Tag Archive vipassana

Khảo cứu pháp chân đế – CHƯƠNG 2: ĐỨC PHẬT

Chương 2

Đức Phật

 

Đức Phật – Bậc toàn giác, Bậc Ứng cúng đã bát niết bàn (parinibbāna) giữa hai cây Sāla trong rừng Sāla, tại nơi mai táng cho người Malla thuộc xứ Kusināra. Kể từ đó, các chúng sinh trên thế giới này không còn cơ hội được nghe Giáo lý được giảng trực tiếp từ Ngài nữa. Tuy nhiên, Đức Phật đã để lại Pháp (Dhamma) và Luật (Vinaya) mà Ngài   đã thuyết làm vị thầy của chúng ta và đại diện cho Ngài sau khi nhập diệt1.

Mức độ tôn kính mà mỗi người Phật tử dành cho Giáo pháp vi diệu của Đức Phật cũng tương ứng với  mức độ  kiến thức và hiểu biết về Pháp và Luật ấy của họ. Nếu ai đó được chiêm ngưỡng dung nhan hiển lộ sự hoàn  mỹ của Đức Phật, được lắng nghe Giáo pháp trực tiếp từ Ngài, được chạm vào nẹp y của Ngài và đi sau Ngài từng bước nhưng không hiểu Giáo pháp thì người ấy cũng không thấy được Đức Phật. Những ai thấy và hiểu được Giáo pháp thì người ấy được gọi là người thấy Như Lai2.

Có ba mức độ hiểu biết về Giáo lý của Đức Phật, tức là Giáo pháp mà Bậc toàn giác đã dạy, đó là:

  • Pariyatti (Pháp học): là  mức  độ  hiểu  biết  lý thuyết về Giáo pháp và Giới luật.
  • Paṭipatti (Pháp hành): là mức độ thực hành; là sự phát triển hiểu biết về Giáo lý với mục đích để đạt được giác ngộ qua đó phiền não sẽ được tận diệt và khổ sẽ được chấmdứt.
  • Paṭivedha (Pháp thành): là sự xuyên thấu và chứng ngộ trực tiếp Giáo lý qua đó các phiền não được tận diệt và chấm dứt khổ đau.

Câu nói của Đức Phật rằng “ai thấy Pháp là thấy Như Lai” là nói đến việc thấy và chứng ngộ Giáo lý mà Đức  Phật đã giác ngộ.  Đó chính là Pháp – bao  gồm chín pháp siêu thế (lokuttaradhamma)3. Sự chứng ngộ trực tiếp ở mức độ pháp thành (paṭivedha) là kết quả của sự thực hành (paṭipatti), cũng là sự phát triển hiểu biết về Giáo pháp. Mức độ của paṭipatti (pháp hành)  lại  phụ thuộc  vào  pariyatti (pháp học), là sự nghiên cứu về Giáo pháp và Giới luật. Việc nghiên cứu này là nơi chúng ta nương nhờ, đó  chính là con đường từng bước dẫn tới Giáo pháp ở mức độ pháp hành (paṭipatti) và sau đó đến mức độ pháp thành (paṭivedha).

Giáo pháp của Đức Phât đã được gìn giữ bằng trí nhớ và lưu truyền nhờ truyền thống tụng đọc. Nó đã được tụng đọc theo sự ghi nhớ những gì được nghe từ  các bậc  A la hán đệ tử, những người đã thiết lập ba phần của Giáo lý  được gọi là Tam Tạng  (Tipiṭaka) tại kỳ kết tập Tam Tạng  lần thứ nhất được tổ chức sau khi Đức Phật nhập diệt tại Rājagaha (Vương Xá). Giáo pháp đã được tụng đọc bằng trí nhớ và lưu truyền như vậy cho đến khi nó được lưu         thành văn bản vào thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên. Pháp và Luật được quy tụ bởi các vị A la hán đệ tử ở kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ nhất bao gồm ba phần, đó là:

  • Tạng Luật (VinayaPiṭaka)
  • Tạng Kinh (SuttantaPiṭaka)
  • Tạng Vi Diệu Pháp (AbhidhammaPiṭaka)

Tạng Luật (Vinaya Piṭaka) chứa đựng những quy tắc ứng xử cho các vị tỳ kheo để họ có thể sống cuộc đời phạm hạnh (brahmacariya4) hoàn hảo đến mức độ cao nhất. Tạng Kinh (Suttanta Piṭaka) bao gồm những nguyên lý của Giáo pháp được thuyết giảng cho những người khác nhau ở những nơi khác nhau. Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka) nói đến bản chất của các pháp, về các thực tại và  các mối duyên hệ giữa nhân và quả của chúng.

Đức Phật đã chứng ngộ được bản chất thật của tất cả   các thực tại và những mối duyên hệ nhân quả giữa chúng. Đức Phật đã giảng Pháp mà Ngài đã chứng ngộ để giúp các chúng sinh khác trong thế giới này. Với trí tuệ vô song, sự thanh cao và lòng từ vô hạn, Ngài  đã  giảng Pháp từ khi  giác ngộ cho đến khi nhập niết bàn. Đức Phật đã vun bồi     các ba la mật để có thể trở thành Bậc Toàn giác, Bậc A la hán, Bậc Chánh đẳng giác5. Ngài đã có được những thành tựu  phi  thường (sampadā)6,  đó  là “thành  tựu  về nhân” (hetu), “thành tựu về quả” (phala) và “thành tựu về khả       năng cứu độ chúng sinh” (sattupakāra)7

 

“Thành tựu về nhân” là sự thành tựu về các nguyên  nhân đúng, tức là các ba la mật cần thiết để có thể giác ngộ và trở thành một vị Phật toàn giác. “Thành tựu về quả” là  sự chứng đạt của bốn quả, hay kết quả, như sau:

  • Thành tựu về trí tuệ (ñāṇasampadā). Đó là trí tuệ sinh khởi cùng với tâm đạo tại thời điểm giác ngộ8. Trí tuệ này là nền tảng và nguyên nhân  sâu xa của  sự toàn giác và của thập lực(dasabala) của Ngài.
  • Thành tựu về sự xả ly (pahānasampadā). Đó là sự tận diệt hoàn toàn tất cả các phiền não cùng với  những xu hướng ngủ ngầm hay những tiền khiên tật (vāsanā). Tiền khiên tật được thể hiện qua thân và khẩu, nó có thể khó coi hay khó nghe và được tích  lũy từ nhiều kiếp. Sự đoạn trừ các loại tiền khiên tật này chỉ có được ở một vị Phật toàn giác10.
  • Thành tựu về năng lực (ānubhāvasampadā). Đó là khả năng để đạt được cái mình muốn có.

 

  • Thành tựu về sắc thân (rūpakāya sampadā). Bao gồm những đặc tính trên thân hiển lộ các phẩm chất cao thượng mà Ngài đã tích lũy trong các tiền kiếp11. Ngoài ra những đặc tính ấy rất dễ nhìn, khiến người ta ấn tượng và mang đến cho họ niềm hoanhỷ.

Khi nguyên nhân, tức là sự thành tựu về các ba la mật, đã được hoàn mãn, nó sẽ làm duyên cho sự thành tựu về  quả, cho sự giác ngộ và trở thành một vị Phật Chánh đẳng giác (Sammāsambuddha). Ngài đã trở thành vị Phật Chánh đẳng giác và chấm  dứt khổ đau nội tại của vòng sinh  tử  luân hồi không phải cho bản thân. Ngài đã bồi bổ các ba la mật để có thể đạt được giác ngộ và  chứng quả chánh biến tri để có thể dạy Giáo pháp cho các chúng sinh trên thế giới này, để họ cũng được thoát khổ. Nếu như Đức Phật đã bồi  bổ các ba la mật chỉ để tận diệt phiền não và thoát khổ cho bản thân thì Ngài đã không được gọi là Đức Phật Chánh  đẳng giác (hay Toàn giác)

Có hai loại Phật: Phật  Toàn giác (Sammāsambuddha) và Phật độc giác (Paccekabuddha)12.

Một vị Phật toàn giác là người đã tự mình chứng ngộ bởi trí tuệ sâu sắc của bản thân, thấy được sự thực về các  pháp chưa từng được nghe13 và đã chứng được chánh biến tri về các pháp đó, cũng như những năng lực thần thông.

Một vị Phật độc giác (Pacceka Buddha) là người cũng tự mình đạt được chân lý về tất cả các pháp mà Ngài chưa từng được nghe, nhưng không đạt được chánh biến tri cùng các thần thông.

Như vậy, nhân – hay sự vun bồi đầy đủ các ba la mật mang đến quả là việc đạt được Phật quả một cách tương  ứng. Nhân và quả khác nhau giữa trường hợp của vị Phật độc giác và vị Phật toàn giác.

Thành tựu thứ ba của một vị Phật liên quan tới  khả năng cứu độ chúng sinh (sattupākara). Đó là sự thành tựu  về việc luôn trợ giúp cho các chúng sanh của thế giới này bởi khả năng và nỗ lực của Ngài cho việc ấy. Ngài muốn giúp đỡ cả những người xấu như Đề Bà Đạt Đa  (Devadatta)14. Trong trường hợp những người tuệ căn chưa đủ mạnh, Đức Phật đợi đến thời gian chín muồi để có thể dạy dỗ họ. Ngài dạy Giáo pháp với mục đích duy nhất là giúp mọi người thoát khổ, không chút mong muốn mang  lại danh dự hay của cải nào cho bản thân.

Khi Đức Phật Toàn giác đã hoàn mãn những thành tựu về nhân và quả, Ngài sẵn sàng giúp đỡ những người có thể tiếp nhận Giáo lý của Ngài để thoát khổ, và đó là thành tựu về sự cứu độ chúng sinh. Vì vậy, Ngài là bậc Toàn giác,  bởi Ngài đã thành tựu cả ba loại thành tựu về nhân, về quả và về sự cứu độ chúng sinh.

Chính vì thế, Giáo pháp mà Đức Phật Toàn  giác thuyết giảng là Giáo pháp mà Ngài đã xuyên thấu khi đạt được giác ngộ. Với sự giác ngộ, tất cả các phiền não được đoạn diệt. Đức Phật dạy Giáo pháp mà Ngài  đã tự mình  giác ngộ để những ai thực hành đúng đắn cũng có thể thoát khỏi phiền não.

Những người đệ tử Phật cần phải thẩm xét và nghiên  cứu chân lý nơi Giáo pháp mà Đức Phật đã giác ngộ để tìm ra sự thật chính xác là gì. Sự thật mà Đức Phật đã chứng ngộ khác như thế nào với sự thật của thế giới quy ước?

Đức Phật đã chứng ngộ chân lý thông qua sự giác ngộ của mình và thuyết  giảng cho  các đệ tử, để họ cũng có được hiểu biết và thực hành Giáo pháp một cách đúng đắn cho đến khi họ cùng chứng ngộ chân lý ấy. Sự thật mà Đức Phật đã thuyết giảng là: tất cả những gì sinh khởi chỉ là pháp – dhamma15, là thực tại không phải là ngã, không phải  là một chúng sinh hay con người. Tất cả các pháp đều sinh khởi bởi có các duyên cho chúng sinh khởi, như tham, sân, trạo hối, cảm thọ ưu, cảm thọ hỷ, sự ghen tuông, sự bủn  xỉn, lòng từ bi, cái thấy, cái nghe,… Tất cả đều là các loại pháp khác nhau. Có các loại pháp khác nhau là vì chúng  sinh khởi bởi những duyên khácnhau.

Chúng ta nhầm lẫn cho rằng tham, sân  và các pháp  khác sinh khởi là ta, là chúng sinh, là con người, và đó chính là tà kiến, là hiểu biết sai lầm. Đó là tà kiến bởi lẽ  những pháp ấy sau khi sinh khởi thì lại diệt đi, biến mất, chúng đều có tính chất luôn thay đổi từ khi sinh ra cho đến khi chết đi. Lý do khiến chúng ta cho đó là ta, là tự ngã, là chúng sinh, là  con người chính là vô minh về thực tại, về các pháp.

Bất cứ khi nào thấy, ta lại cho cái thấy, mà về bản chất chỉ là một thực tại, là ta. Ta dính mắc vào ý niệm  “tôi thấy”. Khi nghe, ta cho rằng pháp (dhamma) đang nghe là ta, ta dính mắc vào  ý niệm  “tôi nghe”. Khi ngửi, ta cho rằng pháp ngửi đó là ta và ta lại dính mắc vào ý niệm “tôi ngửi”.  Khi nếm, ta cũng cho  rằng pháp nếm đó là ta, ta dính mắc vào ý niệm “tôi nếm”. Khi kinh nghiệm  đối tượng xúc chạm qua thân căn, ta cho rằng pháp kinh  nghiệm đó là ta, ta dính mắc vào ý niệm “tôi kinh nghiệm”. Khi nghĩ về các chủ đề khác nhau, ta  cho rằng pháp suy  nghĩ đó là ta, ta dính mắc vào ý niệm “tôi nghĩ”.

 

Sau khi giác ngộ sự thật về tất cả các pháp, Đức Phật   đã dạy chân lý ấy cho các đệ tử của mình để họ có thể hiểu các pháp là vô ngã, không phải là chúng sinh hay con  người. Ngài dạy về pháp  chân đế (paramatthadhamma) –  mỗi pháp đều có một đặc tính  riêng không thể thay đổi.  Đặc tính của các pháp chân đế không thể được thay đổi bởi bất kỳ ai, dù người ấy có biết về chúng hay không,  dù người ấy gọi chúng bằng tên gọi theo bất kỳ ngôn ngữ nào, hay không gọi tên chúng đi nữa thì đặc tính của chúng vẫn luôn như vậy. Pháp sinh  khởi vì có những điều  kiện phù  hợp cho sự sinh khởi của chúng và rồi diệt đi ngay. Như  Đức Phật đã nói với Ngài Ānanda16: “Cái gì sinh, cái gì đã tồn tại bởi duyên thì cũng sẽ diệt”.

Bởi vô minh, chúng ta hiểu sai và cho các pháp sinh và diệt là ta, là chúng sinh, là con người. Đó là nguyên  nhân ngày càng có tham ái, dính mắc hơn với địa vị, xuất thân, gia đình, màu da của mình,… Trên thực tế, cái ta thấy chỉ là các màu sắc khác nhau sinh khởi qua mắt,  không phải là ngã, không phải là con người, không phải là chúng sinh. Âm thanh được nghe không phải là ta, không phải là con người, không phải là chúng sinh. Cái xuất hiện qua các căn chỉ là những loại pháp khác nhau sinh khởi bởi các duyên tương ứng của chúng.

Tà kiến cho rằng các pháp là ta, là ngã, là con người, là chúng sinh có  thể so với việc nhìn thấy một ảo ảnh.  Những người đang đi trên sa mạc có thể nhìn  thấy ảo ảnh về nước ở trước mặt họ  nhưng đến khi tới nơi thì toàn bộ    ảo ảnh đó biến mất,  vì trên thực tế không có nước. Hình ảnh mà họ thấy chỉ là một ảo ảnh thị  giác mà thôi. Hiểu  biết sai lầm cho các pháp là ta, là chúng sinh, là con người cũng như vậy, nó được tạo ra bởi vô minh, bởi ngã tưởng    và tà kiến.

Những từ như “chúng sinh”, “con người”, “nữ”, “nam”… chỉ là những khái niệm được sử dụng để nói về cái mà ta thấy hoặc nghe. Hơn nữa, một điều hiển nhiên là những màu sắc khác nhau, âm thanh khác nhau, mùi vị khác nhau, nóng, lạnh, cứng, mềm, sự căng, chùng…, tất     cả sự đa dạng về các đặc tính ấy, không thể xuất hiện nếu không có các pháp kinh nghiệm chúng, tức là cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, sự kinh nghiệm nóng, lạnh, cứng, mềm, căng, chùng, sự hay biết những thứ khác nhau và suy nghĩ.

Tất cả các pháp có thể kinh nghiệm mọi thứ khác nhau (như pháp kinh nghiệm  màu sắc; pháp kinh nghiệm âm thanh; pháp kinh nghiệm mùi vị; pháp kinh nghiệm nóng, lạnh, cứng, mềm, căng, chùng; pháp biết được ý nghĩa của những thứ khác nhau và pháp suy nghĩ về những chủ đề khác nhau) được Đức Phật toàn giác gọi là tâm (citta).
 

 


[1] Trường Bộ Kinh  (Dīgha Nikāya), Phần II, Số 16, Kinh Đại Bát Niết Bàn.

[2]Tiểu Bộ Kinh  (Khuddaka Nikāya), Phần II, Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka), Quyển III, Chương V, Số 3. “Như lai” (Tathāgata) là một danh hiệu của đức Phật.

[3] Có tám loại tâm siêu thế chứng ngộ niết bàn là pháp siêu thế. Có bốn giai đoạn giác ngộ, với mỗi giai đoạn, có hai loại tâm siêu thế là tâm đạo và tâm quả. Điều này sẽ được giải thích kỹ hơn trong các phần sau.

[4] Cuộc đời phạm hạnh (brahma cariya) là cuộc sống của người phát triển tứ niệm xứ, phát triển hiểu biết đúng về các thực tại, để trở thành bậc A la hán.

[5] Đức Phật toàn giác, người tự mình chứng ngộ và có thể dậy chân lý cho những người khác.

[6] Theo Abhidhammattha-vibhāvinī-ṭíkā.

[7] “Satta” là chúng sinh và “upakāra” là giúp đỡ.

[8] Tâm đạo là tâm siêu thế kinh nghiệm niết bàn và tận diệt phiền não. Tâm này được đi kèm với trí, và được gọi là trí đạo (magga-ñāna).

[9] Các năng lực này là trí tuệ toàn hảo của Ngài, chẳng hạn  như trí biết nghiệp và quả của nghiệp, trí phân tích giới (dhātu), trí phân tích các uẩn (khandha), các căn, trí biết được căn cơ của các chúng sinh, túc mạng minh (trí nhớ được tiền kiếp), thiên nhãn minh (trí biết được sự sinh diệt của các chúng sinh), lậu tận minh (trí biết được sự tận diệt của mọi phiền não) (Trung Bộ Kinh, No12, Đại Kinh Sư Tử Hống)

[10] Kể cả các vị A la hán, những người không còn phiền não, vẫn có thể có các hành xử không tao nhã, chẳng hạn như nói nhanh hay chạy, do các tích lũy quá khứ. Những hành xử ấy không được tạo duyên bởi tâm bất thiện, vì các vị ấy đã hoàn toàn tận diệt phiền não.

[11] Xem thêm Trường Bộ Kinh  (Số 30, Ba mươi hai tướng tốt của bậc Đại Nhân).

[12] Nhân Chế Định (hay Nhân Thi Thuyết) (Puggala Paññatti), Chương I, Phân chia các loại người theo Một, § 28-29. “Pacceka” xuất phát từ tiếng Pāli “paṭi eka” (tự mình). “Eka” có nghĩa là “một mình”

[13] Trong kiếp ấy [VDH]

[14] Người này đã cố giết hại Đức Phật vài lần.

[15] “Dhamma” có nhiều nghĩa; nó không chỉ có nghĩa là “Giáo Pháp”. Trong bối cảnh này, “dhamma” có nghĩa là “tất cả những gì là thật, thực tại”

[16] Trường Bộ Kinh , Số 16, Kinh Đại Bát Niết bàn, chương V, § 144.

********

, , , ,

Khảo cứu pháp chân đế – LỜI GIỚI THIỆU + CHƯƠNG I

Lời giới thiệu

Khảo cứu pháp chân đế” là một kiệt tác được viết bởi Achaan Sujin Boriharnwanaket, với sự kham nhẫn và trạng thái khẩn cấp tu niệm, nhằm giúp mọi người có được hiểu biết đúng đắn về thực tại. Cuốn sách giải thích một cách chi tiết về tâm (citta), tâm sở (cetasika) và sắc (rūpa). Toàn bộ cuốn sách toát lên tâm từ rộng lớn. Achaan Sujin nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại rằng, hiểu biết về mặt lý thuyết, tức là chỉ biết tên của các thực tại, sẽ không đủ, mặc dầu nó là nền tảng của hiểu biết trực nhận. Mục đích thực sự của việc nghiên cứu Giáo pháp là thấy rằng: chính khoảnh khắc này đây là pháp, là vô ngã. Tất cả các thực tại cần phải được biết bây giờ, khi chúng sinh khởi, để tà kiến về ngã có thể được tận diệt.

Achaan Sujin là một bậc thiện trí giải thích không mệt mỏi về sự thực hành đưa đến kinh nghiệm trực tiếp về thực tại. Achaan đã giảng Pháp từ hơn 40 năm, các bài giảng của Bà được phát sóng hàng ngày trên khắp đất nước Thái và còn có thể nghe được ở Cam Pu Chia, Lào và Malaysia. Cuốn sách này dựa trên các bài Pháp thoại của Bà.

Thông qua toàn bộ cuốn sách, Achaan Sujin chỉ ra sự thực về vô ngã (anattā). Sự dính mắc vào ý niệm về ngã rất vi tế và phức hợp, và vì vậy rất khó nhận ra. Chúng ta dính mắc vào ý niệm về một cái tôi phát triển tuệ giác. Tuy nhiên, ngay từ ban đầu, ta cần phải nhớ rằng không có ai hay cái ngã nào có thể điều khiển sự sinh khởi của chánh niệm (sati) và trí tuệ (paññā). Chánh niệm và trí tuệ là các tâm sở tịnh hảo (sobhana cetasika), chúng sinh khởi khi có các duyên tương ứng và ngay tại thời điểm ấy, chúng đã đảm nhận chức năng của mình. Dính mắc vào chánh niệm và trí tuệ sẽ phản tác dụng với sự phát triển của chúng. Duyên phù hợp cho sự sinh khởi của chánh niệm và trí tuệ là được nghe Chánh pháp do một thiện trí thức giảng giải và có sự suy xét chân chánh về những gì được nghe. Achaan Sujin là một thiện trí thức giúp đỡ nhiều người phát triển chánh niệm và trí tuệ.

Achaan Sujin giảng giải một cách chi tiết về tâm sinh khởi trong một tiến trình, với mục đích chỉ ra rằng tâm chỉ là một pháp hữu vi do duyên khởi, nằm ngoài sự kiểm soát và không phải là tự ngã. Người đọc có thể phân vân liệu họ có thể tìm thấy các lời giảng về các tiến trình tâm ở đâu trong Kinh điển. Achaan Sujin có hiểu biết rất sâu rộng về toàn bộ Tam Tạng, các Chú giải và phụ Chú giải, Bà sử dụng các Kinh điển ấy làm nguồn cội cho các phần trình bày của mình. Cuốn “Đạo Vô Ngại Giải” (Paṭisambhidāmagga) của Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya) và “Bộ Duyên Hệ (Paṭṭhāna) nói về các tiến trình tâm. Nhiều chi tiết đã được nói tới trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) và trong Chú Giải Bộ Pháp Tụ   (Aṭṭhasālinī) đều hoàn toàn dựa trên các Kinh điển truyền thống. Cuốn Vi Diệu Pháp Toát Yếu” (Abhidhammattha Saṅgaha) và phụ chú giải của nó, Abhidhammattha-vibhāvinī-ṭīka, là các tác phẩm dựa vào Kinh điển, cũng bàn về các tiến trình tâm.

Độc giả có thể cũng phân vân tại sao lại có nhiều chi tiết được dành để nói đến các cõi trú xứ khác nhau. Trong kinh điển, đặc biệt là trong Tiền Thân Đức Phật (Jātaka) – sách nói về các tiền kiếp của Đức Phật, ta sẽ gặp tên của các cõi này. Biết về các cõi ấy giúp ta thấy được sự phức hợp của các nguyên nhân, cái sẽ dẫn đến kết quả tương ứng.

Nhiều chi tiết nói về sự phát triển của samatha và tâm thiền (jhānacitta) cũng được trình bày với mục đích chỉ ra rằng chỉ có nhân đúng mới mang đến quả đúng. Samatha cần phải được phát triển với tâm thiện hợp trí. Khi không phải như vậy, sẽ là tà định sinh kèm với tham (lobha), chứ không phải là chánh định. Nếu ai đó ngồi thiền và cố gắng chú tâm mà không có chút hiểu biết nào thì sẽ có tà định. Mọi người nhầm lẫn cho cái chỉ là tham là sự chứng đắc tầng thiền và do vậy, Achaan giảng về những điều kiện cần có để đắc thiền và chỉ ra rằng việc ấy khó đến chừng nào.

Trong sự phát triển của vipassanā, tuệ giác được phát triển theo từng giai đoạn. Achaan Sujin giảng giải một cách chi tiết về các giai đoạn tuệ giác khác nhau để chỉ ra rằng sự phát triển tuệ giác là một tiến trình vô cùng dài lâu. Ta có thể đọc trong “Thanh Tịnh Đạo” (Chương XVIII – XXI) hay “Đạo Vô Ngại Giải” (Luận Về Trí, Chương V – XI) về các tầng tuệ nhưng lại với hiểu biết không đúng. Ta có thể cho rằng các tầng tuệ này có thể đạt tới bằng sự suy nghĩ về vô thường, khổ, vô ngã. Tuy nhiên, tất cả các giai đoạn tuệ giác này, từ tầng tuệ thứ nhất đến giây phút giác ngộ, đều được chứng nghiệm bằng sự trực nhận về danh và sắc. Dù là ở tầng tuệ nào, đối tượng của tuệ giác đều là các đặc tính của danh và sắc xuất hiện tự nhiên ở khoảnh khắc hiện tại. Achaan Sujin nhấn mạnh điều này nhiều lần, bởi sự thực hành Giáo pháp phải hoàn toàn thống nhất với Tam Tạng.

Với sự trân trọng sâu sắc nhất của mình đối với sự chỉ dạy đầy sức thuyết phục của Achaan Sujin, tôi xin tặng bản dịch cuốn sách này cho các độc giả Anh ngữ.

Một phần của cuốn sách này dưới tiêu đề “Khái Niệm Và Thực Tại” đã được in riêng với sự giúp đỡ ấn tống của Robert Kirkpatrick, người có những nỗ lực mà tôi đánh giá cao.

Tôi chia các phần chính của cuốn sách này thành nhiều chương, mỗi chương có một tiêu đề riêng để tiện theo dõi cho bạn đọc. Phần lớn các chú thích cuối trang trong cuốn sách này là của tôi. Tôi bổ sung các chú thích ấy nhằm giúp những độc giả chưa quen thuộc với một số thuật ngữ và khái niệm trong cuốn sách.

Các trích dẫn từ Kinh bằng tiếng Anh hầu hết được lấy trong ấn phẩm của Pāli Text Society (P.T.S).

Mong rằng cuốn sách cơ bản cho tất cả những ai nghiên cứu Giáo pháp này sẽ mời gợi độc giả suy xét một cách kỹ lưỡng về các thực tại được Achaan Sujin giảng giải và phát triển thêm hiểu biết về chúng.

 

Nina Van Gorkom

CHƯƠNG I. KINH ĐIỂN VÀ CÁC CHÚ GIẢI

Phật ngôn – Pháp và Luật mà Đức Phật đã thuyết giảng bao gồm chín thể tài, đó là Kinh (Sutta), Ứng Tụng (Geyya), Biện Giải (Veyyākaraṇa), Kệ Tụng (Gāthā), Cảm Hứng Ngữ (hay Tự Thuyết) (Udāna), Phật Thuyết Như Vậy (Như Thị Ngữ) (Itivuttaka), Tiền Thân Đức Phật (Bổn Sanh) (Jātaka), Vị Tằng Hữu (Abbhuta)Phương Quảng (Vedalla)[1].

Kinh (Sutta)[2] bao gồm tất cả các bài thuyết Pháp, như Hạnh Phúc Kinh (Mangala Sutta), Tạng Luật (Vinaya Piṭaka[3])Nghĩa Tích (Niddesa).

Ứng Tụng (Geyya) bao gồm tất cả các bài kinh có kệ (gāthā), như Thiên có kệ (Sagāthā-vagga) trong Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya).

Biện Giải (Veyyākaraṇa), bao gồm tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka), các bài kinh không có kệ và những lời dạy của Đức Phật không nằm trong tám thể tài còn lại.

Kệ Tụng (Gāthā) bao gồm Pháp Cú (Dhammapada), Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā)Trưởng Lão Ni Kệ (Therigāthā) và các phần của Kinh Tập (Sutta-nipāta) không được gọi là “Kinh” và hoàn toàn dưới dạng kệ.

Cảm Hứng Ngữ (hay Tự Thuyết – Udāna) bao gồm tám mươi hai bài kinh với kệ được tụng bởi Đức Phật, với cảm hứng do trí và hỷ.

Như Thị Ngữ (hay Bổn Sự – Itivuttaka)[4] bao gồm một trăm mười bài kinh bắt đầu với “Phật Thuyết Như Vậy” (tiếng Pāli là “Vuttaṃ h’etaṃ Bhagavatā”)

Tiền Thân Đức Phật (hay Bổn Sanh Jātaka) bao gồm năm trăm năm mươi câu chuyện về các tiền kiếp của Đức Phật và các đệ tử của Ngài, bắt đầu với Chuyện Pháp Tối Thượng (Apaṇṇaka Jātaka)

Vị Tằng Hữu (Abbhuta) bao gồm các bài kinh liên quan tới những điều diệu kỳ và tuyệt hảo.

Phương Quảng (Vedalla) bao gồm các bài kinh hỏi – đáp có kết quả là sự sinh khởi trí tuệ và hoan hỷ, chẳng hạn như Kinh Tiểu Phương Quảng (Cullavedalla Sutta)

Phật ngôn bao gồm tám mươi tư ngàn pháp uẩn. Đại đức Ānanda học tám mươi hai ngàn pháp uẩn từ Bậc Thiện Thệ và hai ngàn pháp uẩn từ các vị tỳ kheo, phần lớn là từ Đại đức Sāriputta (Xá Lợi Phất). Mỗi chủ đề là một pháp uẩn. Như vậy, một bài kinh về một chủ đề sẽ là một pháp uẩn. Khi có các câu hỏi và trả lời, mỗi câu hỏi là một pháp uẩnvà mỗi câu trả lời lại là một pháp uẩnkhác.

Khi kinh điển được chia thành Tam Tạng (Tipiṭaka), chúng được xếp làm ba phần, bao gồm: Tạng Luật (Vinaya), Tạng Kinh (Suttanta)Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)

Tạng Luật bao gồm năm quyển, đó là:

  • Yết Ma Và Truyền Giới Pháp (Parivāra)
  • Đại Phân Tích (Mahāvibhaṅga)
  • Phân Tích Tỳ Kheo Ni (Bhikkhunī-vibhaṅga)[5]
  • Đại Phẩm (Mahāvagga)
  • Tiểu Phẩm (Cullavagga)

Chú giải cho Tạng LuậtSamantapāsādikā.

Cuốn Tạng Kinh bao gồm năm bộ Nikāya, đó là Trường Bộ (Dīgha Nikāya)[6] (hay  Đối Thuyết Của Đức Phật)[7], Trung Bộ  (Majjhima Nikāya)[8], Tương Ưng Bộ  (Saṃyutta Nikāya)[9], Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya)[10] Tiểu Bộ (Khuddaka Nikāya)[11]

Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya) là tập hợp các bài kinh dài (“dīgha” có nghĩa là “dài”) bao gồm ba mươi tư bài kinh. Bộ này lại được chia làm ba phẩm (vagga)[12]:

  • Phẩm Giới Uẩn (Sīla-kkhandha-vagga) (“sīla” có nghĩa là “giới”, còn “khandha” có nghĩa là “uẩn”, “nhóm”)
  • Đại phẩm (Mahā-vagga) (“mahā” có nghĩa là “đại”, “lớn”)
  • Phẩm Pāṭika (Pāṭika-vagga), gọi theo tên bài kinh đầu tiên; Pāṭika là một tên riêng.

Chú giải của bộ này là cuốn Sumaṅgalavilāsinī.

Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya) là tập hợp các bài kinh có độ dài trung bình (“Majjhima” có nghĩa là “trung”) và bao gồm một trăm năm mươi hai bài kinh. Bộ này được chia làm ba phần, tiếng Pāli gọi là “paṇṇāsa”, có nghĩa là “năm mươi”. Hai phần đầu tiên gồm năm mươi kinh mỗi phần, còn phần thứ ba gồm năm mươi hai kinh. Chúng được gọi như sau:

  • Mūla-paṇṇāsa (“mūla” có nghĩa là “gốc rễ”), bao gồm năm phần, mỗi phần mười bài kinh.
  • Majjhima-paṇṇāsa, bao gồm năm phần, mỗi phần mười bài kinh.
  • Upari-paṇṇāsa (“upari” có nghĩa là “trên” hoặc ‘về sau”), bao gồm năm phần, trong đó bốn phần có mười bài kinh và phần thứ năm có mười hai bài kinh.

Chú giải của bộ này là Papañcasūdanī.

Tương Ưng Bộ  Kinh (Saṃyutta Nikāya) là một nhóm các bài kinh [theo chủ đề] (“saṃyutta” có nghĩa là “tương ứng, liên kết”) được chia thành năm phần (thiên), đó là:

  • Thiên Có Kệ (Sagāthā-vagga) (“gāthā” có nghĩa là “kệ, với kệ”) bao gồm mười một chương (tương ưng)
  • Thiên Nhân Duyên (Nidāna-vagga) (“Nidāna” có nghĩa là “nguồn gốc” hoặc “nguyên nhân”), bao gồm chín tương ưng
  • Thiên Uẩn (Khandha-vagga) (bàn về ngũ uẩn), bao gồm mười ba tương ưng.
  • Thiên Sáu Xứ (Saḷāyatana-vagga) (“Saḷāyatana” có nghĩa là “sáu xứ”), bao gồm mười tương ưng.
  • Thiên Đại Phẩm (Mahā-vagga), bao gồm mười hai tương ưng.

Chú giải của bộ này là cuốn Sāratthappakāsinī.

Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya) bao gồm các bài kinh được xếp theo số lượng các chủ đề pháp (pháp số) đề cập tới trong mỗi bài. Chúng được xếp theo thứ tự tăng dần, từ một đến mười một. Tổng cộng có tất cả mười một chương (Nipāta). “Chương một Pháp” bao gồm tất cả các bài kinh với một loại chủ đề và cứ như vậy cho tới “Chương mười một Pháp”. Chúng bao gồm như sau:

  • Eka-nipāta (“eka” có nghĩa là “một”), Chương Một Pháp
  • Duka-nipāta (“duka”, xuất phát từ “dve” (hai) có nghĩa là “đôi”), Chương Hai Pháp
  • Tika-nipāta, Chương Ba Pháp
  • Catuka-nipāta, Chương Bốn Pháp
  • Pañcaka-nipāta, Chương Năm Pháp
  • Chaka-nipāta, Chương Sáu Pháp
  • Sattaka-nipāta, Chương Bảy Pháp
  • Aṭṭhaka-nipāta, Chương Tám Pháp
  • Navaka-nipāta, Chương Chín Pháp
  • Dasaka-nipāta, Chương Mười Pháp
  • Ekādasaka-nipāta, Chương Mười Một Pháp

Chú giải của Tăng Chi Bộ Kinh là cuốn Manorathapūranī.

Ngoài bốn Nikāya này, còn có Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya), bao gồm các lời dạy của Đức Phật. Kinh này gồm các bộ sau:

 

Các chú giải của Tiểu Bộ Kinh là các cuốn sau:

 

  • Paramatthajotikā, chú giải cho Tiểu Tụng (Khuddakapātha)Kinh Tập (Suttanipāta)[17]
  • Dhammapadaṭṭhakathā, chú giải cho Kinh Pháp Cú (Dhammapada)
  • Paramatthadīpanī, chú giải cho các cuốn Kinh Phật Tự Thuyết (Cảm Ứng Ngữ) (Udāna), Kinh Phật Đã Thuyết Như Vậy (Itivuttaka), Chuyện Ngạ Quỷ (Petavatthu), Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā), Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā), Hạnh Tạng (CariyāPiṭaka) Chuyện Thiên Cung (Vimānavatthu)[18]
  • Jātakatthavaṇṇanā, Chú giải cho Tiền Thân Đức Phật (Jātaka)[19]
  • Saddhammapajjotika, Chú giải cho Đại Nghĩa Tích (Mahā-Niddesa) Tiểu Nghĩa Tích (Cūḷa-Niddesa)
  • Saddhammappakāsinī, Chú giải cho Đạo Vô Ngại Giải (Paṭisambhidāmagga)
  • Visuddhajanavilāsinī, Chú giải cho Thánh Nhân Ký Sự (Apadāna)
  • Madhuratthavilāsinī, Chú giải cho Phật sử (Buddhavaṃsa).

 

Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka) bao gồm bảy bộ sau:

 

  • Bộ Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī), với Chú giải là Aṭṭhasālinī[20]
  • Bộ Phân Tích (Vibhaṅga), với Chú giải là Xua Tan Si Ám (Sammohavinodanī)[21].
  • Bộ Chất Ngữ (Giới Thuyết) (Dhātukathā)
  • Bộ Nhân Chế Định (hay Nhân Thi thuyết-Puggalapaññatti)
  • Bộ Ngữ Tông (hay Những điểm dị biệt – Kathāvatthu)
  • Bộ Song Đối (Yamaka)[22]
  • Bộ Duyên hệ (Paṭṭhāna)[23]

Chú giải cho năm bộ sau là cuốn Pañcappakara-ṇatthakathā[24]

Đa số các chú giải cho Tam Tạng tới từ tay của nhà Chú giải vĩ đại Buddhaghosa[25]. Ngài đã dịch các Chú giải cổ sang tiếng Pāli, tập hợp và sắp xếp các tài liệu từ các Chú giải cổ được viết bằng tiếng Tích lan (Sri Lanka). Các Chú giải này, cuốn Mahā-Atthakathā, Mahā-paccarīKuruṇḍi có từ thời Trưởng lão Mahinda, con trai của Hoàng đế Asoka (A dục), người đã tới Sri Lanka để hoằng pháp.

Lại nữa, có các phụ chú giải, tiếng Pāli là “ṭīkā” chú thích cho các chú giải. Chúng bao gồm: Sārattha Dīpanī, phụ chú giải cho Samantapāsādikā, là chú giải của Tạng Luật; Sārattha Mañjūsā, phụ chú giải cho Tạng Kinh; Paramatthapakāsinī, phụ chú giải cho Tạng Vi Diệu Pháp; ngoài ra còn có các anuṭīkā (“anu” có nghĩa là “dọc theo”), là các chú thích về nghĩa từ và các thuật ngữ trong Phụ chú giải. Ngoài các tác phẩm đã được kể trên, có một số tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu Giáo pháp đã được soạn bởi các bậc Trưởng lão[26] đủ năng lực để nối tiếp Giáo pháp. Đó là các tác phẩm sau:

  • Mi Tiên Vấn Đáp (Milindapañha), được soạn vào khoảng năm 500 Phật Lịch (43 trước C.N).
  • Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), một bách khoa toàn thư về Đạo Phật, soạn bởi Buddhaghosa vào khoảng năm 1000 Phật lịch (457 sau C.N).
  • Vi Diệu Pháp Toát Yếu (Abhidhammattha Saṅgaha), soạn bởi Đại đức Anuruddha khoảng năm 1000 Phật lịch (457 sau C.N)[27].
  • Sārattha Saṅgaha, soạn bởi Đại đức Nanda khoảng năm 1000 Phật lịch(457 sau C.N).
  • Paramattha Mañjūsa, một phụ chú giải cho Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), soạn bởi Đại đức Dhammapāla.
  • Saccasaṇkhepa (Có nghĩa là “Trình bày sự thật”), soạn bởi Đại đức Dhammapāla.
  • Abhidhammattha-vibhāvinī-ṭīka, một phụ chú giải cho Vi Diệu Pháp Toát Yếu (Abhidhammattha Saṅgaha), soạn bởi Ngài Sumangala của Tích Lan (Sri Lanka).
  • Moha Vicchedanī, lý giải Bộ Pháp Tụ Bộ Phân Tích, soạn bởi Đại đức Kassapa của Tích Lan, khoảng năm 1703 Phật lịch (năm 1160 sau C.N)
  • Mangalattha Dīpanī, lý giải Hạnh Phúc Kinh (Mangala Sutta), thuộc Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha, số 5), soạn bởi Đại đức Sirimangala ở Chiangmai (Thái lan)[28].

Chú thích

[1] Xem thêm Chú giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī), phần giới thiệu (§ 26).Giáo lý được kết tập (chưa được viết ra thành văn bản) bao gồm chín thể tài có được nhắc tới trong kinh điển, chẳng hạn như trong Trung BộKinh (Số 22, Kinh ví dụ con rắn).

[2] Thuật ngữ Pāli “Sutta” có nghĩa là “cái được nghe” (Phật ngôn được nghe).

[3] Tam Tạng (Tipiṭaka) là ba phần của Giáo Lý, bao gồm: Tạng Luật(Vinaya), Tạng Kinh (Suttanta) và Tạng Vi Diệu Pháp. Khi Giáo lýđược phân thành chín thể tài, tạng Luật (Vinaya) là một phần của Kinh (Sutta). Cuốn Chú giải Bộ Pháp Tụ nhắc đến Sutta-Vibhaṅga (Phântích giới bổn) và Parivāra (Yết ma và truyền giới pháp) trong phầnSutta (Kinh), và những phần này thuộc về Tạng Luật.

[4] Trong Chú Giải Bộ Pháp Tụ, con số là một trăm mười hai.

[5] P.T.S đã chỉnh lý và dịch hai cuốn này thành ba phần, gọi là Sutta Vibhaṅga (Phân tích giới bổn).

[6] Nikāya có nghĩa là “thân” hay “tập hợp”.

[7] Bản tiếng Anh của P.T.S được dịch với tựa đề là “Đối Thuyết Của Đức Phật”.

[8] Bản tiếng Anh được in làm ba tập.

[9] Bản tiếng Anh được in làm năm tập.

[10] Bản tiếng Anh được in làm năm tập.

[11] Bộ này bao gồm mười sáu phần đã được chỉnh lý in thành ba tập, nhưng vẫn có phần chưa được dịch sang tiếng Anh.

[12] Các phần này được xuất bản bằng tiếng Pāli, nhưng chưa có bản tiếng Anh.

[13] Đã được dịch sang tiếng Anh và hiệu đính bởi P.T.S thành một tập cùng với bản dịch của chú giải của nó, cuốn Minh Họa Ý Nghĩa Tối Hậu.

[14] Có nhiều bản dịch tiếng Anh của tài liệu này.

[15]Đại Nghĩa Tích (Mahā-Niddesa) và Tiểu Nghĩa Tích (Cūḷa-Niddesa) chưa được dịch sang tiếng Anh

[16] Cuốn này chưa được dịch sang tiếng Anh

[17] Chú giải cho Kinh Tiểu Tụng (Khuddakapātha) đã được dịch sang tiếng Anh, nhưng chú giải cho Kinh Tập (Sutta Nipāta) thì chưa được dịch sang tiếng Anh.

[18] Các bản đã được dịch sang tiếng Anh gồm: Chú giải Cảm Hứng Ngữ, Chú giải Chuyện Thiên Cung, Chú giải Chuyện Ngạ Quỷ, Chú giải Trưởng Lão Ni kệ

[19] Trong bản tiếng Anh của Tiền Thân Đức Phật có thêm một phần của Chú giải.

[20] In làm hai tập.

[21] In làm hai tập.

[22] Yamaka có nghĩa là “đôi”. Bộ này chưa được dịch ra tiếng Anh.

[23] Một phần của Bộ Duyên Hệ đã được dịch ra tiếng Anh. Ngoài ra cũng có cuốn “Hướng dẫn tìm hiểu Bộ Duyên Hệ” (Guide to Conditional Relations) gồm hai tập của U Narada (Miến điện) lý giải một phần của Bộ này. Hiện này cuốn sách này đã hết lưu hành.

[24] Mới chỉ có Chú giải của Bộ “Những Điểm Dị Biệt” được dịch sang tiếng Anh, với tựa đề “Chú Giải Đối Ngữ” (Debates Commentary).

[25] Ngài sống vào thế kỷ thứ năm Tây lịch, và ngự tại Đại tu viện Anurādhapura, Srilanka

[26] Thera (trưởng lão) là bậc huynh bá trong hàng xuất gia, là vị tỳ kheo đã được thọ giới từ ít nhất mười năm.

[27] Ấn bản của P.T.S đề xuất rằng niên đại của cuốn này nằm trong giai đoạn thế kỷ 8 đến thế kỷ 12 sau C.N

[28] Tôi cũng có thể thêm vào danh sách này cuốn Nettippakaraṇa, được dịch sang tiếng anh là Hướng dẫn (The Guide) bởi nhà xuất bản P.T.S và Peṭakopadesa (có nghĩa là Disclosure of the Pitaka – Hé mở về Tạng) vẫn chưa được dịch ra tiếng Anh. Theo truyền thống, những cuốn này được biên soạn bởi một trường phái có nguồn gốc từ đại đức Mahā-Kaccana (Đại Ca Chiên Diên), một trong các bậc đại đệ tử của Phật. Dhammapāla đã viết một chú giải về cuốn Netti, có thể vào thế kỷ thứ 5 sau C.N

, , , , , ,

Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 1: Danh và sắc

Chương 1 – Danh và sắc:

Pháp đàm tại Battambang (phần 1)

 

        Khun Sujin: Các bạn đã có những câu hỏi về niệm thân. Niệm thân là một trong bốn phần của Tứ niệm xứ. Không có chút nghi ngờ nào rằng tất cả chúng ta đều có thân, nhưng trước khi chúng ta được nghe Giáo pháp, chúng ta vẫn cho rằng đó là ta và của ta. Sau khi được nghe Pháp thì chúng ta có thể biết rằng tất cả các thực tại, tất cả các pháp đều không phải là ta, đều vô ngã, và rằng chúng ta cần phải có cái hiểu đúng đắn về từ “dhamma”, tức là thực tại có tính chất vô ngã.

Đức Phật không chỉ dạy Tứ niệm xứ (Maha-Satipaṭṭhāna), mà Ngài dạy tất cả những gì đã chứa đựng trong Tam tạng. Giáo lý của Ngài tới với chúng ta hôm nay thông qua Tam tạng, tức là bao gồm Tạng luật – cuốn sách về giới luật dành cho các chư tăng, Tạng kinh- là các bài thuyết giảng, sau cùng là Tạng Vi diệu pháp.

Tất cả các phần khác nhau của Tam tạng đều thống nhất với nhau vì chúng đều chứa đựng chân lý mà Đức Phật đã xuyên thấu khi đạt được quả vị Phật dưới gốc cây Bồ đề.

Khi chúng ta đã được nghe Giáo lý, dù chưa được nghe toàn bộ, và khi chúng ta đã có được sự hiểu biết sâu sắc về ý nghĩa và đăc tính của các thực tại mà Đức Phật đã thuyết giảng, chúng ta sẽ tin tưởng một cách chắc chắn rằng cả Tam tạng phải thống nhất với nhau.

Tam tạng giải thích các thực tại do duyên khởi là tâm, tâm sở và sắc. Vì vậy, nếu không có tâm, tâm sở và sắc, thì cũng sẽ không có Tam tạng. Tam tạng dạy chúng ta rằng, các thực tại mà Đức Phật đã xuyên thấu tại thời điểm giác ngộ Phật quả đều là vô ngã, và khi chúng ta nói về thân thì chúng ta cần phải hiểu rằng thân, một yếu tố vô ngã, thực sự là gì. Bên cạnh đó, thân không thể tự sinh khởi mà không có tâm và tâm sở. Khi có hiểu biết – trí tuệ, thì nó biết sự thực về các thực tại, nó không chỉ hiểu các đặc tính của thực tại mà ta gọi là thân mà cũng còn biết về các đặc tính khác nhau của danh, tức là của tâm và tâm sở đang xuất hiện. Trí tuệ có thể nhận ra rằng cái mà chúng ta tưởng là ta hay của ta hay thế giới chỉ là các loại dhamma – các thực tại khác nhau bao gồm tâm, tâm sở và sắc. Nghiên cứu Giáo lý rất lợi lạc. Khi chúng ta nghiên cứu Giáo lý, chúng ta có thể tự mình kiểm chứng sự thật về những gì mà chúng ta đã học. Chúng ta cần phải tự thẩm xét những thực tại sinh khởi trong cuộc sống hàng ngày. Bằng cách ấy chúng ta sẽ có được hiểu biết sâu sắc hơn về chúng. Vì những lý do ấy, tôi mong người nghe cố gắng suy xét về Giáo lý và thử tự trả lời các câu hỏi của chính mình. Các bạn có câu hỏi về niệm thân, nhưng khi các bạn tự mình thẩm xét về chân lý, bạn sẽ thấy rõ hơn rằng bên cạnh thân thì cũng có cả tâm và tâm sở.

        Buth Sawong: Một số người muốn biết ý nghĩa của cụm từ “quán thân trên thân” được đề cập trong Kinh Tứ niệm xứ, phần Niệm thân.

        Khun Sujin: Chúng ta có thể nói về nhiều thực tại nhưng vì thời gian cho buổi pháp này có hạn nên tôi muốn trước hết đi đến điểm quan trọng, đó là ý nghĩa của từ “dhamma”. Tất cả những gì là thật đều là dhamma. Thân là dhamma. Khi chúng ta chạm vào thân thì cảm giác cứng hoặc mềm xuất hiện. Cứng và mềm là đặc tính của các thực tại, chúng là những yếu tố có đặc tính không thay đổi. Mềm luôn luôn là mềm và cứng luôn luôn là cứng, dù chúng ta chạm vào thân hay chạm vào cái gì đó bên ngoài. Khi trí tuệ hiểu đặc tính của cứng và của mềm, bất kể dù chúng sinh khởi ở trong hay ngoài thân, là cùng một thực tại, cùng một yếu tố (giới, dhatu), khi ấy trí tuệ có thể phát triển. Khi trí tuệ đã trở nên sâu sắc hơn, nó có thể nhận ra rằng những yếu tố này sinh khởi do duyên và diệt đi ngay tức thì. Bằng cách ấy sẽ có sự xả ly đối với ý niệm rằng các yếu tố này là “ta”. Khi ta quán “thân trên thân”, điều ấy có nghĩa là ta hiểu rằng thân không phải là ta, của ta hay là ngã.

        Buth Sawong: Cái mà chúng ta gọi là thân (hay kāyā trong tiếng Pali) được tạo bởi rất nhiều yếu tố kết hợp với nhau. Vậy thân bao gồm những gì?

        Khun Sujin: Cái mà chúng ta gọi là thân được tạo nên bởi các thực tại khác nhau. Bởi vì nó được tạo nên bởi những yếu tố khác nhau nên chúng ta có thể nói rằng chúng ta có mắt, có tai, có mũi, có lưỡi và có thân, hoặc chúng ta có thể phân biệt những bộ phận khác nhau của thân, chẳng hạn tóc trên đầu, lông trên thân, móng tay, răng, da, v.v…

        Buth Sawong: Khi tôi nghe cụm từ “quán thân trên thân” thì tôi không hiểu cái từ “thân” thứ hai trong câu này có nghĩa là gì?

        Khun Sujin: Mọi người vẫn thường có xu hướng chú trọng quá mức đến các thuật ngữ, chẳng hạn “quán thân trên thân”. Họ phân vân liệu họ phải thấy cái thân nào, hay phải làm thế nào để có thể quán thân trên thân. Mọi người biết rằng họ có mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, nhưng khi nào và theo cách nào những cái đó sinh khởi? Họ cần phải biết rằng có đặc tính cứng trên toàn thân, từ đầu tới chân, bất cứ khi nào ta chạm vào thân thì tính cứng hoặc mềm sinh khởi ngay tại điểm đó. Ngay tại giây phút đó có sự in dấu của một đối tượng trên sắc được gọi là thân căn. Thân căn là điều kiện cần thiết để có thể kinh nghiệm được đối tượng xúc chạm, nếu không có thân căn thì đặc tính cứng và mềm không thể được kinh nghiệm.

Các thực tại sinh khởi qua sáu môn, bao gồm ngũ môn và ý môn có thể được coi là sáu thế giới khác nhau và thế giới này thì khác với thế giới kia. Thế giới xuất hiện qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý môn, và được gọi trong kinh điển là “thế giới qua con mắt của bậc thánh nhân”. Điều ấy giúp chúng ta hiểu rằng, sắc chỉ có thể được kinh nghiệm ngay tại nơi có sự xúc chạm và tại khoảnh khắc đó, chỉ có một đặc tính của sắc xuất hiện tại một thời điểm. Toàn bộ thân không thể trực tiếp được kinh nghiệm. Một sắc đã sinh khởi, in dấu. Nó sinh khởi rồi diệt đi ngay tức thì.

Đó chính là ý nghĩa của “quán thân trên thân”. Chúng ta đừng nên nghĩ đến thuật ngữ “quán thân trên thân” và băn khoăn ý nghĩa của từ “thân” đầu tiên là gì và từ “thân” thứ hai là gì. Điều quan trọng phải hiểu rằng có những khoảnh khắc kinh nghiệm khác nhau. Khoảnh khắc thấy khác với khoảnh khắc nghe. Thấy, nghe, ngửi, nếm và kinh nghiệm đặc tính cứng in dấu trên thân căn là những khoảnh khắc khác nhau của tâm. Tại thời điểm này có sự in dấu của tính cứng trên thân căn. Chừng nào vẫn còn có ngã tưởng thì sẽ có sự nhớ tưởng sai lầm về ngã, và chúng ta coi mọi thứ là của ta và ta. Chẳng hạn, ta tin rằng “ngón tay của tôi” đang chạm một cái gì đó cứng. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu rằng không có ngã mà chỉ có dhamma hay thực tại, và nếu có thể có chánh niệm về tính cứng đang xuất hiện vì có sự in dấu trên thân căn, chúng ta sẽ thấy rằng, sắc là tính cứng là một thực tại sinh khởi do duyên, nếu sắc là tính cứng chưa sinh khởi thì nó không thể xuất hiện. Nếu tính cứng sinh khởi và xuất hiện thì nó sẽ phải diệt đi. Cứng không phải là ngã hay là ta, không có cái ngã nào có thể kiểm soát được điều ấy.

        Buth Sawong: Tôi hiểu rằng chúng ta có mắt, rằng có những thứ sinh khởi qua nhãn căn, và rằng có một thực tại đang kinh nghiệm cái đang xuất hiện qua nhãn môn. Đó có phải được gọi là “quán thân trên thân” hay không?

        Khun Sujin: Tại thời điểm ấy không có “niệm thân”, quán thân trên thân. Chúng ta cần phải nhớ rằng có bốn niệm xứ: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp. Tất cả đều được bao gồm trong “tứ niệm xứ”. Đối tượng của chánh niệm đều là thực tại, là dhamma (pháp). Đức Phật dạy niệm thân bởi vì từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, từ cuộc đời này đến cuộc đời khác, chúng ta bám chấp vào thân thể, toàn thân từ đầu tới chân, và coi đó là thân của tôi, là ta. Khi có chánh niệm trên thân thì chánh niệm hay biết thực tại mà chúng ta vẫn cho là thân của ta. Khi đặc tính của tứ đại (mahå-bhúta rúpas) được hay biết như chúng thực là thì sẽ có sự buông xả ý niệm về toàn thân của tôi. Khi chúng ta đã nghiên cứu và hiểu tường tận về tứ niệm xứ, về cả thân, thọ, tâm và pháp thì chúng ta sẽ thấy rằng cả Bốn niệm xứ đều tương hợp với nhau. Thực tại được sắp xếp theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn các giới (dhatu), các uẩn (khanda) hay các xứ (ayatanas), và những cái đó đều thuộc về Tứ niệm xứ. Các sự sắp xếp khác nhau của thực tại chỉ ra những khía cạnh khác nhau, nhưng chúng ta cần phải nhớ rằng tất cả những gì là thật đều có thể là đối tượng của chánh niệm. “Chánh niệm trên thân” là “xứ” riêng, vì mỗi một người đều có sự dính chấp vào thân và cho đó là của tôi.

        Người hỏi: Tâm là thực tại kinh nghiệm đối tượng. Người ta nói rằng nó nghĩ về đối tượng bởi vì đối tượng ấy được tâm nhận biết. Tôi muốn biết cái gì sinh khởi trước, tâm hay đối tượng? Cái gì làm duyên cho cái gì?

        Khun Sujin: Tâm là một chủ đề rất khó vì nó rất chi tiết. Tất cả chúng ta đều có tâm. Chúng ta thấy và đó là tâm. Tuy nhiên, rất cần thảo luận và suy xét về thực tại của tâm cho đến khi ta có được cái hiểu rõ ràng về nó, dù rằng mọi người nghe về tâm tại thời điểm này nhưng họ không hiểu nó thực sự là gì, và chừng nào chưa hiểu trực tiếp đặc tính của tâm thì vẫn cần nghe đi nghe lại về Giáo lý.

Tâm là thực tại kinh nghiệm đối tượng. Điều ấy chỉ ra rằng tâm và đối tượng không thể tồn tại tách rời. Việc phỏng đoán cái gì sinh khởi trước và cái gì sinh khởi sau là vô ích. Đức Phật, tại thời điểm đắc quả Phật, đã xuyên thấu sự thật về tất cả các thực tại. Ngài dạy rằng, vào thời điểm thấy đối tượng thị giác, vào thời điểm nghe âm thanh, ngửi mùi, nếm vị, hay chạm vào các đối tượng xúc chạm, rằng trong tất cả trường hợp ấy, sắc là đối tượng dục giới sinh khởi trước tâm kinh nghiệm nó. Sắc sinh khởi trước tâm kinh nghiệm nó là tiền sanh duyên (purejata paccaya) đối với tâm ấy. Một sắc là đối tượng dục giới in dấu lên căn phù hợp, nhưng nó không được kinh nghiệm ngay lập tức bởi thức tương ứng, chẳng hạn như thấy (nhãn thức) và nghe (nhĩ thức). Khi một đối tượng dục giới in dấu lên ngũ căn thì trước tiên có tâm hộ kiếp, trước khi lộ trình của ngũ môn bắt đầu và có sự nhận biết (của thức qua căn tương ứng), như là thấy hay nghe có thể sinh khởi và kinh nghiệm về đối tượng đang in dấu.

Khi chúng ta xem xét mối liên quan giữa nhãn thức và đối tượng thị giác xuất hiện qua mắt, và về mối liên hệ giữa nhĩ thức và âm thanh xuất hiện qua tai, chúng ta cũng phải nhớ rằng sắc là đối tượng của tâm sinh khởi trước tâm kinh nghiệm nó. Như vậy sắc làm tiền sanh duyên cho tâm.

Ngoài sắc ra, có các loại đối tượng khác, nhưng khi chúng ta nói về các đối tượng thuộc về tiền sanh duyên thì đó là các sắc là đối tượng dục giới sinh khởi qua năm cửa giác quan (ngũ môn). Chẳng hạn như khi thấy, sắc là đối tượng thị giác đã sinh khởi trước cái thấy và in dấu lên nhãn căn, sau đó nhãn thức có thể sinh khởi theo. Khi chúng ta suy ngẫm về tính chất thực sự của danh và sắc, chúng cần phải được phân biệt. Chúng sinh khởi bởi những duyên riêng của chúng. Sắc sinh và diệt theo duyên riêng của chúng và có bốn yếu tố làm cho sắc phát sinh, đó là nghiệp, tâm, nhiệt độ và dưỡng chất. Bất kể tâm kinh nghiệm sắc hay không thì sắc sinh và diệt theo duyên riêng của nó.

Khi thảo luận về Giáo pháp, chúng ta phải nói về Giáo pháp một cách chi tiết. Chẳng hạn, sắc do nghiệp sinh (kammaja-sắc) luôn luôn sinh khởi kể từ khoảnh khắc của thức tái tục. Tại thời điểm của thức tái tục, sắc do nghiệp sinh sinh khởi cùng thức tái tục và cũng được tạo bởi nghiệp, và như vậy, sự sinh khởi của sắc đó được duyên bởi thức tái tục. Sau thời điểm đó, suốt cả cuộc đời lại có sự sinh khởi của các sắc được tạo bởi nghiệp nhưng không còn phụ thuộc vào tâm sinh khởi cùng nó như ở giây phút đầu tiên của một kiếp sống.

Cũng có những sắc được duyên bởi tâm. Những sắc này được duyên bởi tâm tại thời điểm nó sinh khởi. Mỗi sát na tâm có thể được chia thành những giai đoạn cực kỳ nhỏ: giai đoạn sinh, giai đoạn trụ, giai đoạn diệt. Mỗi sắc lại có những nguồn gốc khác nhau, chẳng hạn như nghiệp, tâm, dưỡng chất, và nhiệt độ Một đối tượng của ngũ môn là sắc được kinh nghiệm bởi tâm qua tai, mũi, mắt, lưỡi, thân hay ý môn đều có gốc từ một trong bốn yếu tố là nghiệp, tâm, nhiệt độ và dưỡng chất.

Không chỉ có sắc mà danh cũng sinh khởi theo duyên riêng của chúng. Chẳng hạn, mỗi tâm sinh khởi rồi lại diệt đi thì tạo duyên cho sự sinh khởi của tâm tiếp theo. Đó là vô gián duyên (anantara paccaya) cho tâm tiếp theo. Trong suốt cuộc đời, có những chuỗi tâm nối tiếp nhau. Vô gián duyên nằm ở tâm và tâm sở đã diệt đi và là duyên tố cho sự sinh khởi của những tâm và tâm sở tiếp theo. Chỉ tâm mới có thể là vô gián duyên còn sắc thì không. Danh và sắc sinh khởi bởi các duyên tố  khác  nhau,  vì  vậy chúng ta cần  phải phân  biệt danh và sắc.

, , , ,

Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 2: Niềm tin vào Giáo pháp

Chương 2

Niềm tin vào Giáo pháp

Buổi pháp đàm tại Battambang (Phần II) 

 

        Buth Sawong: Những người nghe có câu hỏi về nghiệp bất thiện. Tâm không thể nghĩ về những nghiệp bất thiện (akusala kamma) đã được tạo trong nhiều tiền kiếp. Chúng ta không biết mình đã tạo ra những bất thiện nghiệp nào trong các kiếp quá khứ nhưng xu hướng bất thiện đã được tích lũy thì ngày càng mạnh mẽ hơn. Chúng ta có thể làm gì để vượt qua xu hướng bất thiện đã được tích lũy ấy?

        Khun Sujin: Khi Đức Phật thành đạo, Đức Phật đã nhận ra Chân lý bằng trí tuệ của Ngài, đó cũng chính là cái diệt trừ phiền não hoàn toàn. Giáo lý của Ngài hoàn toàn khác với tất cả các Giáo lý và phương pháp khác. Mức độ trí tuệ cao nhất được giảng dạy bởi các tôn giáo hay hệ thống triết lý khác chỉ đạt tới mức độ đè nén phiền não một cách tạm thời. Phiền não chỉ có thể bị tận diệt hoàn toàn bởi trí tuệ được phát triển thông qua tứ niệm xứ, mà thực chất là sự phát triển của chánh kiến, của hiểu biết đúng hay trí tuệ về con đường Bát chánh đạo. Chỉ có Đức Phật dạy con đường đạo này và không có con đường nào khác đi đến sự tận diệt phiền não.

        Một vị tì kheo: Đôi khi tôi có thể phát triển con đường này, nhưng tôi muốn phát triển nó một cách kỹ càng và đạt được mục đích. Tôi không biết phải cần bao nhiêu kiếp sống để có thể đạt được mục đích. Tôi đã được nghe những bài giảng về vipassana, về sự phát triển của tuệ giác, và tôi đã được nghe rằng thông qua tuệ giác thì sự chấp thủ và các phiền não khác có thể được loại bỏ. Sự tận diệt phiền não là điều quan trọng nhất và cực kỳ khó khăn, không chỉ đối với người tại gia mà cũng đối với các vị xuất gia, các vị tì kheo nữa.

        Khun Sujin: Đại đức có nói rằng sự tận diệt phiền não là khó khăn, dù là đối với một vị tì kheo hay với người cư sĩ. Chỉ có trí tuệ là cái có thể tận diệt được phiền não. Nếu như trí tuệ không sinh khởi thì sẽ không thể tận diệt được phiền não. Thông qua sự tích lũy của trí tuệ cùng tất cả các ba la mật khác, đức đại Bồ tát trong kiếp sống cuối cùng đã trở thành một vị Phật toàn giác tại giây phút giác ngộ. Vì vậy bất cứ ai quan tâm chân thành tới Giáo pháp và có mong muốn nghiên cứu Giáo pháp đều cần phải nhận ra rằng phát triển của tuệ giác là điều mang lại lợi ích lớn nhất. Nếu không có trí tuệ thì sẽ không thể nào tận diệt được phiền não. Nếu ai đó không phát triển trí tuệ mà cho rằng mình có thể tận diệt được phiền não thì người đó đang bị vô minh lôi kéo hoàn toàn. Mỗi người đã tích lũy rất nhiều phiền não qua vô lượng kiếp, những phiền não ấy đã được tích lũy từ quá khứ cho đến kiếp sống này và trong kiếp sống này, từ lúc sinh cho đến giờ. Tuy nhiên chúng ta không nên nản chí bởi điều ấy. Nếu chúng ta nghe Pháp và có thêm hiểu biết về nó thì chúng ta sẽ dần dần có thể học được cách thẩm sát về các đặc tính của thực tại đang sinh khởi. Đó chính là cách dẫn đến sự chứng ngộ chân lý rằng pháp chỉ là pháp, không phải là ta, tôi hay của tôi. Khi ai đó bắt đầu nghe Pháp và thấy rằng Giáo pháp là một chủ đề rất khó thì người ấy không nên nản lòng. Nếu mọi người bắt đầu phát triển trí tuệ thay cho việc cảm thấy nản chí, họ sẽ thấy rằng cái thoạt đầu có vẻ vô cùng phức tạp sẽ dần trở nên rõ ràng hơn. Sự phát triển của trí tuệ trong cuộc sống hàng ngày có thể trở thành thói quen và dần dần chúng ta sẽ có khả năng để phát triển trí tuệ một cách trọn vẹn.

        Buth Sawong: Người nghe nói rằng khi họ nghe Pháp thì tâm của họ bận bịu với Giáo pháp và có sự hiểu biết về điều được nghe. Tuy nhiên khi họ không nghe nữa thì họ lại bị phân tán và trở nên hoàn toàn chìm đắm trong những thứ khác. Họ cần phải làm gì để khiến cho tâm bám rễ vững chắc vào thiện pháp và luôn luôn hướng tâm đến Giáo pháp vào mọi lúc?

        Khun Sujin: Không thể nào luôn luôn được, tuy nhiên tâm dần dần có thể hướng đến Giáo pháp nhiều hơn, tùy thuộc vào mức độ hiểu biết của mỗi người và tín tâm của người ấy. Người có hiểu biết về Giáo pháp sẽ không quên những gì mình được nghe, người ấy sẽ suy ngẫm và suy xét về nó. Nếu người ấy có thời gian, người ấy sẽ muốn đọc kinh điển. Khi người ấy thức dậy vào buổi sáng, người ấy có thể tiếp tục suy nghĩ về Pháp mà người ấy đã được nghe. Chẳng hạn, người ấy có thể nhớ rằng đã được nghe về sắc trên thân. Khi chạm cảm giác cứng thì người ấy sẽ nhớ rằng đối tượng xúc chạm không phải là ta, không phải là một chúng sinh, không phải là một người. Bất kể dù chúng ta đang ngủ hay đang thức, đang ngồi, đang nằm, đứng hay đi thì luôn có thân. Sắc trên thân đang sinh khởi bất cứ khi nào chúng ta có sự xúc chạm với tính cứng hoặc mềm. Nếu ai đó có sự ghi nhớ vững vàng về Giáo pháp đã được nghe, và nếu người ấy đã tích lũy tín tâm cùng các “ngũ căn”- indriyas- khác (tấn, niệm, định, tuệ), sẽ có nhân duyên thích hợp để chánh niệm sinh khởi. Chánh niệm có thể hay biết một cách trực tiếp đặc tính của các thực tại đang sinh khởi tại giây phút hiện giờ. Khi đó người ấy hiểu rằng các thực tại đang sinh khởi không phải là những khái niệm trừu tượng. Tâm, tâm sở và sắc .., tất cả các thực tại đã được giải thích trong Tam tạng đang sinh khởi hiện giờ. Sự thật của Giáo pháp hiển lộ ở ngay giây phút này. Khi trí tuệ phát triển có thể có chánh niệm và sự thẩm sát các đặc tính của thực tại và bằng cách ấy, các thực tại ấy sẽ được thấy một cách rõ ràng hơn. Tuy nhiên nếu mọi người dính mắc vào trí tuệ thì nó không thể phát triển được. Khi chúng ta đã nghe Pháp và thu nhận được thêm hiểu biết về nó, với những gì chúng ta đã được học về thực tại thì chánh niệm có thể hay biết đặc tính của thực tại đang sinh khởi. Một số người đã có nhiều hiểu biết, trong khi ấy những người khác không có nhiều hiểu biết lắm, tùy thuộc vào mức độ họ đã được nghe Pháp và suy xét về nó. Nghe Pháp, hiểu về mặt lý thuyết và suy ngẫm về Pháp đã được nghe là những duyên hỗ trợ sự sinh khởi của chánh niệm, và bằng cách ấy, sự thực về thực tại có thể được hiểu một cách rõ ràng hơn. Tuy nhiên chúng ta đừng nên lơ là với sự phát triển hiểu biết. Chúng ta cần phải nhớ rằng Đức Phật đã phải tích lũy các ba la mật trong rất nhiều kiếp khi còn là một đại Bồ tát. Trong kiếp sống cuối cùng của Ngài trước khi đạt giác ngộ thì Ngài cũng là một con người, giống như tất cả chúng ta đang ngồi ở đây. Ngài cũng nhìn thấy các đối tượng thị giác qua mắt, nghe các âm thanh qua tai và suy nghĩ về những thứ khác nhau; không phải lúc nào Ngài cũng nghĩ về Giáo pháp. Tuy nhiên, Ngài cũng đã cần biết bản chất thực sự của cái thấy khi Ngài thấy, Ngài cũng cần biết đặc tính của cái nghe khi Ngài nghe. Ngài cũng đã cần phải biết về các hiện tượng này như chúng thực là, bởi vì chúng là các thực tại, các pháp chân đế. Sau cái thấy và cái nghe thì có thích và không thích về cái đã được thấy và được nghe, và cũng có cả những thực tại cần phải biết như chúng là.

Đức Phật hiểu rằng rất khó để có thể hiểu được đặc tính thực sự của các pháp như cái thấy và cái nghe, những thực tại ấy luôn luôn sinh khởi trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta có thể quy cuộc sống của chúng ta về chỉ một sát-na, bởi vì cuộc sống thực sự chỉ tồn tại trong khoảnh khắc mà tâm đang kinh nghiệm đối tượng và rồi biến mất hoàn toàn. Tuy nhiên nếu không phải là một đức Đại Bồ tát, chúng ta đắm chìm vào suy nghĩ trong một thời gian dài về cái đã xuất hiện chỉ trong một sát-na qua mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và ý. Đức Đại Bồ tát khác hẳn chúng ta, chúng ta luôn say đắm trong những gì chúng ta kinh nghiệm. Vì Ngài biết rằng con đường dẫn đến giác ngộ là cực kỳ khó khăn, Ngài đã tích lũy kham nhẫn, tinh tấn và các ba la mật khác, những ba la mật ấy là nhân duyên cần thiết để có thể đưa đến Phật quả. Ngài có một sức chịu đựng vô biên, và Ngài đã không nản chí trong khi tích lũy các ba la mật với mục đích xuyên thấu bản chất thật của các thực tại và có thể giảng điều đó cho những người khác, để họ cũng có thể thoát khỏi khổ đau như Ngài. Tất cả mọi người ở đây đã có cơ hội lắng nghe Giáo pháp mà Đức Phật đã chứng ngộ ở thời điểm đắc đạo quả và thuyết cho những người khác. Bạn không cần phải tích lũy các ba la mật ở mức độ Đức Phật đã tích lũy để đắc Phật quả, nhưng bạn có thể nghe Giáo pháp và thực hành theo cách mà Đức Phật đã chỉ cho chúng ta.

Nghe Pháp, lắng nghe chăm chú là một điều kiện cần thiết để trí tuệ sinh khởi, không có con đường nào khác để có thể phát triển trí tuệ. Nếu mọi người chỉ nghe một cách hời hợt thì họ không thực sự lắng nghe Giáo pháp. Họ có thể cho là họ nghe trong khi họ không thực sự lắng nghe, bởi họ nghe một tai và rồi lại ra tai kia, không có sự hiểu biết về cái mà họ đã nghe. Lắng nghe Giáo pháp là thực sự chú ý nghiêm túc vào cái mình được nghe và suy ngẫm về nó cùng với sự hiểu biết. Điều quan trọng nhất là phải nhớ rằng nghe cũng có nghĩa là áp dụng những gì đã được nghe. Chỉ có hiểu biết lý thuyết về những gì đã được nghe thì chưa đủ, mà chúng ta cũng nên thực hành những điều Đức Phật đã giảng.

        Buth Sawong: Vị đại đức nói rằng vị ấy đã nghe nhiều nhưng bây giờ vị ấy cũng thực sự muốn thực hành Giáo pháp. Tuy nhiên, vị ấy có rất nhiều việc Phật sự khác nhau phải làm với tư cách của một chư tăng, và bởi những công việc ấy, tâm của vị ấy bị xao lãng. Vị ấy không có cơ hội để ngồi yên tĩnh một mình. Vị ấy đã nghe Pháp, hiểu những gì đã được nghe nhưng vị ấy không có thời gian rảnh rỗi. Vị ấy phân vân liệu chỉ có một cách thực hành hay có nhiều cách hơn tùy thuộc vào cuộc sống của mỗi người. Một vị chư tăng thì có cuộc sống khác với cuộc sống của các vị tại gia. Vị ấy hiểu rằng, người tại gia thì có thể thực hành Giáo pháp nhưng vị ấy – một vị tỳ kheo thì có nhiều việc phải làm và điều ấy khiến cho việc thực hành trở nên khó khăn. Vì bây giờ vị ấy vẫn còn trẻ, vị ấy có nhiều việc phải làm. Khi vị ấy già hơn, vị ấy sẽ có nhiều thời gian hơn cho việc thực hành.

        Khun Sujin: Đại Đức có nói rằng vị ấy đã nghe Giáo pháp, nhưng chúng ta không bao giờ nghe đủ. Ngay cả các vị A la hán trong thời Đức Phật vẫn còn tiếp tục lắng nghe Giáo pháp. Đức Phật đã giảng Pháp trong suốt 45 năm với mục đích nhằm giúp mọi người hiểu về sự thực. Chúng ta có thể đã lắng nghe trong thời gian dài, nhưng nếu chúng ta không hiểu đặc tính của thực tại khi chúng xuất hiện, có nghĩa là chúng ta vẫn chưa nghe đủ. Thay cho việc muốn thực hành, tốt hơn là nên bắt đầu hiểu đặc tính của các thực tại đang xuất hiện tại chính thời điểm này. Chúng ta có thể mong muốn sẽ không còn có phiền não nữa nhưng liệu phiền não có thể bị tận diệt nếu chúng ta không nghe pháp và hiểu đặc tính của thực tại như chúng là tại thời điểm chúng xuất hiện hay không. Còn về lời nhận xét của vị tỳ kheo rằng ông ấy không có thời gian để thực hành thì thực ra, không chỉ có các sư mà người tại gia cũng có nhiều việc phải làm. Những người tại gia cũng thường phàn nàn rằng họ không có thời gian rảnh để thực hành. Tuy nhiên việc thực hành Pháp không tùy thuộc vào thời gian rảnh rỗi mà chúng ta có. Ngay bây giờ, khi chúng ta đang ngồi đây, vẫn có các thực tại đang sinh khởi. Có cái thấy và cái nghe, tất cả đều là thực. Cũng như vậy, khi chúng ta làm các công việc của chúng ta thì các thực tại đang sinh khởi. Chúng ta không thể lựa chọn một thời gian đặc biệt nào để hiểu thực tại này hay thực tại kia. Rất cần phát triển trí tuệ hiểu biết các thực tại xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày cho đến khi có sự hiểu biết trọn vẹn về chúng. Bằng cách ấy thì vô minh, hoài nghi và các tà kiến về ngã có thể được loại bỏ.

        Buth Sawong: Một số người nghe muốn hỏi cần phải tu tập tâm như thế nào để họ có niềm tin thực sự vào Giáo lý của Đức Phật.

        Khun Sujin: Nếu mọi người không hiểu Giáo lý thì họ sẽ không thể có tín tâm thực sự vào Phật Pháp. Mọi người có thể nhắc lại những từ mà họ đã nghe về Đức Phật, rằng Ngài là vị toàn giác, đấng tuyệt vời nhất đã tận diệt mọi phiền não. Tuy nhiên nếu họ không thực sự hiểu phiền não là gì, ở đâu và khi nào chúng sinh khởi, và làm thế nào để có thể tận diệt phiền não, họ sẽ không thể có niềm tin thực sự nơi Đấng Giác ngộ. Vậy làm thế nào để tín tâm có thể sinh khởi? Khi có tín thực sự, sẽ có niềm tin rất vững chắc rằng Đức Phật thực sự là bậc Chánh đẳng giác, người đã dạy Giáo lý trong 45 năm để giúp tất cả chúng sinh. Nếu một người có niềm tin thực sự ở trí tuệ của Đức Phật thì người ấy sẽ muốn nghe Pháp, nghiên cứu và suy nghĩ về nó. Người ấy sẽ phát triển tuệ giác dẫn đến sự chứng ngộ Tứ Thánh Đế mà Đức Phật đã dạy.

        Buth Sawong: Một số người vẫn phân vân làm thế nào để tu tập tâm, tâm sở để họ có được niềm tin không thể lay chuyển ở Giáo lý của Đức Phật.

        Khun Sujin: Điều ấy chỉ xảy ra khi tâm đạo siêu thế (magga tâm) và các tâm sở kèm theo sinh khởi đối với một vị Thánh Dự lưu (sotapanna), người đã đạt được bậc giác ngộ đầu tiên. Khi ấy sẽ có sự quy y Tam bảo với niềm tin không lay chuyển nhờ có sự chứng ngộ của vị ấy về sự thực của thực tại. Một người bình thường chưa đạt được giác ngộ không thể nào quy y Tam bảo với một niềm tin không lay chuyển, bởi vì người ấy chưa xuyên thấu sự thực của các thực tại. Người ấy vẫn chưa xuyên thấu được rằng pháp đang sinh khởi lúc này không phải là ta, rằng chúng đang sinh và diệt như lời Đức Phật đã dạy. Vậy chừng nào người ấy chưa xuyên thấu được Tứ Thánh Đế thì chừng ấy vẫn chưa thể chắc chắn rằng mình sẽ không thay đổi sang một tín ngưỡng khác

        Buth Sawong: Tôi muốn hỏi một lần nữa, làm thế nào để phát triển tâm và tâm sở để không còn sự lẫn lộn, không còn khả năng thay đổi niềm tin của mình nữa. Tại thời điểm này có rất nhiều tín ngưỡng khác nhau đang được truyền bá ở Campuchia. Tôi không muốn bị lẫn lộn và đi khỏi Đạo Phật. Tôi muốn có một niềm tin chắc chắn vào Đạo phật.

        Khun Sujin: Như tôi đã nói trước đó, sự quy y Tam bảo với niềm tin không lay chuyển chỉ xảy ra khi tâm đạo siêu thế sinh khởi và đó là điều kiện để ta không thay đổi sang tín ngưỡng nào khác nữa. Trước khi ai đó có thể quy y Tam bảo như vậy, thì người ấy cần phải có niềm tin vào trí tuệ của Đức Phật và để có được niềm tin ấy, người ấy không nên chỉ phụ thuộc vào tâm sở tín (tâm sở saddha), nhưng cũng cần có hiểu biết về các tâm sở khác, như tuệ giác – trí tuệ. Nếu chỉ có niềm tin mà không có một chút hiểu biết nào thì niềm tin của người ấy vào chân lý của Đạo phật không thể nào được coi là vững chãi. Người Phật tử cảm thấy mình đã có niềm tin vào Giáo lý của Đức Phật muốn thể hiện sự tôn kính Đức Phật, đọc kinh và làm công quả với tư cách người Phật tử. Tuy nhiên, họ cũng nên nghe Pháp và suy nghẫm về những gì họ đã được nghe. Càng nghe thì họ sẽ càng hiểu trí tuệ của Đức Phật. Đức Phật dạy Giáo lý thực sự mà  tất cả mọi  người  đều có thể ngay lập tức kiểm chứng, không chậm trễ.

, , , , , , ,

Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 3: Ý nghĩa của Pháp

Chương 3

Ý nghĩa của Pháp

Buổi thảo luận thứ hai tại Battambang

Buth Sawong: Làm thế nào để chúng ta có thể thực hành đúng theo tứ niệm xứ?

        Khun Sujin: Mọi người thường hỏi làm thế nào để họ thực hành Tứ niệm xứ. Cả ở Thái lan cũng vậy, mọi người thường hỏi câu này. Thay cho việc hỏi chúng ta nên thực hành như thế nào và băn khoăn về điều ấy, chúng ta nên có hiểu biết đúng về các thực tại, về các pháp chân đế ngay từ ban đầu. Tại khoảnh khắc này chúng ta đang thấy và nghe, có các thực tại và, như Đức Phật đã dạy, chúng đều là vô ngã. Thấy chỉ là một khoảnh khắc tâm sinh khởi do duyên và liền diệt mất. Thay cho việc phân vân phải thực hành như thế nào thì chúng ta nên hiểu về những thực tại xuất hiện tại khoảnh khắc này. Chúng ta cần hiểu rằng thấy là pháp, nghe là pháp, ngửi là pháp, nghĩ là là pháp. Tất cả mọi thứ đều là pháp, không bao giờ thiếu pháp cả. Liệu trí tuệ đã biết rõ đặc tính của các pháp như chúng là hay chưa? Mọi người không nên cố gắng thực hành theo một cách khiên cưỡng mà cần phải phát triển hiểu biết đúng đắn hơn về các thực tại đang sinh khởi một cách tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày.

        Buth Sawong: Vậy dhamma chính xác là gì?

        Khun Sujin: từ “dhamma” chỉ đến tất cả những gì có thực. Tiếng Pali, từ “sacca dhamma”, tức là pháp đế hay pháp thực cũng được sử dụng, và từ này được dùng để chỉ những gì có thực. Ở thời điểm này có cái thấy, và đó là thực. Vì vậy cái thấy là pháp đế, là pháp thực, nghe cũng là pháp đế, là pháp thực. Tại khoảnh khắc này có pháp đế hay pháp-dhamma, nhưng khi có vô minh, dhamma không được nhận biết. Đức Phật, khi giác ngộ, đã xuyên thấu được từng loại pháp và nhận biết chính xác được bản chất của chúng. Ngài hiểu rằng chỉ có các thực tại sinh khởi bởi các duyên tương ứng và không có một chúng sinh, một con người hay cái ngã nào cả. Tuy nhiên, chừng nào chúng ta vẫn chưa hiểu thực tại như chúng là, chúng ta vẫn còn bám dính vào tà kiến rằng “tôi đang thấy”, “tôi đang nghe” và chúng ta dính mắc vào những sắc trên thân là “thân của tôi”.

        Buth Sawong: Một số người nghĩ rằng cuộc sống thường ngày của chúng ta tại giây phút này thì không phải là dhamma, là pháp. Điều đấy có đúng hay không?

        Khun Sujin: Nếu khoảnh khắc này không phải là dhamma thì khi nào mới là dhamma?

        Buth Sawong: Tất cả những gì được thấy, được nghe dù là hữu tình hay không thì đều là dhamma, là pháp.

        Khun Sujin: Đúng vậy, và tất cả các pháp đều vô ngã. Chúng ta đọc trong Kinh Pháp cú:

        Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường

        Tất cả các pháp hữu vi đều khổ

        Tất cả các pháp đều vô ngã

Điều ấy chỉ cho chúng ta rằng mọi thứ, không có gì ngoại trừ, đều là pháp, là một thực tại vô ngã. Đặc tính cứng, chẳng hạn, là dhamma. Liệu có ai có thể tạo nên sự sinh khởi của tính cứng hay không? Không có ai có thể tạo nên sự sinh khởi của tính cứng. Nó sinh khởi bởi những duyên riêng của nó, và tất cả các hiện tượng có thật đều là pháp.

        Buth Sawong: Vậy ý nghĩa của việc xuyên thấu bản chất thực sự của dhamma – pháp là gì?

        Khun Sujin: Tại thời điểm hiện giờ, thực tại đang sinh khởi. Trước khi chúng ta có thể xuyên thấu được bản chất thực sự của pháp thì chúng ta cần phải biết đặc tính của từng thực tại ở một thời điểm mà chúng ta vẫn thường cho là ta. Hiểu biết về pháp được duyên bởi việc nghe, nghiên cứu và suy xét. Bằng cách này, chúng ta sẽ biết rằng có hai loại thực tại: danh pháp, thực tại biết hay kinh nghiệm thứ gì đó, và sắc pháp, thực tại không kinh nghiệm gì cả. Chẳng hạn, “thấy” là thực tại kinh nghiệm cái xuất hiện qua mắt, còn cái xuất hiện qua mắt, đối tượng thị giác, thì không biết gì cả. Khi trí tuệ hiểu một cách rõ ràng các đặc tính của danh pháp và sắc pháp chỉ là các thực tại không phải là ngã, rồi nó sẽ chứng ngộ sự sinh và diệt của các pháp ấy và sẽ xuyên thấu được Tứ Thánh Đế.

        Buth Sawong: Tôi biết rằng tất cả các thực tại đều không phải là ngã, không phải là một chúng sinh, không phải là một người. Tôi biết rằng tất cả mọi thứ có tâm và không có tâm đều vô thường, nhưng tôi muốn biết sự chứng ngộ Tứ Thánh Đế có nghĩa là như thế nào. Phải chăng sự nhận biết rằng các thực tại đều là vô thường và khổ, chính là chứng ngộ Tứ Thánh Đế?

        Khun Sujin: Biết được những thứ này vẫn chưa phải là xuyên thấu Tứ Thánh Đế.

        Buth Sawong: Biết rằng mọi thực tại khổ và vô ngã, đó có phải là chánh kiến về chân lý hay không?

        Khun Sujin: Có chăng cái hiểu về khổ hiện giờ, trong khi bạn đang ngồi đây? Cái hiểu về dukkha hiện giờ là gì? Nói cách khác, vào thời điểm này có chánh niệm hay không, có sự phát triển của Bát chánh đạo hay không? Nếu chánh niệm không sinh khởi, liệu có thể có hiểu biết rằng thực tại đang thấy là danh, rằng nó sinh và diệt, rằng nó là vô thường hay không?

        Buth Sawong: Đâu là duyên để cho sukha – lạc và dukkha – khổ sinh khởi?

        Khun Sujin: Dù một người là người Campuchia hay người Thái, dù là sống ở đâu, dù là nghèo hay giàu, chừng nào người ấy vẫn còn phiền não thì người ấy sẽ có dukkha. Bởi vì tham, sân, si khiến người ấy lo lắng và cảm thấy bị đè nén, và người ấy sẽ bị khổ đau. Không có ai thực sự hạnh phúc và an vui tĩnh lặng trừ khi đã trở thành một vị a la hán, người đã diệt tận toàn bộ phiền não, người khi chết đi sẽ đạt Bát niết bàn. Vị A la hán sẽ không còn tái sinh và vì vậy sẽ không còn dukkha đối với vị ấy nữa. Tôi đánh giá rất cao mối quan tâm về pháp mà các đạo hữu Campuchia đã thể hiện. Thiện pháp của các bạn trong quá khứ đã tạo duyên cho mối quan tâm của các bạn với việc nghe pháp hôm nay. Các bạn đang nghe bởi vì các bạn biết rằng Giáo pháp là nơi trú ẩn thực sự của các bạn. Chúng ta có thể nghe ở thời điểm này, vì còn nghiệp là duyên để cuộc sống của chúng ta vẫn tiếp tục từ giây phút này đến giây phút khác, dù chúng ta đang ở đâu. Giây phút của thấy hay nghe một cái gì đó dễ chịu, dù chúng ta đang ở Campuchia hay đâu nữa thì đều là kết quả của nghiệp thiện. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả các kinh nghiệm dễ chịu qua các căn là sự thực rằng, các bạn, do nhân duyên từ việc nghe Giáo pháp trong quá khứ, đã có đủ niềm tin hôm nay để tiếp tục nghe và tiếp tục phát triển hiểu biết đúng. Bằng cách ấy, các đặc tính của thực tại đang sinh khởi hiện giờ có thể được hiểu như chúng là. Không có gì khác trên thế giới này có giá trị hơn Tam bảo, Tam bảo thực sự là nơi nương tựa của chúng ta.

        Buth Sawong: Liệu chúng ta có nên xua đuổi phiền não hoặc chạy trốn khỏi phiền não hay không?

        Khun Sujin: Phiền não đi kèm với tâm, chúng đã được tích lũy. Dù bạn có trốn đi đâu chăng nữa thì phiền não vẫn luôn luôn theo đuổi bạn. Nơi nào có tâm thì có phiền não. Nhưng khi tâm là kusala – tức là thiện tâm, khi có trí tuệ, thì sẽ không có tham (lobha), sân (dosa) hay si (moha); vào giây phút đó sẽ không có phiền não tạo nên đau khổ.

        Buth Sawong: Tôi nên làm gì để vượt qua phiền não?

        Khun Sujin: Bạn tin rằng bạn có thể tự mình vượt qua phiền não ư? Hay bạn nên phát triển trí tuệ, mà chính trí tuệ đó sẽ đảm nhận chức năng tận diệt phiền não?

        Buth Sawong: Một số người hỏi họ nên làm gì để có thể đạt niết bàn?

        Khun Sujin: Tại thời điểm này niết bàn không xuất hiện. Bạn đang thấy hay đang nghe hiện giờ. Nếu bạn đã xuyên thấu đặc tính của các thực tại đang xuất hiện hiện giờ thì sự dính mắc vào các thực tại ấy có thể được loại bỏ. Khi trí tuệ đã được phát triển đến mức độ có thể đạt được giác ngộ thì tâm sẽ quay lưng lại với các pháp hữu vi, tức là các thực tại do duyên khởi luôn sinh và diệt, nó sẽ không còn mong muốn kinh nghiệm chúng nữa; nó hướng tới thực tại vô vi là niết bàn. Và vào thời điểm giác ngộ thì trí tuệ là trí tuệ siêu thế.

        Buth Sawong: Mọi người có đặt câu hỏi về những mức độ khác nhau của các vị thánh Dự lưu (sotapanna), của những người đã đạt được giai đoạn đầu tiên của sự giác ngộ. Các vị thánh Dự lưu khác nhau có số lần tái sinh khác nhau và các kiểu tái sinh khác nhau.

        Khun Sujin: Điều ấy tùy thuộc vào mức độ sức mạnh của trí tuệ của vị thánh Dự lưu đó. Nếu như mức độ trí tuệ của vị ấy rất lớn thì vị ấy sẽ chỉ tái sinh một lần nữa mà thôi. Nếu mức độ trí tuệ của vị ấy ít hơn thì vị ấy sẽ tái sinh nhiều hơn một lần. Nhưng theo kinh điển thì một vị Thánh Dự lưu sẽ không bao giờ tái sinh lại quá bảy lần.

        Buth Sawong: Làm sao có thể có những mức độ trí tuệ khác nhau mà cùng xuyên thấu Tứ Thánh Đế ở giây phút giác ngộ? Liệu có thể phân biệt giữa trí tuệ ở mức độ cao và mức độ thấp hay không?

        Khun Sujin: Điều này có thể so sánh với việc nhiều thí sinh khác nhau cùng thi đỗ. Tất cả họ đều đỗ nhưng một số người đỗ điểm cao và một số người đỗ điểm thấp, tùy vào mức độ kiến thức và khả năng của họ. Cũng như vậy, khi giác ngộ đạt được thì trí tuệ của những người khác nhau có mức độ khác nhau và dù nó ở mức độ thấp hơn hay cao hơn thì nó đều xuyên thấu Tứ Thánh Đế.

, , , , , , , , ,

Translate »