Pháp đàm sáng 06-09-2013 tại Vũng tàu
13/ Pháp đàm buổi sáng ngày 06.09.2013 tại Vũng Tàu.
Vị sư 1: Kính thưa Achaan, sau pháp đàm bốn ngày tại Sài Gòn vừa qua, có vài đạo hữu có hỏi, thường các vị đó có đi hành thiền ở Miến điện, các trường thiền dạy các vị là tu tập làm sao để giảm bớt tâm bất thiện, tăng trưởng tâm thiện và thấy nó có giá trị thiết thực, rât có ích trong đời sống, Vậy sao Achaan chỉ nói về cái thấy,cái nghe, sự xúc chạm, thì nó có lợi ích gì trong cuộc sống hàng ngày? Mong Achaan hãy chia sẻ thêm điểm này để mọi người có thêm đức tin.
Achaan: Hiện giờ có ai không thấy không? Vậy việc nói về điều ấy chẳng có ích gì hay sao? Hay là cần phải hiểu về điều khác? Chúng ta có cần nói về những gì khác ngoài những thứ đang xuất hiện hiện giờ hay không? Nếu chúng ta không nói về những thực tại đang sinh khởi, liệu có thể có cái hiểu rằng chúng là vô ngã hay không? Toàn bộ Giáo lý của Đức Phật đều nói về vô ngã. Không phải chỉ đơn giản nói rằng bây giờ tôi đã hiểu về vô ngã rồi. Thế còn cái thấy thì sao, cái thấy có phải là tôi không? Nếu không thẩm sát tất cả các kinh nghiệm hiện hữu thì ý nghĩa của việc nghiên cứu Giáo lý là gì? Thay cho việc hiểu cái đang xuất hiện hiện giờ, ta cứ hi vọng hiểu những thứ đang không xuất hiện. Nếu như bạn cứ cố gắng hiểu những thứ khác với cái đang xuất hiện thì điều ấy là không thể, bởi vì điều đó vẫn chưa xảy ra. Khi đọc giáo lý, chúng ta thấy rằng toàn bộ Giáo lý đều nói đến cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, và toàn bộ những thứ đó chính là cuộc sống. Nếu không thì cuộc sống là gì đây? Chúng ta có thể biết những thứ ngoài những gì mà chúng ta gọi là cuộc sống hay không? Nếu chúng ta không nghiên cứu Giáo lý từng từ một, một cách rất kính trọng và cẩn mực, thì làm sao có thể hiểu ai là Đức Phật đây? Chẳng phải Đức Phật biết về sự thực ở khoảnh khắc này hay sao? Đức Phật biết về tất cả, kể cả cái đang có thực xuất hiện hiện giờ và chỉ hiện giờ mà thôi. Đó là câu trả lời của tôi.
Vị sư 1: Cảm ơn Achaan
Achaan: Hiểu được cái thấy, suy nghĩ, cái nghe hiện giờ có dễ không? Chính vì thật không dễ có thể hiểu được các thực tại ấy, nên cần đến nhiều kiếp , thậm chí nhiều a tăng kỳ kiếp để có thể hiểu rằng cái thấy, cái nghe chỉ là các thực tại, sinh và diệt, không trường tồn. Dù chúng ta nghiên cứu gì đi nữa, toàn bộ Giáo lý vẫn là về hiện giờ, về khoảnh khắc hiện tại, mỗi một từ đều là như vậy. Vậy hiện giờ bạn muốn hiểu gì đây? mỗi từ đều liên quan đến chính bây giờ. Chúng ta được nghe nhiều – ở Thái lan, Miến điện, khắp thế giới – về từ thực hành, nó có nghĩa là gì và nó là gì? Hiểu biết đúng phải hiểu nghĩa của từ đó là gì, nếu không chỉ là suy nghĩ rằng mình đã hiểu nó mà thôi. Vậy thực chất nó là gì đây? Thực hành chính là sự hiểu biết đúng về bất cứ những gì xuất hiện ở bất cứ thời điểm nào. Nếu không phải như vậy thì đó sẽ không còn là Giáo lý của Đức Phật, bởi vì vào khoảnh khắc của cái thấy sẽ có vô minh.
Nếu Đức Phật ngồi ở đây thì Đức Phật sẽ nói gì đây? Liệu có ai đó sẽ hỏi Đức Phật nên thực hành như thế nào mà không có hiểu biết về mục đích của thực hành hay không? Chúng ta tới đây và có buổi pháp đàm này để có được hiểu biết về cái đang xuất hiện, chứ không phải về cái chưa xuất hiện. Vậy thì thực hành là gì? Có phải đó là tập một số bài tập nào đó, viết, đọc hay một cái gì đó chăng? Làm gì đó hay là thế nào? Vậy thế nào là sự thực hành?
Học viên 16: Chúng ta phải điều phục tâm và để điều phục tâm chúng ta phải ngồi thiền. Cái cuối cùng mà chúng ta đến là cái rỗng lặng.
Achaan: Vậy thì chúng ta sẽ chỉ nói từng từ một thôi để có thế hiểu được rõ. Liệu chúng ta có thể kiểm soát hay điều phục bất cứ cái gì hay không?
HV 16: Con thấy rằng, con đã thực hành trong một năm qua, con đã bắt đầu kiểm soát được phần nào tâm con bằng chính sự điều phục, không để nó khởi lên những diễn biến xấu.
Achaan: Khi không có hiểu biết về cái đang xuất hiện hiện giờ, khi ấy có phiền não không?
HV 16: Con hiện nay không còn thù hận ghét với ai và yêu thương mọi người.
Achaan: Trước hết tôi muốn biết, tâm là gì đã?
HV 16: Con hiểu tâm là mọi cái ý nghiệp mà mọi vọng tưởng do suy nghĩ.
Achaan: Khi không suy nghĩ thì có tâm không?
HV 16: Có ạ.
Achaan: Vậy ở khoảnh khắc không có suy nghĩ thì tâm khi ấy là gì?
HV 16: Chính là tâm chân như, tâm rỗng không.
Achaan: Nó ở đâu?
HV 16: Nó nằm ngay trong chính mình. Mình được hòa tan vào vũ trụ, lúc đó giữa ta và vũ trụ không còn phân hai.
Achaan: Vũ trụ là gì?
HV 16: Bằng những khoảnh khắc ngồi thiền con cảm thấy quanh ta là vũ trụ, chứ con không nghĩ cái gì xa xôi.
Achaan: Vũ trụ cứng hay mềm?
HV 16: Thực sự nó là mềm như không khí.
Achaan: Cái này mềm thì có là vũ trụ không?
HV 16: Không phải. Mỗi cái này chỉ là một thành phần của vũ trụ.
Achaan: Thế còn những thành phần khác của vũ trụ là gì?
HV 16: Đất, nước, gió lửa, không khí.
Achaan: Hiện giờ có đất không?
HV 16: Có
Achaan: Đất có thuộc về bạn không?
HV 16: Có
Achaan: Nó có sinh khởi không?
HV 16: Nó sinh và diệt.
Achaan: Làm thế nào để kinh nghiệm được cái đó?
HV 16: Mỗi một con người tự mình chứng thực điều đó, rất khó diễn giải
Achaan: Đất có thể được kinh nghiệm không?
HV 16: Có
Achaan: Vậy thì hiện giờ cái mà bạn gọi là đất mà đang được kinh nghiệm thì đó là gì?
HV 16: Chính là tâm của ta
Achaan: Ý của bạn là tâm có tính chất cứng hay sao? (Vì đất có tính chất cứng, mềm –ND)
HV 16: Tâm nó mềm.
Achaan: Cái mà ta gọi là mềm thì về bản chất cũng là ít cứng mà thôi.
HV 16: Tâm nó uyển chuyển và nó phù hợp với mọi hoàn cảnh.
Achaan: Hiện giờ đang có đặc tính cứng xuất hiện không?
HV 16: Có
Achaan: Cái gì đang kinh nghiệm đặc tính cứng?
HV 16: Cái cứng của con bây giờ là những chướng ngại đang đến với con. Nó mới chính là cái cứng và con lại phải dùng nó để chuyển hóa nó thành mềm.
Achaan: Hiện giờ ở khoảnh khắc của sự xúc chạm có hai loại thực tại, có đúng không?
HV 16: Đúng ạ.
Achaan: Thứ nhất là đặc tính cứng và thứ hai là cái kinh nghiệm đặc tính cứng. Nếu không có đặc tính cứng thì cái kinh nghiệm đặc tính cứng sẽ không thể sinh khởi. Vậy thì, không có ai cả ở khoảnh khắc kinh nghiệm đặc tính cứng, chỉ có hai thực tại: thực tại là đặc tính cứng và thực tại khác là cái kinh nghiệm đặc tính cứng. Cái cứng thì không biết gi cả, phải có một thực tại khác có tính chất là khi sinh khởi nó kinh nghiệm một cái gì đó kinh nghiệm nó. Khi xuất hiện đặc tính cứng thì đặc tính cứng là cái được kinh nghiệm. Đặc tính cứng chỉ xuất hiện ở khoảnh khắc có sự xúc chạm. Có phải là bạn chạm hay bạn cứng không? Có phải cái cứng hay sự xúc chạm đó là bạn hay không?
HV 16: Chỉ là xúc chạm
Achaan: Nhưng đặc tính cứng thì xuất hiện ở khoảnh khắc của sự xúc chạm. Vậy khi ấy có cái kinh nghiệm đặc tính cứng. Vậy bạn là người kinh nghiệm đặc tính cứng hay là đặc tính cứng được kinh nghiệm là bạn?
HV 16: Cả hai.
Achaan: Vậy thì cái cứng là bạn có phải không?
HV 16: Phải
Achaan: Vậy cái bàn (có đặc tính cứng) có phải là bạn không?
HV 16: Không
Achaan: Tại sao cái micro thì là bạn (HV 16 đang cầm micro) mà cái bàn thì không phải là bạn?
HV 16: Cái micro cũng không phải là con.
Achaan: Không có cái gì có thể gọi là mình, nhưng kinh nghiệm đang xuất hiện thì rất thực, đúng không? Vậy, ở khoảnh khắc có kinh nghiệm cái cứng đó, đó không phải là bạn. Dù là ở khoảnh khắc của sự xúc chạm, cái thấy, cái nghe hay suy nghĩ cũng vậy. Và đó chính là Giáo lý của Đức Phật: không có một ai cả, chỉ có cái kinh nghiệm và cái được kinh nghiệm, dù ở bất cứ thời điểm nào. Và bây giờ, cái thấy thì không phải là cái nghe, cũng không phải là suy nghĩ. Không có ai ở trong căn phòng này đúng không? Chỉ có cái kinh nghiệm và cái được kinh nghiệm đang xảy ra từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Và đó chính là lời dạy của Đức Phật về giây phút hiện tại. Đó có phải là sự thực hành của giáo lý Đức Phật không?
Chỉ nghe thôi có đủ không? Nếu không có cái hiểu hiện giờ, liệu có thể có cái hiểu thêm về sau được hay không? Mức độ hiểu biết xuất phát từ việc nghe, suy xét và hiểu được gọi là pariyati- pháp học trong tiếng Pali, và chỉ có Giáo lý của Đức Phật mới được gọi là pariyati. Khi chúng ta nghe những lời giải thích, chẳng hạn về cấu tạo của cái bàn này, đó không phải là giáo lý của Đức Phật. Đức Phật dạy về cái có thực hiện giờ, chỉ là cái kinh nghiệm và cái được kinh nghiệm mà thôi. Suốt cả ngày và suốt cả cuộc đời vẫn chỉ là vậy. Nhưng khi không có hiểu biết đúng, ngay lập tức sẽ có ý niệm “tôi thấy”, “tôi nghe”, “tôi suy nghĩ”. Nếu không có Giáo lý của Đức Phật, ai biết được rằng không có tôi? Luôn vẫn là tôi nghĩ, tôi thấy. Nhưng trên thực tế chỉ có cái kinh nghiệm và cái được kinh nghiệm mà thôi.
Trong cuộc sống hàng ngày thì cái gì được kinh nghiệm đây? Nếu không có trí tuệ hiểu biết đúng thì sẽ luôn luôn là một cái gì đấy, chẳng hạn, ở khoảnh khắc này của cái thấy, cái gì được thấy nào? Bất cứ khi nào có cái thấy thì phải có cái được thấy. Bản thân cái thấy thì không có hình dạng, không mùi, không vị, không cứng, cũng không mềm. Không ai có thể thấy được hình dạng của cái đang kinh nghiệm đối tượng hiện giờ. Nó chỉ sinh khởi để kinh nghiệm đối tượng được kinh nghiệm mà thôi. Liệu chúng ta có nên dùng thuật ngữ dài là “cái kinh nghiệm” hay không? Bây giờ trở đi, ta có thể thay thuật ngữ đó bằng một từ khác: tâm-citta. Ở Thái- lan, chúng tôi sử dụng rất nhiều thuật ngữ đến từ tiếng Pali, chúng tôi cũng dùng từ citta, nhưng nếu không dựa vào Giáo lý, cũng sẽ không thể biết được nó là gì, nó ở đâu và khi nào, mà chỉ có một ý niệm rất mù mờ về nó mà thôi, chỉ ở mức độ nghĩ là tôi có tâm, cái mà kinh nghiệm bất cứ thứ gì từ khi sinh ra đến khi chết đi. Nhưng khi được hỏi tâm là gì thì không ai có thể nói thêm gì hơn. Nhưng Đức Phật đã dạy chúng ta về mọi loại tâm. Cái thấy có sinh và diệt không? Chúng ta có thể nói rằng cái thấy là một loại tâm không? Nó khác với cái nghe, cái nghe thì lại là một loại tâm khác. Bất cứ cái gì sinh khởi cũng cần những duyên tương ứng để cho chúng sinh khởi. Cái thấy thì không thể sinh khởi nếu không có nhãn căn, mà chúng ta vẫn gọi là mắt. Nhưng ngay cả như vậy, mắt có khác với cái thấy không? bởi vì bản thân mắt không thể thấy. Nhưng nếu không có mắt thì cái thấy sẽ không thể sinh khởi. Mắt có thuộc về ai không? Câu trả lời là gì?
Jonathan: Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ nghĩ mắt của tôi.
Achaan: Chúng ta có mắt hay không? Tất cả mọi người sẽ nói là tôi có mắt, nhưng không ai biết được mắt sinh khởi như thế nào cả. Cái xuất hiện hiện giờ sinh khởi là bởi do duyên. Để có thể hiểu cuộc sống là gì thì cần phải rất nhiều thời gian. Chính vì thế Đức Phật đã phải thuyết giảng trong 45 năm. Nếu trí tuệ dễ phát triển như là đơn giản chỉ thực hành thôi thì Đức Phật đã không cần nhiều thời gian đến như vậy để dạy, Đức Phật biết được căn cơ của tất cả chúng sinh. Như bây giờ đang có việc nói về cái thấy, đó cũng vẫn chưa phải là khoảnh khắc kinh nghiệm cái thấy chỉ là một thực tại sinh khởi để kinh nghiệm. Sau khi chúng ta đã nghe rất nhiều về cái thấy, hầu hết trong ngày chúng ta quên mất sự thực cái thấy là gì ở khoảnh khắc của cái thấy. Vì vậy chỉ mới nghe về cái thấy có một lần, hai lần, hay 100 lần thì vẫn chưa đủ đâu, mà cần nghe cho đến khi hiểu biết trở thành sacca nana, để có trí tuệ trực nhân sinh khởi thực sự hiểu rằng cái thấy không phải là tự ngã. Khi hiểu biết nhờ việc nghe được thiết lập một cách chắc chắn, nó có thể tạo duyên cho khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp cái thấy hiện giờ là vô ngã, và đây chính là sự phát triển Tuệ giác.
Khi hiểu biết về giáo lý được thiết lập một cách chắc chắn thì pariyati – pháp học có thể tạo duyên cho khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp thực tại, và khoảnh khắc đó được gọi là patipati- pháp hành, chính vì vậy, từ patipati có nghĩa là pháp hành hay là bhavana (sự phát triển tâm trí), nó khác với nghĩa mà chúng ta vẫn thường hiểu về từ “thực hành”. Hiểu biết về con đường phát triển ở mức độ lý thuyết được gọi là sacca nana. Chừng nào chưa có hiểu biết được thiết lập vững chãi, chưa thể có được patipati, khoảnh khắc của pháp hành. Cái chưa sinh khởi sẽ sinh khởi từ hiểu biết đúng. Vậy thì câu hỏi đúng không phải là làm thế nào để tôi hiểu cái thấy, vì sẽ không có cách nào để phát triển hiểu biết mà không có việc nghe và suy xét về Giáo lý. Chính vì vậy, người không nghiên cứu Giáo lý một cách kỹ lưỡng nghĩ rằng mình có thể thiền để có thể thấy được cái thấy như nó là. Họ không biết rõ là cái gì có thể là đối tượng của hiểu biết đúng. Và họ tránh không hiểu cái đang xuất hiện hiện giờ. Họ mong muốn và hi vọng hiểu một cái gì đó khác, đó chính là cái hiểu biết sai- tà kiến, với tà kiến sẽ có sự thực hành sai hay nói cách khác là Tà đạo.
Trong Tam tạng có nói đến Bát chánh đạo và Bát tà đạo, và việc đi theo con đường nào sẽ tùy thuộc vào tích lũy của mỗi người. Ở thời của Đức Phật, mặc dù Ngài còn tại thế nhưng rất nhiều người đã không đến thăm và nghe Ngài giảng pháp. Chúng ta có tích lũy là chỉ muốn đạt được cái gì đó, muốn biết, muốn kinh nghiệm, muốn giác ngộ. Nhưng Giáo lý này thì lại chỉ ra con đường của sự xả ly, không thể có sự dính mắc trong đó. Đây chính là sự khác biệt giữa những lời dạy chân chánh và những lời dạy không chân chánh, bất cứ lời dạy chân chánh nào cũng chính là những lời của Đức Phật. Còn nếu những lời dạy làm duyên cho sự dính mắc nhiều hơn, đó sẽ không phải là lời của Đức Phật. Kể cả khi chúng ta đang nghe về Giáo lý hiện giờ, ở bất cứ khoảnh khắc hiểu biết nhỏ nào thì sự vô minh cũng giảm đi. Và hiểu biết sẽ dần xả ly với những dính mắc với tà kiến, với con đường sai. Điều ấy tùy thuộc vào nơi bạn quy y hay nương tựa. Bạn quy y Tam bảo hay là quy y ai đó? Chính vì vậy chúng ta cần phải rất chân thực trong việc hiểu Giáo lý, nếu không thì Đức Phật dạy một đằng ta lại nghĩ một nẻo. Bất cứ ai quy y Phật thì cần phải nghiên cứu Giáo lý và lấy Giáo lý làm nơi nương tựa, tức là quy y Pháp. Hoặc ai đó nói rằng, tôi xin nương tựa vào Đức Phật, nhưng nếu không có sự nghiên cứu, làm sao có thể gọi là quy y Phật được đây? Điều quý báu nhất trong cuộc đời của mỗi người là hiểu biết đúng. Chúng ta sẽ không thể hiểu được cuộc sống và tất cả những gì trong cuộc sống nếu như chúng ta không nghiên cứu Giáo lý của Đức Phật. chẳng hạn bây giờ cái thấy đang sinh và diệt luôn luôn, ai biết được điều ấy nào?
Pariyati- pháp học sẽ làm duyên cho patipati-pháp hành, bởi vì nghĩa của từ patipati là tiếp cận thực tại với hiểu biết đúng cùng chánh niệm. Chánh niệm sẽ không thể sinh khởi nếu không có duyên tương ứng để cho nó sinh khởi, đó chính là sự nghiên cứu về Giáo lý một cách đúng đắn, kiên cố. Có ba mức độ của việc nghiên cứu giáo lý, thứ nhất là việc nghe giáo lý rất cẩn thận để cái hiểu về những lời dạy ấy được thiết lập một cách vững vàng. Bất cứ khi nào chánh niệm thực sự sinh khởi, nó đều đến từ sự hiểu biết được thiết lập một cách đúng đắn từ pháp học, pháp học thì làm duyên cho pháp hành, pháp hành thì làm duyên cho pháp thành. Pháp thành là sự liễu ngộ tất cả những gì xuất hiện đúng như là đã được dạy, ở bất cứ thời điểm nào, kể cả ngay bây giờ đây. Nếu không rõ điều ấy, chúng ta sẽ đánh giá thấp mức độ của Trí tuệ có thể kinh nghiệm sự sinh diệt kể cả ngay bây giờ của thực tại, và khi ấy thì chưa phải là hiểu về Giáo lý một cách đúng đắn, chưa hiểu rằng vô minh và trí tuệ là hai thực tại hoàn toàn đối nghịch với nhau. Thông thường thì bất cứ khi nào không có Trí tuệ thì sẽ có vô minh và tham ái. Nếu bây giờ đang có hiểu biết sinh khởi, thì đó không phải là bạn hay bất kỳ ai, nó được tạo duyên từ việc nghe và suy xét một cách chân chánh. Nếu ai đó muốn có được hiểu biết đúng sinh khởi mà không có duyên cho điều ấy thì sẽ không thể, không gì có thể được kiểm soát, bởi vì tất cả các pháp đều do duyên.
Học viên 17: Làm thế nào để áp dụng hiểu biết này ở nơi làm việc?
Achaan: Làm thế nào ư? Phải bằng việc nghe và suy xét thêm nữa đã, khi có câu hỏi làm thế nào thì chẳng phải đang có tham ở đó hay sao? Kể cả khi chúng ta có những hành động nhỏ bé, như giơ tay để lấy cái gì đó. rất dễ có tham ở đó rồi. Vậy hàng ngày chúng ta đừng nghĩ đến việc làm thế nào để có thêm cái này hay bớt cái kia, mà hãy nhận ra rằng chúng ta đã có nhiều vô minh đến mức nào, từ kiếp này sang kiếp khác. Chỉ có cách là được nghe và suy xét thì dần dần hiểu biết được tích lũy sẽ làm giảm bớt đi sự vô minh.
Giáo lý của Đức Phật giống như ánh sáng bừng lên từ bóng tối. Mặc dầu giờ đây đang có ánh sáng, và chúng ta có thể thấy mọi thứ, nhưng nếu không có hiểu biết thì vẫn là bóng tối. Ánh sáng của hiểu biết hiện giờ vẫn còn rất mờ nhạt đúng không? Nó sẽ sáng dần và sáng dần thêm khi có thêm hiểu biết đúng, và nó sẽ hiểu hơn và hiểu hơn nữa về bất cứ cái gì đang xuất hiện, hiểu về thực tại đúng như nó là. Chẳng hạn hiện giờ đang có cái thấy đúng không? Nếu như không có cái thấy, sẽ không có cái gì xuất hiện như hiện giờ đúng không? Đã có bao nhiêu hiểu biết về cái đang xuất hiện hiện nay đây? Một câu hỏi đơn giản thôi, về mặt thực tại thì cái gì thực sự xuất hiện đây? Hiện giờ có cái thấy và cái xuất hiện là thực tại có thể được thấy, được kinh nghiệm bởi cái thấy. Nhưng thực tại được kinh nghiệm đó là gì đây? Đó là gì nào? Hiện giờ nó đang xuất hiện nhưng mà đó là gì?
Học viên 16: Hơi thở.
Achaan: Có ai có thể nhìn thấy được hơi thở không?
HV 16: Chúng ta không thể nhìn thấy hơi thở bằng mắt nhưng có thể cảm nhận hơi thở.
Achaan: Nhưng chúng ta đang nói về cái được thấy, bởi vì hiện giờ đang có cái thấy.
Học viên 18: Với cái nhìn thì mình sẽ thấy được đối tượng khác nhau, tùy thuộc vào mình đang chú ý vào đối tượng nào. Ví dụ con đang thấy Bà.
Achaan: Bạn nhắm mắt lại, bạn có nhìn thấy tôi nữa không? Vậy thì trên thực tế thì không phải thấy một người. Cái được thấy hiện giờ có thực không?
HV 18: Có
Achaan: Nó không phải là ai cả mà nó chỉ là một thực tại có thể được thấy mà thôi. Nếu như không có cái hiểu đó thì sẽ luôn có ý niệm là tôi thấy và cái được thấy đó sẽ là một cái gì đấy, một ai đó, ý niệm như vậy thì không còn là giáo lý của Đức Phật nữa. Bất cứ cái gì sinh thì đều diệt trong khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi, một cách rất nhanh chóng. Nhưng khi nó sinh diệt như vậy, nó tạo nên ý niệm về hình dạng và những thứ khác nhau. Bởi vì sự sinh diệt của thực tại thì vô cùng vi tế nên bất cứ khi nào thực tại được thấy, sẽ có ý niệm về hình và dạng của cái được thấy. Nhưng nếu không có thực tại ấy thì cũng không có hình, dạng, và không có ý niệm về một ai đó xuất hiện, và nếu nó không xuất hiện nhanh như vậy thì cũng không thể có ý niệm về một người nào đó. Các thực tại sinh và diệt tiếp nối nhau rất nhanh nên mới có ý niệm về hình dạng như thế – điều này được nói trong Tam tạng. Nhưng thực tại có thể được thấy không phải là ai cả, nó chỉ là một yếu tố có tính chất được thấy, chẳng hạn âm thanh thì không thể được thấy, vị không thể được thấy, cảm thọ không thể được thấy, tất cả các thực tại khác không thể được thấy. Cái là thật hiện giờ thì chỉ là cái được thấy mà thôi, không có ai ở trong đó, không có một cái gì ở trong đó. Hiểu như vậy có thể bớt được sự dính mắc vào ý niệm về một ai đó, về ngã. Để có hiểu biết đúng về vô ngã thì phải có hiểu biết đúng về từng thực tại như nó là, đó là ý nghĩa của từ phát triển tâm trí, bhavana, nhưng mọi người lại hiểu nhầm bhavana thành sự thực hành. Khi có ý niệm về sự thực hành là làm một cái gì đó, đó cũng là ý niệm về tôi, do không có hiểu biết đúng về các thực tại xuất hiện từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác.
Học viên 17: Trong kinh nghiệm của tôi thì không có ai kinh nghiệm cả
Achaan: Mọi lúc ư?
HV 17: Vâng
Achaan: Không có sự lãng quên chút nào hay sao? Cái thấy sinh và diệt, vậy “ai đó” là ai đây? Khoảnh khắc có cái thấy mà không thấy được sự sinh và diệt của cái thấy thì lúc đó lại có ý niệm về tôi thấy, vậy khi coi cái thấy đó là tôi là lúc không có hiểu biết. Nhưng cái sinh khởi đã diệt đi rồi, vậy thì “ai đó” có ở đâu đây? Nhờ có việc nghe và hiểu được đúng đắn về mặt lý thuyết, điều ấy có thể làm duyên cho khoảnh khắc hiểu được rõ hơn về sự vô ngã của thực tại được kinh nghiệm, và dính mắc giảm dần. Nói rằng tôi có bớt dính mắc rồi mà không hề có hiểu biết về cái đang xuất hiện hiện giờ là rất không hợp lý.
Vị sư 1: Có phải bất cứ lúc nào không có cái hiểu về sinh và diệt thì vẫn luôn luôn có cái tôi hiện hữu trong đó, không thể nào thoát ra được?
Achaan: Chắc chắn rồi.
HV 17: Mặc dù không có cái hiểu nhưng cũng không nhất thiết là có tà kiến về ngã ở thời điểm đó.
Achaan: Đúng vậy. Có sự dính mắc với cái cốc này không?
HV 17: Không nhiều
Achaan: Đó có phải là tôi không?
HV 17: Không.
Achaan: Khi chỉ có sự dính mắc vào cái được xúc chạm mà không có ý niệm về tôi ở trong đó, thì không phải là có tà kiến ở khoảnh khắc ấy, mà chỉ có tham hay dính mắc trong đó mà thôi. Có tám loại tâm tham, trong đó có bốn tâm tham hợp với tà kiến và bốn tâm tham không hợp với tà kiến. Nhưng ở ngay khoảnh khắc kinh nghiệm, không có thời gian để nghĩ xem loại tâm đó là gì. Không cần thiết nhớ về tên của tâm đó vì cái mà ta nhớ chỉ là ngôn từ mà thôi. Khoảnh khắc có sự dính mắc với một cái gì đó chính là thời điểm để biết rằng đó chỉ là sự dính mắc, là tham mà thôi chứ không phải là tôi. Như vậy để có thể hiểu các thực tại mà chúng ta đang nói về thì không phải chỉ nghe mà thôi. Chẳng hạn như, ở khoảnh khắc của cái thấy, hiểu về cái thấy không phải là suy nghĩ về câu chuyện của cái thấy, rằng có bao nhiêu tâm sở sinh khởi với cái thấy đây. Ngược lại, đó chính là thời điểm để bắt đầu hiểu rằng đó chỉ là tính chất thấy mà thôi, điều này hoàn toàn không dễ dàng chút nào. Chẳng hạn như bây giờ cái thấy thấy nhưng chúng ta lại nghĩ đến những thứ khác. Và khi có cái hiểu đúng thì trí tuệ sẽ hiểu rằng bây giờ mới là sự khởi đầu mà thôi, vẫn chưa có kinh nghiệm trực tiếp về sự sinh diệt của cái thấy. Như vậy, câu hỏi “làm thế nào để tôi có thể” thế này hay thế kia là sự dính mắc vào ý niệm về ngã, nhưng tham ái sẽ luôn luôn ở đằng trước, đằng sau, bên cạnh mà không hề được biết.
Sarah: Theo hiểu biết đúng, ở khoảnh khắc kinh nghiệm cái thấy thì chỉ có thực tại là cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác- cái được thấy. Chúng ta bắt đầu hiểu rằng không có tự ngã nào cả mà chỉ có các pháp, và các pháp này đều là do duyên tạo và không thể có sự kiểm soát về các pháp ấy bởi một cái ngã nào hết. Khi chúng ta cố gắng kiểm soát, ta có thể có cảm tưởng rằng mình không có phiền não. Giống như một bạn đã nói ở đầu pháp đàm hôm nay là bạn không còn thấy có tham và sân, nhưng thực chất, khi ấy bạn có ý niệm về một cái tôi có thể kiểm soát được, thì đó lại là bước cản lớn nhất, mối nguy hiểm lớn nhất. Triền cái này dẫn ta trên con đường tà đạo. Cái mà chúng ta đang quan tâm ở đây là sự phát triển của con đường chánh đạo để tà kiến không sinh khởi. Đức Phật đã nói rằng, đối với sự phát triển tứ niệm xứ và Bát chánh đạo, triền cái duy nhất chính là tà kiến và vô minh.
Achaan: Và ai là người có thể diệt được tà kiến một cách tuyệt đối đây?
Ai đó trả lời: Đức Phật.
Achaan: Và các vị thánh đệ tử của Đức Phật
Ai đó hỏi: Đức Phật là ai?
Achaan: Là người hiểu biết hơn tất cả mọi người ngồi đây và toàn bộ tam giới
HV 13: Liệu có ai đạt tới điều đó không?
Achaan: Sẽ không thể nhanh chóng như vậy, phải cần đến rất nhiều a tăng kỳ kiếp để có thể phát triển các ba la mật để đạt được mức độ trí tuệ của một vị Phật, có được sự thanh cao tối thượng, lòng từ bi tối tượng và trí tuệ tối tượng để có thể dẫn dắt những người khác cũng đi đến giác ngộ. Ở khoảnh khắc có cái hiểu về sự thực của cái thấy, liệu có ý nghĩ nào về người đã dạy cho ta về điều ấy hay không? Nếu không có người đã dạy cho ta sự thực ấy thì liệu ta có thể hiểu được hay không? Đây chính là cách để hiểu Đức Phật là gì, nếu không hiểu được những điều Ngài dạy trong Giáo lý thì sẽ không thể biết được Đức Phật là ai.
HV 13: Trên thực tế vì không có một ai cả cho nên cũng không có Đức Phật, chỉ có Trí tuệ ở mức độ cao thượng đó như Achaan vừa mô tả.
Achaan: Đúng, nhưng thực tại là mức độ trí tuệ, mức độ thanh cao và từ bi đó là có thực.
Sarah: Mặc dù Achaan nói đến Đức Phật cũng như các vị đệ tử của Đức Phật nhưng đó chỉ là ngôn ngữ để giao tiếp, để giải thích cái mình đang nói tới, theo chế định, chứ không phải là về mặt tuyệt đối. Trên bình diện tuyệt đối thì không có ai cả.
Achaan: Có thể có cái hiểu sâu hơn hiểu biết ở khoảnh khắc này không? Vậy chúng ta đến đây nghe Pháp, đàm luận về Pháp để làm gì nếu như ngày mai hiểu biết cũng vẫn thế, và có cần thiết nói về những điều chúng ta chưa thể hiểu được hay không? Rất cần thiết, để có thể thấy rằng có mức độ hiểu biết nhiều hơn mức độ mà chúng ta có thể hiểu hiện giờ. Chỉ để hiểu rằng có một mức độ tuệ giác siêu việt đủ để tạo duyên cho mức độ thanh cao và mức độ từ bi vô hạn mà chúng ta gọi với ngôn từ là Đức Phật. Để biết rằng đó là thiện pháp cao nhất, tối thượng nhất. Vậy những khi nào chúng ta dùng từ Đức Phật, cái mà thực sự được nói đến chính là điều đó mà thôi. Ngay cả các vị đệ tử lớn của Đức Phật cũng không có mức độ hiểu biết tương đương. Chính vì vậy mới phân ra Tam bảo. Nếu không có Đức Phật thì không có ai có thể giác ngộ được hết. Nếu không, sẽ không có ích gì khi phát triển các ba la mật để trở thành một vị Phật, nếu Đức Phật không có khả năng thuyết giảng và hoằng pháp để những người khác có thể có được cùng mức độ giác ngộ – cùng mức độ giác ngộ nhưng mà không cùng mức độ Trí tuệ như Ngài. Những gì Ngài chỉ dạy đủ để giúp cho những người nghe Pháp có tích lũy đầy đủ có thể giác ngộ.
Học viên 19: Chỉ có tà kiến mới là chướng ngại lớn nhất, vậy thì phải đắc được Thánh quả thứ nhất thì mới nên thực hành hay sao?
Sarah: Việc tận diệt tà kiến là một tiến trình vô cùng dài lâu, vô cùng từ từ, và như Achaan đã nói, sự phát triển hiểu biết cần phải trải qua nhiêu a tăng kỳ kiếp, vì thế có thể có rất nhiều tà kiến trong thời gian dài nữa. Chúng ta đã nói đến tà kiến lậu hoặc, là loại tà kiến về cái được kinh nghiệm sinh khởi ngay sau cái thấy và cái nghe. Khi có tà kiến sinh khởi, nó sẽ làm duyên cho sự thực hành sai lầm. Nhưng tại khoảnh khắc hiểu biết đúng như hiện giờ, khi chúng ta đang suy xét về những thực tại khác nhau thì ở những thời điểm ấy là sự thực hành đúng đắn. Như vậy, có thể có những khoảnh khắc sinh khởi cái hiểu sai và sự thực hành sai rồi lại xen kẽ với những khoảnh khắc của hiểu biết đúng và thực hành đúng. Dù ở đâu đi nữa, khi chúng ta được nghe về những thực tại kinh nghiệm một cái gì đó và những thực tại không kinh nghiệm gì cả, điều ấy có thể làm giảm dần ý niệm về một cái ngã có thể kiểm soát và có thể làm công việc thực hành. Đây là sự phát triển đúng đắn và trí tuệ có thể lớn mạnh dần. Vì vậy, không phải là đợi cho đến khi tà kiến hoàn toàn tận diệt mới bắt đầu thực hành đúng đắn như bạn nói.
HV 19: Thực hành mà con muốn nói tới là hành thiền, bởi vì các đệ tử của Đức Phật như ngài Xá lợi phất, Mục kiều liên trước khi đắc đạo cũng hành thiền, mặc dù các Ngài ấy đã được coi là có chánh kiến rồi nhưng định cũng không có, ví dụ ngài Mục Kiều Liên phải vất vả chiến đấu với hôn trầm, khi mà còn hôn trầm thì chưa thể có định được. Vậy thì có gì mâu thuẫn không khi mà bảo là có chánh kiến rồi thì cũng có chánh định luôn?
Achaan: Khi tà kiến đã được tận diệt, vẫn không có nghĩa là không còn bất thiện pháp nữa. Chính vì vậy chúng ta cần phải có hiểu biết rất kỹ càng về thiền, đó là gì nào?
HV 19: Thiền như ngài Ananda thì chắc là theo Tứ niệm xứ bởi vì khi Ngài đắc quả trong lúc ngài nằm xuống.
Achaan: Nằm xuống là một việc rất tự nhiên.
Người phiên dịch: Thế theo ý của anh, thiền là gì?
HV 19: Thiền có nghĩa là làm cái gì đấy.
Achaan: Làm cái gì đấy thì đó là gì?
HV 19: Ví dụ quan sát hơi thở, thân hành niệm tức là quán thân chuyển động.
Achaan: Đức Phật dạy những ai quán niệm hơi thở?
HV 19: Đức Phật và con trai ngài –La hầu la
Achaan: Có rất nhiều người muốn làm như Đức Phật đã làm, ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề, ngồi cả đêm. Nhưng liệu việc làm như thế có thể làm sinh khởi hiểu biết gì không, hay là vẫn có thể có hiểu biết dù không làm như thế? Nếu việc bắt chước theo Đức Phật có thể đưa đến giác ngộ thật thì Ngài đã bảo tất cả mọi người hãy ngồi hệt như Ngài. Thế còn về ngài Cấp cô độc thì sao? Ngài là một cư sỹ, khi giác ngộ, ngài đang làm gì? Và vua Tịnh phạm – cha Đức Bồ tát giác ngộ trong hoàn cảnh nào?
HV 19: Họ giác ngộ thì là Niết bàn
Achaan: Bạn có nghĩ Trí tuệ bị giới hạn hay không? Nó chẳng phải là vô ngã hay sao?
HV 19 : Nó vô ngã
Achaan: Vậy thì nó là vô hạn, và không ai có thể kiểm soát được.
HV 19: Không có ai nên không có ai có thể kiểm soát.
Achaan: Tất cả các thực tại hữu vi đều sinh và diệt
Học viên 13: Hiểu biết đúng thì vẫn sinh và diệt, ta hiểu biết đúng xong nó sinh diệt thì lại có những khoảnh khắc của vô minh.
Achaan: Đúng là như vậy, nhưng ngày hôm qua khi nghe pháp đàm bạn có hiểu một chút nào không?
HV 13: Có, có hiểu một số từ, ở một vài khoảnh khắc.
Achaan: Thế những hiểu biết ấy sau đó hoàn toàn mất đi hay sao?
HV 13: Có vài từ có thể nhớ được, một số từ khác đã quên mất.
Achaan: Các tâm sở có chức năng khác nhau, chẳng hạn tưởng (sanna) thì chỉ nhớ thôi chứ không làm nhiệm vụ suy nghĩ, như vậy suy nghĩ không phải là tưởng. Khi bạn nói “ôi tôi không thể nghĩ đến điều này”, đó là vì tầm (vitakka) đang chạm đến đối tượng khác, nhưng khi bạn nói rằng “tôi không thể nhớ được”, điều ấy có nghĩa là ở khoảnh khắc đó tâm và tâm sở nhớ đến thứ khác chứ không phải cái mà bạn muốn nhớ về. Chính vì vậy chúng ta phải nghiên cứu rất kỹ lưỡng, Đức Phật đã phải dạy 45 năm, các bạn đừng quên điều ấy, nếu những gì Ngài dậy có thể dễ dàng hiểu được thì Đức Phật có cần phải dạy đi dạy lại lâu đến vậy hay không? Nếu chúng ta không làm rõ ý nghĩa của từ “thiền” thì làm sao có thể có thêm cái hiểu? Khi bạn thiền thì bạn làm gì?
HV 19: Trong kinh có vài kỹ thuật, ví dụ quan sát cái cảm thọ.
Achaan: Và có cái hiểu về cái được quan sát không?
HV 19: Ở một mức độ thấp thì có.
Achaan: Hiểu về mức độ thấp là như thế nào?
HV 19: Mức độ hiểu đó là vô thường, mọi thứ đang thay đổi luôn luôn.
Achaan: Hiện giờ cái gì đang thay đổi?
HV 19: Bây giờ cái quan sát về hiện tại nó không được sắc bén như khi ngồi thiền.
Achaan: Khi sắc bén thì nó có thể hiểu được điều gì?
HV 19: Sắc bén thì nó thấy được có sự thay đổi, còn khi bị cuốn đi như đang nói chuyện thì không thể thấy được.
Achaan: Khi bạn thấy được sự thay đổi thì đó là sự thay đổi của cái gì?
HV 19: Về cảm thọ
Achaan: Loại cảm thọ nào?
HV19: Nó có nhiều loại, đôi khi thọ lạc, đôi lúc thọ khổ.
Achaan: Vẫn có ý niệm là tôi đang quan sát?
HV 19: Vâng, cái đó thì con không có ý kiến. Nhưng vẫn phải quay lại câu hỏi là khi nào thì có hành thiền? Bởi vì trong kinh thì các đệ tử của Đức Phật đều hành thiền, có phải là các vị đó đều đắc được quả thứ nhất rồi mới hành thiền sao?
Achaan: Tôi không hiểu tại sao thiền lại phải khác biệt với hiểu biết, bởi vì nếu như không có hiểu biết thì thiền là cái gì đây? Đối với tôi, hiểu biết với thiền (với nghĩa làm một cái gì đó -ND) không phải là một, bởi vì khi có ý niệm phải đi thiền, ngay khi ấy đã ý niệm về một cái ngã là ai đấy có thể khiến cho một số thực tại cụ thể sinh khởi, và điều đó không thể khiến hiểu biết đúng sinh khởi, vì ai có thể lựa chọn được đối tượng của trí tuệ đây?
HV 19: Con không thể trả lời được câu hỏi của Bà, cho nên con muốn hỏi câu hỏi khác. Đức Phật có dạy “Hãy tu chỉ và quán” thì nó là cái gì?
Achaan: Chúng ta hãy chỉ nói về từng thứ một để cho thứ ấy trở nên rõ ràng đã.
HV 19: Vâng.
Robert: Khi bạn nói ngồi thiền thì nó sắc nét hơn, vậy thì lúc bình thường thì dễ xao lãng hoặc ko tập trung hay sao?
HV 19: Lúc bình thường thì khó tập trung hơn vì ở đây liên quan đến yếu tố định.
Robert: Kể cả ngay bây giờ thì cũng vẫn có cái gọi là định bởi vì đó là một tâm sở sinh khởi cùng với tất cả các tâm, dù nhắm mắt hay mở mắt thì vẫn có định
HV 19: Đó là câu hỏi tiếp theo: định mà là ekaggata (tâm sở nhất tâm) đó thì nó phải khác với định của các tầng thiền?
Robert: Bạn có nghĩ rằng chúng ta cần có đắc thiền để có tuệ hay không?
HV 19: Đây sẽ lại là một câu hỏi khác
Sarah: Vậy thì bạn hãy trả lời câu hỏi của Achaan đi đã.
Robert: Mỗi tâm luôn sinh khởi cùng với tâm sở nhất tâm, nhưng tùy thuộc vào việc nó sinh khởi với tâm thiện hay bất thiện mà tâm sở nhất tâm thành thiện hay bất thiện. Không khó để tập trung vào một đối tượng nào đó nhưng khi ta cố tập trung vào một đối tượng cụ thể, rất dễ sẽ là tà định. Đó là cái bẫy rất lớn, do vậy không nên nghĩ rằng định là nền tảng cho Trí tuệ.
Achaan: Vậy thì bây giờ nó sẽ tùy thuộc vào quyết định của bạn, hiểu về cái đang xuất hiện hiện giờ hay là không?
HV 19: Con làm sao quyết định được.
Achaan: Hãy chỉ cần nghĩ xem là điều ấy có thể hay không? Nếu như điều ấy không thể thì Đức Phật đã không dạy mọi người phát triển hiểu biết về thực tại trong hiện tại, nhưng điều ấy không dễ dàng, nó không dễ như việc cứ ngồi và nghĩ về nó nhưng lại hoàn toàn không hiểu về cái đang xuất hiện. Nếu như bây giờ chúng ta đang ngồi đây mà không có hiểu biết đúng về những thứ đang xuất hiện thì làm thế nào có hiểu biết đúng khi chúng ta ngồi ở nơi khác đây? Bất cứ khi nào có ý niệm về ngã ở đằng sau thì lại có ý niệm “tôi có thể làm”, nhưng cái “tôi có thể” đó là gì? “Tôi” có thể làm cho cái thấy, cái nghe sinh khởi không? và có phải “tôi” tạo ra ý niệm về sự thực hành?
HV 19: Mọi người nhấn mạnh về ý niệm về ngã. Nếu có ý định phát triển ba la mật thì cũng là có ý niệm về ngã, vậy cũng là không đúng hay sao?
Achaan: Nếu như không có hiểu biết vì sao cần phải phát triển ba la mật thì phát triển ba la mật để làm gì đây? Bởi vì phải có hiểu biết thì mới hiểu được tại sao cần phải phát triển ba la mật, là bởi nếu không có các ba la mật thì sẽ không thể hiểu về các thực tại đang xuất hiện hiện giờ, do vô minh đã tích lũy trong thời gian rất dài rồi. Nhưng khi có sự vị kỷ, có ý niệm về ai đấy, có mối quan tâm về bản thân tôi thì khi đó sẽ không thể sinh khởi trí tuệ. Chính vì vậy, việc bố thí giúp giảm đi ham muốn giữ mọi thứ cho bản thân. Nếu ta không thể cho những người khác những gì mình có thì làm sao có thể từ bỏ ý niệm về ngã đây? Bởi vì sự dính mắc vào tự ngã còn mạnh hơn nhiều sự dính mắc vào đồ đạc, chính vì thế dana cũng là một ba la mật.
HV 19: Cái này thì con hiểu. Nhưng ý của con là nếu tất cả mọi thứ đằng sau có ngã thì mọi cái đó sẽ là hành động tà. Thì ngay trong tiền thân Đức Phật không muốn bố thí, nhưng sau đó Đức Phật nói tôi phải bố thì để cho thành thói quen. Hành động đó là ý niệm về ngã rất rõ ràng.
Achaan: Nhưng khi ấy Đức Phật – Bồ tát vẫn chưa giác ngộ và những phiền não ngủ ngầm vẫn còn
HV 19: Đúng vậy. Nhưng trước khi Đức Phật giác ngộ thì Ngài cũng thực hành thiền định rất là nhiều, vậy những thực hành thiền đó cũng là tà định hay sao?
Achaan: Sau khi Đức Phật đã giác ngộ rồi thì Ngài chỉ dạy về những gì đang xuất hiện hiện giờ, còn trước khi đức Bồ tát trở thành một vị Phật thì không phải là Ngài thực hành tà định, nhưng khi đó có suy nghĩ là cần phải có sự kiên nhẫn lớn lao để tích lũy các ba la mật tới một mức độ cao. Còn khi giác ngộ rồi thì Ngài chỉ dạy Bát Chánh đạo
HV 19: Vậy Đức Phật là trường hợp đặc biệt, nhưng sau khi giác ngộ, Đức Phật dạy cho ngài A-na-luật quán thiền ánh sáng, vì ngài đắc thiên nhãn thông.
Achaan: Khi nói đối tượng là ánh sáng thì nghĩa là gì?
HV 19: Ánh sáng bên trong.
Achaan: Nó là gì?
HV 19: Trong kinh Đức Phật miêu tả là ánh sáng, thấy các màu sắc bên trong.
Achaan: Đức Phật dạy những thứ đó là một thực tại, không phải là tự ngã, hay là dạy ngài A-na-luật dính mắc vào những thứ đó?
HV 19: Cái đó thì không thấy nói đến.
Achaan: Vậy thì bạn nên đọc thêm kinh để biết về điều ấy, chỉ một vài đoạn thôi thì không đủ.
HV 19: Vâng. Vậy con hỏi thêm một chút về Vi diệu pháp, vì nếu nó là tinh hoa của Giáo lý Phật thì tại sao lần kết tập thứ ba mới xuất hiện? Tại sao hai lần đầu lại không xuất hiện?
Achaan: Ở thời Đức Phật thì không nhất thiết phải gọi một cách riêng rẽ rằng cái này là Vi diệu pháp, bởi vì tất cả các Pháp đều là Vi diệu pháp.
HV 19: Nhưng hai lần kết tập đầu không hề được nói đến.
Achaan: Thời đó, Giáo lý được gọi là Pháp và Luật.Vậy thì Luật-Vinaya là gì? Và Pháp – Dhamma là gì nào? Nếu chúng ta không biết thì đấy vẫn chỉ là ngôn từ mà thôi. Nhưng có hai từ Pháp và Luật, và nghĩa của chúng là gì nào?
HV 19: Luật là những giới luật, Pháp là những lời dạy về pháp. Trong Kinh viết cả những tích Phật đã nói gì, đệ tử của Ngài đã nói gì.
Achaan: Luật không phải là Pháp hay sao? Hay Pháp không phải là Luật hay sao?
HV 19: Nếu mà Pháp hiểu theo nghĩa thực tại thì Luật chỉ là khái niệm, còn nếu hiểu pháp theo kiểu giáo lý thì pháp là luật.
Achaan: Nếu như không có các thực tại thì có thể có Luật không?
HV 19: Không thể. Bởi vì không có cuộc sống nếu không có thực tại.
Achaan: Vậy có thể giữ được giới luật mà không có hiểu biết về thực tại hay không?
HV 19: Các vị tỳ kheo thì con không biết, nhưng con có đọc bài kinh, các vị tỳ kheo nói về giới luật phi thời, các vị nói “sao phải giữ giới này, con thấy ăn tối cũng rất vui vẻ.”
Achaan: Nếu như ai đấy không có chút hiểu biết nào thì có thể giữ giới được không?
HV 19: Giữ được do bởi thói quen.
Achaan: Theo bạn thì không cần phải có hiểu biết đúng không?
HV 19: Hiểu biết thì sẽ tốt hơn.
Achaan: Sự khác biệt giữa những người làm việc thiện không có hiểu biết và có hiểu biết là như thế nào?
HV 19 : Tâm thiện hợp trí và tâm thiện không hợp trí.
Achaan: Có những người chỉ là cư sỹ thôi nhưng họ vẫn có thể phát triển hiểu biết đến mức độ giác ngộ, có những người có tích lũy trở thành tỳ kheo và họ giác ngộ khi là một vị tỳ kheo. Như vậy kể cả là cư sỹ hay vị tỳ kheo thì đều có thể có tích lũy để giác ngộ.
HV 19: Con nghe nói là cư sỹ thì chỉ có thể đắc đến quả thứ ba thôi, có phải không?
Achaan: Và sau khi người đó đạt được quả vị A la hán thì người đó thế nào?
HV 19 : Thì người đó sẽ xuất gia.
Achaan: Vậy thì mục đích để trở thành một vị Tỳ kheo là để đạt mức giác ngộ cao nhất, không giống như các cư sỹ, họ có thể tiếp tục sống ở cuộc đời tại gia và đắc quả vị thứ ba. Nhưng Giáo lý của Đức Phật thì luôn dẫn tới sự xả ly, dù đó là người xuất gia hay người cư sĩ. Vậy sự xả ly là với cái gì đây?
HV 19 : Với cái Tà kiến
Achaan: Và với vô minh và những dính mắc ở mức độ ấy.
Vị sư 1: Achaan vừa nói xả ly tà kiến, vậy thì tà kiến trong khoảnh khắc đó có thể được hiểu như là một thực tại không?
Sarah: Chắc chắn rồi, bởi vì tất cả các pháp đều cần phải được biết và được hiểu. Bất cứ thực tại nào, như tà kiến hay trí tuệ, cũng cần phải được hiểu như nó là khi chúng xuất hiện, nếu không chúng không thể được tận diệt. Như vậy, cái hiểu luôn hiểu cái gì sinh khởi ở hiện tại. Như hôm trước sư có nói sư đến để nghe pháp, thì trong việc đó cũng có ngầm mong muốn có gì đó cho bản thân, thì ngay ở khoảnh khắc đó cũng có thể có cái hiểu rằng cái sinh khởi đó là một thực tại chứ không phải là ai cả. Nó cần phải được hiểu khi nó sinh khởi còn nếu không thì sẽ không có cách nào tận diệt được.
Jonathan: Nó cần phải được biết nhưng nó không thể nào được biết bằng việc muốn biết.
Người phiên dịch: Lúc đầu sư có nói đến một số người bạn, khi họ thực hành và họ có giảm phiền não trong cuộc sống, con thấy có phiền não rất vi tế ở đằng sau bởi vì ở sau đó ngầm có một ý niệm về ngã: tôi giảm bớt phiền não cho bản thân, làm cái gì đấy cho bản thân.
Sarah: Sẽ có thêm cái ý niệm là “tôi phải chánh niệm cho bản thân”, thêm tâm từ cho bản thân, “tôi” phải hiểu biết ở đằng sau cái đó
Jonathan: Nếu như có cái ý niệm phải bớt đi phiền não, cũng đồng thời có ý niệm là “tôi” phải làm cái gì đó về nó
Sadhu sadhu sadhu!
pariyati, patipati, pativeda, Pháp- Luật, tà kiến, tà định, đức Phật
Pháp đàm buổi chiều ngày 02-09-2013 tại Sài Gòn
7/ Pháp đàm buổi chiều ngày 02.09.2013 tại SG
Vị sư 1: Trong cách hướng dẫn của Achaan, Bà khuyến khích mọi người kinh nghiệm thực tại từ cái thấy, cái nghe. Vậy theo Bà liệu có nên kiểm tra xem trong sự kinh nghiệm đó có chánh kiến không hay là có tà kiến ví dụ tôi đang kinh nghiệm, tôi như thế này thế kia?
Achaan: Hiện giờ có âm thanh không? Hiện giờ đang có âm thanh cũng như có các thực tại khác như thấy- nghe -ngửi -nếm -xúc chạm, tất cả thực tại này là vô ngã, không trường tồn, đều sinh và diệt, Đức Phật đã dạy cho chúng ta về bản chất của những thực tại đó, đều không phải là ai đó, mà là các thực tại sinh khởi do duyên ,và sau khi sinh khởi thì chúng diệt đi chứ không tồn tại kéo dài. Đức Phật khuyến khích chúng ta suy xét liệu những gì Ngài giảng có đúng hay không, chẳng hạn như về cái thấy, nếu cái thấy không diệt đi thì sẽ không thể có cái nghe, âm thanh xuất hiện. Hiện giờ có cái thấy, cái nghe, và suy nghĩ, điều đó chứng tỏ các thực tại ấy đã sinh khởi và diệt đi. Nhưng điều ấy đã không được nhận biết. Nếu có cái ý niệm cho rằng đây là “tôi” thì đó cũng chỉ là một thực tại trong chuỗi thực tại sinh và diệt tiếp nối lẫn nhau.
Vị sư 1: Nếu ngay đó có một ý niệm nghĩ rằng tôi đang thấy, tôi đang nghe thì chỉ nhận biết đó cũng là một thực tại?
Achaan: Cái thấy có thực không?
Vị sư 1: Có thực.
Achaan: Và cái đó chính là ý nghĩa của từ thực tại. Tất cả chúng ta đều nghe và thấy rất nhiều thứ trong một ngày và đều nghĩ rằng tôi đang thấy và tôi đang nghe. Nhưng cái thấy là gì, cái nghe là gì? Chúng đã qua rồi, chỉ có tưởng –sanna- ghi nhớ và tiếp tục nghĩ về cái đã diệt đi: “tôi đã nghe cái này”, “tôi đã thấy cái kia”. Nhưng cái nghe, cái thấy đã diệt đi hoàn toàn rồi, ai có thể tìm thấy được nó đây?
Vị sư 1: Khi có suy nghĩ về cái được thấy, được nghe thì cũng có suy nghĩ là tôi đang thấy tôi đang nghe. Có phải Achaan muốn nói rằng chúng ta không nên cố gắng chuyển đổi một cái gì hết mà chỉ nhận ngay cái suy nghĩ tôi đang thấy, tôi đang nghe đó cũng là một thực tại. Bản thân sự suy nghĩ đó cũng là một thực tại đang sinh khởi.
Achaan: Ta sẽ làm gì nếu không phải như vậy.
Vị sư 1: Chỉ là chấp nhận và thấy đó là một thực tại chứ không có ta trong đó, có phải như vậy không?
Achaan: Vậy ai là người chấp nhận?
Vị sư 1: Đôi lúc có cái hiểu rằng chỉ là cái tâm đang kinh nghiệm nhưng đôi lúc có suy nghĩ rằng tôi đang suy nghĩ. Nó thường trộn lẫn hai cái qua lại như vậy.
Achaan: Nếu như không có thực tại là suy nghĩ sinh khởi trước đó thì có thể có cái ý niệm rằng tôi đang suy nghĩ không?
Vị sư 1: Không thể có được.
Achaan: Vậy bản thân suy nghĩ làm nhiệm vụ nghĩ chứ không phải là tôi suy nghĩ, đúng không?
Vị sư 1: Đúng vậy.
Người phiên dịch: Cho phép con hỏi có phải ý của sư là muốn Achaan hướng dẫn một phương pháp hay một cách thức, đúng không ạ?
Vị sư 1: Không phải. Ý sư muốn nói ở đây là: Tất cả thực tại là do duyên khởi, vậy cái xưa nay mình gọi là thực tập thì kỳ thực đó chỉ là kinh nghiệm những gì đang xảy ra và nó có xu hướng là không chuyển đổi hay chống đối bất cứ một cái gì vì tất cả những gì đang sinh khởi đều mang bản chất của thực tại. Như vậy cho dù bất cứ cái gì xuất hiện thì chỉ kinh nghiệm chứ không có ý muốn làm cái gì khác, phải vậy không?
Achaan: Nếu nói “không làm gì hết” thì có nghĩa là phải có một trường hợp khác là “làm một cái gì đấy”. Vậy “làm một cái gì đấy” là cái gì?
Vị sư 1: Thường có xu hướng kiểm tra lại, ví dụ như thế này đã phải là chánh niệm chưa, đối tượng đó thuộc về thực tại hay khái niệm.
Achaan: Cái đã xảy ra thì đã qua rồi, vậy ta còn có đối tượng nào để mà kiểm tra nữa đây?
Vị sư 1: Như vậy nếu có mong muốn kiểm tra thì đó cũng là một sự dính mắc, một ảo tưởng về ngã hay không?
Achaan: Chính là như vậy. Khi Đức Phật giác ngộ, Ngài đã nói là Ta đã nhìn thấy người xây nhà. Và ngôi nhà đó ở đâu? Ngôi nhà đó chính mỗi khoảnh khắc của luân hồi, hay một từ khác là uẩn. Thực tại của uẩn là gì?
Vị sư 1: Chỉ là cái sinh và diệt thôi, đó là nói theo lý thuyết. Còn nói theo một cách khác là cái đã sinh khởi.
Achaan: Cái thấy có phải là uẩn không?
Vị sư 1: Phải.
Achaan: Trong ngũ uẩn thì cái thấy thuộc về uẩn nào?
Vị sư 1: Theo lý thuyết thì nó thuộc về thức uẩn.
Achaan: Nó không “thuộc về”, nó là thức uẩn. thức sinh khởi và kinh nghiệm những đối tượng như đối tượng thị giác, âm thanh, mùi, vị hay đối tượng xúc chạm, tất cả những cái đó là thức. Đối tượng của ngũ thức là sắc. Sắc cũng là một uẩn. Riêng từng thứ ấy đã là uẩn rồi, chứ không phải chỉ tổng hợp những thứ ấy mới là uẩn.
Vị sư 1: Như Achaan nói thì sự hiện bày ở đây chỉ là Ngũ uẩn. Ngũ uẩn là do duyên khởi, nó biểu hiện ý nghĩa của Vô ngã. Vậy ví dụ trong lúc Achaan tọa thiền nhưng cái tâm bảo rằng không thích ngồi nữa muốn đứng lên thì lúc đó Achaan xử lý như thế nào? Nên tiếp tục ngồi hay đứng lên?
Achaan: Nhưng tôi không ngồi thiền.
Vị sư 1: Vậy thì sư ngồi thiền, những lúc như vậy sư nên tiếp tục ngồi hay đứng lên?
Achaan: Chúng ta nên làm một cái gì đấy hay là nên hiểu?
Vị sư 1: Xin Achaan chia sẻ thêm chỗ này. Bây giờ sư cũng chưa biết thế nào là đúng.
Achaan: Tôi sẽ không làm theo cái người khác bảo tôi làm. Nhưng tôi sẽ lắng nghe và hiểu, thay cho làm một cái gì đó. Tại sao Đức Phật thuyết pháp cho chúng ta? Đức Phật đã dạy chúng ta làm hay hiểu? Nếu chỉ đơn giản là bảo mọi người hãy làm cái gì đó cụ thể thì Đức Phật đã không cần phải giảng pháp trong suốt 45 năm, nếu chỉ cần làm thôi và không cần hiểu gì cả.
Vị sư 1: Vậy Achaan muốn nói rằng việc đứng dậy hay ngồi tiếp tục không phải là vần đế mà vấn đề là phải có sự hiểu trong đó?
Achaan: Hiện giờ chúng ta đang ngồi, đúng không? Chúng ta sẽ làm gì đây, hay là chỉ cần tiếp tục nghe pháp thôi?
Sarah: Tôi nghĩ rằng chúng ta luôn quên rằng tất cả các thực tại hữu vi đều vô ngã. Vừa rồi Achaan có nói khi có ý niệm phải kiểm tra xem liệu đã có chánh niệm về cái vừa sinh khởi hay chưa, thì khi đó đã có ý niệm về ngã có thể kiểm soát chánh niệm. Đúng là vậy. Bởi vì thực tại, chẳng hạn cái thấy, đã sinh và diệt mất rồi. Vậy ý niệm kiểm tra hoàn toàn là ý niệm về ngã mà thôi vì có cái gì để kiểm tra nữa đâu? Cetana hay ý định, tư, là một trong những uẩn là Hành uẩn, nó là một thực tại hữu vi, nó sinh và diệt, nó sinh khởi do những duyên của nó và rồi diệt đi, không ai là cetana cả.
Bây giờ ta có thể có ý niệm rằng chúng ta đang ngồi đây, nhưng về mặt thực chất, đó chỉ là suy nghĩ về ý niệm rằng tôi đang ngồi trong một căn phòng. Nhưng thực chất đều chỉ là các thực tại sinh và diệt, ví dụ như: cái thấy, cái nghe, sự xúc chạm, v.v…, chúng sinh khởi và tất cả đều chỉ là ngũ uẩn, chúng sinh và diệt tiếp nối lẫn nhau. Nếu có việc thay đổi một tư thế nào đấy, điều đó cũng xảy ra do duyên, đó là hoạt động của ngũ uẩn chứ không phải một ai đó ở bên ngoài tác ý để thay đổi theo một cách đặc biệt nào đó. Bất cứ khi nào có ý niệm rằng “ta” có thể lựa chọn một pháp khác ngoại trừ pháp đang sinh khởi hiện giờ để hay biết, thì đồng thời lúc đó cũng có tâm tham cùng với tà kiến cho rằng có một cái ngã có thể lựa chọn đối tượng của chánh niệm và hiểu biết. Cái mà chúng ta gọi là Bhavana thường được dịch là Thiền, Tu thực chất là phát triển tâm trí, và sự phát triển tâm trí luôn xoay quanh cái hiểu của pháp hiện giờ đang xuất hiện, bởi vì mọi thứ đã được tạo duyên rồi.
Vị sư 1: Về thực tại thì không có ai hết, không có tôi. Nhưng với sự hiểu biết của những người như chúng tôi và những người mới chưa có được sự hiểu biết đó, trong cuộc sống hàng ngày, nổi lên phiền não ví dụ như sân hận, muốn đánh người hay tham lam muốn lấy của người thì khi đó phải làm như thế nào?
Sarah: Tùy thuộc vào duyên khi đó. Kể cả đối với người chưa bao giờ được nghe giáo lý thì về mặt bản chất cũng chỉ là ngũ uẩn và tất cả các khoảnh khắc đó đều sinh khởi do duyên. Cho nên không có ai có thể quyết định được ở khoảnh khắc kia, loại duyên gì sẽ sinh khởi. Chẳng hạn chúng ta không thể nào quyết định được rằng từ giờ tôi sẽ chỉ nói những lời ái ngữ. Kể cả có ý muốn đó thì điều ấy cũng không thể xảy ra nếu không có đủ duyên. Như vậy việc gì xảy ra không tùy thuộc vào mong muốn, vào ý định của mình, vạn pháp đều là do duyên. Nếu có duyên cho một điều nào đó xảy ra thì nó sẽ xảy ra.
Vị sư 1: Như vậy, nếu có mong muốn hoàn thiện cũng là dư thừa. Mỗi khoảnh khắc chỉ là do nhân duyên sinh khởi và khi nó sinh khởi thì ta biết là nó như vậy, chứ không cần thiết phải mong mỏi nó được tốt hơn hay là ta phải ngăn ngừa một cái gì đó đừng để không xảy ra. Tất cả ta không thể đoán trước được.
Sarah: Bây giờ chúng ta sẽ nói về cái thấy. Cái thấy là tâm quả, nó là quả của nghiệp quá khứ, tùy vào nghiệp thiện hay bất thiện mà hiện giờ cái thấy nó sẽ thấy đối tượng dễ chịu hay khó chịu. Nó là quả của nghiệp quá khứ, không thể nào thay đổi được quả. Sau khi có cái thấy, một loại duyên hệ gọi là cận hành duyên, do những tích lũy trong quá khứ từ nhiều kiếp hay thói quen, có thể có tham hoặc sân với đối tượng vừa được thấy và được nghe. Chẳng hạn như hiện giờ chúng ta đang nghe Pháp, nếu có sự chú ý lắng nghe thì đó là bởi đã có tích lũy cho việc nghe và suy xét về Giáo lý. Hiểu biết từ việc nghe ấy có thể tiếp tục phát triển và lớn mạnh. Đó chính là sự phát triển tâm trí- bhavana. Nếu có hiểu biết đúng đắn về các pháp là vô ngã, sẽ có thể có duyên cho hiểu biết trực tiếp, bởi hiểu biết về lý thuyết- pháp học sẽ làm duyên cho pháp hành. Tất cả các thực tại mà chúng ta nói đến như cái thấy, cái nghe, suy nghĩ, dính mắc, si mê, trí tuệ v.v…, từng thứ trong đó đều là khanda- uẩn và đều là vô ngã.
Ngoài những thực tại hữu vi mà chúng ta gọi là uẩn thì chẳng còn gì khác ở cuộc sống mà chúng ta đang sống. Nếu có những ý niệm rằng chúng ta phải thực hành hay làm cái gì đó đặc biệt, đó cũng chỉ là một suy nghĩ và suy nghĩ đó cũng được tạo duyên, nó sinh khởi do duyên. Bản chất của cái chúng ta vẫn gọi là thực hành hay thiền- tiếng Pali là Bhavana, mà dịch đúng là sự phát triển tâm trí thực chất chỉ là sự phát triển của trí tuệ cùng với các tâm sở đồng sinh.
Achaan: Nếu Đức Phật ở đây thì các bạn sẽ làm gi nào?
Vị sư 1: Thì cũng là thấy, nghe, xúc chạm, không có gì khác.
Achaan: Nếu có Đức Phật ở đây thì các bạn có nghe những gì Đức Phật giảng không?
Trả lời: Có
Achaan: Đức Phật đã không còn tại thế nhưng chúng ta vẫn còn những lời giảng từ khẩu ngôn của Ngài đã được truyền tụng cho tới ngày nay. Trước khi Đức Phật thuyết giảng, Đức Phật luôn nói từ Bhikkhuve. Từ này có rất nhiều nghĩa chứ không chỉ có nghĩa là “tỳ kheo”. Từ này cũng để chỉ tất cả những người thấy được mối hiểm họa của vòng sinh tử luân hồi, của các thực tại hữu vi sinh và diệt do duyên không thể nào ngưng. Khi Đức Phật nói “Bhikkhuve”, đó cũng là một lời nhắc nhở để mọi người lắng nghe điều Ngài sẽ nói. Chúng ta có thể nói về điều này hay điều kia, nhưng Đức Phật luôn luôn dạy về cái đang xuất hiện hiện giờ, về cái thấy, về cái nghe, chúng được tạo ra bởi duyên hay bởi một người nào đấy? Nếu các thực tại ấy sinh khởi do duyên, chúng có thuộc về ai không? Có ai sở hữu chúng không? Thực tại đã sinh và diệt hoàn toàn rồi thì không bao giờ trở lại nữa. Nếu xuyên thấu được điều ấy, nó sẽ tạo duyên cho việc có sự xả ly với những thứ mà chúng ta vẫn cho là tôi hay là của tôi. Tuy nhiên, hiện giờ mức độ tuệ giác như vậy chưa sinh khởi, do chưa có đủ duyên cho sự sinh khởi của nó, cho nên khi có cái thấy thì ngay lập tức đã có một ý niệm về “tôi”; nếu không phải là tôi thì sẽ là ý niệm về một bông hoa, một cái bàn hay cái gì đó khác.
Một trong thập thiện là sửa Tà kiến thành Chánh kiến. Nếu không có những lời chân lý của Đức Phật, làm sao có thể thấy được sự vô thường của những thực tại hiện giờ? Chúng ta chỉ có thể nghĩ rằng chẳng có gì trường tồn mà thôi. Cuộc sống không trường tồn, ngày hôm qua không phải là ngày hôm nay và không phải là ngày mai. Và không có ai ở đó cả, bởi vì ngày hôm qua đã hoàn toàn qua rồi. Ngày hôm nay của ngày hôm qua thì cũng giống như ngày mai của ngày hôm nay. Mọi thứ đều qua đi khi ngày mai sẽ tới. Cũng giống như cuộc đời này, kiếp trước và kiếp sau cũng vậy. Ai biết được khi nào ta sẽ còn có cơ hội được nghe những lời những lời chân lý (vacca sacca) nữa đây? Vậy bây giờ hãy là lúc suy xét những gì được nghe, chẳng hạn như từ dhamma-pháp. Nếu chúng ta chưa từng được nghe thì sẽ không thể có ý niệm “pháp” là gì. Những người chưa nghiên cứu Pháp thì sẽ tưởng rằng từ “pháp” chỉ là có nghĩa là Giáo lý của Đức Phật mà thôi.
Pháp thực chất là gì? Chính là khoảnh khắc này, bởi vì khoảnh khắc này cũng chính là một khoảnh khắc của vòng luân hồi. Nếu không có khoảnh khắc này thì có thể có vòng luân hồi hay không? Vì samsara – vòng luân hồi – là sự tiếp nối của các thực tại sinh và diệt, không thể kiểm soát, không thể có được nhờ ý chí. Không ai muốn bị đau ốm, bị mất chân hay tay. Nhưng bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào. Ai làm cái đó? Chính là cái bàn tay vô hình. Thông thường, khi chúng ta làm các việc, chúng ta vẫn nghĩ rằng đây là cái tay đang làm, nhưng thực ra bàn tay ấy là cái mà không ai thấy được, là nghiệp đã tạo trong quá khứ. Nhân đã ở đó rồi nên nó có thể tạo ra quả ở bất cứ thời điểm nào có thể. Không có ai ở đó cả. Tưởng hay trí nhớ thì không phải là bàn tay vô hình. Chức năng của tưởng chỉ là ghi nhận và đánh dấu.
Chúng ta phải học về các thực tại mà chúng ta hoàn toàn chưa hay biết hiện giờ, để hiểu rằng mỗi một thực tại đó đều là vô ngã. Nếu từng thực tại đều không phải là ngã thì làm gì có cái ngã, cái ta nào ở đây? Chẳng hạn, cái thấy thấy chứ có ai thấy đâu? Suy nghĩ nghĩ, nó chỉ sinh khởi để nghĩ và rồi diệt đi, chỉ có một thế giới ở một thời điểm. Và cái suy nghĩ trước đó đã ở đâu rồi? Cái đã qua rồi thì không bao giờ trở lại, giống như một ngọn lửa đã tắt ngấm. Tự ngã có thể nằm ở đâu nữa đây? Đức Phật đã dạy tất cả những chi tiết ấy để mọi người có thể suy xét và thực sự hiểu rằng không có một cái ngã nào cả.
Cái gì sinh ra, tôi sinh ra hay cái gì sinh ra? Hoàn toàn không có ý niệm nào về “tôi” ở khoảnh khắc của tái sinh, mà chỉ có thực tại sinh khởi mà thôi. Nếu không có thực tại thì sẽ không có chúng sinh nào cả. Nếu chỉ có thực tại “không có khả năng kinh nghiệm gì cả” sinh khởi thì cũng không có chúng sinh nào cả. Không hề có ý niệm rằng là “tôi” đã sinh ra khi ấy. Chỉ có cái tâm cùng với các tâm sở sinh khởi, là kết quả của một nghiệp đã tạo trong quá khứ., để đảm nhận chức năng tái tục gọi là paṭisandhi kicca. Thức này tiếp nối tử thức của kiếp trước ngay lập tức không có sự gián đoạn. Như vậy tâm cùng tâm sở sinh khởi không có sự ngừng nghỉ. Các thiện cũng như bất thiện được tích lũy từ tâm này qua tâm khác. Chính vì thế mọi người rất khác nhau. Ở thời Đức Phật có rất nhiều người đến nghe Đức Phật giảng. Một số vị đạt A la hán quả, một số vị đạt Thánh Bất lai, một số vị đạt Thánh Nhất lai, một số vị đạt Thánh Dự lưu và một số thì không có sự chứng đắc nào cả. Việc chứng đắc tùy thuộc vào trí tuệ đã tích lũy hiểu được chừng nào những gì Đức Phật dạy, chứ không dựa trên ý niệm riêng của mình hay của một người khác không phải là Đức Phật. Kể cả ở thời Đức Phật còn tại thế, cũng có rất nhiều tà kiến hiện hữu, và cũng không có ai có thể thay đổi tà kiến của những người ấy. Một trong những vị thầy lớn đương thời ở rất gần nơi cư ngụ của Đức Phật, nhưng cũng không bao giờ đến nghe Đức Phật giảng pháp. Thời đó có sáu người đứng đầu sáu trường phái triết học khác nhau và một trong số đó không bao giờ đến nghe Đức Phật giảng pháp. Chúng ta có thể thấy rằng, trong bất cứ cộng động nào luôn có những người không bao giờ đến nghe Đức Phật giảng pháp. Họ không thể tiếp nhận những luồng tư tưởng khác với các ý niệm mà họ bám chặt vào. Mặc dù Đức Phật thuyết giảng ở nhiều nơi khác nhau, nhưng những người không có tích lũy để nghe Ngài vẫn không tham dự.
Đức Phật dạy rằng, thật ra là chúng ta sống một mình. Hiện giờ chúng ta có một mình không? Nếu có hiểu biết đúng thì sẽ thấy rằng không có ai cả nếu không có suy nghĩ. Cái thấy không biết có ai ở đây. Cái thấy là một yếu tố mà không thể sinh khởi nếu không có nhãn căn, mặc dù bây giờ nhãn căn chưa phải là đối tượng của chánh niệm và hiểu biết, nhưng chúng ta có thể thấy rằng nếu không có thực tại có thể tiếp xúc với đối tượng được thấy (đối tượng thị giác- cảnh sắc) thì không thể có nhãn thức sinh khởi để có cái thấy. Vậy tôi nằm ở đâu trong này? Cakkhu pasāda –sắc thần kinh ở mắt, hay còn gọi là nhãn căn, là một thực tại nằm ở giữa mắt, bản thân nó không biết gì cả, nó không thể thấy nhưng có thể tiếp xúc với đối tượng thị giác, tức là cái có thể được thấy, và nó tạo duyên cho nhãn thức sinh khởi. Vậy có thể nói là mắt của tôi không? Đối tượng thị giác hiện giờ có phải là sắc của tôi không? Tâm là yếu tố dẫn đầu trong việc nhận biết, khi có duyên cho nó sinh khởi thì nó sinh khởi, nó có phải là tôi hay là ta không? Hay nó chỉ là một khoảnh khắc của cái có thể kinh nghiệm một đối tượng, nó sinh và diệt.
Nếu không có ai từng chứng ngộ sự thực mà Đức Phật đã thuyết giảng dạy thì cũng không có ai có thể được coi là savaka -Thanh văn đệ tử phật. Khi Đức Phật giảng bài kinh đầu tiên, một trong số những người nghe bài pháp này đã có đủ tích lũy để xuyên thấu sự thật mà Đức Phật nói tới và đã trở thành một vị Tu đà hoàn. Cái đó có phải là thực hành không? Nó có giống như cái chúng ta vẫn coi là thực hành- thiền đi, thiền ngồi – hay không? Dù ta đang ngồi tư thế nào, đang đi hay đang làm gì, nếu không có hiểu biết thì không phải là theo lời dạy của Đức Phật. Nếu chúng ta nghe đi, nghe lại và cứ tiếp tục nghe để phát triển hiểu biết một cách dần dần, đến khi trở nên vững chãi, khi đó gọi là sacca nanāṇa – hiểu biết rõ ràng về Tứ đế. Đức Phật dạy nhiều khía cạnh khác nhau để giúp những người có ít hiểu biết suy xét về những thứ đó, để thấy được sự thật về mức độ trí tuệ của mình.
Khi có rất ít hiểu biết, nó có thể tạo duyên cho những suy nghĩ che lấp hiểu biết đúng hay suy nghĩ chân chánh. Giáo lý và các thực tại mà Giáo lý đề cập tới là vô cùng vi tế. Nếu ta có hiểu biết đúng về sự vi tế của các thực tại, sẽ giảm bớt sự dính mắc vào việc chứng đắc hay muốn đạt được gì đó ngoài việc hiểu biết thêm về các thực tại. Bất cứ khoảnh khắc nào không có hiểu biết sẽ không phải là con đường dẫn tới sự giác ngộ. Cái ta gọi là giác ngộ không chỉ là việc hiểu khi nghe. Nghe và hiểu một chút mới chỉ là sự khởi đầu của con đường phát triển đúng đắn. Nó vẫn chưa phải là sự xuyên thấu trực tiếp bản chất của thực tại, nhưng nó là sự khởi đầu hiểu biết về vô ngã, để hiểu biết có thể phát triển thêm nữa.
Có rất nhiều câu chuyện về các đệ tử Thanh văn của Đức Phật. Họ đã phát triển Tuệ giác trong rất nhiều kiếp sống, đúng hơn là trong nhiều đại kiếp. Hiện giờ hiểu biết của chúng ta ở mức độ nào đây? Chúng ta cứ hi vọng, cứ mong muốn, cứ làm một cái gì đấy thay cho việc hiểu về cái đang xuất hiện hiện giờ. Đó không phải là những gì mà Đức Phật đã dạy về việc phát triển hiểu biết về cái đang xuất hiện hiện giờ, để khởi đầu cho con đường phát triển tuệ giác trực tiếp về thực tại. Nếu như có sự sinh khởi của tuệ giác về sự sinh diệt của thực tại, khi đó sẽ không còn hoài nghi về vô thường, khổ, vô ngã. Nếu không có sự trợ giúp của các Ba la mật, sẽ không có sự xuyên thấu bản chất của các thực tại đang xuất hiện hiện giờ. Chúng ta cần phải rất chân thực, tại sao chúng ta nghe giáo lý của Đức Phật? có phải là để đi đến một nơi nào đấy để ngồi thiền? Bất cứ khoảnh khắc nào có hiểu biết đúng, khi đó đã là sự phát triển của tuệ giác rồi. Mỗi một từ mà đức Phật đã dạy lại dẫn tới thêm hiểu biết và trí tuệ. Vậy khi nào còn ý niệm phải tới một nơi nào đấy và ở một thời điểm nào đấy, lúc đó vẫn chưa phải là sacca ñāṇa, nếu không có sacca ñāṇa, thì không thể nào có được kicca ñāṇa (hiểu biết về phận sự của Tứ đế)- cái mà ta gọi là thực hành (pattipati); về bản chất kicca ñāṇa chính là trí tuệ đảm nhận chức năng của mình cùng với các tâm sở tịnh hảo khác, cùng với tàm và quý. Hiện giờ có tàm và quý hay không? Ở khoảnh khắc có sự lắng nghe để hiểu một cách tôn trọng thì khi đó có tàm (hiri), nó xấu hổ với việc nghe mà không hiểu. Nhưng ai biết được nó đang có đó hay không? Có nhiều mức độ của chánh niệm khác nhau, nếu nói đến con đường Bát Chánh Đạo, chánh niệm luôn luôn phải đi kèm với trí tuệ – hiểu biết đúng. Khi có những kinh nghiệm kỳ lạ xảy ra, bắt đầu có hoài nghi không biết đấy có phải là tuệ giác hay không? Và cái đó tạo duyên cho sự dính mắc
Học viên 9: Con không hiểu về bài kinh thứ hai của Đức Phật sau khi Ngài chứng đắc, có nói về vô thường, khổ và vô ngã. Con không hiểu nhiều về vô ngã, giữa cái ngã và vô ngã. Con chỉ hiểu về như người thế gian vẫn hiểu. Xin Achaan giải thích ý nghĩa vi tế hơn cho con được rõ.
Jonathan: Từ ba ngày nay thì chúng ta đã nói về phamma- pháp. Và pháp là điều Đức Phật đã dành 45 năm thời gian hoằng pháp của mình để nói về. Có lúc Đức Phật dạy pháp là uẩn, có lúc Đức Phật gọi đó là giới –dhatu, có lúc Đức Phật gọi đó là xứ. Dù Đức Phật có dùng từ nào, hay cách phân loại nào, Ngài luôn nói rằng các pháp đó là vô thường- aniccam, là khổ- dukkham, và là vô ngã –anatta. Để hiểu về vô thường, khổ, vô ngã, chúng ta cần phải hiểu dhamma – pháp. Chứ không chỉ có ý niệm vô ngã một cách chung chung và trìu tượng. Bao giờ cái hiểu đúng về vô ngã cũng gắn với cái hiểu về pháp là vô ngã.
Chẳng hạn bây giờ đang có cái thấy và đang có đối tượng thị giác- đối tượng của cái thấy. Tất cả những cái đó đều là pháp. Cái thấy không phải là Ta, đối tượng thị giác cũng vậy cũng không phải là Ta. Nhưng hiểu biết về cái pháp đó, về cái thấy đó là vô ngã cần phải được phát triển. Vậy bước đầu tiên là phải hiểu pháp chỉ là pháp. Ở khoảnh khắc hiện tại có những pháp như cái thấy và đối tượng thị giác, âm thanh và cái nghe, nhưng vẫn chưa có cái hiểu về những khoảnh khắc hiện tại chỉ là các pháp sinh khởi mà thôi.
Achaan: Cái thấy có phải là pháp không?
HV 9: Phải ạ.
Achaan: Tại sao bạn lại nói đó là pháp? Đừng chỉ vì được nghe nói như vậy, Cái gì hiện giờ ở đó? Hãy nói gì về cái đó đi. Hay là chẳng có cái gì cả? Bây giờ đang có cái gì nào? Ai muốn nói ?
Học viên 2: Hiện giờ có nhãn căn, có đối tượng thị giác.
Achaan: Hiện giờ đang có suy nghĩ đúng không?
HV 2: Đúng như vậy, đang có suy nghĩ.
Achaan: Tại sao bạn không nghĩ giống như là bạn kia? Rõ ràng hai người có suy nghĩ khác nhau là bởi vì các suy nghĩ cũng đều được tạo duyên. Nếu không có suy nghĩ, liệu có thể có các câu chuyện dài hay không? Suy nghĩ có phải là pháp không? Có, bởi vì suy nghĩ là thực, cái thấy cũng là thực, tất cả những thực tại đó trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta đều là thực và khác nhau, cái thấy không phải là cái nghe, bởi vì cái thấy không thể nghe, còn cái nghe không thể thấy. Cái thấy phải sinh và diệt rồi thì sau đó cái nghe mới có thể sinh khởi. Khi có một chút hiểu biết về sự xuất hiện ngắn ngủi của các thực tại, khi ấy sẽ hiểu rằng chúng không mang lại sự toại nguyện, không mang lại lạc thú, vì có ích gì đây khi nó xuất hiện và biến mất chỉ trong khoảnh khắc? Và đó chính là Khổ. Cái còn lại chỉ là vô minh và dính mắc.
Cái xuất hiện hiện giờ là thế giới bên ngoài, thế còn thế giới ở bên trong thì sao? Thế giới ở đằng sau cái xuất hiện như là con người và mọi thứ ấy là gì?
HV 2: Khandhā- Uẩn
Achaan: Đúng, nếu là ngôn từ thì là Khandhā. Khi ta sử dụng từ đó thì đã có nghĩa là ta thực sự hiểu về nó chưa? Trước khi nghiên cứu giáo lý, chúng ta có thể nói về những thứ thậm chí chúng ta không hiểu.
Học viên 1: Để trả lời câu hỏi của Achaan thì câu trả lời là tất cả những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, tất cả những cái sinh khởi như vậy đều là pháp, và cuộc sống thì hoàn toàn chỉ có pháp mà thôi.
Achaan: Đúng rồi, nhưng đó không chỉ là ngôn từ, mà thực sự là những thực tại đang xuất hiện và có đặc tính riêng. Không nhất thiết phải có những từ đó thì mới có thể hiểu được các thực tại ấy. Thực tại đó là thực tại kinh nghiệm. Nhưng chúng ta cần phải có các từ để giao tiếp, chẳng hạn để nói về cái thấy, vì cái thấy thì không phải là cái nghe, chúng là những thực tại khác nhau. Chúng ta không cần phải nhắc đi nhắc lại “thấy, thấy” hay “nghe, nghe”, thấy và nghe đã xảy ra rồi. Nhưng cần phải hiểu rằng bản chất không nằm ở ngôn từ mà ở đặc tính của các thực tại ấy.
Làm sao bạn có thể biết được rằng âm thanh là thực?
Ai đó trả lời: Tôi đang nghe.
Achaan: Nếu không có cái nghe thì ai biết được âm thanh là thực? Âm thanh có phải là uẩn không?
Học viên 9: Không phải ạ.
Achaan: Vậy ý nghĩa từ uẩn là gì? Ý nghĩa của từ Uẩn là cái sinh rồi diệt và không phải là tự ngã.
Học viên 2: Âm thanh là rūpa khandhā- Sắc uẩn.
Achaan: Tại sao?
HV 2: Bởi vì Đức Phật đã nói như vậy.
Achaan: Nếu như Đức Phật không nói như vậy, thì nó có còn là sắc uẩn nữa hay không? Âm thanh là một thực tại là sắc, nó là thực tại không kinh nghiệm gì cả. Bất cứ thực tại nào không kinh nghiệm gì cả thì được gọi là sắc uẩn, để phân biệt với thực tại kinh nghiệm một cái gì đó mỗi khi sinh khởi. Đôi khi khandhā cũng được dịch là không gian (ākāsa). Bởi vì khi nó sinh và diệt và chẳng có gì còn lại thì nó cũng giống như không gian vậy, không có gì ở trong đó.
Vị sư 1: Như Achaan mới nói bản chất của uẩn là sinh và diệt, cái gì sinh và diệt thì đều là uẩn. Sư có thắc mắc, vì theo lý thuyết thì uẩn được tạo nên bởi nghiệp, vậy những sắc pháp vô tri ví dụ đối tượng của cái thấy thì có thể được gọi là uẩn được hay không?
Sarah: Vừa rồi Achaan có nói tất cả sắc như âm thanh, đối tượng thị giác thì đều là sắc uẩn. Nhưng không phải tất cả các sắc đều được tạo duyên bởi nghiệp mà cũng có những sắc được tạo bởi tâm, vật thực, thời tiết, có những nguyên nhân khác nhau để tạo sắc.
Bốn uẩn còn lại là những thực tại có thể kinh nghiệm một đối tượng. Trong bốn uẩn còn lại đó thì một số là quả của nghiệp và một số thì không phải là quả của nghiệp. Chẳng hạn nhãn thức- thức thấy hiện giờ, nó là thức uẩn và là kết quả của nghiệp. Sau khi nhãn thức diệt đi, lại có những tâm khác sinh khởi và suy nghĩ về cái được thấy, đó cũng là thức nhưng không phải là quả của nghiệp. Cũng tương tự như vậy, tâm ở khoảnh khắc của nhãn thức là quả của nghiệp thì những tâm sở đồng sinh như xúc, thọ, tưởng, nhất tâm v.v… cũng là quả của Nghiệp. Những tâm sở thiện hoặc bất thiện sinh khởi sau cái thấy không phải là quả của Nghiệp.
Vị sư 1: Sư có hiểu thêm một vài vấn đề. Tuy nhiên vẫn còn thắc mắc, chưa rõ được nghi ngờ. Sư muốn hỏi chẳng hạn bản chất của cái ly này có sinh và diệt hay không?
Sarah: Cái mà chúng ta gọi là ly đó là gì về mặt thực tại, đó là uẩn nào?
Vị sư 1: Đó là điều sư muốn hỏi, nó có thuộc về Sắc uẩn hay không?
Sarah: Cái cứng hoặc đối tượng thị giác thì là sắc uẩn. Nhưng cái ly thì không phải là một thực tại mà là khái niệm, nó không sinh và diệt. Nếu không có suy nghĩ nghĩ về cái được thấy và được xúc chạm thì không thể có suy nghĩ về cái ly. Cái ly không thể được xúc chạm, không thể được thấy. Cái được xúc chạm là cái cứng, cái được thấy là đối tượng thị giác. Do vậy cái ly thì không phải là uẩn.
Vị sư 1: Ý sư không phải nói đến cái ly mà là bản chất của cái ly tức là đối tượng được thấy, nó có sinh và diệt hay không?
Sarah: Cái được thấy là sắc uẩn, đó là đối tượng thị giác, nó sinh và diệt. Vì nó sinh và diệt, nó là sắc uẩn, không phải là một cái gì đấy, không phải là tự ngã.
Người phiên dịch: Con xin phép hỏi sư, bởi vì câu này con đã từng hỏi Achaan, khi con hỏi như vậy Achaan có nói là “Làm sao biết được đây là cái ly?”
Vị sư 1: Biết đó là cái ly thì phải có tưởng để biết rằng đó là cái ly.
Người phiên dịch: Để biết khái niệm về cái ly thì phải có đối tượng thị giác, phải có sự xúc chạm sinh khởi trước đó, đúng không ạ?
Vị sư 1: Đúng
Người phiên dịch: Do đó bản chất thực sự của cái ly là các thực tại sinh và diệt, vì thế nó là uẩn.
Vị sư 1: Trước giờ sư cứ nghĩ cái gì thuộc về uẩn là thuộc về cơ thể vật chất này còn những thứ bên ngoài chẳng hạn âm thanh cũng sinh và diệt nhưng nó không phải là sắc uẩn.
Sarah: Có 28 loại sắc và 28 loại sắc đó bao gồm tất cả các thực tại có thể được thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, là những thực tại không kinh nghiệm gì cả, mà ta vẫn gọi là thân người hay bàn, ghế. Vừa nãy sư có nói “ngồi thiền khi đau có nên đứng dậy hay không?” Cái mà ta coi là thân thực chất là sắc. Nhưng không phải chỉ sắc của thân, mà bất cứ cái gì không kinh nghiệm thì đều là sắc, nhưng do sự dính mắc nên ta mới chỉ coi thân mình là sắc uẩn mà thôi. Trong phần niệm thân- kayanupassana trong Tứ niệm xứ không chỉ nói đến sắc của thân, mà còn nói đến các sắc mà ta vẫn nhầm tưởng là thân của tôi. Bởi lẽ, về mặt thực chất, khi có kinh nghiệm về sự xúc chạm, dù sự xúc chạm đó diễn ra ở đây – khi chạm vào tay mình-, hay khi chạm vào cái bàn thì về mặt bản chất chỉ có kinh nghiệm sắc mà thôi, chứ không phải đây là chạm vào thân tôi còn kia là chạm vào cái bàn – đó chỉ là chế định. Chính vì vậy khi có ý niệm đây là thân của tôi đang đau, liệu tôi có cần phải cử động thân của tôi hay không, thì ở khoảnh khắc đó không có cái hiểu đúng về sắc chỉ là sắc, mà ngược lại có ý niệm là thân của tôi.
Vị sư 1: Như vậy tất cả những gì thể hiện tính chất như cứng mềm nóng lạnh, chuyển động thì đều là sắc uẩn?
Sarah: Đúng vậy. Khi chúng ta nói đến thọ khổ, và rằng bây giờ nên thay đổi tư thế để bớt đau thì khi đó có ý niệm về sự kiểm soát, nhưng điều đó không đúng với sự thực, bởi cái đau là một cảm thọ, nó được kinh nghiệm bởi thân thức và đó là quả của nghiệp quá khứ, nếu nghiêp là thiện thì quả của nó sẽ là thọ lạc trên thân, nếu nghiệp là bất thiện thì quả của nó sẽ là thọ khổ trên thân, không có ai có thể kiểm soát được.Thân thức là một thực tại hữu vi, là thức uẩn, không phải là tự ngã, không phải là ai cả. Thọ lạc hay thọ khổ cũng đều là thực tại hữu vi, những uẩn do duyên tạo thành và không phải là ta, không ai có thể kiểm soát được.
Học viên 5: Vừa rồi mới nói về sắc uẩn, tiếp theo con muốn được nghe chia sẻ về danh uẩn. Ví dụ lúc mình đói bụng có cảm giác cồn cào nơi bụng thì có phải thuộc sắc uẩn, vậy còn cảm giác thèm ăn muốn ăn thì có phải là danh uẩn không?
Achaan: Để có thể hiểu ý nghĩa từ uẩn một cách kỹ lưõng, tôi sẽ đặt câu hỏi thay cho việc trả lời ngay vào câu hỏi của bạn. Liệu khandhā – uẩn có thể được thấy không?
HV 5: Không.
Học viên 2: Có
Achaan: Loại uẩn nào có thể được thấy?
HV 2: Sắc uẩn.
Achaan: Vậy cái gì trong sắc uẩn có thể được thấy, có phải là tất cả sắc uẩn được thấy không?
HV 2: Chỉ đối tượng thị giác là có thể được thấy.
Achaan: Âm thanh cũng là sắc uẩn, nhưng âm thanh không thể được thấy, chỉ duy nhất một sắc uẩn có thể được thấy, đó là đối tượng thị giác. Đó chính là cái đang xuất hiện hiện giờ đối với cái thấy trong khoảnh khắc này. Cái được thấy không thể kinh nghiệm gì cả, nó là thực, và đó là nghĩa của sắc uẩn. Sắc uẩn có thể được thấy hoặc không. Chẳng hạn như âm thanh, không ai có thể thấy âm thanh, nhưng âm thanh là thực Trong giấc mơ đối tượng thị giác có xuất hiện không ?
Ai đó trả lời: Không
Achaan: Bởi vì khoảnh khắc của giấc mơ thì không có cái thấy, không có đối tượng thị giác xuất hiện. Đó chỉ là sự nhớ tưởng về cái đã được kinh nghiệm, dù đó là âm thanh hay đối tượng thị giác hay cái gì khác. Những thực tại khác cũng là thực nhưng không thể là đối tượng của cái thấy. Chỉ có duy nhất một sắc là có thể được thấy, đó là đối tượng thị giác. Tất cả các sắc là các thực tại hữu vi đều sinh và diệt, chúng ta không cần gọi đó là uẩn với nghĩa một nhóm nào đó cụ thể, nhưng chúng ta cần phải hiểu bất cứ cái gi đã sinh thì phải diệt, và cái sinh và diệt thì đều là uẩn.
Cái nghe có phải là uẩn không? Hiện giờ đang có nhĩ thức, nó thuôc loại uẩn nào? Cái nghe có phải là sắc uẩn hay không? Nó là uẩn nhưng không phải là sắc uẩn. Bây giờ có nhĩ thức sinh khởi và nó kinh nghiệm một âm thanh, nó không thể làm nhiệm vụ nào khác, nó không thể thấy, không thể ngửi hay xúc chạm, nhưng nó nghe âm thanh và cũng sinh và diệt. Đau có phải là uẩn không ?
HV 2: Có.
Achaan: Tại sao?
HV 2: Bởi vì nó cũng sinh và diệt
Achaan: Đau là uẩn nào? Nó có phải là sắc uẩn không?
HV 2: Nó là thọ uẩn.
Achaan: Đừng vội đặt tên cho nó, chúng ta hãy suy xét về nó, chẳng hạn đau là thực đúng không? Nó thực nhưng nó sinh và diệt và không còn ở đấy nữa, do đó nó là uẩn. Khi cái đau đã diệt đi rồi thì nó ở đâu?
Vị sư 1: Không thể nói nó ở đâu được.
Achaan: Nó không ở đâu cả, khi không có duyên cho nó sinh khởi thì nó không có mặt. Chỉ ở khoảnh khắc được tạo duyên thì nó mới sinh khởi và rồi nó diệt đi, chính vì vậy nó là uẩn. Đau thì là thọ và không phải là sắc. Trước khi chia thành nhóm hay đặt tên nó là loại uẩn này hay uẩn kia thì chúng ta chỉ cần biết về sự khác nhau giữa danh uẩn và sắc uẩn mà thôi. Chúng ta không cần vội đi sâu vào thọ uẩn, trước hết hãy phân biệt cái nào là danh uẩn cái nào là sắc uẩn.
Bây giờ chúng ta sẽ bàn về đói, đói là uẩn nào? Đói thì dễ chịu hay khó chịu?
Vị sư 1: Khó chịu.
Achaan: Cái gì kinh nghiệm sự khó chịu đó? nếu không có yếu tố kinh nghiệm thì sẽ không thể có cảm nhận gì cả. Vậy cái gì kinh nghiệm nó? Khi cái đau xuất hiện, đối tượng của sự kinh nghiệm đó (cái cứng, mềm….) không xuất hiện. Khi chạm vào một thứ rất cứng thì có dễ chịu không?
Vị sư 1: Không dễ chịu.
Achaan: Ở khoảnh khắc đó có thọ khổ sinh khởi tức là đau sinh khởi. Chẳng hạn, khi ta chạm vào một lưỡi dao, trước khi kịp có ý niệm về lưỡi dao thì thọ đau đã khởi lên rồi. Thực tại sinh khởi làm nhiệm vụ cảm nhận thì khác với các thực tại khác như tưởng hoặc tác ý. Nó chỉ sinh khởi để cảm nhận đối tượng mà thôi. Cái bàn có thể đói được không? Vậy cái gì đói, thế nào là đói? Về bản chất, đó là một thực tại cảm nhận. Chúng ta gọi đó là đói. Ở khoảnh khắc cái đói sinh khởi, không phải là toàn thân đói, nó chỉ xuất hiện ở một số nơi cụ thể, nó không phải ở mắt, ở mũi hay ở tay. Tại sao Đức Phật lại dạy về tất cả những thứ này, là để chúng ta thấy rõ bản chất vô ngã của tất cả các pháp. Chúng ta có thể thực sự quy y Pháp khi hiểu rằng tất cả các pháp đều là vô ngã.
HV 5: Như vậy cảm giác đói có phải là sắc uẩn không? Cái biết mình đang đói có phải là danh uẩn không?
Achaan: Sự khác biệt giữa cái cứng ở trong thân và cái cứng ở bàn này là gì? Cái cứng không thể kinh nghiệm gì cả, dù ở đâu cũng thế, nó không thể cảm nhận. Chính vì vậy ta phải làm rõ sự khác biệt giữa sắc uẩn và danh uẩn. Vậy cái đói có phải là uẩn không?
HV 5: Cái đói cũng là uẩn ạ.
Achaan: Cái đói có phải là sắc uẩn không?
HV 5: Cái cảm giác đói thì là sắc uẩn.
Achaan: Sắc thì nó có thể cảm nghiệm gì không?
HV 5: Cảm thọ khổ ạ.
Achaan: Vậy cảm thọ khổ có phải là sắc uẩn không?
HV 5: Cảm thọ khổ thì nó thuộc về danh uẩn. Dạ con đã hiểu rồi
Câu hỏi online: Bước tiếp theo chúng ta nên làm gì khi đã có hiểu biết đầy đủ ở mức độ lý thuyết về vô thường, khổ và vô ngã?
Achaan: Tiếp tục thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm do duyên như thường lệ mà thôi.
Câu hỏi online: Làm thế nào để hiểu về tâm từ một cách đúng đắn và kinh nghiệm nó như nó là?
Achaan: Chúng ta cần phải hiểu tâm từ là gì? Nó có thực không? Nó có phải là sân không? Hay nó là sự thân thiện? Bất cứ cái gì sinh khởi đều có đặc tính riêng của nó. Nhưng chúng ta không hiểu rằng đó chỉ là Uẩn mà thôi.
Câu hỏi online: Xin bà cho lời khuyên đối với người cư sỹ, làm thế nào để giữ giới trong đời sống hàng ngày?
Achaan: Câu hỏi thực sự phải đặt ra là sẽ giữ giới với ý niệm về ngã hay với sự hiểu biết đây? Thông thường thì bất cứ ai cũng có thể giữ giới nhưng vẫn có cái ý niệm rằng tôi giữ giới. Nhưng về bản chất, đó chỉ là một thực tại sinh khởi với hiểu biết rằng bất thiện pháp này sẽ mang tới những quả xấu, nó là bất thiện, nó không có lợi. Chính hiểu biết đó sẽ tạo duyên cho sự giữ giới, chứ không có ai ở đó cả. Một cách tuyệt đối, ai là người sẽ không bao giờ phạm phải ngũ giới đây?
Người phiên dịch: Một vị Tu đà hoàn.
Achaan: Đúng vậy. Chúng ta có thể thấy rằng kể cả những khi không phạm tội ác lớn, nhưng những nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày, ví dụ như khi chúng ta chơi trò đá bóng có sử dụng những tiểu xảo khác nhau, đó cũng là bất thiện, đúng không? Dù là lừa đảo lớn hay ăn gian nhỏ thôi thì vẫn là bất thiện.
Chính vì vậy Đức Phật không ra lệnh cho mọi người không được sát sinh, mà Đức Phật dạy cho mọi người hiểu được hiểm họa của việc sát sinh để người đó hiểu và không còn sát sinh. Khoảnh khắc giữ giới có phải là khandha không? Đúng, bất cái gì sinh khởi cũng đều là khanda, giữ giới cũng là uẩn mà thôi. Ở khoảnh khắc có cái hiểu về vô ngã, khi chúng ta nói về khandha, bất cứ uẩn nào cũng là vô ngã. Kể cả khi chúng ta nói câu “ ngũ uẩn ngũ uẩn” nhưng thực chất ý niệm về tôi, về một cái ngã vẫn có đó. Cho nên khi chúng ta nói “sắc uẩn” chẳng hạn, cần phải hiểu thực sự sắc uẩn là gì, chỉ là uẩn thôi, hiểu rõ chứ không phải chỉ là ngôn từ.
Học viên 1: Trước tiên con xin tri ân Achaan, trong suốt ba ngày qua những lời giảng của Bà đã mang đến những hiểu biết rất mới mẻ, những điều trước đây chúng ta đã từng học mà tưởng là đã hiểu, nhưng vẫn chưa hiểu một cách thực sự. Một số người đến với chương trình này với ý nghĩ là sẽ học một phương pháp nào đó để họ có thể tự thực hành. Nhưng rõ ràng cái điểm tóm tắt về những điều Achaan thuyết giảng đó là: Không thể có sự thực hành nếu không có hiểu biết; Không có phương pháp của ai đó ấn định mà thực chất đó là giáo lý phải được truyền dạy bởi một vị có thẩm quyền và hiểu biết sâu sắc về những lời dạy của Đức Phật; Giáo pháp phải được nghe và suy xét một cách chân thật để có thể tạo duyên cho những hiểu biết và những hiểu biết đó sinh khởi thì nó sẽ làm duyên cho hiểu biết ở mức cao hơn và dẫn đến sinh khởi của Trí tuệ. Nói một cách khác cái hiểu biết đó nó sẽ làm duyên cho sự phát triển của chánh niệm và Trí tuệ. Xin Achaan cho biết con hiểu như thế có đúng hay không?
Achaan: Mặc dù là đúng nhưng hiểu biết phải rất chi tiết, chẳng hạn chúng ta nói về khandhā- uẩn. Không chỉ dùng từ “khandha” mà thôi, mà cần phải hiểu thực tại của khandha mà chúng ta đang nói tới, đặc tính của thực tại đó là gì.
HV 1: Như vậy để hiểu được thì chúng ta cần phải phát triển hiểu biết về các đặc tính của các thực tại? Tức là trước khi chúng ta có thể hiểu về vô thường, vô ngã và khổ, nếu mà chúng ta không hiểu được đặc tính của các thực tại thì chúng ta sẽ không hiểu được vô thường, vô ngã và khổ.
Achaan: Chỉ có một tâm kinh nghiệm một đối tượng ở một khoảnh khắc mà thôi, như vậy chỉ có một thực tại có thể là đối tượng của trí tuệ ở một khoảnh khắc. Ở khoảnh khắc của cái thấy, không có ai thấy, mà là tâm và tâm sở thấy, chúng sinh khởi để thấy đối tượng được thấy, và rồi chúng diệt đi. Hiểu biết phải rất chi tiết. Khổ đế là sự thật về tất cả các thực tại hữu vi. Tuệ giác có thể xuyên thấu sự sinh diệt của thực tại, chứ không chỉ đơn thuần nghĩ về nó mà thôi. Như vậy từ giờ trở đi, chúng ta không cần đi tìm pháp ở đâu cả, không cần đi tìm uẩn ở đâu cả, bởi vì bây giờ đang có uẩn, đang có pháp, nhưng không có hiểu biết đúng về những gì đang sinh khởi. Như vậy chỉ cần tiếp tục nghiên cứu và lắng nghe để hiểu hơn một cách đúng đắn về tất cả những gì đã có sẵn hiện giờ. Mặt trăng là gì nào? Mặt trăng xuất hiện đối với cái thấy chứ không thể xuất hiện đối với sự xúc chạm đúng không? Nhưng vì nó là đối tượng được thấy, nó là thực. Vậy thì nó là uẩn nào đây?
Ai đó trả lời: Rupa khandhā.
Achaan: Mặt trăng không thể cảm nhận, không thể kinh nghiệm, vì vậy nó là sắc uẩn. Nó có cứng không? Mặc dù chúng ta không thể chạm vào nó nhưng chúng ta hiểu rằng nếu không có tứ đại, sẽ không thể có cái được thấy, bởi vì đối tượng thị giác luôn sinh khởi với tứ đại. Mặt trăng cũng là cứng mềm nhưng mà ta không thể chạm vào nó. Ngoài ra, cùng sinh khởi với tứ đại còn có những sắc khác như dưỡng chất, mùi, vị luôn luôn sinh khởi cùng nhau không bao giờ tách rời.
Sadhu sadhu sadhu!
bhavana, bikkhuve, ditthi, khandha, sinh diệt, tà kiến, uẩn, đối tượng thị giác
Pháp đàm phụ với các vị sư chiều 01- 09 – 2013 tại Sài gòn
4/ Pháp đàm phụ với các vị sư chiều 01.09.2013.
Vị sư 1: Trước hết xin cảm ơn Achaan đã dành thời gian cho các sư
Achaan: Rất hoan hỉ, thưa quý sư.
Vị sư 1: Thời gian của hai sư trao đổi với Achaan không nhiều nên sư muốn đi thẳng vào vấn đề. Sư có thực tập, mong Achaan kiểm tra thấy điểm nào chưa đúng đắn, bằng sự trung thực, không có ngại ngùng gì hết để giúp đỡ cho sư có sự hiểu biết đúng đắn hơn.
Achaan: Xin mời sư cứ nói từng điểm một, thảo luận từng điểm sẽ dễ dàng hơn là nói cả một câu chuyện dài.
Vị sư 1: Sư không biết xuất phát từ điểm nào, nhưng sư muốn nói từ sự thực tập của mình được không?
Achaan: Mời sư!
Vị sư 1: Sư có chút ít kinh nghiệm đối với sự hay biết, trong khi mình biết nó luôn luôn xảy ra sự hay biết. Trước đây khi sư chưa được được duyên biết về Tứ niệm xứ, thì sư cho cái hay biết nó là cái thường hằng, cái chân tâm chẳng hạn.
Achaan: Thế nào là tâm? Cái gì là tâm?
Vị sư 1: Cái biết
Achaan: Thế còn cái tâm hiện giờ thì sao?
Vị sư 1: Tâm hiện giờ cũng là cái đang nhận biết, nếu có âm thanh thì nhận biết nghe
Achaan: HIện giờ, có đúng không? Cái gì kinh nghiệm hiểu biết? Thế còn trí tuệ hiện giờ thì sao?
Vị sư 1: Có thể khi mình kinh nghiệm cái ý thức đó là hay biết. Bên cạnh đó sư có nghiên cứu từng điều Achaan nói, thì có thấy nó hoàn toàn là tự ngã. Chẳng hạn khi kinh nghiệm thì đôi lúc nó chỉ nghĩ đó là tính chất của tâm đang kinh nghiệm đối tượng, nhưng đôi lúc thất niệm, quên thì có sự nhầm tưởng là tôi đang chánh niệm.
Achaan: Ở khoảnh khắc có sự hay biết, khi đó có những thực tại nào?
Vị sư 1: Có thể là sự hay biết về cái thấy, tại thời điểm của cái thấy.
Achaan: Chánh niệm có khác với trí tuệ không?
Vị sư 1: Chánh niệm theo sư nghĩ là kinh nghiệm cái trạng thái nó xảy ra, nhưng sau đó sự hiểu biết sẽ biết đó là trạng thái đó thuộc về khái niệm hay thuộc về chân đế. Đồng thời nó hiểu theo những mối nhân duyên mà tại sao nó lại sinh khởi ra cái này.
Achaan: Những điều mà sư vừa mô tả xảy ra cùng một lúc hay ở những khoảnh khắc khác nhau?
Vị sư 1: Ở những khoảnh khắc khác nhau.
Achaan: Đó là những mức độ hiểu biết khác nhau. Cái đó có tự nhiên như là bây giờ không?
Vị sư 1: Phần lớn hiểu biết đến là do việc đọc những lời giảng từ Achaan về thực tại, nhưng đôi khi nó có thể có sự ngầm hiểu rằng không có ai ở đó
Achaan: Và sau đó có sự hoài nghi không?
Vị sư 1: Chắc chắn rồi, rất nhiều. Chẳng hạn liệu mình hiểu như vậy được đúng chưa? Nó có nhiều sự dính mắc trong đó không?
Achaan: Hoài nghi có phải cũng là pháp, không phải là ta, đúng không?
Vị sư 1: Đúng.
Achaan: Và trí tuệ thì vẫn tiếp tục hiểu về các thực tại xuất hiện ở bất cứ thời điểm nào.
Vị sư 1: Ban đầu sư có xu hướng là thích phát triển tâm thiện và sợ hãi tâm bất thiện. Sau đó hiểu ra rằng thiện và bất thiện là do mình đặt tên cho nó chứ thực sự trạng thái đang xảy ra đều là nhân duyên cho sự hay biết, dù thiện hay bất thiện đều làm nhân duyên cho chánh niệm sinh khởi. Do đó nó làm giảm thiểu sự chối bỏ hay sợ hãi.
Achaan: Vậy bản thân bất thiện cũng không có gì là phiền, đúng không?
Vị sư 1: Nhưng khoảnh khắc quên thì có xu hướng có sự sợ hãi, còn khi có sự nhớ trở lại thì thấy nó là tự nhiên, không có gì phải sợ hãi.
Achaan: Cho đến khi nào mà mọi thứ chỉ còn là pháp mà thôi. Kể cả sợ hãi cũng là một thực tại. Trong cuộc đời của mỗi người, sau khi mệnh chung chúng ta không thể nhớ được những gì đã kinh nghiệm hay những gì đã đọc về ngôn từ. Nhưng những gì đã được hiểu thì được tích lũy và được chuyển sang một kiếp sống khác.
Vị sư 1: Trong một đoạn sách Achaan nói, chúng ta có xu hướng là kinh nghiệm một đối tượng thuộc về sắc, chẳng hạn âm thanh. Tiếp theo là xu hướng kinh nghiệm cái gì đó thuôc về danh, để phân biệt thế nào là sắc thế nào là danh. Achaan có dạy là không nên cố ý làm như vậy, sư muốn biết là tại sao?
Achaan: Làm sao ta biết được xu hướng của mình?
Vị sư 1: Khi kinh nghiệm gì thì giống như có một sự lập trình theo thói quen. Chẳng hạn trước hết sư kinh nghiệm về âm thanh, sau đó để ý đến sự hay biết thì thấy sự hay biết và âm thanh có sự khác nhau thế nào. Sư có xu hướng là như vậy. Nhưng khi đọc thì Achaan nói là không nên cố ý so sánh cái nào là sắc, cái nào là danh. Điều này sư chưa hiểu?
Achaan: Làm sao ta biết được xu hướng của mình? Khi thường có chánh niệm hay biết về các thực tại, ta sẽ nhận ra được cái đó là sự tích lũy hay là một xu hướng theo thói quen. Sau khi có hoài nghi sinh khởi thì tiếp theo hoài nghi là gì?
Vị sư 1: Có hai trường hợp, thứ nhất là bị cuốn theo trạng thái hoài nghi là bất an, nhưng đôi khi nhận thức sự hoài nghi cũng là đối tượng đang sinh khởi, là nhân duyên cho sự hay biết sinh khởi, nhận biết hoài nghi cũng là một bản chất tự nhiên.
Achaan: Cách nào là cách đúng?
Vị sư 1: Cách sau
Achaan: Đó chính là lý do mà mọi thứ đều có thể trở thành đối tượng để phát triển hiểu biết, cho đến khi mọi thứ đều là pháp và đó là cách duy nhất mà thôi.
Không cần có sự cố gắng thêm nào hết bởi tinh tấn bản thân nó đã tự sinh khởi rồi. Chúng ta biết rằng trong cuộc sống hàng ngày, ngoại trừ khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, của ngũ song thức, đều có tinh tấn sinh khởi với các khoảnh khắc của tâm. Đâu là sự khác biệt giữa đối tượng được thấy với con người và đồ vật?
Vị sư 1: Đầu tiên có một sự hay biết là một đối tượng, tiếp đó thì sẽ định danh đối tượng đó. Nó định danh là con người hay đồ vật.
Achaan: Nhưng đối tượng được thấy thì khác với những gì mà chúng ta cho là cái này hay cái kia trong cuộc sống của mình. Khi vẫn còn ý niệm là có một cái gì đấy trong cái được thấy – là con người hay là đồ vật, thì đó vẫn là một ý niệm về một cái gì đó. Như vậy ở khoảnh khắc của cái thấy, để có thể bớt dần đi những ý niệm về con người hay đồ vật, thì cần phải hiểu rõ hơn về đối tượng được thấy, hay đối tượng thị giác một cách rõ ràng hơn, kỹ càng hơn.
Vị sư 1: Khi nhìn sự vật thì theo lý thuyết biết đó là khái niệm. Chính vì thế nó có xu hướng nghĩ rằng đấy chỉ là cái thấy đang xảy ra chứ không có con người hay sự vât, nó chỉ là đối tượng thị giác mà thôi. Có nên như vậy không?
Achaan: Vấn đề chính yếu là phát triển hiểu biết vững vàng về đối tượng thị giác, nó không phải là con người hay đồ vật, ở bất cứ lúc nào. Hiểu biết đúng sẽ biết rất rõ sự khác biệt giữa khoảnh khắc chỉ thấy đối tượng thị giác và khoảnh khắc có suy nghĩ về con người và sự vật.
Vị sư 1: Bà nói rằng chúng ta không cần phải cố gắng để biết về danh, bởi vì khi cố gắng làm như vậy thì đằng sau đó đã có ý niệm về ngã?
Achaan: Sự cố gắng đó có thể là đối tượng của hiểu biết và nó cũng là vô ngã, đúng không?
Vị sư 1: Đúng vậy.
Achaan: Như vậy thì hãy cứ phát triển sự hiểu biết một cách tự nhiên, dù thế nào đi nữa thì cả ở khoảnh khắc của sự dính mắc, dính mắc cũng là một thực tại có thể được hiểu. Hãy dũng cảm để trí tuệ tự phát triển bởi hiểu biết, chứ không phải bởi “ta” hay một cái ngã nào. Sư có muốn biết thêm về điều gì nữa không?
Vị sư 1: Khi được học nghiên cứu một chút về Vi diệu pháp, sư rất hoan hỉ với những gì Achan chỉ dạy, thấy rất phù hợp với tinh thần của Vi diệu pháp và thấy con đường nó phải là như vậy. Sư đã nói sơ lược về sự thực hành của sư, với kinh nghiệm của mình Achaan hãy đặt câu hỏi hoặc triển khai thêm để sư hiểu rộng vấn đề hơn.
Achaan: Chúng ta cần phải rất kiên nhẫn, giống như là chờ đợi, nhưng không phải là một cái ngã chờ đợi, mà bởi vì chừng nào chưa đủ duyên để hiểu được các thực tại đều vô ngã, hiểu biết ấy chưa thể sinh khởi, cần phải có sự kiên nhẫn.
Người phiên dịch: Vừa nãy sư nói về từ “thực hành”, vậy sư có muốn nói thêm về cách sư hiểu về từ “thực hành” không ạ?
Vị sư 1: Đó là do thói quen sử dụng ngôn ngữ trước đây, nhưng khi đọc những tài liệu của Achaan thì khi nói tới sự thực hành sư hiểu đó chỉ là tính chất của tâm đang làm, chứ không phải là tôi đang làm, tôi đang cố gắng.
Achaan: Vậy bây giờ chúng ta có nên đổi sang một từ khác tương ứng hơn với sự hiểu biết hiện giờ của chúng ta không?
Vị sư 1: Khi có suy nghĩ về sự thực hành hoặc là sự thực hành này chỉ là tâm thôi thì nó cũng chỉ là thực tại, hiểu như vậy là được. Sư nghĩ không cần thay đổi ngôn từ.
Achaan: Nếu chính xác hơn thì phải nói là sự phát triển hiểu biết, bởi vì khi ta dùng từ thực hành thì nó hàm ý như là có người nào đó làm một cái gì đó. Nếu ta dùng từ ứng dụng hiểu biết và chánh niệm thì như vậy có chuẩn xác hơn không?
Vị sư 2: Nó có chút gì đó ảo tưởng về ngã, vì vẫn có ai đó ứng dụng.
Achaan: Đúng vậy. Để có thể hiểu được giáo lý của Đức Phật thì đều phải hiểu rõ là không có ai cả, mà chỉ là các thực tại mà thôi. Chính vì lý do đó mà Đức Phật đã giải thích một cách kỹ lưỡng về từng khoảnh khắc khác nhau của tâm, chỉ để tạo duyên để hiểu rằng không có một ai cả, mà chỉ là các thực tại khác nhau sinh khởi đảm nhận chức năng của mình. Mỗi một từ mà Đức Phật đã dạy đều có thể làm duyên cho khoảnh khắc của hiểu biết đúng về vô ngã sinh khởi. Chẳng hạn như, nói về việc thực tại diệt đi, chỉ cần từ “diệt đi một cách hoàn toàn”, điều ấy có thể làm duyên cho cái hiểu về vô ngã, rằng không có ai ở đây cả. Khi mới ban đầu, chưa thể có kinh nghiệm ngay lập tức về sự sinh diệt của thực tại. Nếu trong một ngày, khi không có hiểu biết về các thực tại, ví dụ như hiểu cái cứng là vô ngã, thì có nghĩa không có hiểu biết nào được sinh khởi. Như vậy là đã không có tác ý chân chánh, thất niệm, và vẫn chưa có nhân duyên sinh khởi để hiểu biết đúng tiếp tục được phát triển, để hiểu được rằng là cái cứng không phải là một cái gì đó như trước đây mà chỉ là một thực tại mà thôi. Kể cả điều đó cũng cần phải được phát triển. Kể cả khi có trí tuệ hiểu rằng cái cứng chỉ là một thực tại cũng có những mức độ khác nhau. Ở khoảnh khắc của hiểu biết sai về cái cứng, không có nghĩa là cái cứng không xuất hiện ở thời điểm đó. Như vậy, ở những khoảnh khắc thông thường, cũng có kinh nghiệm cái cứng hay các thực tại khác ở đó rồi, nhưng không có hiểu biết mà thay vào đó là tà kiến. Mọi người luôn muốn biết, liệu bây giờ có tà kiến hay không. Câu trả lời luôn luôn là: đó chỉ là sự mong cầu mà thôi. Chừng nào một thực tại không xuất hiện làm đối tượng cho chánh niệm thì sẽ không thể biết rõ. Chẳng hạn như, bây giờ cái cứng đang xuất hiện, ta có cho nó là đây là chân tôi, tay tôi, hay cái gì đó hay không?
Vị sư 1: Ban đầu có suy nghĩ là chân tôi, tay tôi, nhưng sau đó nhớ ra rằng đó chỉ là cái cứng, cái mềm thôi.
Achaan: Khoảnh khắc cho đó là chân tôi, khoảnh khắc đó là tà kiến. Nếu không thì không có cách nào khác để hiểu về tà kiến, cái cũng là đối tượng của chánh niệm. Ở khoảnh khắc ấy, cái cứng không thể thay đổi, nó vẫn là cứng mà thôi. Nhưng sự dính mắc vào cái cứng, cho đó là tôi và của tôi thì diễn ra từ kiếp này sang kiếp khác. Khoảnh khắc hiểu được thực tại cho cái cứng này là tôi và của tôi, đó là khoảnh khắc hiểu về thực tại tà kiến. Bằng cách hiểu như vậy, chánh kiến hay trí tuệ bắt đầu được phát triển. Cho đến khi trong một ngày, bất cứ khi nào cái cứng xuất hiện, hiểu biết đúng sẽ biết rằng đó chỉ là một thực tại mà thôi, và không còn hoài nghi nữa. Chính vì vậy, mặc dầu chúng ta đã nghe nói đến những thứ như là tà kiến, tham v.v…, những thực tại ấy cần phải trở thành đối tượng của trí tuệ, nếu không sẽ không thể hoàn toàn tận diệt ý niệm về ngã. Chúng ta nói “tưởng” là vô ngã, nhưng nếu “tưởng” không xuất hiện, làm sao có thể có hiểu biết rằng đó là vô ngã không phải là ta?
Tất cả các thực tại mà chúng ta được nghe, được biết tới từ việc nghiên cứu pháp học sẽ trở thành đối tượng của chánh niệm và trí tuệ, nhưng chỉ một thực tại ở một thời điểm mà thôi. Như hiện giờ, tất cả các thực tại ấy dường như đều xuất hiện cùng một lúc, vì thế, sẽ không thể hiểu đặc tính của từng thực tại một. Do vậy, không thể nói “hãy chánh niệm về cái này hay về cái kia”. Nhưng chánh niệm và hiểu biết sẽ được phát triển bất cứ khi nào có hiểu biết về đặc tính của từng thực tại một. Như vậy ta có thể nói hiểu biết trở nên sâu sắc hơn, sắc bén hơn. Không thể có sự mong cầu nào, ví dụ như trường hợp của ngài Xá lợi phất, ngài không hề mong đợi được gặp ngài đại đức Assaji và nghe được lời giảng về duyên hệ. Khi hiểu biết đã được tích lũy đầy đủ để không còn dính mắc đến đối tượng đó nữa, sẽ có duyên để chánh niệm sinh khởi và hay biết đối tượng đó.
Ta không thể nói rằng bây giờ đang không có sự dính mắc vào những thứ đang xuất hiện, nhưng đó chỉ là sự dính mắc thôi hay là dính mắc kèm với tà kiến mà không được hay biết? Khi chánh niệm về đặc tính của thực tại xuất hiện, nó sẽ rất rõ ràng, không trộn lẫn: tà kiến là tà kiến, tham là tham. Chẳng hạn khi ta được hỏi “trong một ngày tà kiến sinh khởi nhiều hơn hay tham dục sinh khởi nhiều hơn, chúng ta không thể trả lời cái này nhiều hơn hay cái kia nhiều hơn, vì chỉ chánh niệm mới có thể biết một cách chính xác và chi tiết. Ở khoảnh khắc này có thể có sự dính mắc, có thể có hoài nghi. Không ai nói chắc được rằng cái này hay cái kia đang sinh khởi, nhưng khi có chánh niệm thì sẽ không thể sai được. Chánh niệm có thể sinh khởi đảm nhận chức năng của nó khi có hiểu biết được tích lũy về mặt lý thuyết đủ để cho hiểu trí tuệ trực nhận cùng chánh niệm sinh khởi. Chính vì thế chánh niệm là một trong các chi của Bát chánh đạo. Mức độ của chánh niệm trong Bát chánh đạo không phải chỉ ở mức độ lý thuyết, hay các mức độ chánh niệm khác. Chánh niệm của Bát chánh đạo khi sinh khởi sẽ đi kèm trí tuệ. Nhưng nếu trí tuệ chưa đủ mạnh, nó sẽ chỉ sinh khởi với [sự nổi trội của] chánh tư duy (vitaka). Vitaka (tầm) cũng là một chi của Bát Chánh đạo, nhưng không phải là sati (tâm sở chánh niệm). Chánh niệm (sati) thì hay biết đối tượng, còn vitakka thì chạm vào đối tượng để cho đặc tính của đối tượng ấy được nghiên cứu một cách rõ ràng. Chánh niệm ở mức độ này sẽ rất khác chánh niệm ở các mức độ khác. Nó sẽ được phát triển như vậy cho đến lúc hiểu biết chuyển sang giai đoạn của Tuệ Minh sát. Khi ấy thế giới hoàn toàn biến mất, con người hoàn toàn biến mất, cái còn lại chỉ là thực tại được kinh nghiệm và cái kinh nghiệm mà thôi. Nếu không có sự tuyệt đối như vậy thì cái gọi là vipassanā ñāṇa (tuệ minh sát) sẽ chẳng khác mức độ hiểu biết thông thường của giai đoạn đầu của sự phát triển satipaṭṭhāna. Khi chưa có tuệ minh sát có nghĩa là sự phát triển của chánh niệm tỉnh giác và trí tuệ vẫn chưa đủ. Trí tuệ và chánh niệm vẫn đang được phát triển, nhưng phát triển rất từ từ, nó không tới như một cơn bão đâu, mà như nước ngấm dần. Hiện giờ nếu không có hiểu biết, chỉ có vô minh và dính mắc, các bụi ô nhiễm sẽ bật lên như là một vòi nước. Vì có rất nhiều vô minh cho nên mức độ trí tuệ phải lớn tới chừng nào để có thể buông bỏ dính mắc.
Sự thực cần phải được suy xét đi suy xét lại cho đến khi trở nên thật sự rõ ràng. Khi có hiểu biết về một thực tại kinh nghiệm một đối tượng, ở khoảnh khắc đó thế giới sáng hay tối? Kể cả với trí tuệ, nó vẫn trong bóng tối, vì thực tại kinh nghiệm không có hình, dạng. Ở khoảnh khắc của trí tuệ, thế giới là tối nhưng không có ai ở trong bóng tối. Trong một căn phòng tối hoàn toàn, có ai ở trong đó không? Nhưng kinh nghiệm đó ở trong bóng tối, nó kinh nghiệm âm thanh trong bóng tối, mùi trong bóng tối, vị trong bóng tối, đối tượng xúc chạm trong bóng tối và đó lại là sự thực. Nhưng khi sự thực ấy không hiển lộ, sẽ lại có ý niệm về mọi thứ và mọi người xung quanh. Và sẽ không có hiểu biết đúng về thực tại kinh nghiệm một đối tượng và thực tại được kinh nghiệm. Đó không phải là đối tượng của dính mắc. Tất cả đều là đối tượng của sự xả ly khi có hiểu biết đúng. Xả ly khỏi sự vô minh không biết cái gì là cái gì. Khi có cái hiểu đúng về thực tại, sẽ không có sự dính mắc vào cái sinh và diệt rồi. Đây chính là cách để đi tới sự tận diệt dính mắc về ngã. Nếu trí tuệ không ở mức đó, sẽ vẫn chỉ là suy nghĩ về sự xả ly, không phải là mức độ trí tuệ đủ để tận diệt ý niệm về ngã.
Vậy sư hãy tiếp tục và hãy chân thành với những gì là thực. Hiểu biết đúng ở khoảnh khắc ấy sẽ không có hoài nghi, nhưng khi có hoài nghi thì hoài nghi lại có thể là đối tượng của hiểu biết đúng. Khi có hiểu biết đúng, sẽ không còn ý niệm phải làm cái này hay phải làm cái kia và ta sẽ không còn bị nô lệ cho những ý nghĩ như vậy, nô lệ cho tham ái nữa. Sự xả ly ý niệm về ngã xảy ra một cách từ từ và dần dần. Ta sẽ biết được ý nghĩa của giải thoát. Nhưng khi có ý niệm rằng “tôi” cần phải cố gắng, “tôi” cần phải nỗ lực, khi đó không có hiểu biết đúng về những gì Đức Phật dạy về vô ngã (anatta). Mọi người thường cố gắng để hiểu về vô ngã nhưng về mặt thực chất vẫn là một ý niệm về ngã đang cố gắng và như vậy, cái hiểu về vô ngã không thể đượcphát triển mà ngược lại ý niệm về ngã lại càng được tăng trưởng. Đầu tiên là sẽ cần phải có sự chân thành, để thấy được sự khác biệt giữa khoảnh khắc có chánh niệm và khoảnh khắc không có chánh niệm. Như bây giờ chẳng hạn, có ai mà không biết rằng, cái cứng chỉ là cứng mà thôi. Vì nó xuất hiện nhiều lần trong ngày. Trong một ngày có nhiều lần cái cứng xuất hiện, bất cứ khi nào nó xuất hiện, nó xuất hiện cùng với cái kinh nghiệm nó, tức là thân thức. Nhưng nếu không có hiểu biết nhờ việc nghe Pháp thì sẽ vẫn chỉ là kinh nghiệm cái cứng bình thường như là thường lệ, như sự kinh nghiệm về cái cứng trong vòng luân hồi từ trước đến giờ mà thôi. Vòng luân hồi chính là sự sinh diệt của các thực tại, ngày hôm qua, kiếp trước, kiếp sau cũng như vậy không ngừng nghỉ. Những khoảnh khắc kinh nghiệm cái cứng và cho cái cứng đó là ta không thể không được tính là một khoảnh khắc của vòng luân hồi. Vòng luân hồi sẽ tiếp tục với vô minh và dính mắc cho đến khi có được trí tuệ tới từ việc nghe và suy xét, và có Pháp để làm nơi nương tựa, thực sự quy y pháp.
Làm thế nào có thể quy y Pháp mà không có sự nghiên cứu? Để có được cái mà ta gọi là “tôi xin quy y pháp”, cần phải có sư nghiên cứu giáo lý để hiểu về những gì mà Đức Phật dạy về các thực tại hiện giờ, khi đó thì sẽ có sự quy y pháp. Vì vậy từng từ một phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng: chẳng hạn, những pháp nào là pháp mà ta nương tựa, những pháp bất thiện có thể nơi ta nương tựa hay không? Ta cần phải biết rõ pháp nào là pháp mà ta nương tựa, điều ấy chỉ tùy thuộc vào trí tuệ- hiểu biết mà thôi, từ đầu cho tới cuối luôn phải là như vậy.
Kể cả cái cứng cũng không nên bị bỏ qua, tại sao? Bởi vì nó sinh khởi và rồi diệt đi như tất cả các thực tại khác. Không cần phải chú ý đến một đối tượng cụ thể nào đó, chẳng hạn như hơi thở. Ở khoảnh khắc chọn một đối tượng nào đó, khi ấy đang có sự dính mắc, sẽ chẳng khác gì những khoảnh khắc dính mắc khác với cái cứng, âm thanh, v,v… trong cuộc sống. Khi có những ý niệm rằng các thực tại thường nhật không thể là đối tượng của hiểu biết ở mọi lúc và mọi nơi, ta không hiểu đúng về trí tuệ, cái luôn hiểu về các thực tại đang xảy ra hiện giờ. Vì vậy phải rất tự nhiên. Rất đơn giản: cái thấy sinh khởi, ai có thể cố để có cái thấy? Mọi thứ đang diển ra rất tự nhiên, không phải cố để có cái gì đặc biệt, và đó cũng là một cách để hiểu vô ngã, vì tất cả những cái gì sinh khởi hay xuất hiện hiện giờ đều xuất hiện bởi duyên. Nếu không có ý niệm về ngã, sẽ có sự xả ly về những ý niệm tôi thấy, tôi nghe, tôi nghĩ, tôi đã sinh ra và tôi sẽ chết. Nhưng thực chất, cái gì được sinh ra và cái gì chết đi? Không có chúng sinh nào cả mà chỉ có các thực tại khác nhau mà thôi.
Hãy phân biệt các mức độ khác nhau của hiểu biết. Hiểu biết ở mức độ lý thuyết khác với hiểu biết khi chánh niệm bắt đầu sinh khởi hay biết thực tại, và cao hơn nữa là mức độ hiểu biết trực tiếp khi thấy rõ từng thực tại ở một thời điểm. Khi có đối tượng thị giác xuất hiện, ta cũng không cần phải dùng ngôn từ để có thể biết được rằng đây là một đối tượng sinh khởi để có thể được thấy. Khi nghĩ như vậy thì không phải là khoảnh khắc hiểu về cái thấy. Vitaka- tâm sở tầm sẽ được phát triển dần dần hơn để hiểu đúng về cái thấy nhưng chưa thể ngay lập tức. Ta có thể không nghĩ đến những thứ khác và nghĩ về cái thấy, nhưng đó cũng chưa phải là khoảnh khắc hiểu thực sự về cái thấy. Sau khi nghe pháp, sẽ có duyên cho những suy nghĩ về pháp. Từ sutamaya panna (văn tuệ) sẽ dẫn đến citta maya panna (tư tuệ). Ngay cả khi không có cái thấy xuất hiện, nhưng suy nghĩ về cái thấy cũng có thể tạo duyên cho khoảnh khắc hiểu về cái thấy. Nó biết rằng hiểu biết mới đang chỉ ở mức độ đó mà thôi. Như vậy tuệ giác có thể hiểu những mức độ khác nhau của chính nó: đây là mức độ hiểu biết ban đầu, mức độ phát triển hơn và mức độ phát triển cao. Nếu không, đó sẽ không phải là tuệ giác, nếu không sẽ chỉ là tưởng có tuệ giác mà thôi. Ở khoảnh khắc có tuệ giác thì không có ngôn từ. Ở khoảnh khắc kinh nghiệm cái cứng, sẽ không cần phải nói “ôi đây có một cái cứng đang được kinh nghiệm”. Như vậy đó chỉ là suy nghĩ mà thôi. Từ việc nghe cho đến suy nghĩ và khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp.
Một số người có những kinh nghiệm khác lạ và thường hoài nghi, phân vân về điều ấy, và đó là sự dính mắc. Họ cố nhớ lại kinh nghiệm ấy để tìm hiểu xem nó là cái gì, nhưng điều đó chỉ ra rằng đã không có sự xả ly, và như vậy hiểu biết sẽ không thể tiếp tục đc phát triển. Chẳng hạn bây giờ đang có cái thấy, có chừng nào để hiểu biết về cái thấy? Cần phải có sự chân thực để biết rằng hiện giờ vẫn chưa thấy được rằng không có ai ở đấy cả, bởi vì phát triển trí tuệ cần có thời gian. Không ai có thể ngừng việc suy nghĩ và mong muốn. Đó là cái chức năng của tham. Chừng nào tuệ giác vẫn chưa sinh khởi để thấy được rằng cái thấy chỉ là một thực tại, sẽ không thể nào bỏ được ý niệm về ngã. Như là khi thấy một đối tượng thị giác và coi đó là một cái cây chẳng hạn. Khi đó có sự nhớ lại cùng với dính mắc. Những thực tại đó sinh khởi và đảm nhận chức năng của chúng rất nhanh. Nếu có trí tuệ cùng với chánh niệm sinh khởi, sẽ biết rằng đó chỉ là các thực tại mà thôi. Cái hiện giờ đang xuất hiện như là một đối tượng dễ chịu được thấy không còn nữa. Nghĩ về nó với dính mắc có xuẩn ngốc hay không? Thực tại ấy đã diệt đi rồi, nhưng vẫn tiếp tục nghĩ về nó với sự dính mắc. Như vậy ta có thể thấy rằng dính mắc cùng với vô minh xuẩn ngốc đến chừng nào. Sự xuẩn ngốc ấy không thể đảm nhận chức năng của panna-trí tuệ, nó rất ngu ngốc. Vô minh không thể phát triển để thành trí tuệ, vô minh vẫn cứ là vô minh thôi. Trí tuệ là một thực tại khác với vô minh.
Người phiên dịch: Achaan, con có một câu hỏi, đôi khi bản thân việc nghiên cứu pháp hay nghe pháp cũng có thể trở thành một nghi lễ. Mọi người đồng ý là việc nghiên cứu pháp là cần thiết, nhưng điều đó nó lại trở thành một nghi lễ đối với một số người.
Achaan: Họ cho như thế nào là nghiên cứu?
Trả lời: Đọc sách, nghe pháp…
Achaan Có giống như bây giờ không?
Trả lời: Giống như bây giờ ạ
Achaan: Không giống như bây giờ, chỉ ở khoảnh khắc của hiểu biết thì mới là nghiên cứu. Có bao nhiêu loại tâm tất cả?
Trả lời: 89 loại tâm.
Achaan: Nếu biết con số 89 ấy, có phải là việc nghiên cứu pháp hay không? Đó không phải là nghiên cứu pháp, nghiên cứu là nghiên cứu đặc tính của pháp đang xuất hiện, chẳng hạn như hiện giờ có cái thấy, cái thấy không phải là tham, không phải là sân, điều ấy có thể được suy xét. Không phải là nghiên cứu các con số hay là ghi nhớ lại để rồi có thể nói là có từng này loại tâm… Có bao nhiêu loại tâm sở, có 7 tâm sở biến hành: xúc, thọ, tưởng, tư, nhất tâm, tác ý, mạng căn. Nhưng tất cả những cái đó chỉ là ghi nhớ thôi chứ không phải là sự nghiên cứu khoảnh khắc này. Những gì chúng ta nhớ nó sẽ qua đi khi kiếp sống này chấm dứt, còn những gì được hiểu mới có thể được giữ lại và tiếp tục phát triển sang kiếp sau.
Kể cả tâm kinh nghiệm đối tượng, chẳng hạn như nhãn thức hiện giờ, vẫn hoàn toàn không được biết, bởi vì mọi người vẫn thường chú ý đến cái được thấy. Nếu không có cái thấy, nhãn thức, thì cái được thấy không thể xuất hiện, và cái xuất hiện hiện giờ xuất hiện với cái thấy, chỉ ở khoảnh khắc của cái thấy thôi chứ không ở khoảnh khắc của suy nghĩ. Vào ban đêm khi ta ngủ mơ cũng có những đối tượng xuất hiện, nhưng trước đó không có cái thấy như hiện giờ. Tưởng có khả năng nhớ mọi thứ. Nhưng khi nói về tưởng như vậy thì cũng không phải là đặc tính của tưởng đang xuất hiện để có thể hiểu đúng về cái tưởng đó. Hiểu được đúng về các thực tại là một nhiệm vụ lớn lao. Nếu không có giáo lý của Đức Phật thì làm sao có thể bắt đầu có sự suy xét về những điều này?
Vì vậy tất cả các loại phiền não khác sẽ không thể được tận diệt, nếu như không có sự tận diệt ý niệm về ngã trước tiên. Nếu chúng ta chỉ nghĩ rằng “cần phải loại bỏ ý niệm về ngã” thì điều ấy là không thể, trừ phi tà kiến đó trở thành đối tượng của hiểu biết đúng. Chẳng hạn ta nói về tâm sở xúc (phassa), hiện giờ phassa có xuất hiện không? Chúng ta nói về tâm sở tà kiến, tà kiến có xuất hiện không? Kể cả hiện giờ chúng đang có mặt nhưng không xuất hiện như một đối tượng thì làm sao trí tuệ có thể thấy được bản chất thực sự của chúng. Tuệ giác rất chi tiết, khi nó sinh khởi, nó sẽ chỉ hiểu một đặc tính ở một thời điểm mà thôi. Có cái hiểu về âm thanh ở khoảnh khắc trước hay không? Trong thất niệm nó đã qua rồi, và không có chút hiểu biết nào sinh khởi cả. Nhưng khi có trí tuệ, nó sẽ hiểu ý nghĩa thực sự của cái là chánh niệm tỉnh giác.
Khi có một thực tại, ví dụ như cái thấy, sinh khởi thì chánh niệm có thể đi ngay sau đó rất gần, dường như đồng thời với cái thấy. Cái thấy và cái nghe dường như xảy ra cùng một lúc nhưng đó thực chất là hai khoảnh khắc khác nhau. Giáo lý rất cần thiết, nếu không ta sẽ không thể biết được điều đó, rằng sati đi ngay sau thực tại, giống như cái thấy và cái nghe, dường như đồng thời. Như hiện giờ có thể có cái cứng ở nơi ta xúc chạm, nhưng không có sự hiểu biết. Còn ở khoảnh khắc có trí tuệ sinh khởi, hiểu biết đi sát liền với khoảnh khắc kinh nghiệm cái cứng, đó là cái còn lại sau khi cái cứng đã diệt đi, là nimitta, tướng của cái đã diệt đi. Tướng ấy có đặc tính giống hệt thực tại đã diệt đi. Tất cả các thực tại như chánh niệm, trí tuệ theo sát nên dường như nó sinh khởi cùng một lúc.
Vị sư 1: Achaan nói là khi cái thực tại đó xảy ra, ở khoảnh khắc sau thì chánh niệm biết thực tại đó mới sinh khởi. Chánh niệm không xảy ra cùng một lúc với thực tại. Cái nhân duyên nào mà khi thực tại đã chấm dứt diệt đi rồi mà chánh niệm nhận biết được thực tại đã sinh khởi?
Achaan: Chính vì vậy người ta dùng từ “thực tại như nó là”, là bởi nó giống như thực tại chứ không phải là bản thân thực tại ấy, vì thực tại ấy đã diệt đi rồi. Chánh niệm hay biết “thực tại như nó là” tức là biết được đúng đặc tính của thực tại đó. Và nó cũng hoàn toàn khác với những gì chúng ta đang biết hiện giờ. Khi mới khởi đầu, khoảnh khắc hiểu biết về thực tại khác với thông thường, nhưng vẫn còn chưa có sự khác biệt hoàn toàn, thế giới vẫn còn đó; nhưng khi trí tuệ đủ mạnh thì thế giới hoàn toàn biến mất, chỉ có thực tại mà thôi. Như hiện giờ chẳng hạn, cái cứng có xuất hiện như nó là không? Nó có thể, nhưng không phải do mong muốn của chúng ta. Nếu chánh niệm không sinh khởi một cách tự nhiên, do đủ duyên, thì thực ra chỉ là ý định có chánh niệm chứ không phải là chánh niệm. Các thực tại rất khác nhau, chẳng hạn như chánh niệm thì không phải là tác ý (cetana) cũng không phải là định (ekagata). Chánh niệm là một pháp hữu vi sinh khởi do duyên, không ai có thể định được cái gì sẽ là đối tượng của nó, chẳng hạn có lúc có thể là cái cứng, hoặc một thực tại khác là đối tượng. Nhưng bất cứ khi nào một thực tại trở thành đối tượng của chánh niệm, nó sẽ rất khác với lúc bình thường.
Vị sư 1: Bà có thể giải thích thêm về bản chất của cái gọi là “thực tại như nó là”?
Achaan: Khi một thực tại sinh khởi, chẳng hạn đối tượng thị giác qua nhãn căn, nó được nhận biết trong tiến trình của nhãn môn và sau khi nó diệt đi, tướng (nimitta) của nó được biết ở trong tiến trình của ý môn.Tướng được biết trong tiến trình của ý môn có đặc tính giống hệt như đặc tính của đối tượng thị giác trong tiến trình nhãn môn, và nó có thể là đối tượng của trí tuệ. Cho nên khi nói đến “như nó là”, điều ấy có nghĩa là mặc dù thực tại đã diệt đi rồi, nhưng đặc tính của nó vẫn được biết đến hệt “như nó là”.
Sadhu sadhu sadhu !