Khảo sát Pháp chân đế – CHƯƠNG 19: THỌ
CHƯƠNG 19. THỌ
Tâm (citta) đa dạng bởi các pháp tương hợp (các tâm sở đồng sinh). Tâm có thể được xếp theo các thọ đồng sinh như sau:
- Tâm đồng sinh với thọ hỷ (Somanassa sahagata)[1]
- Tâm đồng sinh với thọ ưu (Domanassa sahagata)
- Tâm đồng sinh với thọ xả hay thọ trung tính (Upekkhā sahagata)
- Tâm đồng sinh với thọ lạc (Sukkha sahagata)
- Tâm đồng sinh với thọ khổ (Dukkha sahagata)
Mỗi tâm sinh khởi luôn sinh kèm với tâm sở thọ (vedanā). Các tâm khác nhau sinh kèm với một loại thọ cụ thể tùy thuộc vào loại tâm. Tâm dẫn đầu trong việc nhận biết những đặc tính khác nhau của đối tượng, còn tâm sở là pháp cảm nhận về đối tượng được kinh nghiệm; thọ có thể là thọ hỷ, thọ ưu, thọ lạc, thọ khổ hay thọ xả.
Tâm khác nhau theo chủng loại (jāti), nó có thể là thiện (kusala), bất thiện (akusala), quả (vipāka), hay duy tác (kiriya), và các tâm sở đồng sinh luôn cùng chủng loại với tâm. Tâm sở bất thiện (akusala cetasika) không thể sinh kèm tâm thiện, tâm quả hay tâm duy tác. Tâm sở thiện (kusala cetasika) không thể sinh kèm với những tâm bất thiện, tâm quả hay tâm duy tác. Tâm sở quả (vipāka cetasika) không thể sinh kèm với tâm bất thiện, tâm thiện và tâm duy tác. Thọ, cũng giống như những tâm sở khác, là khác biệt trong mỗi trường hợp, nó có thể là thiện, bất thiện, quả hay duy tác.
Nếu Đức Phật đã không thuyết giảng một cách chi tiết các đặc tính khác nhau của tất cả các pháp, mọi người sẽ tiếp tục hiểu sai về tâm sở thọ (vedanā cetasika). Chẳng hạn, thọ khổ (được kinh nghiệm mỗi khi ta khó ở, bệnh tật hay đau đớn…) sinh khởi cùng với thân thức, đó là tâm quả kinh nghiệm đối tượng xúc chạm qua thân căn chỉ trong một khoảnh khắc rất ngắn ngủi. Thọ ấy không giống như thọ ưu sinh khởi khi ta thấy khó chịu về một đối tượng bất khả ái in dấu lên thân căn. Tâm rất đa dạng vì chúng sinh kèm với các loại thọ khác nhau. Đức Phật đã thuyết giảng rất chi tiết loại thọ nào sinh kèm với từng loại: tâm thiện, bất thiện, quả và duy tác; đây là một chủ đề vô cùng phức hợp.
Bất cứ khi nào chúng ta thấy đau đớn, khi đó có thọ khổ trên thân và đó chính là quả bất thiện. Tuy nhiên, khi chúng ta bất hạnh, bối rối hay lo lắng bởi cảm thọ đau ấy thì đó không phải là quả (vipāka). Tại khoảnh khắc ấy, đó chính là thọ bất thiện sinh kèm với tâm bất thiện cảm thấy ưu phiền.
Khi nghiên cứu Vi Diệu Pháp một cách chi tiết, chúng ta có thể có được hiểu biết đúng về loại tâm sở thọ đang sinh khởi cùng tâm. Nếu chúng ta không nghiên cứu các thực tại, chúng ta sẽ không biết rõ liệu thọ đang sinh khởi ở một khoảnh khắc cụ thể là thiện, bất thiện, quả hay duy tác, vì vậy chúng ta dễ dàng say mê với những cảm thọ hỷ trên tâm, với thọ lạc trên thân hay với thọ xả.
Chúng ta đọc trong Tăng Chi Bộ Kinh (Chương Hai Pháp, Phẩm Tướng, §7) rằng Đức Phật đã thuyết:
“Này các Tỳ kheo, các pháp ác, bất thiện khởi lên có thọ, không phải không có thọ. Do đoạn tận chính duyên ấy, các pháp ác, bất thiện ấy, không có mặt.”
Sau đó, Ngài đã nói tương tự về các danh uẩn khác ngoài thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.
Tâm sở thọ là cơ sở cho tham ái và tham ái thì rất dai dẳng. Nếu ta không biết sự thật về thọ tâm sở thì ta không thể từ bỏ tà kiến cho rằng thọ là ngã, là ta.
Hiểu về bản chất của tâm sở thọ là trợ duyên cho chánh niệm bắt đầu hay biết về đặc tính của thọ. Nếu ta không hiểu đặc tính của thọ là gì, ta sẽ không nhận ra rằng thọ chỉ là một thực tại, nó sinh khởi liên tục trong cuộc sống hàng ngày, giống như tất cả các pháp khác xuất hiện qua ngũ môn và ý môn. Các pháp này chỉ xuất hiện bởi vì tâm sinh khởi và kinh nghiệm chúng và mỗi tâm luôn sinh kèm với thọ.
Chúng ta cần phải nhớ rằng nếu như không có thọ cảm nhận những gì được thấy, ngửi, nghe, nếm hay xúc chạm, sẽ không có sự lo lắng và bất thiện pháp sẽ không sinh khởi. Tuy nhiên vì có thọ sinh khởi, có sự dính mắc vào thọ, bám víu vào thọ. Ta muốn đạt được cái mà ta cho là điều kiện cho thọ hỷ. Như vậy các pháp bất thiện sẽ tiếp tục sinh khởi, nhưng ta không nhận ra điều đó.
Tất cả các pháp là vô ngã, không ai có thể ngăn cản tâm sở thọ sinh khởi. Dù loại tâm nào sinh khởi đi nữa, nó cũng phải sinh kèm với tâm sở thọ, cái cảm nhận đối tượng được kinh nghiệm tại khoảnh khắc ấy. Bây giờ, tại khoảnh khắc này, phải có loại thọ nào đó, thọ xả, thọ lạc, thọ khổ, thọ hỷ hay thọ ưu. Nghiên cứu Giáo pháp không chỉ là hay biết tên hay các con số. Mục đích của việc nghiên cứu chính là hiểu biết về đặc tính của thực tại, như vậy là về cả cảm thọ sinh khởi hiện giờ. Có thể chưa có chánh niệm về đặc tính của cảm thọ tại khoảnh khắc này, nhưng chúng ta cần phải nhớ rằng thọ tại khoảnh khắc này là một thực tại đã sinh và diệt đi rồi. Nếu ta không biết đặc tính thực sự của thọ, ta sẽ cho rằng thọ lạc và thọ khổ, thọ hỷ, thọ ưu hay thọ xả là ta, là tự ngã.
Nếu chánh niệm không hay biết đặc tính của thọ, sẽ không thể từ bỏ tà kiến cho rằng các pháp là một chúng sinh, là con người hay tự ngã. Tất cả chúng ta đều coi thọ là cái gì đó rất quan trọng trong cuộc sống. Tất cả chúng ta đều muốn có thọ hỷ hay lạc, không ai muốn có thọ khổ hay ưu. Vì vậy chúng ta cố gắng bằng mọi cách để có được thọ lạc hay thọ hỷ. Tuy nhiên, có thể ta không biết rằng đang có tham ái tại khoảnh khắc cố bám víu vào cảm thọ, cái vốn sinh khởi bởi những duyên riêng của nó và rồi lại diệt đi.
Đức Phật xếp tâm sở thọ thành một uẩn riêng biệt – thọ uẩn (vedanākkhandha), bởi vì con người rất coi trọng thọ và dính mắc vào nó. Đó chỉ là một thực tại mà mọi người cho là tự ngã, là một chúng sinh hay con người, gán cho nó một giá trị lớn lao. Chúng ta rất cần nghe Giáo pháp và nghiên cứu Giáo pháp một cách chi tiết hơn nữa, suy xét về những gì ta được nghe và thẩm xét bản chất thật của các pháp trong cuộc sống hàng ngày, như vậy chánh niệm có thể sinh khởi và hay biết đặc tính của các pháp đang xuất hiện.
Tâm sở thọ có thể thuộc một trong bốn chủng loại: thiện, bất thiện, quả và duy tác. Thọ là một pháp hữu vi (saṅkhāra dhamma). Nó sinh khởi bởi những duyên riêng của chúng. Thọ là quả (vipāka) sinh khởi bởi duyên nghiệp (kamma-paccaya). Thọ là thiện, bất thiện, duy tác thì không phải là quả, nó không thể sinh khởi do duyên nghiệp, mà bởi những duyên khác. Có những cách khác nhau để phân loại các cảm thọ, nhưng trong phân loại thành năm[2], thọ lạc và thọ khổ thuộc loại chủng loại là quả, chúng là kết quả của nghiệp. Nghiệp đã tạo trong quá khứ tạo duyên tương ứng cho sự sinh khởi của thọ là quả, nó cảm nhận đối tượng in dấu lên ngũ căn và ý căn.
Nhãn thức là tâm quả (vipākacitta) luôn sinh kèm với thọ xả, cái là tâm sở quả (vipāka cetasika) và kèm với những tâm sở khác nữa. Cũng tương tự như vậy với trường hợp của nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức. Tuy nhiên, trong trường hợp của thân thức thì khác. Thân thức là quả bất thiện kinh nghiệm đặc tính của đối tượng xúc chạm in dấu lên thân căn luôn sinh kèm với thọ khổ. Thân thức là quả thiện luôn sinh kèm với thọ lạc.
Không ai có thể thay đổi các duyên hệ cho sự sinh khởi của các thọ đồng sinh với những tâm khác nhau. Thân thức sinh khởi bởi duyên nghiệp. Khi tứ đại (cứng, mềm, nóng, lạnh, căng, chùng) là đối tượng dễ chịu (iṭṭhārammaṇa) in dấu lên thân căn (kāyapasāda rūpa), khi đó thọ lạc trên thân sinh khởi. Khi tứ đại là đối tượng khó chịu (aiṭṭhārammaṇa) in dấu lên thân căn, khi đó là thọ khổ trên thân sinh khởi. Thọ sinh khởi ở thân căn chỉ có thể là thọ lạc hoặc thọ khổ, không thể là thọ xả, hoặc thọ ưu hay thọ hỷ. Thọ trên thân và thọ trên tâm cần phải được phân biệt với nhau. Khi thân thức sinh khởi, thọ đồng sinh là lạc hoặc khổ có chủng loại là quả, nó là kết quả của nghiệp quá khứ. Tuy nhiên, khi ta lo lắng hay bối rối thì có thọ ưu, nó không phải là kết quả của nghiệp quá khứ. Sự sinh khởi của nó được duyên bởi các tích lũy pháp bất thiện từ trước.
Ngoài thọ khổ và thọ lạc trên thân – cái chỉ thuộc chủng loại là quả và thọ ưu – cái chỉ thuộc chủng loại là bất thiện, có những loại thọ khác gọi là thọ hỷ và thọ xả. Hai loại thọ này có thể là thiện (kusala), bất thiện (akusala), quả (vipāka) hay duy tác (kiriya). Sự đa dạng của thọ cho thấy rằng thực tại chỉ có thể sinh khởi bởi những duyên hệ riêng của chúng.
Chúng ta đã bao giờ hay biết về đặc tính của các loại thọ khác nhau chưa? Ở khoảnh khắc này, thọ sinh và diệt. Có thể một số người bắt đầu hay biết về đặc tính của các sắc xuất hiện qua mắt, tai, mũi, lưỡi, hay thân căn. Một số khác có xu hướng suy xét, hay biết đặc tính của danh (yếu tố kinh nghiệm đối tượng) khi có cái thấy, cái nghe, ngửi, nếm, xúc chạm hoặc suy nghĩ. Tuy nhiên, như vậy là chưa đủ. Chánh niệm cần phải hay biết các đặc tính của tất cả các pháp hợp thành ngũ uẩn: sắc uẩn (rūpakhandha), thọ uẩn (vedanākkhandha), tưởng uẩn (saññākkhandha), hành uẩn (saṅkhārakkandha: bao gồm các tâm sở khác với thọ và tưởng), thức uẩn (viññāṇakkhandha). Nếu chánh niệm không hay biết các pháp này thì phiền não không thể được tận diệt. Phiền não không thể được tận diệt nếu vẫn còn vô minh về các thực tại, như vậy chánh niệm sẽ không hay biết đặc tính của tất cả các thực tại đang xuất hiện.
Có thọ trong khi ta ngủ hay không? Pháp là một chủ đề cần được suy đi ngẫm lại. Càng thẩm xét về Giáo pháp, ta càng có cái hiểu rõ ràng hơn. Vì vậy ta cần phải suy xét, liệu có tâm sở thọ trong khi ngủ hay không. Khi chúng ta ngủ sâu, chúng ta không kinh nghiệm bất kỳ đối tượng nào của thế giới này. Không có đối tượng nào đang sinh khởi qua sáu cửa giác quan. Tại những khoảnh khắc ấy, không có suy nghĩ, cũng không có mộng mị. Cái ta đã từng thấy hoặc từng nghe, cái mà ta đã từng thích hoặc suy nghĩ tới không xuất hiện. Tuy nhiên kể cả khi ta ngủ say, vẫn phải có tâm sinh khởi và diệt đi, chừng nào cuộc sống của chúng ta vẫn chưa kết thúc. Tâm ấy được gọi là tâm hộ kiếp (bhavanga-citta), cái đảm nhận chức năng duy trì sự liên tục của một kiếp sống với tư cách là một cá nhân cụ thể. Ngay khi chúng ta thức dậy, đối tượng của thế gian này lại xuất hiện, cho đến khi lại có duyên để ngủ tiếp.
Khi chúng ta ngủ say, các tâm hộ kiếp (bhavanga-citta) sinh và diệt tiếp nối nhau là các tâm quả (vipākacitta), nó là kết quả của nghiệp quá khứ; nghiệp là duyên cho các tâm hộ kiếp sinh khởi tiếp nối nhau và duy trì sự liên tục kiếp sống của một con người. Nhờ vậy, người ngủ không bị chết đi. Bốn loại danh uẩn (nāma-khandha), tâm và các tâm sở, sinh khởi cùng nhau, chúng không thể tách rời khỏi nhau. Mỗi khi tâm sinh khởi thì phải có các tâm sở đồng sinh với nó. Thọ sinh khởi với mỗi tâm. Tâm sở thọ sinh khởi cùng tâm hộ kiếp là quả, nó cảm nhận đối tượng được kinh nghiệm bởi tâm hộ kiếp. Tất cả các tâm sở đồng sinh có cùng đối tượng với tâm. Chức năng của tâm sở thọ là cảm nhận đối tượng được kinh nghiệm bởi tâm. Đối tượng của tâm hộ kiếp không phải là đối tượng của thế giới này; nó có đối tượng giống như đối tượng được kinh nghiệm trước khi tử thức của kiếp sống trước sinh khởi. Chúng ta không biết đối tượng ấy. Chúng ta cũng không thể biết đặc tính của thọ sinh kèm với tâm hộ kiếp.
Việc so sánh lúc ngủ với lúc thức giúp chúng ta thấy rõ hơn các duyên hệ cho việc kinh nghiệm các đối tượng. Các đối tượng của thế gian chỉ có thể xuất hiện nhờ có các lộ trình tâm kinh nghiệm chúng qua sáu cửa giác quan.
Chúng ta cần suy xét kĩ hơn chính xác là cái gì thức dậy khi chúng ta thức dậy và cái gì ngủ khi chúng ta ngủ. Sắc (rūpa) là pháp không biết cái gì cả, vì vậy sắc không thức cũng không ngủ. Danh (nāma) là pháp kinh nghiệm đối tượng. Khi danh không biết đối tượng xuất hiện trên thế giới này, nó có trạng thái được gọi là “ngủ”. Kể cả khi ta ngủ, vẫn có những tâm sinh và diệt tiếp nối nhau, duy trì sự liên tục của kiếp sống, chừng nào một người vẫn chưa chết đi.
Khi chúng ta thức dậy, cái gì thức dậy? Tâm và tâm sở thức dậy, bởi vì chúng sinh khởi và kinh nghiệm đối tượng qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân căn và ý môn. Như vậy, khi chúng ta kinh nghiệm đối tượng của thế giới này là chúng ta đang thức. Nếu chúng ta suy nghĩ về thực tế này một cách chi tiết hơn, sẽ có duyên cho sự phát triển của tứ niệm xứ (satipaṭṭhāna). Mục đích của việc nghiên cứu Giáo pháp là hay biết đặc tính của các thực tại để biết chúng như chúng là. Các lời dạy của Đức Phật có thể khuyến khích chúng ta có chánh tinh tấn của tứ niệm xứ để phát triển chánh kiến về các thực tại ngay khoảnh khắc này.
Như chúng ta đã thấy, khi thức dậy, tâm và tâm sở biết các đối tượng của thế giới này. Chúng ta cần phải suy xét sâu sắc hơn về cái thực sự thức dậy. Chính là tâm và tâm sở thức dậy cùng nhau. Các tâm quả sinh khởi và thấy cái xuất hiện qua mắt, hoặc kinh nghiệm cái xuất hiện qua tai, qua mũi, qua lưỡi hoặc qua thân căn. Không ai có thể ngăn cản điều ấy xảy ra, nó ngoài tầm kiểm soát. Tâm quả là kết quả của nghiệp, sinh khởi, kinh nghiệm đối tượng và rồi diệt đi. Sẽ không thể ngủ mãi. Nghiệp (kamma) tạo ra sự tái sinh ở kiếp này, nó không tạo duyên cho một người ngủ cả cuộc đời cho đến khi chết. Chính nghiệp tạo ra mắt, tai, mũi, lưỡi và thân căn để tạo duyên cho sự sinh khởi của tâm thấy một đối tượng dễ chịu là kết quả của nghiệp thiện (kusala kamma), hoặc cho sự sinh khởi của tâm thấy một đối tượng khó chịu là kết quả của nghiệp bất thiện (akusala kamma). Tâm nghe âm thanh dễ chịu là kết quả quả nghiệp thiện và tâm nghe âm thanh khó chịu là kết quả của nghiệp bất thiện. Cũng như vậy đối với các giác quan khác.
Như vậy, chính tâm quả và tâm sở sinh khởi thức dậy và kinh nghiệm đối tượng qua từng giác quan trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài các loại tâm đó ra thì còn những gì nữa? Khi ta thức dậy, các pháp bất thiện, tất cả các loại phiền não cũng bắt đầu thức dậy. Khi ta ngủ không hề có tâm bất thiện, nhưng vẫn có những phiền não ngủ ngầm (anusaya kilesa), tiềm ẩn trong tâm. Những phiền não ngủ ngầm chưa được tận diệt được tích lũy từ tâm này sang tâm khác, bởi tâm sinh và diệt một cách liên tục. Như vậy, kể cả khi ta ngủ, các phiền não đã tích lũy được luân chuyển từ khoảnh khắc của tâm hộ kiếp này đến khoảnh khắc của tâm hộ kiếp khác. Ở những khoảnh khắc này, phiền não không sinh khởi, sẽ không thể có thích hay không thích một đối tượng, bởi lẽ ta chưa thấy, chưa nghe, ngửi, nếm, hay kinh nghiệm đối tượng xúc chạm. Ta chưa kinh nghiệm bất cứ đối tượng nào của thế giới này. Khi ta ngủ, tất cả phiền não cũng ngủ. Tuy nhiên, khi chúng ta thức dậy, các phiền não này cũng thức dậy. Sau cái thấy, cái nghe và kinh nghiệm đối tượng qua các giác quan khác, tất cả những loại phiền não ấy sinh khởi cùng với tâm bất thiện, tùy thuộc vào các yếu tố làm duyên cho sự sinh khởi của những pháp bất thiện cụ thể.
Như chúng ta đã thấy, tâm có thể được phân loại theo bốn cõi (bhūmi) thức bao gồm: cõi dục giới (kāmāvacara bhūmi); cõi sắc giới (kāmāvacara bhūmi); cõi vô sắc giới (akāmāvacara bhūmi); và cõi siêu thế (lokuttara bhūmi). Các tâm càng ở những cõi thức cao thì càng vi tế. Tâm của mọi người hầu hết là ở cõi dục giới, kinh nghiệm cảnh sắc, âm thanh, mùi, vị và đối tượng xúc chạm. Tâm dục giới thuộc cõi thức thấp nhất. Cứ thức dậy là chúng ta thấy và nghe. Tâm hướng về các đối tượng qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân căn và ý môn. Tâm lui tới những đối tượng này. Các tâm sinh khởi trong ngày thuộc cõi thức thấp nhất và hơn nữa, chúng thường thuộc chủng loại thấp kém là bất thiện. Thông thường chính bất thiện pháp thức dậy, trừ khi có duyên cho thiện pháp. Hầu như bất cứ khi nào ta thấy, có tham sinh khởi liền sau đó. Chúng ta nghe và rồi dính mắc vào âm thanh được nghe và điều ấy là tự nhiên. Tâm tham căn sinh khởi thường xuyên hơn tâm sân căn, tâm sân căn là tâm bị khó chịu, nó rất thô tháo.
Chúng ta cần đối diện với sự thật là có nhiều tâm bất thiện hơn là tâm thiện trong một ngày. Nếu ta không nhận ra điều này ta không thể phát triển thiện pháp để có thể thoát khỏi những tâm xấu ác. Khi ấy sẽ lại tiếp tục có vô số các tâm bất thiện, như thường lệ. Khi chúng ta không nhận thấy mối hiểm họa và sự bất lợi của bất thiện pháp, chúng ta thậm chí còn thích thú với các bất thiện pháp của mình. Như vậy, ta cần phải nhớ rằng cái thức dậy thường chính là phiền não. Phiền não sinh khởi trong lộ trình của nhãn môn, nhĩ môn, tỉ môn, thiệt môn, thân môn và ý môn.
Việc phiền não tạo nên khổ đau nơi thân và nơi tâm đến mức độ nào là tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Khi nhận ra được sự đau khổ hay bấn loạn do phiền não gây ra, chúng ta sẽ thực hiện việc phát triển các thiện pháp như bố thí (dāna), trì giới (sīla), phát triển sự an tịnh (samatha) hoặc phát triển Tứ niệm xứ (satipaṭṭhāna). Khi phát triển Tứ niệm xứ, có sự hay biết về các đặc tính của các thực tại đang xuất hiện ngay khi ấy.
Một số người tin rằng phải diệt bỏ tham trước rồi mới có thể phát triển được tuệ giác tới mức độ chứng đắc Dự lưu (Sotāpanna). Tuy nhiên, đó là điều không thể. Tham (lobha) sinh khởi, đó là một thực tại sinh khởi bởi những duyên riêng của nó, nó không phải là một chúng sinh, một con người hay một tự ngã. Tuy nhiên, trí tuệ (paññā) cần phải suy xét đặc tính của tham để tham có thể được biết như nó là: chỉ là một thực tại sinh và diệt.
Các loại thọ sinh khởi cùng với những tâm khác nhau có thể được xếp vào thành năm nhóm như sau:
- Thọ lạc đồng sinh với thân thức là quả thiện;
- Thọ khổ đồng sinh với thân thức là quả bất thiện;
- Thọ ưu đồng sinh với hai loại tâm sân căn
- Thọ hỷ hay thọ xả đồng sinh với tâm thiện, tâm bất thiện, tâm quả và tâm duy tác.
Thọ ưu không thể sinh kèm với tâm thiện, tâm quả hay tâm duy tác. Nó chỉ sinh kèm với các tâm bất thiện là hai loại tâm sân căn (dosa-mūla-citta)[3]. Nếu ta không biết điều này, ta có thể lầm lẫm cho pháp bất thiện là thiện. Điều này có thể xảy ra, chẳng hạn, khi ta cảm thấy thương xót cho những người đang đau khổ và gặp khó khăn. Ta muốn giúp họ thoát khỏi trạng thái ưu phiền ấy. Khi ấy có thể có duyên cho tâm thiện sinh kèm với bi mẫn thực sự (tâm sở bi – karuṇā cetasika) sinh khởi. Tuy nhiên ta cần hay biết đặc tính của thọ sinh kèm với tâm đó, liệu có thọ ưu hay không. Nếu có thọ ưu, nếu ta buồn rầu thì đó là tâm bất thiện. Tâm bất thiện hoàn toàn khác với tâm thiện sinh khởi cùng bi mẫn (tâm sở bi). Nếu ta thực sự hiểu điều này, ta sẽ từ bỏ cảm thọ buồn rầu, khó chịu, cái là bất thiện. Ta có thể giúp người khác với thọ hỷ chứ không phải với cảm giác buồn bã ưu phiền.
Như vậy ta cần phải biết rõ ràng khi nào tâm là bất thiện, để bất thiện có thể bị tận diệt. Mọi người thường cho rằng nếu mình có sự bi mẫn với người khác khi người này đang đau khổ thì cần phải chia sẻ sự đau buồn và cảm giác bất hạnh cùng người ấy. Họ không nhận ra rằng đó không phải thật sự là lòng bi mẫn.
Mọi người thường vô minh về cảm thọ của mình. Nếu ai đó được hỏi họ đang có cảm thọ nào tại khoảnh khắc này, người ấy chỉ có thể biết một cách lờ mờ rằng đang thấy vui, hay thấy buồn. Cảm thọ sinh khởi với mỗi tâm, nhưng thật không dễ nhận ra bản chất thật của nó, kể cả khi có sự hay biết về cảm thọ. Thọ chỉ là một thực tại kinh nghiệm, nó là một loại danh. Khi âm thanh xuất hiện, thực chất là nhĩ thức nghe âm thanh. Tại khoảnh khắc ấy, có tâm sở thọ đồng sinh với nhĩ thức. Khi tâm sở xúc tiếp xúc với đối tượng, tâm sở thọ cũng phải sinh khởi. Nếu chánh niệm (sati) có thể bắt đầu hay biết đặc tính của tâm hay của thọ, sẽ có sự tích lũy các trợ duyên để bớt dần sự lơ là về các thực tại mỗi khi ta có cảm thọ xả, thọ hỷ, thọ lạc, thọ khổ hay thọ ưu. Chúng ta có thể buồn, nhưng thay cho việc đắm chìm trong sự đau khổ, có thể có chánh niệm hay biết cảm thọ ấy và nó có thể được nhận biết chỉ là tâm sở thọ sinh khởi bởi những duyên riêng của nó. Như vậy ta thấy rằng tứ niệm xứ là vô cùng lợi lạc, hiểu biết đúng có thể làm giảm nhẹ khổ đau khi ta lo lắng và buồn phiền.
********
Câu hỏi
- Thọ xả và thọ hỷ có thể thuộc chủng loại nào?
- Thọ khổ và thọ lạc thuộc chủng loại nào?
- Thọ ưu thuộc chủng loại nào?
- Thọ thuộc chủng loại nào khi ta ngủ say?
Sắc có thể thức dậy hoặc ngủ không? Hãy giải thích lý do
[1] “Sahagata” có nghĩa là “đồng sinh” (sinh kèm)
[2] Thọ cũng có thể được phân chia làm ba: thọ dễ chịu, thọ khó chịu và thọ trung tính. Nó có thể được xếp theo căn môn qua đó đối tượng được kinh nghiệm, hoặc theo các phương thức khác.
[3] Một loại cần có tác động và một loại không cần tác động. Điều này sẽ được giải thích trong các phần sau.
cảm thọ, chân đế, danh pháp, sắc pháp, sujin, tâm, tâm sở, tục đế, vi diệu pháp
Khảo cứu Pháp chân đế – CHƯƠNG 17: CÁC TÂM THUỘC CÕI DỤC GIỚI
CHƯƠNG 17. CÁC TÂM THUỘC CÕI DỤC GIỚI
Có 89 loại tâm khác nhau và những loại tâm này có thể được phân chia theo các cấp độ khác nhau, gọi là bốn cõi tâm thức:
- Cõi dục giới (Kāmāvacara bhūmi)
- Cõi sắc giới (Rūpāvacara bhūmi)
- Cõi vô sắc giới (Arūpāvacara bhūmi)
- Cõi siêu thế (Lokuttara bhūmi)
Cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī, Quyển I, phần II, Phân tích các thuật ngữ, §62) giải thích ý nghĩa của dục giới theo những phương cách khác nhau. Theo một cách luận giải, từ “kāmāvacara” – dục giới được dùng cho tâm (citta) liên quan đến các pháp dục giới. Như vậy, đó là tâm thuộc cấp độ cõi thức mang tính dục giới. “kāmāvacara” là thuật ngữ đầy đủ[1], nhưng đôi khi người ta cũng dùng dạng ngắn gọn là “kāma” (dục). Tâm dục giới (kāmāvacara citta) kinh nghiệm đối tượng của ngũ quan như đối tượng thị giác (cảnh sắc), âm thanh, mùi, vị và đối tượng xúc chạm.
Có tâm dục giới ở mỗi khoảnh khắc của cuộc sống hàng ngày, trừ khi có tâm thuộc một cõi thức khác cao hơn tâm dục giới. Khi ta phát triển tâm thiện (kusala citta) trong samatha (sự an tịnh) nhờ một đề mục thiền sắc giới và khi sự an tịnh được thiết lập chắc chắn tới mức độ an chỉ định (appanā samādhi), khi ấy có tâm thiền sắc giới, đối tượng của tâm này vẫn lệ thuộc vào sắc. Khi đó tâm ở một cõi thức cao hơn, gọi là cõi sắc giới (rūpāvacara bhūmi) và tâm thuộc cõi này – tâm sắc giới (rūpāvacara citta) được thoát ly khỏi ngũ dục (kāma). Một cõi thức ở mức độ cao hơn nữa là cõi vô sắc giới (arūpā bhūmi). Tâm thuộc cõi này – tâm vô sắc giới (arūpāvacara citta) có một mức độ an tịnh vi tế hơn nữa, được thiết lập một cách vững vàng trên một đối tượng không lệ thuộc vào sắc. Tâm vi tế hơn cả tâm vô sắc giới là tâm siêu thế (lokuttara citta), tâm kinh nghiệm đặc tính của niết bàn. Đó chính là tâm ở cõi siêu thế (lokuttara bhūmi). Như vậy các tâm khác nhau bởi chúng thuộc những cõi khác nhau. 89 loại tâm có thể được phân loại theo các cõi khác nhau như sau:
- 54 tâm dục giới (kāmāvacara citta)[2]
- 15 tâm sắc giới (rūpāvacara citta)[3]
- 12 tâm vô sắc giới (arūpāvacara citta)[4]
- 8 tâm siêu thế (lokuttara citta)[5]
Bất cứ khoảnh khắc nào không có tâm sắc giới, vô sắc giới hay siêu thế thì đều có tâm dục giới.
Cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (trong cùng phần trên) nói rằng thuật ngữ “dục” (kāma) có hai nghĩa:
- Dục phiền não (kilesa kāma)
- Dục căn (vatthu kāma) – (có tài liệu dịch là vật dục)
Cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ trong một phần khác có giải thích:
Gọi là dục phiền não bởi vì nó có tính khát ái và gọi là dục căn (vật dục) bởi vì nó là đối tượng khát ái bởi dục (phiền não).
Kilesa kāma hay dục phiền não chính là tham dục giới (chandarāga), là tâm sở tham (lobha cetasika), là pháp thích thú với đối tượng, hào hứng với đối tượng và dính mắc vào đối tượng. Vatthu kāma là các đối tượng làm cơ sở cho sự dính mắc hay khát ái đó, là cái được khát ái. Vatthu kāma bao gồm tam giới (ba cõi) nơi mỗi người có thể được tái sinh: cõi dục giới (kāmabhūmi); cõi sắc giới (rūpa bhūmi)[6] và cõi vô sắc giới (arūpa bhūmi)[7]. Chừng nào tâm tham vẫn còn chưa được tận diệt thì ta còn chưa thoát khỏi được luân hồi và như vậy, ta sẽ vẫn còn tái sinh vào trong một trong các cõi ấy. Chúng là dục căn (vatthu kāma), là đối tượng cho dục phiền não (kilesa kāma).
Những tâm dục giới (kāmāvacara citta) dính mắc vào đối tượng thị giác, âm thanh, mùi, vị và đối tượng xúc chạm, có tính chất dính chặt vào đối tượng, mặc dù đối tượng ấy chỉ xuất hiện trong chốc lát. Đối tượng thị giác chỉ xuất hiện trong một khoảnh khắc cực kỳ ngắn ngủi khi nó in dấu lên nhãn căn. Âm thanh xuất hiện cũng trong thời gian cực kỳ ngắn ngủi khi nó in dấu lên nhĩ căn. Cũng hệt như vậy với mùi, vị và đối tượng xúc chạm. Tất cả những pháp ấy đều được gọi là những pháp tiểu tốt (paritta dhamma) vì chúng xuất hiện chỉ trong một khoảnh khắc và rồi diệt đi ngay. Tuy nhiên tâm lại luôn dính mắc và bám chặt vào những pháp tiểu tốt đó. Vì những pháp này sinh và diệt tiếp nối lẫn nhau, chúng dường như trường tồn và không diệt đi.
Không có điểm dừng cho sự dính mắc vào ngũ dục, vào đối tượng thị giác (cảnh sắc), âm thanh, mùi, vị và đối tượng xúc chạm. Chúng ta mê đắm với đối tượng ấy và dính mắc vào chúng. Những đối tượng ấy diệt đi, nhưng chúng lại được thay thế; các sắc diệt đi lại được tiếp nối bởi những sắc mới. Chúng ta vô minh và lại tiếp tục dính mắc vào đối tượng thị giác, vào âm thanh, vào các đối tượng của ngũ quan khác thay thế đối tượng đã diệt đi và vì vậy luôn luôn có tham ái. Khi thấy cảnh sắc, chúng ta thích đối tượng ấy và muốn thấy lại nó. Khi nghe âm thanh ưa thích, chúng ta muốn nghe lại nó; cũng như vậy đối với mùi, vị và đối tượng xúc chạm mà chúng ta yêu thích. Khi ăn và thích một vị nào đó, chúng ta muốn ăn lại món đó và thưởng thức vị ấy lần nữa. Sự dính mắc vào các đối tượng ngũ dục sinh khởi hàng ngày, lần này qua lần khác. Dính mắc qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là bản chất của chúng ta.
Khi chúng ta thích cái ta nhìn thấy, chúng ta muốn thấy nó mãi, nhưng điều ấy là không thể. Tất cả các pháp hữu vi (saṅkhāra dhamma) đều sinh và diệt; đó là bản chất của chúng. Khi một vị ngon xuất hiện, có sự dính mắc qua thiệt căn (lưỡi) sinh khởi. Ở khoảnh khắc ấy, sự dính mắc qua mắt, tai, mũi và qua thân căn không thể sinh khởi. Khi mùi xuất hiện và sự dính mắc với mùi sinh khởi, sẽ không có sự dính mắc qua mắt, tai, lưỡi và qua thân căn, vì chỉ có một tâm sinh khởi ở một thời điểm. Sẽ không thể có hai tâm sinh khởi ở cùng một thời điểm. Tất cả chúng ta dính mắc vào những đối tượng xuất hiện đan xen nhau qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý môn. Chúng ta không chỉ dính mắc vào màu vào âm thanh hay một trong những đối tượng của ngũ quan khác, mà dính mắc vào tất cả những đối tượng ấy. Lý do là bởi sự dính mắc vào tất cả những đối tượng ngũ quan đã được tích lũy một cách liên tục suốt từ trong quá khứ cho đến hiện tại, và vẫn còn được tích lũy tới tương lai.
Như vậy, tâm dục giới sẽ “đi đến”, sẽ lui tới với các đối tượng thị giác, âm thanh, mùi, vị và đối tượng xúc chạm; nó dính vào những đối tượng ấy, không thoát ly được khỏi chúng. Một số người muốn giải thoát khỏi đối tượng ngũ dục nói rằng, nhờ việc tạo phước thiện, họ muốn được tái sinh ở những cõi thiên giới. Tuy nhiên các cõi thiên giới cũng không thoát khỏi đối tượng của ngũ dục, mà các đối tượng này chỉ vi tế hơn các đối tượng ở cõi người.
Từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, khi nào tâm vẫn còn chưa đạt đến mức độ an tịnh của an chỉ định (appanā samādhi), khi ấy tâm chưa phải là tâm thiền (jhānacitta) và khi tâm không phải là tâm siêu thế (lokuttara citta), thì tâm sẽ là tâm dục giới (kāmāvacara citta). Dù chúng ta đang ngủ hay đang thức, dù đang thấy, nghe, ngửi, nếm, kinh nghiệm đối tượng xúc chạm hay suy nghĩ về những đối tượng khác nhau, ở tất cả những khoảnh khắc ấy, đều không một chúng sinh nào kinh nghiệm đối tượng, không có con người, không có tự ngã. Chỉ có các tâm thuộc cõi dục, các tâm dục giới đang kinh nghiệm đối tượng mà thôi.
Một người chưa phải là một vị Thánh Bất lai (Anāgāmī, tức là người đạt được quả vị thứ ba của sự giác ngộ), hay một vị A la hán, thì vẫn còn dính mắc vào đối tượng thị giác, âm thanh, mùi, vị và đối tượng xúc chạm. Điều ấy chứng tỏ tận diệt được sự dính mắc các đối tượng ngũ dục xuất hiện qua sáu cửa giác quan khó đến nhường nào. Kể cả khi một người đã vun bồi sự an tịnh tới mức độ đắc thiền và được tái sinh ở cõi Phạm thiên[8], sự dính mắc với các đối tượng ngũ dục vẫn chưa hoàn toàn được tận diệt. Nếu như người ấy chưa phải là một vị Thánh Bất lai (Anāgāmī), vị ấy sẽ vẫn còn tiếp tục tái sinh, quay về với cuộc sống của sự dính mắc với cảnh sắc và với các đối tượng ngũ dục khác xuất hiện qua sáu cửa giác quan.Vì vậy chúng ta không nên lơ là với phiền não. Chúng ta cần phải hiểu thực tại như chúng là; chúng ta cần phải hiểu nguyên nhân gì mang đến kết quả gì. Khi ấy chúng ta có thể phát triển hiểu biết đúng về con đường Bát Chánh Đạo, con đường có thể tận diệt phiền não một cách hoàn toàn.
Tâm dục giới là tên gọi cho những tâm liên quan đến các pháp thuộc cõi dục giới (kāmāvacara dhamma). Cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī) §61 – 62 có giải thích rằng các cõi của các pháp dục giới bao hàm từ những cõi thấp nhất là cõi A tì địa ngục (avīci), đến cõi dục cao nhất, gọi là cõi Tha hóa tự tại thiên (paranimmita vasavatti deva) (là cõi của chư thiên có năng lực lực sáng tạo ra các vị khác). Trong tất cả các cõi kể trên đều có các đối tượng ngũ dục.
Thuật ngữ “vatthu kāma” là “cơ sở của dục” (dục căn), theo cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ, có nghĩa bao hàm rộng hơn đối tượng thị giác, âm thanh, mùi, vị và đối tượng xúc chạm. Bất cứ pháp nào là cơ sở cho tham ái thì đều là cơ sở của dục. Tâm sở tham (lobha cetasika) là một thực tại có tính chất dính mắc, nó dính mắc vào tất cả, ngoại trừ pháp siêu thế (lokuttara dhamma)[9]. Tham (lobha) dính mắc vào các cõi phạm thiên sắc giới và phạm thiên vô sắc giới. Như vậy những cõi đó cũng là cơ sở của dục. Tất cả các pháp ngoài pháp siêu thế (lokuttara dhamma) đều là cơ sở của dục và là cơ sở của tham ái.
Cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (§61-63) sử dụng một vài phương pháp để giải thích ý nghĩa của “tâm dục giới” (kāmāvacara citta). Theo luận giải thứ nhất, tâm dục giới là tâm thuộc cõi dục, nó không thoát ly khỏi dục (kāma). Theo luận giải thứ hai, tâm dục giới là tâm lui tới, “đi đến” các cõi dục giới. Chúng bao gồm: bốn cõi khổ (ác đạo)[10], cõi người và sáu cõi thiên giới. Theo luận giải thứ ba, tâm dục giới được gọi như vậy vì nó hướng tới, qua lại các đối tượng dục giới như thị giác, âm thanh, mùi, vị, hay đối tượng xúc chạm. Vì các tâm ấy kinh nghiệm các đối tượng ngũ dục này, chúng được gọi là tâm dục giới.
Thật dễ hiểu rằng tâm dục giới là các tâm liên quan đến những đối tượng ngũ dục, tức là cảnh sắc và các đối tượng ngũ dục khác.
Câu hỏi: Một vị A la hán có tâm dục giới (kāmāvacara citta) hay không?
Trả lời: Có. Khi vị A la hán thấy một đối tượng thị giác xuất hiện qua mắt thì tâm thấy đó được gọi là tâm dục giới bởi vì đối tượng thị giác là một đối tượng ngũ dục. Bất cứ khi nào tâm kinh nghiệm đối tượng thị giác và các đối tượng ngũ dục khác thì tâm là tâm dục giới. Dù rằng đó là tâm của một vị Phật, một vị A la hán đệ tử hay bất cứ người nào.
Theo cách luận giải thứ tư, tâm là tâm dục giới bởi vì nó tạo nên sự tái sinh ở các cõi dục giới, bao gồm bốn cõi khổ, cõi người và sáu cõi thiên giới.
Tất cả chúng ta đều đang ở cõi người, bởi vì tâm thiện dục giới (kāmāvacara kusala citta) đã duyên cho tâm quả dục giới (kāmāvacara vipākacitta) đảm nhận chức năng tái sinh ở cõi người, là cõi thuộc dục giới.
Một người có thể phát triển samatha tới mức độ an chỉ định và đắc được các tầng thiền sắc giới và vô sắc giới. Nếu người ấy không đánh mất kỹ năng đắc thiền và tâm thiền (jhānacitta) sinh khởi ngay trước tử thức thì tâm thiền sẽ không tạo duyên cho sự tái sinh ở cõi này, mà sẽ tạo duyên cho sự tái sinh ở cõi phạm thiên sắc giới hay phạm thiên vô sắc giới, tùy thuộc vào mức độ của tầng thiền đã đắc. Tái sinh làm người là kết quả của tâm thiện dục giới đã tạo nên các phước thiện như bố thí, trì giới, phát triển samatha hay vipassanā. Tất cả các thiện pháp này được tạo bởi tâm thiện thuộc dục giới, tức tâm chưa thoát khỏi cõi dục và khi ấy nó sẽ cho quả là tái sinh ở cõi dục giới.
Thuật ngữ “bhūmi” mà chúng ta vẫn thường dịch là “cõi” có hai nghĩa: cõi thức và cõi trú xứ. Theo nghĩa thứ nhất, “bhūmi” chỉ đến tâm làm cơ sở cho các pháp tương hợp (sampayutta dhamma), tất cả các tâm sở sinh khởi cùng với tâm. Như chúng ta đã thấy, chúng ta có thể phân loại tâm theo bốn cõi thức, bao gồm: tâm thuộc dục giới (kāmāvacara citta); sắc giới (rūpa-jhānacitta), vô sắc giới (arūpa-jhānacitta) và tâm siêu thế (lokuttara citta). Còn nghĩa thứ hai của từ “cõi” (bhūmi) là để chỉ các cõi như một nơi chốn, nơi chúng sinh được tái sinh vào. Cõi người là một cõi mà chúng ta đã sinh ra. Đó chỉ là một cõi trong 31 cõi khác nhau.
Tâm muôn màu muôn vẻ. Có nhiều loại tâm khác nhau, bản thân các tâm thuộc cùng một loại cũng đa dạng. Tâm thiện dục giới (kāmāvacara kusala citta) sinh khởi rất đa dạng, tương ứng với sự khác biệt về mức độ của tín (saddhā – niềm tin vào thiện pháp), của tuệ (paññā) và các tâm sở đồng sinh khác. Có rất nhiều sự kết hợp khác nhau của các tâm sở đồng sinh. Vì vậy kết quả là sự tái sinh ở các cõi lành khác nhau, chứ không phải chỉ ở cõi người. Bởi tâm muôn màu vẻ như vậy nên các cõi nơi tâm sinh khởi cũng rất đa dạng.
Khi chúng ta tạo một nghiệp bất thiện, có thể thấy rằng có nhiều mức độ khác nhau, có khi chúng ở mức độ nghiêm trọng, có khi lại ở mức độ ít nghiêm trọng hơn. Đôi khi có thể có rất nhiều sân hận và thù hằn, đôi khi sự sân hận không đáng kể. Đôi khi ta không cần cố gắng nhiều để giết hay làm tổn thương một chúng sinh khác; tác ý sát sinh có thể không mạnh lắm và khi đó, chỉ các chúng sinh nhỏ mới có thể bị chết do nỗ lực sát sinh ấy. Vì các nghiệp bất thiện được tạo bởi các tâm sinh kèm với các tâm sở khác nhau có cường độ khác nhau nên chúng cho quả khác nhau dưới hình thức của các tâm quả đảm nhận chức năng tái sinh ở bốn cõi ác đạo khác nhau. Vì cả nghiệp thiện và nghiệp bất thiện đều đa dạng, tạo nên các kết quả đa dạng, vì vậy phải có nhiều cõi khác nhau cho sự tái sinh. Ngoài cõi người còn có những cõi khác nữa.
********
Câu hỏi
- Dục phiền não (kilesa kāma) và dục căn (vatthu kāma) khác nhau như thế nào?
- Ý nghĩa của pháp tiểu tốt (paritta dhamma) là gì?
- Đức Phật có các tâm dục giới hay không?
- Các ý nghĩa của từ “bhūmi”là gì?
[1] “Avacara” có nghĩa là “đi đến”, “lui tới”.
[2] Bao gồm 12 tâm bất thiện (akusala citta), 8 tâm thiện (kusala citta), 8 tâm quả đại thiện (Mahā vipākacitta), 8 tâm đại duy tác (của vị A la hán) (Mahā kiriyacitta). Ngoài ra trong đó còn có 18 tâm quả vô nhân (ahetuka vipākacitta) gồm ngũ song thức, hai tiếp nhận tâm và ba suy đạt tâm, hai tâm duy tác vô nhân (ngũ môn hướng tâm và ý môn hướng tâm) và tiếu sinh tâm của vị A la hán.
[3] Tương ứng với mỗi tầng thiền trong năm tầng thiền sắc giới sẽ có một tâm thiện sắc giới (rūpāvacara kusala citta), một tâm quả (vipākacitta) và một tâm duy tác (kiriya citta).
[4] Tương ứng với mỗi tầng thiền trong bốn tầng thiền vô sắc giới sẽ có một tâm thiện vô sắc giới (arūpāvacara kusala citta), một tâm quả (vipākacitta) và một tâm duy tác (kiriya citta).
[5] Tương ứng với mỗi giai đoạn trong bốn giai đoạn giác ngộ sẽ có một tâm đạo (magga-citta), một tâm quả của nó (phala citta).
[6] Tái sinh ở những cõi này là quả của tầng thiền sắc giới.
[7] Tái sinh ở những cõi này là quả của tầng thiền vô sắc giới.
[8] Tái sinh ở cõi Phạm thiên sắc giới là kết quả của tầng thiền sắc giới, và tái sinh ở cõi Phạm thiên vô sắc giới là kết quả của tầng thiền vô sắc giới.
[9] Niết bàn và các tâm siêu thế kinh nghiệm Niết bàn không thể là đối tượng của dính mắc.
[10] Cõi địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ và cõi a-tu-la.
cõi dục giới, danh pháp, niết bàn, pháp chân đế, sắc pháp, sujin, tâm, tâm sở
Khảo cứu Pháp chân đế – CHƯƠNG 16: TÂM VÀ TÂM SỞ (CITTA VÀ CETASIKA)
CHƯƠNG 16. TÂM VÀ TÂM SỞ (CITTA VÀ CETASIKA)
Cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī) nói về một số khía cạnh của tâm (citta) như sau:
- Được gọi là tâm vì nó biết rõ đối tượng.
- Được gọi là tâm vì nó được tích lũy do năng lực của các tốc hành tâm trong lộ trình.
- Được gọi là tâm vì nó là pháp tích lũy quả của nghiệp và các phiền não.
- Được gọi là tâm vì nó muôn màu muôn vẻ (vicitta) tương ứng với các bối cảnh và bởi các pháp đồng sinh.
Nói các tâm muôn màu muôn vẻ có nghĩa là tất cả các tâm đều khác biệt. Chúng muôn màu vẻ là nhờ các pháp đồng sinh. Tâm là pháp hữu vi, nó sinh khởi do duyên và những sự kết hợp khác nhau của các tâm sở chi phối nó. Tâm sở là một loại pháp chân đế khác, nó sinh khởi và diệt đi cùng với tâm, kinh nghiệm cùng đối tượng với tâm và sinh khởi tại cùng căn với tâm. Vì vậy chính các tâm sở là các pháp đồng sinh với tâm là duyên khiến cho tâm đa dạng.
Tâm của một người này hoàn toàn khác với tâm của một người kia. Những nghiệp khác nhau trong quá khứ tạo duyên cho quả trong hiện tại, quả này khác nhau với những người khác nhau. Loài thú và loài người trong thế giới này hoàn toàn dị biệt bởi sự đa dạng của nhân, của nghiệp. Hình thức bề ngoài và các đặc điểm thân thể của các chúng sinh rất khác biệt và cũng vậy, họ kinh nghiệm những ngọn gió đời của được – mất, vinh – nhục; hạnh phúc – khổ đau, lời khen – tiếng chê không giống nhau. Tất cả những yếu tố này là quả, sinh khởi bởi những nhân khác nhau trong quá khứ. Quá khứ tạo duyên cho quả hiện tại khác nhau với những người khác nhau từ khi sinh ra cho đến khi chết đi. Chúng ta không thể biết vào ngày nào và vào khoảnh khắc nào chúng ta sẽ rời xa thế giới này. Không ai có thể nói mình sẽ chết trong tình huống nào, ở trong nhà hay ngoài đường, trên mặt đất, ở trong nước hay trên không, do bệnh tật hay do tai nạn. Tất cả đều phụ thuộc vào nghiệp đã được tạo trong quá khứ. Không chỉ những tâm quả (vipākacitta) trong hiện tại mới muôn màu vẻ, mà những tâm là nhân trong hiện tại, tức là những tâm thiện và bất thiện cũng rất đa dạng. Đó chính là duyên khiến quả sinh khởi trong tương lai cũng rất đa dạng.
Sự đa dạng của các tâm là vô tận. Chúng đa dạng bởi những tâm sở đồng sinh với tâm, được gọi là các pháp tương hợp (sampayutta dhamma). Chúng ta nên biết nghĩa của “các pháp tương hợp”. Có bốn loại pháp chân đế: tâm, tâm sở, sắc pháp và niết bàn. Tâm và tâm sở luôn sinh khởi cùng nhau, chúng không thể tách rời nhau, không thể chia tách khỏi nhau. Chúng đồng sinh và đồng diệt. Chúng cũng có cùng chung đối tượng (cảnh), cùng căn, cùng xuất xứ, ở trong những cõi có ngũ uẩn, tức là danh và sắc. Đó là những tính chất đặc trưng của các pháp tương hợp (sampayutta dhamma).
Đặc tính của các pháp tương hợp, tâm và tâm sở đã được giải thích một cách chi tiết để chúng ta có thể hiểu rằng danh hoàn toàn khác biệt với sắc. Khi chúng ta nghe và nghiên cứu Giáo lý, có sự tích lũy các duyên (dưới dạng hành uẩn)[1] cho sự sinh khởi của chánh niệm (sati) và trí tuệ (paññā). Như vậy, chánh niệm của tứ niệm xứ (satipaṭṭhāna) sẽ thẩm xét và hay biết đặc tính của danh và sắc, một thứ tại một thời điểm, cho đến khi chúng xuất hiện một cách rõ ràng, tách biệt, không hòa trộn (tương hợp – sampayutta) mặc dầu chúng có thể sinh khởi ở cùng một lúc.
Cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī – Quyển I, Phần II, Chương I, §70; ấn bản 1976) giải thích như sau:
“…Bởi vì [các sắc pháp và phi sắc pháp (danh pháp)] được tạo ra cùng nhau, [sắc sinh khởi cùng danh], nhưng không tương hợp hoặc gắn kết với nhau. Tương tự như vậy đối với [phi sắc] với [sắc] và [sắc] với [sắc]. Nhưng [phi sắc] thì luôn đi kèm, cùng tồn tại, tương hợp và gắn kết với [phi sắc]…”
Như vậy, tương hợp là một đặc tính riêng chỉ có ở danh, ở các tâm và tâm sở đồng sinh, đồng diệt và đồng cảnh. Sắc hoàn toàn khác biệt với danh. Sắc không phải là pháp kinh nghiệm đối tượng. Mặc dù các sắc sinh và diệt cùng nhau nhưng chúng không phải là các pháp tương hợp. Các thực tại là những pháp tương hợp chỉ có thể là danh pháp, là các yếu tố (giới – dhātu) kinh nghiệm cái gì đó. Chúng gắn kết với nhau bởi chúng đồng sinh ở một căn, kinh nghiệm đồng cảnh và diệt đồng thời.
Trong cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (§63) có nói về khía cạnh thứ tư của tâm, rằng mỗi tâm có một màu vẻ, tùy theo hoàn cảnh, do bởi các pháp tương hợp (sampayutta dhamma).
Có tất cả 52 loại tâm sở, nhưng không phải tất cả những tâm sở ấy luôn sinh khởi với mọi tâm. Các tâm khác biệt bởi số lượng cũng như số loại tâm sở sinh kèm với chúng. Điều ấy tùy thuộc vào loại tâm và vào tính chất (chủng loại) của tâm mà các tâm sở đi kèm. 89 loại tâm sinh khởi khác nhau về tính chất (chủng loại), chúng có thể là thiện (kusala), bất thiện (akusala), quả (vipāka) hay duy tác (kiriya), một trong bốn loại chủng loại này. Sự phân loại của tâm theo chủng loại là theo tính chất của tâm. Tâm có tính chất thiện không thể là gì khác mà chỉ có thể là thiện, bất kể nó sinh khởi nơi ai, khi nào và ở đâu. Tâm có tính chất bất thiện không thể là cái gì khác, mà chỉ có thể là bất thiện, bất kể sinh khởi ở nơi ai. Bất thiện là bất thiện, bất kể ta là một vị tỳ kheo hay cư sĩ, bất kể địa vị, chủng tộc hay màu da. Tính chất của tâm không thể nào thay đổi, bởi vì tâm là một pháp chân đế, là một thực tại tuyệt đối. Khi các pháp tương hợp – tức các tâm sở – là bất thiện, tâm là bất thiện. Khi các pháp tương hợp là tịnh hảo (sobhana), tâm có thể là thiện (kusala), là quả thiện (kusala vipāka), hay duy tác tịnh hảo (sobhana kiriyacitta – của những vị Alahat), tương ứng với mỗi chủng loại của tâm ấy[2].
Trong cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī – Quyển I, phần IV, Chương II, §142, 1976) nói rằng Đức Phật đã hoàn tất một công việc khó khăn, đó là phân loại các tâm và tâm sở, định danh và đặt tên cho chúng. Cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ đã sử dụng một ẩn dụ để minh họa cho điều này như sau:
“…Thật vậy, bằng cách thấy, ngửi, hay nếm, người ta có thể phát hiện ra được sự khác biệt về màu sắc, mùi và vị của nhiều loại nước hay nhiều loại dầu, được đặt trong một cái chum và bị khuấy đều cả ngày, nhưng người ta vẫn gọi đây là một nhiệm vụ khó khăn. Nhưng một việc còn khó khăn hơn thế nữa đã được đấng Thế Tôn hoàn tất: sau khi đã phân loại từng tâm và tâm sở sinh khởi [do bởi] một đối tượng, Ngài đã định danh cho các [danh pháp] (nāma dhamma)…”
Danh phức hợp và vi tế hơn sắc, nhưng với mỗi loại danh, Đức Phật cũng đã định danh bốn nét đặc trưng khác nhau:
- Đặc tính
- Chức năng (Phận sự)
- Biểu hiện
- Nhân gần (cận nhân)
Tâm là yếu tố dẫn đầu, là “người lãnh đạo” trong việc nhận biết đối tượng. Cuốn Chú Giải Bộ Pháp Tụ (Quyển I, Phần VIII, Chương I, §214) nói rằng tâm là cõi (bhūmi). Đó là mảnh đất, hay cái nôi cho các tâm sở đồng sinh lệ thuộc vào. Nếu không có tâm, sẽ không thể có tâm sở là thọ hỷ, vì sẽ không có gì làm nền tảng cho nó. Bất cứ khi nào thọ hỷ sinh khởi, tâm là nền tảng cho thọ đồng sinh với nó lệ thuộc vào. Như vậy, tâm là nền tảng dựa vào đó các pháp tương hợp (sampayutta dhamma), thọ hỷ hay các tâm sở đồng sinh lệ thuộc vào.
Như chúng ta đã thấy tâm có thể được phân loại theo bốn chủng loại: bất thiện (akusala), thiện (kusala), quả (vipāka) và duy tác (kiriya). Bất kể nói đến loại tâm nào thì ta cũng cần biết loại chủng loại của tâm đó là gì. Vipāka là quả của nghiệp và vì có nghiệp thiện và nghiệp bất thiện nên cũng phải có quả thiện (kusala vipāka) và quả bất thiện (akusala vipāka).
Khi nói đến kết quả của nghiệp bất thiện, ta cần phải gọi nó là quả bất thiện và không nên nói vắn tắt là bất thiện (akusala). Tâm quả bất thiện (akusala vipākacitta) là kết quả của nghiệp bất thiện, nó không cùng chủng loại với [tâm] bất thiện, và quả thiện là kết quả của nghiệp thiện, nó không cùng chủng loại với [tâm] thiện.
Tâm duy tác lại là một loại tâm khác, nó không phải là thiện, bất thiện hay quả. Nó là tâm sinh khởi bởi những duyên hệ khác với duyên nghiệp (kamma-paccaya). Nó không phải là kết quả. Nó cũng không phải là nhân có thể tạo duyên cho sự sinh khởi của quả. Các vị A la hán có tâm duy tác thay cho các tâm thiện và bất thiện bởi vị ấy không còn duyên cho thiện và bất thiện. Đối với vị ấy chỉ còn có tâm quả là quả của nghiệp quá khứ và tâm duy tác.
Đức Phật không chỉ phân loại tâm và các tâm sở theo bốn chủng loại – thiện, bất thiện, quả và duy tác, Ngài còn sử dụng những cách phân loại khác nữa. Ngài phân chia các pháp thành ba loại (Chú Giải Bộ Pháp Tụ, Quyển I, Phần I, Mẫu đề, Chương I, Mẫu đề Tam, §39) như sau:
- Pháp thiện (kusala dhamma)
- Pháp bất thiện (akusala dhamma)
- Pháp vô ký (bất định) (avyākata dhamma).
Tất cả những pháp chân đế không phải là pháp thiện hoặc bất thiện thì là pháp vô ký (avyākata dhamma)[3]. Như vậy khi tâm và tâm sở được phân loại theo Tam đề thì các tâm và tâm sở là pháp vô ký bao gồm: các tâm và các tâm sở là quả; các tâm và các tâm sở là duy tác. Cả bốn pháp chân đế là tâm (citta), tâm sở (cetasika); sắc (rūpa), niết bàn (nibbāna) có thể được phân loại theo Tam đề bao gồm các pháp thiện, pháp bất thiện và pháp vô ký. Như vậy bốn pháp chân đế được phân loại như sau:
- Tâm và tâm sở thiện: pháp thiện
- Tâm và tâm sở bất thiện: pháp bất thiện
- Tâm và tâm sở quả: pháp vô ký
- Tâm và tâm sở duy tác: pháp vô ký
- Tất cả các sắc: pháp vô ký
- Niết bàn (nibbāna): pháp vô ký.
********
Câu hỏi
- Sắc có thể là pháp tương hợp (sampayutta dhamma) với danh không?
- Sắc có thể là pháp tương hợp với sắc không?
- Màu xuất hiện qua mắt là pháp thiện hay pháp bất định? Hãy giải thích lý do.
- Nhãn thức là pháp thiện, pháp bất thiện, hay pháp bất định? Hãy giải thích lý do.
- Niết bàn có thể là pháp thiện không?
- Tâm nào không có tính chất (chủng loại)?
- Tâm có thể là pháp tương hợp với pháp nào và khi nào?
- Một loại tâm có thể là pháp tương hợp với một loại tâm khác không?
- Pháp bất thiện có thể là pháp tương hợp với pháp bất thiện không?
Niết bàn có thể là pháp tương hợp với pháp nào?
[1] Cùng với tổng hợp các phẩm chất thiện khác cùng nằm trong hành uẩn.
[2] Các tâm sở tịnh hảo (Sobhana cetasika) là các phẩm chất thiện có thể đi kèm với các tâm thuộc 3 loại jāti (trừ tâm bất thiện). Sẽ có các chi tiết giải thích kỹ hơn về thuật ngữ tịnh hảo về sau.
[3] “Avyākata” có nghĩa là “không tuyên thuyết” (vô ký). Chúng không được “tuyên thuyết” là thiện hay bất thiện.
cetasika, citta, danh pháp, niết bàn, sắc pháp, sujin, tâm, tâm sở