẳng hạn như, nói về việc thực tại diệt đi, chỉ cần từ “diệt đi một cách hoàn toàn”, điều ấy có thể làm duyên cho cái hiểu về vô ngã, rằng không có ai ở đây cả. Khi mới ban đầu, chưa thể có kinh nghiệm ngay lập tức về sự sinh diệt của thực tại. Nếu trong một ngày, khi không có hiểu biết về các thực tại, ví dụ như hiểu cái cứng là vô ngã, thì có nghĩa không có hiểu biết nào được sinh khởi. Như vậy là đã không có tác ý chân chánh, thất niệm, và vẫn chưa có nhân duyên sinh khởi để hiểu biết đúng tiếp tục được phát triển, để hiểu được rằng là cái cứng không phải là một cái gì đó như trước đây mà chỉ là một thực tại mà thôi. Kể cả điều đó cũng cần phải được phát triển. Kể cả khi có trí tuệ hiểu rằng cái cứng chỉ là một thực tại cũng có những mức độ khác nhau. Ở khoảnh khắc của hiểu biết sai về cái cứng, không có nghĩa là cái cứng không xuất hiện ở thời điểm đó. Như vậy, ở những khoảnh khắc thông thường, cũng có kinh nghiệm cái cứng hay các thực tại khác ở đó rồi, nhưng không có hiểu biết mà thay vào đó là tà kiến. Mọi người luôn muốn biết, liệu bây giờ có tà kiến hay không. Câu trả lời luôn luôn là: đó chỉ là sự mong cầu mà thôi. Chừng nào một thực tại không xuất hiện làm đối tượng cho chánh niệm thì sẽ không thể biết rõ. Chẳng hạn như, bây giờ cái cứng đang xuất hiện, ta có cho nó là đây là chân tôi, tay tôi, hay cái gì đó hay không?

Vị sư 1:          Ban đầu có suy nghĩ là chân tôi, tay tôi, nhưng sau đó nhớ ra rằng đó chỉ là cái cứng, cái mềm thôi.

Achaan:         Khoảnh khắc cho đó là chân tôi, khoảnh khắc đó là tà kiến. Nếu không thì không có cách nào khác để hiểu về tà kiến, cái cũng là đối tượng của chánh niệm. Ở khoảnh khắc ấy, cái cứng không thể thay đổi, nó vẫn là cứng mà thôi. Nhưng sự dính mắc vào cái cứng, cho đó là tôi và của tôi thì diễn ra từ kiếp này sang kiếp khác. Khoảnh khắc hiểu được thực tại cho cái cứng này là tôi và của tôi, đó là khoảnh khắc hiểu về thực tại tà kiến. Bằng cách hiểu như vậy, chánh kiến hay trí tuệ bắt đầu được phát triển. Cho đến khi trong một ngày, bất cứ khi nào cái cứng xuất hiện, hiểu biết đúng sẽ biết rằng đó chỉ là một thực tại mà thôi, và không còn hoài nghi nữa. Chính vì vậy, mặc dầu chúng ta đã nghe nói đến những thứ như là tà kiến, tham v.v…, những thực tại ấy cần phải trở thành đối tượng của trí tuệ, nếu không sẽ không thể hoàn toàn tận diệt ý niệm về ngã. Chúng ta nói “tưởng” là vô ngã, nhưng nếu “tưởng” không xuất hiện, làm sao có thể có hiểu biết rằng đó là vô ngã không phải là ta?

Tất cả các thực tại mà chúng ta được nghe, được biết tới từ việc nghiên cứu pháp học sẽ trở thành đối tượng của chánh niệm và trí tuệ, nhưng chỉ một thực tại ở một thời điểm mà thôi. Như hiện giờ, tất cả các thực tại ấy dường như đều xuất hiện cùng một lúc, vì thế, sẽ không thể hiểu đặc tính của từng thực tại một. Do vậy, không thể nói “hãy chánh niệm về cái này hay về cái kia”. Nhưng chánh niệm và hiểu biết sẽ được phát triển bất cứ khi nào có hiểu biết về đặc tính của từng thực tại một. Như vậy ta có thể nói hiểu biết trở nên sâu sắc hơn, sắc bén hơn. Không thể có sự mong cầu nào, ví dụ như trường hợp của ngài Xá lợi phất, ngài không hề mong đợi được gặp ngài đại đức Assaji và nghe được lời giảng về duyên hệ. Khi hiểu biết đã được tích lũy đầy đủ để không còn dính mắc đến đối tượng đó nữa, sẽ có duyên để chánh niệm sinh khởi và hay biết đối tượng đó.

Ta không thể nói rằng bây giờ đang không có sự dính mắc vào những thứ đang xuất hiện, nhưng đó chỉ là sự dính mắc thôi hay là dính mắc kèm với tà kiến mà không được hay biết? Khi chánh niệm về đặc tính của thực tại xuất hiện, nó sẽ rất rõ ràng, không trộn lẫn:  tà kiến là tà kiến, tham là tham. Chẳng hạn khi ta được hỏi “trong một ngày tà kiến sinh khởi nhiều hơn hay tham dục sinh khởi nhiều hơn, chúng ta không thể trả lời cái này nhiều hơn hay cái kia nhiều hơn, vì chỉ chánh niệm mới có thể biết một cách chính xác và chi tiết. Ở khoảnh khắc này có thể có sự dính mắc, có thể có hoài nghi. Không ai nói chắc được rằng cái này hay cái kia đang sinh khởi, nhưng khi có chánh niệm thì sẽ không thể sai được. Chánh niệm có thể sinh khởi đảm nhận chức năng của nó khi có hiểu biết được tích lũy về mặt lý thuyết đủ để cho hiểu trí tuệ trực nhận cùng chánh niệm sinh khởi. Chính vì thế chánh niệm là một trong các chi của Bát chánh đạo. Mức độ của chánh niệm trong Bát chánh đạo không phải chỉ ở mức độ lý thuyết, hay các mức độ chánh niệm khác. Chánh niệm của Bát chánh đạo khi sinh khởi sẽ đi kèm trí tuệ. Nhưng nếu trí tuệ chưa đủ mạnh, nó sẽ chỉ sinh khởi với [sự nổi trội của] chánh tư duy (vitaka). Vitaka (tầm) cũng là một chi của Bát Chánh đạo, nhưng không phải là sati (tâm sở chánh niệm). Chánh niệm (sati) thì hay biết đối tượng, còn vitakka thì chạm vào đối tượng để cho đặc tính của đối tượng ấy được nghiên cứu một cách rõ ràng. Chánh niệm ở mức độ này sẽ rất khác chánh niệm ở các mức độ khác. Nó sẽ được phát triển như vậy cho đến lúc hiểu biết chuyển sang giai đoạn của Tuệ Minh sát. Khi ấy thế giới hoàn toàn biến mất, con người hoàn toàn biến mất, cái còn lại chỉ là thực tại được kinh nghiệm và cái kinh nghiệm mà thôi. Nếu không có sự tuyệt đối như vậy thì cái gọi là vipassanā ñāṇa (tuệ minh sát) sẽ chẳng khác mức độ hiểu biết thông thường của giai đoạn đầu của sự phát triển satipaṭṭhāna. Khi chưa có tuệ minh sát có nghĩa là sự phát triển của chánh niệm tỉnh giác và trí tuệ vẫn chưa đủ. Trí tuệ và chánh niệm vẫn đang được phát triển, nhưng phát triển rất từ từ, nó không tới như một cơn bão đâu, mà như nước ngấm dần. Hiện giờ nếu không có hiểu biết, chỉ có vô minh và dính mắc, các bụi ô nhiễm  sẽ bật lên như là một vòi nước. Vì có rất nhiều vô minh cho nên mức độ trí tuệ phải lớn tới chừng  nào để có thể buông bỏ dính mắc.

Sự thực cần phải được suy xét đi suy xét lại cho đến khi trở nên thật sự rõ ràng. Khi có hiểu biết về một thực tại kinh nghiệm một đối tượng, ở khoảnh khắc đó thế giới sáng hay tối? Kể cả với trí tuệ, nó vẫn trong bóng tối, vì thực tại kinh nghiệm không có hình, dạng. Ở khoảnh khắc của trí tuệ, thế giới là tối nhưng không có ai ở trong bóng tối. Trong một căn phòng tối hoàn toàn, có ai ở trong đó không? Nhưng kinh nghiệm đó ở trong bóng tối, nó kinh nghiệm âm thanh trong bóng tối, mùi trong bóng tối, vị trong bóng tối, đối tượng xúc chạm trong bóng tối và đó lại là sự thực. Nhưng khi sự thực ấy không hiển lộ, sẽ lại có ý niệm về mọi thứ và mọi người xung quanh. Và sẽ không có hiểu biết đúng về thực tại kinh nghiệm một đối tượng và thực tại được kinh nghiệm. Đó không phải là đối tượng của dính mắc. Tất cả đều là đối tượng của sự xả ly khi có hiểu biết đúng. Xả ly khỏi sự vô minh không biết cái gì là cái gì. Khi có cái hiểu đúng về thực tại, sẽ không có sự dính mắc vào cái sinh và diệt rồi. Đây chính là cách để đi tới sự tận diệt dính mắc về ngã. Nếu trí tuệ không ở mức đó, sẽ vẫn chỉ là suy nghĩ về sự xả ly, không phải là mức độ trí tuệ đủ để tận diệt ý niệm về ngã.

Vậy sư hãy tiếp tục và hãy chân thành với những gì là thực. Hiểu biết đúng ở khoảnh khắc ấy sẽ không có hoài nghi, nhưng khi có hoài nghi thì hoài nghi lại có thể là đối tượng của hiểu biết đúng. Khi có hiểu biết đúng, sẽ không còn ý niệm phải làm cái này hay phải làm cái kia và ta sẽ không còn bị nô lệ cho những ý nghĩ như vậy, nô lệ cho tham ái nữa. Sự xả ly ý niệm về ngã xảy ra một cách từ từ và dần dần. Ta sẽ biết được ý nghĩa của giải thoát. Nhưng khi có ý niệm rằng “tôi” cần phải cố gắng, “tôi” cần phải nỗ lực, khi đó không có hiểu biết đúng về những gì Đức Phật dạy về vô ngã (anatta). Mọi người thường cố gắng để hiểu về vô ngã nhưng về mặt thực chất vẫn là một ý niệm về ngã đang cố gắng và như vậy, cái hiểu về vô ngã không thể đượcphát triển mà ngược lại ý niệm về ngã lại càng được tăng trưởng. Đầu tiên là sẽ cần phải có sự chân thành, để thấy được sự khác biệt giữa khoảnh khắc có chánh niệm và khoảnh khắc không có chánh niệm. Như bây giờ chẳng hạn, có ai mà không biết rằng, cái cứng chỉ là cứng mà thôi. Vì nó xuất hiện nhiều lần trong ngày. Trong một ngày có nhiều lần cái cứng xuất hiện, bất cứ khi nào nó xuất hiện, nó xuất hiện cùng với cái kinh nghiệm nó, tức là thân thức. Nhưng nếu không có hiểu biết nhờ việc nghe Pháp thì sẽ vẫn chỉ là kinh nghiệm cái cứng bình thường như là thường lệ, như sự kinh nghiệm về cái cứng trong vòng luân hồi từ trước đến giờ mà thôi. Vòng luân hồi chính là sự sinh diệt của các thực tại, ngày hôm qua, kiếp trước, kiếp sau cũng như vậy không ngừng nghỉ. Những khoảnh khắc kinh nghiệm cái cứng và cho cái cứng đó là ta không thể không được tính là một khoảnh khắc của vòng luân hồi. Vòng luân hồi sẽ tiếp tục với vô minh và dính mắc cho đến khi có được trí tuệ tới từ việc nghe và suy xét, và có Pháp để làm nơi nương tựa, thực sự quy y pháp.

Làm thế nào có thể quy y Pháp mà không có sự nghiên cứu? Để có được cái mà ta gọi là “tôi xin quy y pháp”, cần phải có sư nghiên cứu giáo lý để hiểu về những gì mà Đức Phật dạy về các thực tại hiện giờ, khi đó thì sẽ có sự quy y pháp. Vì vậy từng từ một phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng: chẳng hạn, những pháp nào là pháp mà ta nương tựa, những pháp bất thiện có thể nơi ta nương tựa hay không? Ta cần phải biết rõ pháp nào là pháp mà ta nương tựa, điều ấy chỉ tùy thuộc vào trí tuệ- hiểu biết mà thôi, từ đầu cho tới cuối luôn phải là như vậy.

Kể cả cái cứng cũng không nên bị bỏ qua, tại sao? Bởi vì nó sinh khởi và rồi diệt đi như tất cả các thực tại khác. Không cần phải chú ý đến một đối tượng cụ thể nào đó, chẳng hạn như hơi thở. Ở khoảnh khắc chọn một đối tượng nào đó, khi ấy đang có sự dính mắc, sẽ chẳng khác gì những khoảnh khắc dính mắc khác với cái cứng, âm thanh, v,v… trong cuộc sống. Khi có những ý niệm rằng các thực tại thường nhật không thể là đối tượng của hiểu biết ở mọi lúc và mọi nơi, ta không hiểu đúng về trí tuệ, cái luôn hiểu về các thực tại đang xảy ra hiện giờ. Vì vậy phải rất tự nhiên. Rất đơn giản: cái thấy sinh khởi, ai có thể cố để có cái thấy? Mọi thứ đang diển ra rất tự nhiên, không phải cố để có cái gì đặc biệt, và đó cũng là một cách để hiểu vô ngã, vì tất cả những cái gì sinh khởi hay xuất hiện hiện giờ đều xuất hiện bởi duyên. Nếu không có ý niệm về ngã, sẽ có sự xả ly về những ý niệm tôi thấy, tôi nghe, tôi nghĩ, tôi đã sinh ra và tôi sẽ chết. Nhưng thực chất, cái gì được sinh ra và cái gì chết đi? Không có chúng sinh nào cả mà chỉ có các thực tại khác nhau mà thôi.

Hãy phân biệt các mức độ khác nhau của hiểu biết. Hiểu biết ở mức độ lý thuyết khác với hiểu biết khi chánh niệm bắt đầu sinh khởi hay biết thực tại, và cao hơn nữa là mức độ hiểu biết trực tiếp khi thấy rõ từng thực tại ở một thời điểm. Khi có đối tượng thị giác xuất hiện, ta cũng không cần phải dùng ngôn từ để có thể biết được rằng đây là một đối tượng sinh khởi để có thể được thấy. Khi nghĩ như vậy thì không phải là khoảnh khắc hiểu về cái thấy. Vitaka- tâm sở tầm sẽ được phát triển dần dần hơn để hiểu đúng về cái thấy nhưng chưa thể ngay lập tức. Ta có thể không nghĩ đến những thứ khác và nghĩ về cái thấy, nhưng đó cũng chưa phải là khoảnh khắc hiểu thực sự về cái thấy. Sau khi nghe pháp, sẽ có duyên cho những suy nghĩ về pháp. Từ sutamaya panna  (văn tuệ) sẽ dẫn đến citta maya panna (tư tuệ). Ngay cả khi không có cái thấy xuất hiện, nhưng suy nghĩ về cái thấy cũng có thể tạo duyên cho khoảnh khắc hiểu về cái thấy. Nó biết rằng hiểu biết mới đang chỉ ở mức độ đó mà thôi. Như vậy tuệ giác có thể hiểu những mức độ khác nhau của chính nó: đây là mức độ hiểu biết ban đầu, mức độ phát triển hơn và mức độ phát triển cao. Nếu không, đó sẽ không phải là tuệ giác, nếu không sẽ chỉ là tưởng có tuệ giác mà thôi. Ở khoảnh khắc có tuệ giác thì không có ngôn từ. Ở khoảnh khắc kinh nghiệm cái cứng, sẽ không cần  phải nói “ôi đây có một cái cứng đang được kinh nghiệm”. Như vậy đó chỉ là suy nghĩ mà thôi. Từ việc nghe cho đến suy nghĩ và khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp.

Một số người có những kinh nghiệm khác lạ và thường hoài nghi, phân vân về điều ấy, và đó là sự dính mắc. Họ cố nhớ lại kinh nghiệm ấy để tìm hiểu xem nó là cái gì, nhưng điều đó chỉ ra rằng đã không có sự xả ly, và như vậy hiểu biết sẽ  không thể tiếp tục đc phát triển. Chẳng hạn bây giờ đang có cái thấy, có chừng nào để hiểu biết về cái thấy? Cần phải có sự chân thực để biết rằng hiện giờ vẫn chưa thấy được rằng không có ai ở đấy cả, bởi vì phát triển trí tuệ cần có thời gian. Không ai có thể ngừng việc suy nghĩ và mong muốn. Đó là cái chức năng của tham. Chừng nào tuệ giác vẫn chưa sinh khởi để thấy được rằng cái thấy chỉ là một thực tại, sẽ không thể nào bỏ được ý niệm về ngã. Như là khi thấy một đối tượng thị giác và coi đó là một cái cây chẳng hạn. Khi đó có sự nhớ lại cùng với dính mắc. Những thực tại đó sinh khởi và đảm nhận chức năng của chúng rất nhanh. Nếu có trí tuệ cùng với chánh niệm sinh khởi, sẽ biết rằng đó chỉ là các thực tại mà thôi. Cái hiện giờ đang xuất hiện như là một đối tượng dễ chịu được thấy không còn nữa. Nghĩ về nó với dính mắc có xuẩn ngốc hay không? Thực tại ấy đã diệt đi rồi, nhưng vẫn tiếp tục nghĩ về nó với sự dính mắc. Như vậy ta có thể thấy rằng dính mắc cùng với vô minh xuẩn ngốc đến chừng nào. Sự xuẩn ngốc ấy không thể đảm nhận chức năng của panna-trí tuệ, nó rất ngu ngốc. Vô minh không thể phát triển để thành trí tuệ, vô minh vẫn cứ là vô minh thôi. Trí tuệ là một thực tại khác với vô minh.

Người phiên dịch: Achaan, con có một câu hỏi, đôi khi bản thân việc nghiên cứu pháp hay nghe pháp cũng có thể trở thành một nghi lễ. Mọi người đồng ý là việc nghiên cứu pháp là cần thiết, nhưng điều đó nó lại trở thành một nghi lễ đối với một số người.

Achaan:         Họ cho như thế nào là nghiên cứu?

Trả lời:          Đọc sách, nghe pháp…

Achaan         Có giống như bây giờ không?

Trả lời:         Giống như bây giờ ạ

Achaan:         Không giống như bây giờ, chỉ ở khoảnh khắc của hiểu biết thì mới là nghiên cứu. Có bao nhiêu loại tâm tất cả?

Trả lời:          89 loại tâm.

Achaan:         Nếu biết con số 89 ấy, có phải là việc nghiên cứu pháp hay không? Đó không phải là nghiên cứu pháp, nghiên cứu là nghiên cứu đặc tính của pháp đang xuất hiện, chẳng hạn như hiện giờ có cái thấy, cái thấy không phải là tham, không phải là sân, điều ấy có thể được suy xét. Không phải là nghiên cứu các con số hay là ghi nhớ lại để rồi có thể nói là có từng này loại tâm… Có bao nhiêu loại tâm sở, có 7 tâm sở biến hành: xúc, thọ, tưởng, tư, nhất tâm, tác ý, mạng căn. Nhưng tất cả những cái đó chỉ là ghi nhớ thôi chứ không phải là sự nghiên cứu khoảnh khắc này. Những gì chúng ta nhớ nó sẽ qua đi khi kiếp sống này chấm dứt, còn những gì được hiểu mới có thể được giữ lại và tiếp tục phát triển sang kiếp sau.

Kể cả tâm kinh nghiệm đối tượng, chẳng hạn như nhãn thức hiện giờ, vẫn hoàn toàn không được biết, bởi vì mọi người vẫn thường chú ý đến cái được thấy. Nếu không có cái thấy, nhãn thức, thì cái được thấy không thể xuất hiện, và cái xuất hiện hiện giờ xuất hiện với cái thấy, chỉ ở  khoảnh khắc của cái thấy thôi chứ không ở khoảnh khắc của suy nghĩ. Vào ban đêm khi ta ngủ mơ cũng có những đối tượng xuất hiện, nhưng trước đó không có cái thấy như hiện giờ. Tưởng có khả năng nhớ mọi thứ. Nhưng khi nói về tưởng như vậy thì cũng không phải là đặc tính của tưởng đang xuất hiện để có thể hiểu đúng về cái tưởng đó. Hiểu được đúng về các thực tại là một nhiệm vụ lớn lao. Nếu không có giáo lý của Đức Phật thì làm sao có thể bắt đầu có sự suy xét về những điều này?

Vì vậy tất cả các loại phiền não khác sẽ không thể được tận diệt, nếu như không có sự tận diệt ý niệm về ngã trước tiên. Nếu chúng ta chỉ nghĩ rằng “cần phải loại bỏ ý niệm về ngã” thì điều ấy là không thể, trừ phi tà kiến đó trở thành đối tượng của hiểu biết đúng. Chẳng hạn ta nói về tâm sở xúc (phassa), hiện giờ phassa có xuất hiện không? Chúng ta nói về tâm sở tà kiến, tà kiến có xuất hiện không? Kể cả hiện giờ chúng đang có mặt nhưng không xuất hiện như một đối tượng thì làm sao trí tuệ có thể thấy được bản chất thực sự của chúng. Tuệ giác rất chi tiết, khi nó sinh khởi, nó sẽ chỉ hiểu một đặc tính ở một thời điểm mà thôi. Có cái hiểu về âm thanh ở khoảnh khắc trước hay không? Trong thất niệm nó đã qua rồi, và không có chút hiểu biết nào sinh khởi cả. Nhưng khi có trí tuệ, nó sẽ hiểu ý nghĩa thực sự của cái là chánh niệm tỉnh giác.

Khi có một thực tại, ví dụ như cái thấy, sinh khởi thì chánh niệm có thể đi ngay sau đó rất gần, dường như đồng thời với cái thấy. Cái thấy và cái nghe dường như xảy ra cùng một lúc nhưng đó thực chất là hai khoảnh khắc khác nhau. Giáo lý rất cần thiết, nếu không ta sẽ không thể biết được điều đó, rằng sati đi ngay sau thực tại, giống như cái thấy và cái nghe, dường như đồng thời.  Như hiện giờ có thể có cái cứng ở nơi ta xúc chạm, nhưng không có sự hiểu biết. Còn ở khoảnh khắc có trí tuệ sinh khởi, hiểu biết đi sát liền với khoảnh khắc kinh nghiệm cái cứng, đó là cái còn lại sau khi cái cứng đã diệt đi, là nimitta, tướng của cái đã diệt đi. Tướng ấy có đặc tính giống hệt thực tại đã diệt đi. Tất cả các thực tại như chánh niệm, trí tuệ theo sát nên dường như nó sinh khởi cùng một lúc.

Vị sư 1:          Achaan nói là khi cái thực tại đó xảy ra, ở khoảnh khắc sau thì chánh niệm biết thực tại đó mới sinh khởi. Chánh niệm không xảy ra cùng một lúc với thực tại. Cái nhân duyên nào mà khi thực tại đã chấm dứt diệt đi rồi mà chánh niệm nhận biết được thực tại đã sinh khởi?

Achaan:         Chính vì vậy người ta dùng từ “thực tại như nó là”, là bởi nó giống như thực tại chứ không phải là bản thân thực tại ấy, vì thực tại ấy đã diệt đi rồi. Chánh niệm hay biết “thực tại như nó là” tức là biết được đúng đặc tính của thực tại đó. Và nó cũng hoàn toàn khác với những gì chúng ta đang biết hiện giờ. Khi mới khởi đầu, khoảnh khắc hiểu biết về thực tại khác với thông thường, nhưng vẫn còn chưa có sự khác biệt hoàn toàn, thế giới vẫn còn đó; nhưng khi trí tuệ đủ mạnh thì thế giới hoàn toàn biến mất, chỉ có thực tại mà thôi. Như hiện giờ chẳng hạn, cái cứng có xuất hiện như nó là không? Nó có thể, nhưng không phải do mong muốn của chúng ta. Nếu chánh niệm không sinh khởi một cách tự nhiên, do đủ duyên, thì thực ra chỉ là ý định có chánh niệm chứ không phải là chánh niệm. Các thực tại rất khác nhau, chẳng hạn như chánh niệm thì không phải là tác ý (cetana) cũng không phải là định (ekagata). Chánh niệm là một pháp hữu vi sinh khởi do duyên, không ai có thể định được cái gì sẽ là đối tượng của nó, chẳng hạn có lúc có thể là cái cứng, hoặc một thực tại khác là đối tượng. Nhưng bất cứ khi nào một thực tại trở thành đối tượng của chánh niệm, nó sẽ rất khác với lúc bình thường.

Vị sư 1:          Bà có thể giải thích thêm về bản chất  của cái gọi là “thực tại như nó là”?

Achaan:         Khi một thực tại sinh khởi, chẳng hạn đối tượng thị giác qua nhãn căn, nó  được nhận biết trong tiến trình của nhãn môn và sau khi nó diệt đi, tướng (nimitta) của nó được biết ở trong tiến trình của ý môn.Tướng được biết trong tiến trình của ý môn có đặc tính giống hệt như đặc tính của đối tượng thị giác trong tiến trình nhãn môn, và nó có thể là đối tượng của trí tuệ. Cho nên khi nói đến “như nó là”, điều ấy có nghĩa là mặc dù thực tại đã diệt đi rồi, nhưng đặc tính của nó vẫn được biết đến hệt “như nó là”.

Sadhu sadhu sadhu !

, , , , ,

Translate »