Pháp đàm chiều ngày 07-09-2013 tại Vũng tàu
16/ Pháp đàm buổi chiều ngày 07/09/2013 tại Vũng tàu.
Học viên 21: Hôm qua Achaan có hỏi một người thế nào là thiền, người đó đã trả lời rằng thiền là chánh niệm về mọi thứ sinh khởi trong hiện tại. Dường như câu trả lời ấy chưa đủ, chưa thỏa đáng. Vậy mong bà hãy giải thích thêm.
Achaan: Tôi nghĩ rằng khi hiểu biết chưa đủ, ta không biết chánh niệm và thực tại thực sự là gì. Hiện giờ thực tại đã sinh và diệt do duyên, vì vậy ta không thể làm gì nữa về nó ngoài việc phát triển hiểu biết dần dần. Tham ái luôn muốn biết, nhưng chính ham muốn ấy che lấp sự thật. Tham ái bắt nguồn từ vô minh. Khi còn vô minh, sẽ vẫn còn dính mắc và sẽ không có hiểu biết đúng, vậy hãy tạm quên đi về thiền và kết quả, hãy nghĩ về những gì đang xảy ra trong hiện tại. Bây giờ đang có các thực tại sinh khởi nhưng ta không hiểu về nó. Vậy làm sao có thể hiểu được chúng ngoài việc nghe thêm từng chút, từng chút một. Vì vậy nghe Pháp rất quan trọng. Nếu chúng ta không nghe, không học để dần hiểu thì sẽ chỉ là suy nghĩ của bản thân thôi. Khi chỉ muốn biết, khi ấy không có hiểu.
Học viên 21: Vậy tại khoảnh khắc của mong muốn được biết, thì có dính mắc và đó là khoảnh khắc của không hiểu biết?
Achaan: Đó là sự dính mắc với vô minh. Và vô minh thì không hiểu được gì cả.
Học viên 13: Vậy tôi hiểu rằng thiền là một trạng thái mà ở đó có cái hiểu về các thực tại, chứ bản thân nó cũng là một thực tại, cũng là vô ngã và không ai có thể chủ động “thiền” được?
Achaan: Ai hiểu được cái thấy bây giờ như nó là? Vô minh và dính mắc thì không thể hiểu được. Tuy nhiên với việc nghe và suy xét, có sự bắt đầu của hiểu biết, bản thân điều ấy cũng đã do duyên rồi, vậy liệu có thể đặt câu hỏi “làm thế nào?”, vì có ai có thể làm pháp ấy sinh khởi bằng ý chí không? Suy nghĩ của chúng ta bây giờ thì cũng là do duyên, làm sao có cách nào để thay đổi được các pháp ấy? Tất cả mọi thứ đều là do duyên, sinh khởi và diệt đi. Cái gì còn lại? Tất cả đều đã trôi qua rồi. Thường là các pháp trôi qua với rất ít hiểu biết hoặc là không có hiểu biết gì cả. Để phát triển hiểu biết, phải bắt đầu từ chính thời điểm này, từ chỗ không hiểu một chút nào đến hiểu hơn một ít. Mức độ trí tuệ hiện giờ chưa thể là kinh nghiệm trực tiếp về thực tại được. Nó chỉ có thể đang ở giai đoạn nghe và hiểu kỹ hơn một chút. Trí tuệ không phải là “ta”, không phải là ai cả. Thấy là thấy, nghe là nghe. Mỗi thực tại này đều không phải là ngã, không có ai trong đó cả.
Một khi cái hiểu thực sự đã sinh khởi, nó sẽ rất vững vàng, sẽ không có sự quay lưng với thực tại hiện giờ để tìm kiếm gì khác. Đó chính là sacca ñāṇa (Trí hiểu Thánh đế). Sacca có nghĩa là đế hay sự thực, ñāṇa có nghĩa là hiểu biết hay trí tuệ. Sacca ñāṇa là hiểu biết một cách đúng đắn và vững vàng về sự thực hiện giờ. Nói đến sacca ñāṇa là nói đến hiểu biết về Tứ thánh đế: sacca ñāṇa của Thánh đế thứ nhất là hiểu biết về sự sinh khởi và diệt đi của thực tại hiện giờ, và nó phài là bây giờ. Sacca ñāṇa chưa phải là mức độ của kicca ñāṇa (Trí hiểu phận sự của Thánh đế) – cái là khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp về thực tại. Ba thuật ngữ, sacca ñāṇa, kicca ñāṇa và kata ñāṇa (Trí hiểu sự hoàn tất Thánh đế) là một cách khác để nói về ba cấp độ pháp học, pháp hành, pháp thành. Mọi người dễ nhầm lẫn rằng pháp học thì là học thuộc lòng và không có trí tuệ, chỉ là nắm được những con số, từ ngữ, v.v. Nắm được số lượng tâm, tâm sở không phải là hiểu biết về mặt lý thuyết, nhưng dường như chúng ta nghĩ rằng đó là hiểu biết về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, nếu không có cái hiểu thực sự thì không có pháp học ở đó. Pháp học- sacca ñāṇa là hiểu biết về sự thực một cách vững vàng, như vậy pháp học không có nghĩa là đọc mà không có hiểu biết đúng về các thực tại đang sinh khởi hiện giờ, toàn bộ pháp học đều liên quan đến thực tại ở chính ngay khoảnh khắc này. Hiểu biết ở mức độ pháp học phải được thiết lập một cách vững chãi để không còn nghiên cứu gì khác ngoài khoảnh khắc này, là cái mà chúng ta đang nghiên cứu. Nếu không có sự nghiên cứu về khoảnh khắc hiện tại thì chúng ta sẽ nghiên cứu khoảnh khắc nào khác đây? Pháp học là sacca ñāṇa khi nó trở nên rất kiên cố, không còn thay đổi nữa. Sacca ñāṇa sẽ tạo duyên cho kicca ñāṇa hay pháp hành (patipati) sinh khởi, kicca có nghĩa là chức năng, phận sự, và là chức năng của hiểu biết ở mức độ cao hơn. Ở đó, không còn là hiểu biết về ngôn từ hay con số. Ở khoảnh khắc của cái thấy thì có cái hiểu đúng về cái thấy, hoàn toàn không còn ý niệm nào khác. Cũng như vậy với cái nghe ở khoảnh khắc mà cái nghe xuất hiện. Trí tuệ bắt đầu hiểu về khoảnh khắc cái thấy rằng chỉ có cái thấy, về cái nghe rằng chỉ có cái nghe. Và chúng ta bắt đầu hiểu rằng trong một ngày chỉ có các thực tại. Đây chính là con đường phát triển hiểu biết, bắt đầu từ việc nghe và nghiên cứu về thực tại.
Học viên 22: Con vẫn chưa hiểu rõ về pháp học, nếu như mình đọc những thứ đó thì làm sao mình có được niềm tin chắc chắn rằng những thứ đó là đúng, bởi vì nếu mình không có kinh nghiệm qua thì liệu đó có phải là một niềm tin mù quáng không?
Achaan: Ở khoảnh khắc nghe Pháp và có sự suy xét về điều được nghe thì không phải là niềm tin mù quáng. Nếu một lời thuyết giảng không tạo duyên cho hiểu biết về thực tại, đó sẽ là niềm tin mù quáng. Ta sẽ biết được đâu là Giáo lý của Đức Phật và đâu không phải là Giáo lý của Đức Phật. Giáo lý của Đức Phật dạy cho chúng ta về những gì xuất hiện hiện giờ. Những gì đang xuất hiện không thuộc về ai và không nằm trong sự kiểm soát của ai cả, hoàn toàn thoát khỏi suy nghĩ “tôi có thể làm”. Kể cả những khoảnh khắc như vậy hay những khoảnh khắc khác thì đều là những khoảnh khắc do duyên tạo ra mà thôi, cũng như thấy, nghe hay bất cứ thực tại nào khác. Vậy hãy học để hiểu về các thực tại là vô ngã. Hiểu biết này sẽ tiếp tục phát triển.và khi nó phát triển như vậy, sẽ bớt sự vô minh về những gì xuất hiện hiện giờ. Vậy hãy quên “thiền” đi, nếu không thực sự hiểu thiền là gì về bản chất. Đó phải là cái hiểu về thực tại hiện giờ, nếu không phải là cái hiểu về thực tại hiện giờ thì liệu “thiền” có hữu ích gì không?
HV 22: Con thấy học Vi diệu pháp về tâm và tâm sở rất xa vời, để có niềm tin vào nó thì rất là khó. Con muốn hỏi, học Vi diệu pháp có tác dụng là giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn rằng thực tại này là vô ngã phải không?
Achaan: Chỉ nói về tâm mà không có cái hiểu, ý bạn là vậy đúng không? Thế còn về khoảnh khắc của cái thấy? Có thể có cái hiểu là ở khoảnh khắc này đang có cái thấy không? Nếu như không có các duyên tương ứng thì cái thấy có thể sinh khởi không? Khi ta không có nhãn căn, liệu có thể có cái thấy sinh khởi không? Khi ta ngủ say và không có sự tiếp xúc giữa nhãn căn với đối tượng thị giác, liệu có thể có cái thấy sinh khởi không? Ta đang ngủ say và đột nhiên có âm thanh xuất hiện. Nếu có cái hiểu, điều ấy là do duyên. Hiểu biết ấy sẽ tiếp tục làm duyên cho những hiểu biết khác cho đến khi trở thành vipassana ñāṇa (minh sát tuệ) hiểu bất cứ cái gì xuất hiện chỉ là do duyên mà thôi. Hiểu biết sẽ tiến triển như vậy, không có ý niệm về ngã và rồi lại có ý niệm về ngã. Đó là sự khởi đầu của phát triển hiểu biết.
Nếu chúng ta không dùng những từ như “tâm, tâm sở” thì làm thế nào để hiểu cái đang xuất hiện bây giờ? Chính vì vậy Đức Phật đã thuyết giảng bằng tiếng Ma kiệt đà cho những người hiểu ngôn ngữ ấy. Nhưng dù bằng bất cứ ngôn ngữ nào thì điều mà Đức Phật giảng đều có thể được hiểu, chứ không phải rằng nhãn thức chỉ có trong tiếng Pali là cakkhuvinnana. Hiện giờ đang có cái thấy, chúng ta không cần phải dùng đến từ nào cả, nó có thể thấy mọi thứ ở mọi nơi mà không cần đến ai phải nói tên nó ra. Nhưng vì có nhiều loại thực tại kinh nghiệm thế giới, cho nên chúng ta phải dùng từ để phân loại chúng để thuận tiện cho giao tiếp, để cho những thực tại ấy có thể được phân biệt. Cái mà chúng ta đang nói tới là cái thấy, ở khoảnh khắc của cái thấy, ta không nói về cái nghe mà chỉ có cái thấy mà thôi.
Sarah: Ta nói đến tín, đó là một loại tâm sở sinh khởi với tất cả tâm thiện, vậy ở khoảnh khắc của bố thí cũng có tín (sadha), khoảnh khắc của giữ giới cũng có tín. Hiện giờ chúng ta đang nghe về cái thấy, là thực tại xuất hiện ở khoảnh khắc này, dù hiện giờ mới chỉ là sự suy xét chân chánh chứ chưa phải là kinh nghiệm trực tiếp thì vẫn có tín ở những khoảnh khắc của thiện pháp đó, vì vậy ta không cần nghĩ đến việc là có niềm tin mù quáng bởi vì bất cứ khi nào là thiện thì đã có tín ở đó rồi.
Achaan: Bạn có muốn kinh nghiệm tín một cách trực tiếp hay không? Nếu như bạn có ý niệm rằng tôi muốn biết hay tôi muốn hiểu cái này cái kia thì là sai, lại quên rằng các thực tại là vô ngã một lần nữa, khi có suy nghĩ hiện giờ thì điều ấy cũng là do duyên rồi, như thế nào và tại sao cái thấy sinh khởi để thấy thì cũng là do duyên. Nếu không có duyên để tín xuất hiện như là đối tượng của chánh niệm, sẽ không thể nào cố để kinh nghiệm nó. Có rất nhiều thực tại hiện giờ chứ không chỉ có cái thấy, nhưng chỉ có thể có một thực tại xuất hiện tại một thời điểm của tâm hay biết mà thôi. Và chúng ta không nhất thiết phải dùng từ tín- bởi vì nó xuất hiện như là một thực tại có đặc tính riêng biệt, không phải là cái thấy, cái nghe, hay trí tuệ. Tuy vậy, nếu không có cái hiểu về các thực tại hiện giờ rằng chúng chỉ là pháp, sẽ không biết được cái gì là cái gì, sẽ vẫn chỉ là nghĩ về tên gọi hay về câu chuyện về các thực tại đó, chứ không phải là khoảnh khắc mà thực tại đó xuất hiện. Chẳng hạn hiện giờ đặc tính cứng đang xuất hiện, cũng giống như bình thường với những người không biết gì về pháp, nhưng có cái hiểu rằng đó là đặc tính của một thực tại, cũng giống như đối tượng thị giác hiện giờ là đặc tính của thực tại; và âm thanh cũng là thực tại khác có đặc tính chỉ có thể nhận biết bởi nhĩ thức mà thôi. Cuộc sống cứ tiếp diễn với những khoảnh khắc kinh nghiệm những thứ khác nhau ở những thời điểm khác nhau, không gì có thể mong đợi.
HV 22: Nhưng khi con đọc giáo lý và suy xét những cái đó, thì con vẫn có cảm giác là con đang cố gắng làm cái gì đó để hiểu về thực tại. Như vậy vẫn có ý tưởng về ngã ở trong đó, đúng không ạ?
Sarah: Ở những khoảnh khắc như vậy thì không có tín bởi vì đang có cố gắng để có một cái gì đó cho bản thân, ở khoảnh khắc đó nó là bất thiện, vì vậy không có tín ở đó, nhưng điều đó cũng không phải là một vấn đề bởi vì tham cũng là một thực tại và nó có thể được biết.
Jonathan: Tuy nhiên nếu biết và hiểu về sự dính mắc đó thì ở khoảnh khắc đó sẽ có thể là thiện, vì khi đó có sự trung thực về những thực tại thực sự đang xảy ra.
Achaan: Mục đích của việc đến đây để đàm đạo là gì đây? Để có thêm vô minh và dính mắc hay là có thêm hiểu biết và bớt đi sự dính mắc và vô minh? Điều ấy chỉ ra rằng không ai có thể tự mình nghĩ ra lý giải riêng về những gì đang xuất hiện. Như vậy ý nghĩa của nghiên cứu không phải đơn thuần là đọc, mà để suy xét xem hiện giờ có cái được nói đến không, nó có thể được biết hay không? Câu hỏi là liệu sự sinh và diệt của cái thấy hiện giờ có thể được kinh nghiệm một cách trực tiếp không? Nếu như không thể thì Đức Phật đã không trở thành Đức Phật rồi, những gì mà Đức Phật dạy đều là những lời chân lý. Những chân lý đó không bao giờ thay đổi, bởi vì tới từ sự giác ngộ của Đức Phật. Ngài có nói rằng Như Lai là người bạn tốt nhất cho tất cả mọi người, những gì Ngài dạy là món quà quý báu nhất cho tất cả, cái mà tiền bạc hay bất cứ thứ gì khác không thể mua được. Cần phải có sự quan tâm để học về sự thực của khoảnh khắc này.
Sarah: Đúng như một số bạn nói, nếu sử dụng Giáo lý như một chỉ dẫn về phương pháp, hướng dẫn kỹ thuật thì khi ấy có ý niệm về ngã, và khi ấy thì không có sadha – tín ở đó.
Học viên 23: Thưa Achaan, Giáo lý rất là nhiều và khó tiếp cận, vậy với kinh nghiệm học và dạy Giáo pháp trong nhiều năm, Achaan có lời khuyên nào cho các bạn trẻ trong việc tiếp cận giáo lý?
Achaan: Khi bạn nói Giáo lý rất là nhiều và khó tiếp cận thì bạn đang tán thán công đức của Đức Phật đó. Và bạn đang biết ơn những ba la mật mà Đức Phật đã tích lũy để có thể trở thành một bậc Chánh đẳng giác.
Tôi sẽ nói rằng nếu không có sự nghiên cứu thì ai có thể có được hiểu biết ấy, dù ở mức độ nào đi nữa. Hiểu đúng sẽ dẫn tới thêm hiểu biết về những gì đang xuất hiện hiện giờ. Cũng không nên chỉ nghe người khác nói với mình rằng “cái này là đúng”, mà sự tán đồng phải tới từ sự suy xét riêng của bạn. Ví dụ, thực tại đang xuất hiện hiện giờ, liệu nó có thể được kinh nghiệm trực tiếp hay không khi trí tuệ đã phát triển hơn? Cái gì đúng hơn, có thể hay không có thể thì đúng hơn?
Sarah: Nếu nói có thể thì nó không liên quan tới việc làm cái gì đó, mà liên quan đến hiểu cái đang xuất hiện hiện giờ. Phát triển cái hiểu ở chính khoảnh khắc này là con đường để dẫn tới hiểu biết trong tương lai. Nếu điều ấy là không thể thì Đức Phật đã không dạy chúng ta điều ấy rồi. Nhưng nếu ta nghĩ rằng cần phải sử dụng lời dạy đó như một hướng dẫn, hay đi con đường tắt, hay phải làm cái gì đó… thì lại là một trở ngại, và cái hiểu đúng sẽ không thể được phát triển. Đây là lý do Achaan nói hãy quên việc hành thiền đi và hãy quên việc sử dụng Giáo lý như những hướng dẫn kỹ thuật hay đi con đường tắt, hãy cứ tiếp tục suy xét và nghiên cứu thêm về thực tại hiện giờ, để cho hiểu biết có thể phát triển một cách hoàn toàn tự nhiên, và để bắt đầu hiểu rằng tất cả các pháp đều là thực tại do duyên và là vô ngã.
Achaan: Bất cứ con đường nào không dẫn tới cái hiểu về thực tại hiện giờ đều là sai. Bởi vì những cách thức không phát triển cái hiểu về những gì xuất hiện trong hiện tại sẽ cố gắng lảng tránh hiện tại, cố gắng biết một điều khác – ta không biết rõ là điều gì. Tại sao lại không hiểu cái đang xuất hiện hiện giờ khi nó đang xuất hiện, mà lại tìm những khoảnh khắc khác? Nếu không có niềm tin ở việc phát triển hiểu biết về những gì đang xuất hiện hiện giờ, ta sẽ tin vào cái gì đây? Khoảnh khắc tiếp theo cũng vẫn là thấy nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ, giống hệt như bây giờ thôi. Nếu không có niềm tin rằng cái hiện giờ đang xuất hiện có thể được hiểu, ta nghĩ mình có thể hiểu gì khác đây?
Học viên 19: Hôm qua chúng ta nói nhiều về thiền và có phân tích về quán sát, và chúng ta đưa ra kết luận rằng quán có nghĩa là suy nghĩ. Mọi người có thể thấy rằng, suy nghĩ dù là suy nghĩ về thực tại thì cũng không thể thấu hiểu về thực tại, cho nên không thể dẫn tới kết quả được. Nhưng qua kinh điển thì con thấy có một số ví dụ mà người ta quán- suy nghĩ về những điều không phải là thực tại, mà là khái niệm, nhưng vẫn đắc quả Arahan.
Achaan: Ví dụ như trường hợp nào?
HV 19: Bà Ambapali, chủ của vườn xoài, con của Bà là một trưởng lão và bà đã dạy cho bà pháp quán vô thường về thân. Sau khi quán thì Bà thấy được sự vô thường và đắc A la hán, sau đó thì bà mới xuất gia. Kệ của Bà được để trong Trưởng lão Ni kệ.
Achaan: Có ai có thể giác ngộ mà không có hiểu biết về thực tại hiện giờ đang xuất hiện không?
HV 19: Có khi giác ngộ về vô thường thì rồi sẽ có cái hiểu biết đấy chăng?
Achaan: Nó phải là bây giờ, cái gì hiện giờ là vô thường?
HV 19: Tôi không thể trả lời được, vì cái này chỉ là câu chuyện trong kinh sách.
Achaan: Nhưng khi giác ngộ thì bà đã chứng ngộ sự thực về khổ-dukkha, có đúng không?
HV 19: Con không biết.
Achaan: Bất cứ ai được coi là giác ngộ thì đều phải có cái hiểu biết trọn vẹn về Tứ Thánh đế. Nếu không thì sẽ là một loại kinh khác, tức là không phải là lời dạy của Đức Phật. Vì ngay trong bài pháp đầu tiên, Đức Phật đã thuyết về Tứ thánh đế, và Thánh đế thứ ba là Niết bàn. Nhưng sẽ không thể nào kinh nghiệm Niết bàn nếu không có sự liễu ngộ Thánh đế thứ nhất. Và Thánh đế thứ nhất ấy nói đến khi nào và ở đâu?
Người phiên dịch: Tôi xin phép nói một chút, nếu như bạn chỉ đề cập đến câu chuyện, thì vì từ cùng một câu chuyện có thể có nhiều cách hiểu khác nhau, cho nên nó sẽ không đưa đến đâu cả.
HV 19: Vậy thì tôi sẽ đặt một câu hỏi khác về Giáo lý.
Achaan: Như vậy đã rõ ràng với bạn chưa?
HV 19: Rõ ràng là mọi người đang nhìn vấn đề dưới một góc độ khác.
Sarah: Khi nói đến cái hiểu về sự vô thường của thân, điều ấy cũng đồng nghĩa với việc hiểu sự vô thường của các pháp là các thực tại mà ta gọi là thân, chẳng hạn cứng, mềm, nóng, lạnh, những thực tại ấy cũng được gọi là uẩn, nếu không có hiểu biết đúng về những thứ đó, sẽ không thể gọi là hiểu về vô thường được.
HV 19: Ở đây tôi muốn nói đến vấn đề phương pháp, đó là suy nghĩ về thân là khái niệm mà vẫn đạt giác ngộ.
Jonathan: Như vậy anh cho rằng bà Ambapali đã giác ngộ qua việc hiểu biết về thân nhưng không phải với tư cách là các pháp (thực tại) hay sao?
HV 19: Tôi muốn đề cập đến vấn đề phương pháp của Bà ấy, vì ở đây mọi người đang không thừa nhận vấn đề phương pháp: dù thiền hay quán thì cũng chỉ là suy nghĩ. Nhưng câu chuyện nói rằng khi Bà Ambapali suy nghĩ về thân thì vẫn dẫn đến kết quả giác ngộ như vậy.
Achaan: Vậy bạn nghĩ rằng Bà không hiểu cái gì về bản chất của thân hay sao?
HV 19: Chắc là vậy theo nghĩa chân đế vì trong kệ của Bà đề cập toàn khái niệm tục đế như tóc, da, lông, móng….
Achaan: Bạn nghĩ rằng Bà nói như vậy là không có cái hiểu về thực tại hay sao?
HV 19: Bà ấy đắc đạo rồi thì chắc phải hiểu
Achaan: Ý bạn nói là giác ngộ trước rồi hiểu sau, có nghĩa là lúc đầu thì không có cái hiểu nào cả, đúng không?
HV 19: Có thể là vậy, nhưng chỉ là con đoán thôi.
Achaan: Vậy thì khi nói đến giác ngộ thì ý nghĩa của từ giác ngộ đó có nghĩa là gì?
HV 19: Một vị A la hán đã giác ngộ.
Achaan: Không chỉ một vị A la hán mà một vị Tu đà hoàn cũng được gọi là đã giác ngộ, ở mỗi một tầng giác ngộ thì có các bất thiện tương ứng được diệt trừ, ví dụ vị Tu đà hoàn đã đoạn trừ hoài nghi. Liệu một người có thể trở thành một vị A la hán mà trước đó không trở thành một vị Tu đà hoàn hay không?
HV 19: Có thể trong lúc đó nó nhanh, có thể đắc Tu đà hoàn vài phút trước đó.
Achaan: Việc hai mức giác ngộ xảy ra trong vài khoảnh khắc hay cách nhau bao lâu không quan trọng, nhưng khi trở thành một vị Tu đà hoàn, vị ấy đã trở thành một vị thánh nhân, và để trở thành thánh nhân thì Trí tuệ về các thực tại phải được phát triển.
Sarah: Tất cả mọi người, kể cả khi không được đọc Giáo lý của Đức Phật thì cũng biết rằng tóc mình rồi sẽ bạc đi, thân sẽ già đi và cuộc sống không kéo dài mãi. Nhưng nếu chỉ nghĩ về việc tóc sẽ bị bạc đi hay cuộc sống thật ngắn ngủi thì không thể làm cho ai đó giác ngộ.
Khi đọc câu chuyện về bà cư sỹ trở thành vị A la hán nhờ việc biết được sự vô thường trên thân, tôi nghĩ rằng phải có trí tuệ hiểu các thực tại một cách sâu sắc đã được phát triển từ một khoảng thời gian rất dài rồi. Trong chú giải về Trưởng lão Ni kệ này có giải thích rằng, tất cả các Trưởng lão Ni này đã phát triển Tuệ giác nhờ việc nghe Pháp từ nhiều vị Phật khác nhau trong khoảng thời gian nhiều a tăng kỳ kiếp. Như các bạn cũng nói rằng, Giáo lý vô cùng khó tiếp cận và để thực sự hiểu rằng thực tại hiện giờ là vô ngã. Để có thể hiểu được sự vô thường của thực tại, trước đó cần phải có hiểu biết thực sự là trong thực tại không có ai cả, không có người không có tóc, da, v.v… Điều ấy hoàn toàn không dễ dàng, không thể đạt được bằng việc nghĩ về những khái niệm ấy. Trong Kinh Tứ niệm xứ cũng có nói về quán thân. Trong chú giải của Tứ niệm xứ có nói rằng, đó là cái hiểu đúng về Tứ đại. Vì vậy chúng ta không nên chỉ cứ đọc Kinh như là đọc một cuốn sách bất kỳ nào đó và cho rằng chúng ta có thể hiểu đúng về nó một cách dễ dàng.
HV 19: Tôi cũng đồng ý với ý kiến là Bà Ambapali đã phát triển tuệ giác từ rất lâu rồi, nhưng cái vấn đề chính vẫn là ở kiếp cuối cùng thì Tuệ giác đó vẫn chưa đạt được mức độ giải thoát. Và phương pháp bà ấy làm theo đã khai phá, tăng trưởng Trí tuệ ngủ ngầm đó lên đến mức giải thoát. Vậy cái tôi muốn nhấn mạnh là phương pháp cũng có tác dụng chứ không phải là không có.
Achaan: Vậy thì hãy giải thích cho tôi phương pháp mà bạn đang nói tới.
HV 19: Quán thân và nghĩ là nó vô thường. Có thể suy nghĩ về việc tóc đen rồi bạc vân vân thì nó sẽ dẫn đến cái hiểu.
Achaan: Dù không có Đức Phật giảng thì ai cũng biết được điều đó mà, vậy không cần có sự ra đời của một vị Phật
HV 19: Nhưng có thể họ không thực hành, còn Bà Ambapali thì thực hành liên tục.
Achaan: Tôi vẫn chưa rõ phương pháp đó là gì? Đó là suy nghĩ hay là thế nào?
HV 19: Đó là suy nghĩ bởi vì hôm qua chúng ta kết luận quán là suy nghĩ.
Achaan: Suy nghĩ là gì?
HV 19: Suy nghĩ là khi tâm nó không nhận pháp chân đế như đối tượng được kinh nghiệm.
Achaan: Như vậy có thể hiểu rằng đó không phải là một người nghĩ mà là tâm nghĩ đúng không?
HV 19: Nếu Bà ấy đã không có ý niệm về ngã thì là như thế, còn nếu là có thì không biết được.
Jonathan: Phương pháp mà bạn nghĩ là Bà Ambapali theo đó có được Đức Phật nói đến hay không?
HV 19: Chắc là thế nào cũng có bởi vì trong Tứ niệm xứ có quán thân, suy nghĩ về vô thường của thân.
Jonathan: Vậy thì Chú giải nói gì về chuyện này?
HV 19: Tôi chưa đọc chú giải nên không biết.
Jonathan: Vậy thì ở đây chúng ta đang nói về hiểu về kinh Tứ niệm xứ, có đúng không?
HV19: Có thể là như vậy, tôi không chắc lắm.
Jonathan: Tôi nghĩ bạn đang nói về phần niệm thân trong Tứ niệm xứ, về mặt thực chất thì toàn bộ Tứ niệm xứ là hiểu về các thực tại khác nhau, dù là niệm thân, thọ hay tâm, pháp. Đây là những điều mà Đức Phật đã dạy, nếu ta không có hiểu biết đúng về các thực tại thì sẽ có cái hiểu sai về những điều Đức Phật đã dạy
HV 19: Thật ra tôi không nghĩ sâu xa như anh, tôi chỉ đọc và thấy trong đó nó có đề cập đến phương pháp Bà ấy áp dụng, chứ tôi không nghĩ đến việc liên hệ đến bài kinh tứ niệm xứ.
NPD: Vậy những điều mọi người nói vừa rồi có hữu ích gì cho bạn không?
HV 19: Thật ra có nhiều thông tin mình không thể biết được, nên khó đưa ra một kết luận chính xác. Những điều mọi người nói thì đều hữu ích cả nhưng vẫn chưa thỏa đáng trong trường hợp này.
Sarah: Như bây giờ tất cả chúng ta ngồi đây đều có thể nhắm mắt lại và nghĩ về sự biến hoại của cơ thể và nghĩ đến việc tóc sẽ bạc đi để giác ngộ. Và nghĩ rằng nếu cứ theo phương pháp như vậy thì sẽ chứng đắc và sau khi chứng đắc sẽ có cái hiểu về thực tại, và cái đó thì hoàn toàn là lời mô tả về con đường Bát tà đạo mà Đức Phật đã nói tới, bởi đó hoàn toàn là ý niệm về một cái ngã đang cố gắng đạt một kết quả nào đó. Bởi vì trong đó có tà kiến, tà định… cho nên, thay cho việc đưa chúng ta đến sự giải thoát, nó lại dẫn chúng ta sâu hơn trong vòng luân hồi, và như vậy, nếu không có cái hiểu đúng từ ngay lúc đầu, chỉ cứ cố để có kết quả và nghĩ rằng sẽ có được hiểu biết sau đó, điều ấy không bao giờ dẫn tới kết quả đúng đắn.
Học viên 24: Bây giờ có một số vị thiền sư ở các trường thiền, họ sẽ hướng dẫn mình làm như thế này, thế kia, trên mặt lý thuyết và tư duy. Thế phương pháp của bà là hiểu về thực tại, thì cũng chỉ là lý thuyết và tư duy thôi. Cái mà Bà đang nói rất là khó, trí tuệ hiện giờ tạm thời không thể kinh nghiệm được. Con thấy như thế hoàn toàn là lý thuyết và tư duy thôi. Vậy cách của Bà và một số vị thì không khác nhau, cũng là lý thuyết và tư duy.
Achaan: Hiện giờ cái thấy là lý thuyết hay sao?
HV 24: Con thấy nó là sự tư duy, nhất là sau khi Bà hỏi thì con không thể thấy hay trí tuệ không thể thấy được cái thấy, mà nó là sự tư duy lại câu hỏi của Bà.
Achaan: Câu hỏi của tôi chỉ là cái thấy có phải là lý thuyết không?
HV 24: Hiện tại con thấy nó là lý thuyết
Achaan: Vậy nó không phải là thực à?
HV 24: Bởi vì trí tuệ không trực nhận được nên con nghĩ chỉ là tư duy.
Achaan: Trí tuệ thì luôn luôn có thể. Còn vô minh thì không thể
HV 24: Với con vô minh rất nhiều nên không thể biết được cái thấy nó thực hay không thực, vì vô minh nhiều thế nên về mặt tư duy lý thuyết thì con đồng ý nó là thật
Achaan: Không cần phải lắng nghe lời dạy của Đức Phật cũng biết là cái thấy có thật hay không. Điều đó là hiển nhiên, có cần mức độ trí tuệ nào đâu. Nếu cái thấy hiện giờ không phải là thực thì cái gì là thực đây?
HV 24: Suy nghĩ ạ
Achaan: Vậy thì không có thấy, không có nghe mà chỉ có nghĩ suốt cả ngày hay sao?
HV 24: Cái thấy là thực nhưng cũng chỉ trên mặt lý thuyết của con.
Achaan: Vậy thì giữa một người mù không thể thấy và một người bình thường có thể thấy thì đâu là sự khác biệt?
HV 24: Đối tượng của cái thấy sẽ không thể được thấy.
Achaan: Tại sao?
HV 24: Vì lúc đó không đủ nhân duyên cho cái thấy sinh khởi.
Achaan: Vậy chứng tỏ cái thấy là thực mà.
HV 24: Vâng, về mặt lý thuyết thì con đồng ý nó là thực.
Achaan: Nếu như nó là thực thì ta có thể hiểu được bản chất của nó hay không?
HV 24: Hiện tại thì con chưa hiểu được.
Achaan: Tôi không có ý nói bạn, mà tôi nói đến hiểu biết đúng và những gì mà Đức Phật hiểu. Nếu nó là thực thì nó có thể được hiểu hay không?
HV 24: Có
Achaan: Hiểu bằng gì?
HV 24: Bằng trí tuệ.
Achaan: Trí tuệ ở mức độ giác ngộ có thể sinh khởi ở ngay tại thời điểm này hay không, hay là nó cần có nhân duyên?
HV 24: Nó cần nhân duyên
Achaan: Nhân duyên gì?
HV 24: Con không biết.
Achaan: Con xin nương tựa Phật có nghĩa là gì?
HV 24: Con không có cái hiểu sâu về câu này.
Achaan: Như vậy có nghĩa rằng bạn đã không chọn Đức Phật làm nơi nương tựa rồi, có thể là bạn đã chọn một ai khác để làm nơi nương tựa cho sự hiểu biết của mình. Không chỉ là “con xin nương tựa Phật” mà còn “con xin nương tựa Pháp”. Nếu chúng ta không hiểu Pháp là gì, thì nương tựa Pháp là nương tựa sao đây? Nếu bây giờ cái thấy là thực, mà trí tuệ không hiểu được thì công dụng của trí tuệ sẽ là gì đây?
HV 24: Trong Kinh, Đức Phật có đề cập đến Tứ niệm xứ: quán thân, thọ, tâm, pháp. Vậy phải hiểu như thế nào cho đúng về quán thân thọ tâm pháp?
Achaan: Nếu ai đó có hỏi Đức Phật rằng thế nào là thân thì Đức Phật có giải thích không?
HV 24: Con không biết
Achaan: Như vậy nếu chưa có hiểu biết thân là gì mà cứ cố phát triển Tứ niệm xứ, điều đó là không thể. Ta không thể không biết thân là gì mà vẫn lấy thân để làm đối tượng của sự phát triển trí tuệ.
HV 24: Vì thế con cần sự chia sẻ của bà về cái hiểu như thế nào là thân, thọ , tâm pháp.
Achaan: Cái gì là thân hiện giờ?
HV 24: Cơ thể của con
Achaan: Của bạn ư? Tức là từ đầu đến chân?
HV 24: Vâng.
Achaan: Cái gì xuất hiện khi bạn cho rằng đó có thân của tôi?
HV 24: Cái suy nghĩ
Achaan: Không phải, bạn đã nói cái thân là thật và đây là cái thân của bạn. Và suy nghĩ thì không phải là thân, suy nghĩ là một loại danh và nó không phải thuộc về phần niệm thân.
NPD: Ý của Bà hỏi là từ kinh nghiệm gì mà bạn biết là có cái thân của tôi? Tại sao lại có thể nói như vậy?
HV 24: Vì có sự xúc chạm
Achaan: Ở khoảnh khắc của sự xúc chạm thì cái gì xuất hiện?
HV 24: Có thể đó là cái cứng, mềm, nóng, lạnh.
Achaan: Đặc tính cứng có phải là bạn không?
HV 24: Nó có một phần thuộc về con.
Achaan: Bạn cho rằng đặc tính cứng là của bạn đúng không?
HV 24: Nếu có con thì sẽ là của con ạ.
Achaan: Nhưng đặc tính cứng thì không thuộc về ai cả, cái cứng chỉ cứng, nó sinh khởi do duyên và rồi diệt đi, cũng như cái thấy cũng vậy: cái thấy không thuộc về ai, nó sinh khởi do duyên và rồi diệt đi, không thuộc về ai
HV 24: Về mặt lý thuyết thì con đồng ý, không có cái ngã nào cả, vì thế mà yếu tố về thân tâm không có (tôi và của tôi), nhưng hiện giờ nó chỉ là tư duy và suy nghĩ thôi, nên nó vẫn luôn có cái tôi và của tôi.
Achaan: Lý thuyết tới từ hiểu biết đúng hay hiểu biết sai đây? Có nhiều loại lý thuyết khác nhau nhưng Giáo lý mà ta đang nói tới đây có phải tới từ việc hiểu thực sự thân là gì không?
HV 24: Có ạ
Achaan: Vậy thì cái mà bạn cho là thân từ đầu tới chân thì thực chất chỉ là đặc tính cứng đúng không?
HV 24: Có thể là cứng mềm nóng lạnh
Achaan: Những thứ đó là pháp chân đế, là sự thực tối hậu. Điều ấy có nghĩa là cứng chỉ là cứng, nóng chỉ là nóng, lạnh chỉ là lạnh, không phải là ai cả
HV 24: Con đồng ý, nhưng nó vẫn chỉ là lý thuyết thôi chứ chưa phải cái mà ta có thể trực nhận để hiểu trực tiếp về nó cả.
Achaan: Bạn hãy chờ và xem xem, khi trí tuệ phát triển thêm một chút nữa.
Sarah: Khi sự xúc chạm chạm tới cái mà chúng ta cho là cái bàn, thực chất đó chỉ là sự kinh nghiệm đặc tính cứng và sau đó thì có khái niệm cái bàn. Cũng như vậy, khi chúng ta chạm vào cứng mà chúng ta cho là cánh tay, hay mềm khi chạm vào tóc, rồi sau đó có suy nghĩ cho rằng đây là tay của tôi, tóc của tôi, nhưng về mặt thực tại thì ở khoảnh khắc của sự xúc chạm chỉ có những thực tại như cứng mềm nóng lạnh hay chuyển động. Khi ta đọc trong kinh Đại niệm xứ về niệm thân, như đã giải thích, những điều mô tả trong đó chỉ là những các sắc mà chúng ta tưởng nhầm là thân mà thôi.
Achaan: Nhiều người muốn biết liệu tà kiến có thể trở thành đối tượng của trí tuệ hay không? Nếu không có Giáo lý, ở khoảnh khắc của sự xúc chạm ta cho rằng có tay của tôi thì ở đó có tà kiến, chừng nào còn ý niệm thực sự có cái tay của tôi thì chừng đó vẫn có hiểu biết sai lầm. Khi có hiểu biết rằng đặc tính của cái xuất hiện đó chỉ là một thực tại thì tuệ giác sẽ dần dần xả ly với cái mà ta vẫn cho là cái tay của tôi. Khoảnh khắc của sự liễu ngộ rằng đó không phải là tay của tôi có thể xảy ra ở bất cứ lúc nào, và ta không thể lên kế hoạch cho nó bởi vì nó là vô ngã, chúng ta không thể chuẩn bị cho nó sinh khởi. Khi nói đến sự chuẩn bị như vậy, vẫn hoàn toàn là chấp ngã mà thôi, vẫn là sự mong muốn, hi vọng, -kể cả trong lúc đang nghe pháp – có kinh nghiệm trực tiếp về thực tại ấy. Chưa có cái hiểu rằng mức độ Trí tuệ hiện giờ chưa thể nào kinh nghiệm trực tiếp thực tại. Cần phải có thêm hiểu biết về bất cứ cái gì xuất hiện, để bớt đi sự dính mắc vào những thứ được xúc chạm cho là tôi và của tôi. Nếu không có tiền đề ấy, các thực tại sẽ không thể được hiểu như chúng là.
Suy nghĩ không phải là chánh niệm. Toàn bộ Tứ niệm xứ đều phải đi kèm với chánh niệm về thực tại chứ không phải chỉ là suy nghĩ về chúng. Nói đến chánh niệm, nó hoàn toàn không phải là chỉ biết về cái này hay cái kia như lúc bình thường, chúng ta đang học để nhận biết một thực tại có đặc tính nhớ biết về thực tại một cách đúng đắn (chánh). Nếu không có cái hiểu về mặt tư duy thì sẽ không có duyên để cho trí tuệ cùng với chánh niệm kinh nghiệm trực tiếp hiện tại đang xuất hiện hiện gi. Ai nghĩ rằng Giáo lý rất đơn giản đây? hay là nó rất thâm sâu và vi tế? Đây là lúc khởi đầu của việc nghiên cứu Giáo lý một cách cẩn thận, thay cho chỉ đọc từ chánh niệm (và lập tức thực hành), nếu không có hiểu biết, sẽ không có chánh niệm chút nào cả. Ta có thể cho rằng đang có chánh niệm trong khi thực tế thì không phải như vậy, và chúng ta gọi cái không phải là chánh niệm đó là chánh niệm của tứ niệm xứ, thân thọ tâm pháp.
Học viên 2: Cái hiểu vô ngã thì có thể lúc xuất hiện, lúc mất đi được hay không?
Achaan: Chắc chắn là như vậy. Chính vì vậy cần phải nghe và nghe nữa để cái hiểu trở nên càng ngày càng vững chắc hơn.
Sarah: Điều này cũng tương ứng với điều Achaan vừa nói về sacca nana –hiểu biết vững chắc về thực tại. Chỉ khi có cái hiểu rất vững chãi về mặt lý thuyết này thì mới không còn sinh khởi ý nghĩ về làm công việc thực hành, hay theo phương pháp nọ kia, cái là hiểu sai. Trừ khi có được hiểu biết ở mức độ ấy một cách kiên cố, sẽ không có sự phát triển thực sự của Tứ niệm xứ. Bởi vì nếu không có hiểu biết lý thuyết đúng đắn, chúng ta sẽ bị dẫn dắt sai bởi những khái niệm tay, chân, tóc v.v… mà không hiểu thực chất chúng là gì về mặt thực tại.
Học viên 24: Như vậy con hiểu Tứ niệm xứ là bốn thứ khác nhau, nhưng đều nói đến hiểu biết về thực tại, đúng không ạ?
Achaan: Đúng vậy.
HV 24: Vậy tại sao cần phải có bốn phương pháp khác nhau để chỉ nói về thực tại?
Achaan: Thực chất thì toàn bộ các niệm xứ khác nhau đều là các thực tại, mỗi niệm xứ đều nói lên về các thực tại.
Jonathan: Tứ niệm xứ là sự mô tả về các loại thực tại khác nhau. Nếu như chúng ta nghĩ rằng Đức Phật đưa ra một phương pháp ở trong đó, thì bất cứ gì chúng ta đọc thì sẽ đọc dưới góc độ là phương pháp. Nếu như chúng ta nhìn một cách tổng thể về những gì Đức Phật đã dạy, chúng ta sẽ thấy rằng đó chỉ là những lời mô tả thực tại mà thôi chứ không phải những chỉ dẫn về phương pháp. Và sự phát triển của trí tuệ bắt đầu với hiểu biết một cách rõ ràng cái gì có thể là đối tượng của hiểu biết đúng, nếu chưa nắm vững được điều ấy thì cũng chưa thể có sự bắt đầu của sự phát triển Trí tuệ.
HV 24: Vậy bốn sự thực mà Đức Phật muốn nói đến trong Tứ niệm xứ là gì?
Jonathan: Về tất cả thực tại nhưng được chia ra làm bốn nhóm khác nhau, được biết dưới tên Thân – Thọ -Tâm – Pháp. Như vậy trong phần niệm thân, về thực chất nói đến các sắc được hiểu nhầm thành thân, trong đó có cả hơi thở nữa. Trong mỗi phần đó đều có nói rằng: Vị tỳ kheo, hay biết (chánh niệm) cùng với Trí tuệ (tỉnh giác- hiểu biết đúng). Trong phần niệm thọ và niệm tâm có nói đến hai loại thực tại danh uẩn khác. Trong phần niệm pháp thì nói về tất cả các pháp, trong đó có cả ngũ uẩn, các triền cái và thất giác chi. Phần niệm tâm có nói đến các tâm thiện và bất thiện, tâm tham và sân.
HV 24: Con cảm ơn.
Sarah: Mục đích của việc đọc Kinh là để hiểu về vô ngã. Nhưng thực tế mọi người lại đọc với cách ngược lại là thấy cái ngã ở trong đó. Trong một ngày có rất nhiều khoảnh khắc dính mắc vào cái thân của tôi và cho đó là tôi. Nhưng Đức Phật thì đã chỉ ra rằng đó chỉ là những sắc khác nhau và không thuộc về ai cả, để những người nghe có thể hiểu rằng đó chỉ là những thực tại là vô ngã chứ không phải là tôi hay là ai đấy. Cũng tương tự như vậy đối với thọ: chúng ta dính mắc rất nhiều vào những thọ lạc, nhưng Đức Phật đã chỉ ra rằng đó chỉ là các pháp, không phải là ta. Chúng ta thường rất bận tâm về “phiền não của tôi”, nhưng thực chất đó chỉ là những tâm khác nhau, tham, sân và si, chúng là các thực tại chứ không phải là một người. Phần niệm pháp thì có nói đến tất cả các loại thực tại khác nhau, để có thể chỉ ra rằng những thực tại ấy đều là vô ngã, không có ai ở trong đó.
Học viên 21: Bà có nói đọc với cái hiểu, vậy khi chúng ta hồi hướng thì thực tại đó là gì?
Achaan: Đó chính là những tâm thiện nghĩ đến những người khác có thể hoan hỉ với những phước thiện ấy.
HV 21: Khi con đọc, con thực sự nghĩ về hình ảnh bố mẹ. Như vậy có thế có ý niệm sai hay không khi nghĩ về có cái thân, hay một ai đó như là bố tôi hay mẹ tôi.
Achaan: Ngay cả bây giờ thì cũng có thể không có cái hiểu về thực tại, có ý niệm về ai đó. Cái mà ta gọi là cha mẹ thì là gì? Khi chúng ta nghĩ về cha mẹ, chúng ta nghĩ về người đã sinh và nuôi dưỡng ta. Khi ta nghĩ về điều này, thực chất là nghĩ về những hành động thiện mà cha mẹ đã làm cho ta. Như vậy ta sẽ nghĩ đến với sự biết ơn. Nếu một người không biết trân quý thiện pháp, liệu có thể làm thiện pháp không? Khi nói lên lời hồi hướng như vậy, ta biết ơn những hành động tốt đã được làm và nó giúp tăng trưởng thiện tâm.
Học viên 2: Như vậy ý của Bà là cha mẹ cũng chỉ là khái niệm về những hành động thiện?
Achaan: Kể cả danh từ Đức Phật thì cũng là một khái niệm để chỉ về lòng từ bi và Trí tuệ lớn lao của Ngài.
NPD: Cho nên ý của Bà là mặc dù chúng ta nói đến cha và mẹ nhưng về thực chất là nói đến những phẩm chất thiện.
HV 2: Vậy có phải là chúng ta kinh nghiệm thiện pháp của Cha mẹ hay không?
Jonathan: Không phải chúng ta kinh nghiệm thiện pháp của họ, vì điều ấy là không thể. Nhưng khi có sự biêt ơn thì ở khoảnh khắc đó là tâm thiện, khi ta suy niệm về điều tốt đẹp cha mẹ đã làm, lúc đó tâm là thiện, lúc đó không có tà kiến về ngã. Mặc dù chúng ta dùng ngôn từ như vậy (cha mẹ) nhưng thực chất đó chỉ là khái niệm chế định, ngôn từ để chỉ đến cái mà bản chất chỉ là tâm và tâm sở. Ta không coi những khái niệm ấy thực sự là những con người trường tồn, mà bản chất của chúng chỉ là tâm và tâm sở mà thôi.
Sarah: Có một vị sư đã hỏi: “hôm qua cô Sarah đã nói khi thực tại được kinh nghiệm, dù chưa có khái niệm nhưng đã có sự dính mắc ở đó rồi, xin vui lòng giải thích thêm”
Vừa rồi chúng ta đã nói về Tứ niệm xứ và tâm. Đức Phật có nói về việc hiểu về tâm tham căn, là một thực tại thuộc niệm tâm. Thông thường, ngay khi chúng ta thức dậy thì đã có tham ở đó rồi. Ngay khi có cái thấy, dù là ở một đứa trẻ sơ sinh, hay là chúng ta, thì đã có sự dính mắc vào cái được thấy ngay lập tức. Kể cả trước khi có ý niệm về con người và mọi thứ, dính mắc vào đối tượng đã được thấy hay âm thanh đã được nghe, dù là chưa có ý nghĩ về bất cứ cái gì ở khoảnh khắc đó. Điều ấy rất thông thường và nó xảy ra vô số lần trong một ngày. Đương nhiên có lúc nó là tâm tham căn, có lúc là tâm sân căn. Nhưng tâm tham căn hàng ngày thường sinh khởi nhiều hơn. Chúng ta đã nói đến thức tái tục và những khoảnh khắc tiếp theo đó là những tâm hộ kiếp, sau chặp hộ kiếp đó sẽ có tiến trình đầu tiên của kiếp sống và ngay trong tiến trình đầu tiên đó thì đã có sự dính mắc với Hữu, gọi là Hữu ái. Khi ở Sài Gòn, chúng ta có nói đến ba phân loại bất thiện: lậu hoặc, lụt, ách (xiềng xích, cùm). Chúng ta có nói đến lậu hoặc là những phiền não vô cùng vi tế sinh khởi ngay sau khi có cái thấy, cái nghe v.v. Có bốn loại lậu hoặc: Dục lậu hoặc, hữu lậu hoặc (là sự dính mắc với sự trở thành); kiến lậu hoặc (là tham hợp với tà kiến); Vô minh lậu hoặc. Tất cả các loại lậu hoặc này vô cùng vi tế nên không ai có ý niệm gì về chúng cả, chúng sinh khởi ngay sau khi có cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm.
Vị sư 1: Như thế nào để biết được đặc tính của tâm sở dục Chanda và tâm sở tham- Lobha?
Sarah: Lobha-Tham có nghĩa là sự dính mắc và nó luôn luôn là bất thiện. Chanda- Dục có nghĩa là sự quan tâm hay hào hứng, chẳng hạn quan tâm hay hào hứng học Giáo lý. Dục sẽ là thiện khi nó quan tâm đến các hoạt động là thiện. Nhưng dục có thể là bất thiện khi nó quan tâm, hào hứng với các việc bất thiện, chẳng hạn như thử các món ăn khác nhau. Ở khoảnh khắc của dục bất thiện, nó sinh khởi cùng tham. Khi dục sinh khởi cùng với tâm thiện, nó sinh khởi cùng với những yếu tố thiện khác như chánh niệm và các tâm sở thiện khác. Chúng ta có thể nói đến dục- sự hào hứng – với việc nghiên cứu, nhưng bản thân dục ấy cũng có thể là thiện hoặc bất thiện: có thể có sự hào hứng nghiên cứu với mong muốn cho bản thân mình, hay đi theo sự thực hành nào để đạt được kết quả nào đấy cho bản thân, nó khác với dục thiện sinh khởi bởi vì nó thực sự quan tâm đến việc suy xét và hiểu thực tại. Như vậy loại dục – chanda mà Đức Phật khuyến khích là loại chanda thiện chứ không phải chanda là bất thiện.
Học viên 7: Ngày hôm trước khi con đưa mẹ đi chơi và có trò chơi mạo hiểm, thì mẹ con nói: “cứ tình huống nào nguy hiểm hoặc khó khăn thì cứ niệm Nammo tassa thì sẽ được chư thiên phù hộ”. Bà có thể bình luận về việc này?
Achaan: Liệu ai biết được tâm người khác đây?
HV 2: Đức Phật.
Achaan: Mặc dù có thể chưa có được cái hiểu thực sự sâu sắc về mức độ Trí tuệ của Đức Phật khi nghe Giáo lý, nhưng mẹ của bạn có niềm tin sâu sắc vào ơn đức của Ngài. Những từ ấy (Namo Tassa), ai có biết nghĩa là gì ko? Có thể mọi người chỉ biết được sơ lược nghĩa của những từ Pali ấy. Nhưng tại sao mẹ bạn lại không nói đến những từ khác, chẳng hạn, tại sao không nói “Chúa ơi”?
HV 7: Bởi vì mẹ con có niềm tin nơi Đức Phật.
Achaan: Nhưng như thế cũng chưa đủ, nếu có niềm tin, bà ấy cần phải tìm hiểu thêm về Giáo pháp. Nếu như mình có ý nghĩ coi Đức Phật cũng như một vị chúa nào đó thì đó là một cái hiểu sai lầm. Ai biết được tâm của mẹ bạn tại khoảnh khắc đó? Từ Namo Tassa nghĩa là gì? Ai biết được ý nghĩa của nó không?
Học viên 25: Trí tuệ con thì chưa có, nhưng con thấy khi tâm thất niệm thì mình chỉ cần nhớ một đoạn trong niệm ân đức Phật, đức Pháp hay đức Tăng thì rất tốt. Câu Namo Tassa nghĩa là “con xin hết lòng thành kính đảnh lễ đức Thế tôn”. Khi con quên gì con niệm câu này rất hiệu quả. Ví dụ khi con làm bếp con đánh rơi cái cốc và không tìm thấy, lúc đó con niệm câu này thế là con lại nhìn thấy ngay cái cốc ấy.
Jonathan: Giống như phép thuật hay sao? Tôi nghĩ là Đức Phật cũng dạy về nhân quả. Người dạy về nhân nào dẫn đến quả nào, cái gì là nhân dẫn đến những kinh nghiệm qua ngũ quan trong cuộc sống hàng ngày, những việc đã làm dẫn đến quả gì; những việc thiện đã làm trong quá khứ cộng với nghiệp thiện hiện tại sẽ dẫn đến quả thiện trong tương lai.
Sarah: Nghĩa là bạn cũng tin rằng phước thiện hiện tại sẽ đem đến quả thiện trong tương lai, ví dụ như nghiên cứu, bố thí, trì giới. Những quả thiện mà ta nhận hiện nay là do nhân của việc thiện đã làm trong quá khứ. Đó là những lời nhắc nhở làm việc thiện và theo Giáo pháp của Đức Phật.
Jonathan: Như vậy những lúc gặp khó khăn ta có thể tưởng nhớ đến ân đức Phật, nhất là về Trí tuệ vĩ đại của Ngài, và những khoảnh khắc đó cũng là thiện. Tuy nhiên nếu ta cho rằng chỉ đọc vài câu như vậy sẽ mang lại kết quả tốt thì đó không phải là cái hiểu đúng, không phải là thiện.
HV 25: Vậy lúc đó là bất thiện ư?
Sarah: Điều ấy chỉ có bạn mới biết được, nếu chỉ là đọc mà không có sự suy xét chân chánh thì nó sẽ là bất thiện.
Sarah: Tiếp theo là câu hỏi của quý sư về phần vừa giải thích về tham sinh khởi trong tiến trình của ngũ căn.
Sau khi có nhãn thức, cái là quả của nghiệp, có hai tâm sinh khởi tiếp theo là tiếp nhận tâm và suy đạt tâm cũng là tâm quả, sau đó một tâm nữa sinh khởi là xác định tâm. Tâm này là một tâm duy tác, sau tâm này, sẽ có bảy khoảnh khắc của tốc hành tâm, có thể là thiện hoặc bất thiện. Nếu những tâm này là bất thiện thì chúng sẽ có nhân là tham hoặc sân hoặc si. Nếu những tâm đó là tâm tham căn thì có sự dính mắc ở trong tiến trình của nhãn môn đó. Vì vậy, ta nói trên thực tế có tham sinh khởi ngay sau khi có cái thấy. Điều ấy xảy ra trước khi có suy nghĩ về con người hay vạn vật, cái diễn ra trong tiến trình ý môn chỉ xảy ra sau đó mà thôi.
Achaan: Bất cứ khi nào có kinh nghiệm cái thấy, cái nghe mà chúng ta vẫn chưa biết cụ thể là gì, là dễ chịu hay khó chịu, thì đã có thích hoặc không thích với đối tượng đó rồi, chẳng hạn: những âm thanh chói tai như tiếng sấm hay tiếng bom nổ, dù chưa biết đó là gì ta đã không thích, hay một âm thanh ngọt ngào, dù chưa biết đó là gì, là tiếng nhạc hay chim hót, đã có sự dính mắc ngay lập tức.
Ở khoảnh khắc nói Namo Tasa, từ ấy có thể được nói ra với sự kính trọng hay dính mắc, và Trí tuệ có thể biết điều ấy. Kể cả khi chúng ta không đọc ra câu Namo Tassa, nhưng khi nghiên cứu Giáo pháp và bắt đầu hiểu về những gì xuất hiện, chính khoảnh khắc của hiểu biết đó cũng tương ứng với sự đảnh lễ hay tôn kính bậc Đạo sư đã dạy sự thực tạo duyên cho hiểu biết đó cho chúng ta. Đức Phật không hề mong đợi những điều đáp trả như đảnh lễ hay cúng dường. Cần sự chân thành để hiểu được những gì Đức Phật đã dạy, đó chính là cách để nói Namo Tassa một cách tốt nhất, không phải với dính mắc vào kết quả, mà với sự tôn kính những phẩm chất của Ngài.
Học viên 7: Sáng nay có nói về chặp tốc hành tâm cuối cùng trước tử thức sẽ quyết định thức tái tục của kiếp sống mới. Do vậy dẫn đến một số người có thể nghĩ rằng họ tụng kinh thì sẽ hỗ trợ phát triển thiện tâm và giúp họ tái sinh vào cõi an lành về sau.
Achaan: Điều ấy còn tùy thuộc vào tích lũy và việc nghiệp nào sẽ sinh khởi để tạo quả cho khoảnh khắc đầu tiên của kiếp sống sau. Kể cả hiện giờ, chúng ta đang nói về Giáo lý nhưng có thể có những ý nghĩ xấu xa. Cũng tương tự như vậy, ở khoảnh khắc người đó lâm chung, kể cả khi có lời tụng kinh, vẫn có thể có những bất thiện ở khoảnh khắc đó, thiện hay bất thiện sinh khởi tùy thuộc vào tích lũy của người đó, và vào việc nghiệp nào sẽ trổ quả vào lúc đó để tái sinh ở cõi nào.
Jonathan: Như vậy có hai yếu tố tác động: một là sự tích lũy của người đó trong quá khứ và hai là nghiệp sẽ làm duyên cho khoảnh khắc của sự tái sinh. Nếu như nghiệp sẽ tạo quả cho tái sinh rất mạnh (là trọng nghiệp) thì dù tích lũy của người đó là gì đi nữa, nó cũng không đủ mạnh để chiến thắng nghiệp đó. Khi ấy nghiệp đó sẽ có vai trò nổi trội trong việc tái sinh kiếp sau như thế nào.
Học viên 2: Vậy thì tại sao các vị Lạt ma tây tạng có thể đoán biết trước kiếp sau của mình trước thời điểm lâm chung?
Jonathan: Họ chỉ có thể nghĩ rằng họ biết mà thôi, bởi vì chỉ có một mức dộ tuệ giác rất cao mới biết được điều đó. Có thể chỉ là suy nghĩ của họ mà thôi. Việc biết được điều ấy phụ thuộc vào Tuệ giác chứ không phải vào các Nghi lễ hay các quy trình cần làm.
Sarah: Achaan có nói sáng nay là cái chết có thể đến ngay bây giờ, chẳng nhẽ điều ấy có nghĩa là chúng ta nên đọc kinh bây giờ hay sao? Bởi vì chúng ta không biết được khi nào cái chết sẽ tới. Liệu chúng ta có biết được tâm tiếp theo là gì không? Nó sẽ là suy nghĩ, cái thấy, hay cái nghe đây? Không thể biết được tâm tiếp theo hay tái sinh của kiếp sau sẽ là gì.
Học viên 22: Lúc nãy Achaan có nói pháp học là có niềm tin vững chắc và không còn hoài nghi về giáo pháp. Như vậy khi có pariyati thì có phải là đã tận diệt được hoài nghi, tà kiến và giới cấm thủ hay không, lúc đó không có nghi ngờ?
Sarah: Thực chất thì cái gọi là hoài nghi, tà kiến, giới cấm thủ chỉ có thể được tận diệt khi chứng đạo quả thứ nhất mà thôi. Nhưng khi có cái hiểu biết rất sâu sắc thì nó sẽ không bị hoài nghi dẫn đi sai đường.
Jonathan: Lúc trước bạn đã nghe về các mức độ của hiểu biết khác nhau, nhưng khi nói vậy, ta không nói đến một người nào đấy, mà chỉ nói đến khoảnh khắc của hiểu biết thôi.
Sarah: Ở khoảnh khắc có trí tuệ thì sẽ có tín và không hề có hoài nghi ở khoảnh khắc đó.
Achaan: Ở khoảnh khắc nghĩ đến một phương pháp nào đó cần theo để giác ngộ thì không phải là sacca nana.
Học viên 13: Bây giờ chỉ mới có cái suy nghĩ là không còn nghi ngờ, chứ không phải niềm tin là không còn nghi ngờ?
Achaan: Chẳng hạn như về cái thấy hiện giờ, liệu đã có cái hiểu hơn về cái thấy so với sáng nay, khi chưa có sự suy xét về cái thấy hay không?
HV 13: Vẫn chỉ là suy nghĩ mà thôi.
Achaan: Suy nghĩ ấy là tư duy chân chánh hay không chân chánh?
HV 13: Dạ, là tư duy chân chánh.
Sadhu sadhu sadhu!
Pháp đàm với các sư ngày 04-09-2013
11/ Pháp đàm với các sư buổi chiều ngày 04.09.2013 tại SG.
Vị sư 1: Khi không có cái hiểu thì luôn luôn có sự cố gắng. Thậm chí khi sư đến gặp Achaan , sư vẫn có ý niệm là đến để có thêm sự hiểu biết cho chính mình.
Achaan: Sẽ vẫn là như vậy cho đến khi tà kiến về ngã được tận diệt hoàn toàn. Trong Tam tạng có cụm từ giới cấm thủ (silabata paramassa), có nghĩa là sự chấp thủ vào những sự thực hành sai trái, kể cả với những người đã hiểu được Giáo lý. Bởi bất cứ thứ gì sinh khởi đều do duyên, chừng nào còn ý niệm về ngã, chừng ấy sẽ còn những khoảnh khắc có ý muốn cố gắng. Kể cả hiện giờ, có thể đang có ý định chánh niệm. Hiểu biết đúng có thể thấy được rằng điều đó là không đúng, bởi vì ý định –cetana không phải là một chi của Bát chánh đạo. Hiểu biết đó sẽ làm duyên cho sự buông bỏ ý định chánh niệm, hay cố làm một cái gì đó. Chỉ một vị Tu đà hoàn mới hoàn toàn tận diệt giới cấm thủ, nhưng panna- trí tuệ sẽ giúp ta quay về con đường đúng, vì nó biết rằng đó là sai lầm, và như vậy sẽ cứ phải bắt đầu, rồi bắt đầu lại, để hiểu một cách vững vàng hơn rằng bất cứ cái gì xuất hiện đều do duyên. Sẽ cần một thời gian rất dài để có thể có được hiểu biết kiên cố, gọi là sacca nanna, nhờ có trí tuệ biết và thấy mỗi khi ditthi – tà kiến sinh khởi.
Như vậy thì đừng mong đợi một kết quả nhanh chóng là có thể tận diệt ngay được những ý niệm về ngã. Đó chỉ là chức năng của trí tuệ, chứ không phải là của một ai đấy, hay một tự ngã. Chính hiểu biết đó sẽ giúp ta xa rời tà kiến rằng mình là có thể làm cái gì đó, theo những ý niệm riêng của mình. Ở khoảnh khắc có sự hay biết về đặc tính cứng, thay cho việc gọi chung chung là “bất cứ thực tại nào”, thì phải rất chi tiết, bởi cái được kinh nghiệm khi đó là đặc tính cứng. Trước khi được nghe Giáo lý về thực tại, không hề có ý niệm rằng kể cả đặc tính cứng thôi cũng cần phải được nhận biết. Vì nó cũng giống như các thực tại khác, đều sinh và diệt, tuệ giác không lựa chọn một đối tượng cụ thể. Trí tuệ thực sự xảy ra rất tự nhiên, nó sinh khởi do duyên chứ không phải do ai đó cố gắng.Trong một ngày có rất nhiều khoảnh khắc kinh nghiệm đặc tính cứng, ở đây chúng ta đang nói về một thực tại có thể áp dụng cho tất cả thực tại khác. Hiện giờ đặc tính cứng đang xuất hiện bình thường như mọi lúc. Không ai có thể thay đối đặc tính của cái cứng khiến nó trở nên cứng hơn hay mềm hơn, nó chỉ như nó là ở khoảnh khắc nó xuất hiện nhanh chóng đó. Vậy không phải là việc cố gắng tập trung vào nó. Hiểu biết đúng sau khi nghe pháp có thể hiểu được thực tại đó với đúng đặc tính của nó, tức là không phải là tự ngã. Nếu ở khoảnh khắc này, ai đó cố gắng tập trung vào nó hay cố gắng chánh niệm về đặc tính cứng thì đó không phải là chánh niệm đúng đắn, bởi vì chỉ có trí tuệ mới có thể hiểu thực tại đó mà thôi. Tà kiến về ngã có thể sinh khởi cùng với sự hoan hỉ về điều đó (khi cố gắng chánh niệm- ND), nhưng đó không phải là trí tuệ cùng chánh niệm thực sự sinh khởi một cách tự nhiên. Cái xuất hiện hiện giờ xuất hiện một cách không hề mong đợi, đó là cách mà pháp vận hành. Cần phải có các ba la mật để hỗ trợ cho sự phát triển hiểu biết ở tất cả các mức độ khác nhau.
Ví dụ, trong một ngày, đặc tính cứng xuất hiện như thường lệ, nhưng nhờ có việc đã được nghe đi nghe lại nhiều lần, hiểu biết bắt đầu biết rằng không phải là tôi hay biết mà là hay biết biết đặc tính cứng đó. Lúc khởi đầu, đó mới chỉ là suy nghĩ mà thôi. Chúng ta có thể thấy rằng trong một ngày ta có thể nghĩ đến nhiều thứ khác nữa, vậy thì cái gì làm duyên cho việc suy nghĩ về đặc tính cứng đây? Cần phải có duyên để suy nghĩ về đặc tính cứng đó sinh khởi, thay cho suy nghĩ về thứ khác, và ở khoảnh khắc đó, suy nghĩ cũng không phải là tự ngã. Nhưng lúc ban đầu, không thể có suy nghĩ về vô ngã ngay lập tức. Trí tuệ sẽ học cách hiểu bất cứ cái gì xuất hiện một cách từ từ. Trí tuệ tự nó biết, ta không cần phải hỏi người khác hiện giờ hiểu biết của mình ở mức độ nào.
Cũng như vậy đối với bất kỳ thực tại nào đang xuất hiện. Chúng ta đã được nghe rất nhiều lần rằng, hiện giờ chỉ có đối tượng thị giác đang được thấy mà thôi. Mặc dù chúng ta đã nghe vô cùng nhiều lần rồi, nhưng vẫn chưa ai thấy được đối tượng thị giác. Nhưng đến một lúc nào đấy, một cách không mong đợi, nó bắt đầu nghĩ chỉ về cái đó mà thôi, và khi đó ta hiểu được chi thứ hai của Bát chánh đạo, đó là Chánh tư duy- tâm sở tầm – vitakka. Thông thường chúng ta nghĩ đến vitakka trong sự gắn kết với suy nghĩ. Nhưng thực chất, nó có thể sinh khởi trước khi cái mà chúng ta vẫn gọi là suy nghĩ sinh khởi. Và bây giờ, ngoại trừ khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe, luôn có vitakka nhưng không được nhận biết, tất cả đều trong bóng tối chừng nào tuệ giác vẫn chưa sinh khởi.
Trong thế giới của các thực tại, mọi thứ đều sinh khởi trong bóng tối. Vì chỉ có duy nhất một căn môn là nhãn căn qua đó đối tượng thị giác mới được thấy, và như vậy có rất nhiều khoảnh khắc của bóng tối. Khi không có đối tượng thị giác, mọi thứ đều tối. Một thứ còn tối hơn nữa là vô minh. Vô minh không biết cái gì đang có ở đó, và chúng ta sống trong thế giới của vô minh. Chính vì thế, mặc dù có cái thấy nhưng không có hiểu đúng về cái thấy như nó là. Cái thấy sinh khởi do duyên. Nó sinh khởi và rồi diệt đi, chỉ thế mà thôi. Các tâm khác thì sinh khởi trong bóng tối. Hãy nghĩ đến cái xuất hiện là đối tượng thị giác chỉ là đối tượng thị giác. Mỗi khi chúng ta nhắm mắt lại, đối tượng thị giác sẽ không thể được thấy. Nhưng có tưởng nhớ về cái được thấy, và có suy nghĩ về cái được thấy, giống như trong một giấc mơ. Trong giấc mơ thì không có đối tượng thị giác, nhưng vẫn có suy nghĩ về cái được thấy. Cái đó cần phải được hay biết, nhưng vô minh thì đâu có biết được đâu. Nhờ có việc nghiên cứu Giáo lý và suy xét về nó ngày càng nhiều hơn, ta có thể hiểu rằng trên thực tế thì ta sống trong bóng tối nhiều hơn là trong ánh sáng. Vì cái thấy sinh và diệt luôn luôn, nên thế giới dường như là sáng, nhưng khi các thực tại xuất hiện như nó là (không phải chỉ riêng cái thấy, mà còn các thực tại khác nữa – ví dụ như sự kinh nghiệm đặc tính cứng), không phải luôn là sáng . Và vì chỉ có một đối tượng ở một thời điểm thôi, nên ở khoảnh khắc của kinh nghiệm đặc tính cứng, làm sao mà không tối được đây? Nhưng kể cả trong bóng tối thì trí tuệ vẫn có thể hiểu, dù là trong bóng tối hay không trong bóng tối, nó có thể hiểu bất cứ cái gì xuất hiện. Vậy thực tại kinh nghiệm (tâm) tối hay không tối đây? Ta có thể nói hiện giờ ta đã hiểu tâm như nó là hay chưa? Bởi vì khi nó xuất hiện, nó xuất hiện trong bóng tối. Khi nó xuất hiện, không có hình và dạng, nó chỉ kinh nghiệm đối tượng được kinh nghiệm mà thôi. Khi đó thì ta mới thực sự hiểu được ý nghĩa của từ “thế giới- thế gian”: không có gì cả, rồi có một cái gì đó, rồi lại không gì cả. Nếu không có gì sinh khởi, liệu ta có thể nói rằng có thế giới hay không? Nếu không có gì sinh khởi thì không có thế giới, nhưng bất cứ khi nào có cái gì đó sinh khởi thì đó là thế giới, dù đó là gì đi nữa. Chính vì vậy ý nghĩa của thế gian là cái sinh và diệt. Chỉ có duy nhất một thực tại không sinh diệt, vượt lên trên thế gian, đó là Niết bàn. Nếu không nghiên cứu, ta sẽ cho rằng đó là một nơi chốn rất đẹp đẽ, rất yên bình và hạnh phúc. Nhưng nếu như vậy, nó lại là một thế giới rồi, nhưng nó thực chất là siêu thế chứ không phải là thế gian. Nếu Đức Phật không dạy về Niết bàn thì có ai có thể biết về Niết bàn không?
Vị sư 1: Achaan nói rằng hiểu biết phát triển bởi biết đặc tính của thực tại một cách từ từ. Vậy sự khác biệt giữa đặc tính của thiện và bất thiện, đặc tính của lạnh và nóng về mặt tối hậu?
Achaan: Bằng lý thuyết, chúng ta biết rằng tính chất của thực tại là khác nhau, chẳng hạn như về tâm: một số tâm là thiện, một số là bất thiện, một số là quả và một số là duy tác (không phải thiện hay bất thiện). Lúc khởi đầu chưa hiểu được thực tại là pháp thì chưa thể biết được ngay lập tức tính chất của các thực tại ấy. Nếu chưa có hiểu biết về từng thực tại riêng biệt thì chưa thể hiểu được thực tại này là thiện, và thực tại kia là bất thiện. Hiểu biết về tất cả các các pháp cần phải được phát triển, nhưng chưa thể hiểu ngay lập tức nó là thiện hay bất thiện, hãy chỉ cần bắt đầu hiểu rằng nó không giống như bất cứ cái gì trước đây, nó chỉ là một đặc tính, không phải là cái bàn, cái ghế hay những thứ mà trước đây ta vẫn nghĩ. Ở khoảnh khắc này, đặc tính cứng xuất hiện nhưng nó không thực sự rõ ràng, bởi vì cũng có những thực tại khác xuất hiện, và chưa sinh khởi thực tại có đặc tính hay biết (tức là chánh niệm – ND). Khi chánh niệm sinh khởi, sẽ khác với lúc bình thường, mặc dù chỉ chút xíu mà thôi. Chẳng hạn ở khoảnh khắc có sự xúc chạm hiện giờ, vẫn chưa có cái hiểu về đặc tính cứng, nhưng ở khoảnh khắc có chánh niệm, chỉ có đặc tính cứng xuất hiện mà thôi. Khi đó ta không cần phải nói là chánh niệm đang hay biêt về nó, nhưng đặc tính của cái cứng thực sự xuất hiện như nó là. Đây là sự khác biệt giữa cuộc sống hàng ngày có hiểu biết và cuộc sống hàng ngày không có hiểu biết, và cũng là sự khởi đầu của hiểu biết đã khác với hiểu biết thuần tùy tư duy. Kể cả sự kiện ấy cũng có thể trở thành đối tượng của sự dính mắc ngay lập tức. Vì vô minh vẫn còn đó, dính mắc còn đó và ý niệm về ngã còn đó. Duy nhất chỉ có trí tuệ mới có thể thấy được sự khác biệt. Nếu không, nó sẽ lại rơi vào cái bẫy của sự dính mắc. Tham ái là một ông chủ rất quyền lực. Kể từ khoảnh khắc ta mở mắt, có ai thấy ông chủ không? Chúng ta cử động, chúng ta làm mọi thứ đều do ông chủ.
Như vậy trí tuệ cứ phát triển từ từ tiếp tục cho đến khi nó hiểu được thực tại như nó là, nhiều hơn và kỹ hơn. Chỉ có trí tuệ mới có thể tận diệt được tà kiến và vô minh mà thôi. Chỉ đến khi tâm siêu thế kinh nghiệm Niết bàn mới tận diệt hoàn toàn dính mắc vào ý niệm về ngã, hoàn toàn loại bỏ không bao giờ trở lại. Khoảnh khắc không muốn có tham thì lúc đó tham đã có mặt rồi. Làm thế nào thoát khỏi nó đây? Chỉ có hiểu biết đúng mới có thể thấy một cách rõ ràng hơn. Và trí tuệ không hoài nghi về các đối tượng đã được hiểu. Nhưng tuệ giác vẫn còn chưa đủ để hiểu rằng bản thân hoài nghi đó cũng không phải là tự ngã. Dù trong kiếp sống này hay trong kiếp sống khác, tham và si vẫn là những ông chủ lớn. Chúng ta đã là nô lệ của tham từ rất lâu rồi, vậy làm sao để tham từ bỏ nô lệ của chúng đây? Chỉ có trí tuệ mới có thể làm điều ấy, một cách từ từ cho đến khi tham hoàn toàn tận diệt.
Vị sư 1: Vậy thì ý niệm về tham hay sân chỉ là suy nghĩ của chúng ta và tại khoảnh khắc mà nó sinh khởi thì nó chỉ sinh khởi mà thôi?
Achaan: Thực tại là vô ngã và trí tuệ có thể hiểu được điều ấy. Thông thường, sẽ có ý niệm “tôi thích” hoặc “tôi bực”, nhưng khi tham sinh khởi thì có sự dính mắc, khi dosa sinh khởi thì sự khó chịu, những đặc tính ấy khác nhau, nếu không sẽ không thể phân biệt được rằng lúc này tôi tham và lúc này tôi sân.
Vị sư 1: Nhưng cái đó có thể là ở khoảnh khắc sau. Còn trong khoảnh khắc đó thì chỉ là sinh khởi.
Achaan: Khi sân sinh khởi thì ta có cần phải gọi nó là sân chưa? Sân là một thực tại có đặc tính riêng và chức năng riêng của nó, đó cũng là một loại pháp. Hiểu biết đúng bắt đầu hiểu được từng thực tại là pháp cho đến khi tất cả các pháp đều chỉ là vô ngã mà thôi.
Vị sư 1: Khi Bà nói nó là thực tại thì có phải ý rằng đó là như nó là hay không?
Achaan: Đúng như vậy. Ví dụ sân thì không phải là tham, nó có đặc tính riêng.
Vị sư 1: Khi chúng ta nói tham và sân thì thường có xu hướng nghĩ rằng đó là xấu, nhưng tại khoảnh khắc cái mà là tham và sân thì nó không có cái ý niệm đó, mà nó ở khoảnh khắc sau.
Achaan: Ở khoảnh khắc có sự suy nghĩ, suy nghĩ đó có thể sinh khởi với tham hoặc sân. Nhưng suy nghĩ chỉ làm nhiệm vụ suy nghĩ, không phải là tham cũng không phải là sân. Tâm làm nhiệm vụ kinh nghiệm đối tượng không phải là suy nghĩ, không phải là tham hay sân. Mỗi thực tại có chức năng riêng của chúng, mỗi thực tại như tâm và tâm sở đều sinh khởi để đảm nhận chức năng riêng của chúng. Ở khoảnh khắc có một âm thanh rất lớn làm chói tai, dù ta vẫn chưa biết đó là âm thanh gì thì đã có sân với âm thanh đó rồi, như vậy, lúc có sân sinh khởi cùng với suy nghĩ, nhưng có lúc nó không sinh khởi cùng với suy nghĩ.
Vị sư 1: Khi nói về sân và tham hay khi nghĩ về chúng, thì thường là có sự phản ứng nghĩ rằng nó là cái không tốt, nó là cái chướng ngại, nhưng có lúc lại nghĩ rằng chúng chỉ là các pháp tự nhiên. Tại sao lại như vậy?
Achaan: Do duyên. Có rất nhiều loại duyên khác nhau, về cơ bản thì có hai mươi tư loại duyên hệ, nếu tính những loại duyên phụ thì còn nhiều hơn nữa.
Vị sư 1: Khi Achaan nói đến kinh nghiệm khoảnh khắc hiện tại thì điều đó có thưởng xảy ra trong ngày? hay là nó xảy ra rất lâu, có thể nhiều năm cũng chưa thể thấy được nó.
Achaan: Ý sư là kinh nghiệm cùng với hiểu đúng về thực tại?
Vị sư 1: Đúng.
Achaan: Phải nói rõ là với hiểu biết đúng, bởi vì lúc nào cũng có tâm kinh nghiệm đối tượng, kể cả ở khoảnh khắc ngủ say, khi đó tâm hộ kiếp vẫn đảm nhận nhiệm vụ duy trì sự sống. Khi kiếp sống đó kết thúc, sẽ không còn tâm sinh khởi cùng với thân đó nữa. Ngay sau khi tâm cuối cùng trong kiếp sống đó diệt đi, lại có những tâm khác sinh khởi tiếp nối mà không có sự gián đoạn. Mỗi tâm sẽ làm duyên cho tâm tiếp nối theo phương thức vô gián duyên, ngoại trừ tâm tử của một vị Arahat. Đó được gọi là Đại Niết bàn hay Bát Niết bàn. Với các tâm còn lại, bất cứ tâm nào diệt đi cũng lại tạo duyên cho tâm tiếp theo. Nếu như hiện giờ không có tâm sinh khởi thì sẽ không có cái thấy, không có con người, không có gì xuất hiện cả.
Vị sư 1: Cái hiểu đúng sinh khởi nhiều lần trong ngày hay phải mất thời gian rất lâu và khó khăn? Có nhân duyên nào mà có thể xảy thường trong ngày hay nhiều ngày sau đó.
Achaan: Ông chủ lớn đang có ở mặt ở đó. Hiện giờ tham đang sinh khởi và nó trăn trở khi nào, bao lâu, được nhiều không? Nếu hiểu biết đúng sinh khởi, nó chỉ biết là nó sinh khởi và tại thời điểm đó nó biết rất rõ điều ấy, còn bất kể khoảnh khắc hiểu biết tiếp theo sẽ sinh khởi vào khi nào thì không quan trọng, vì điều ấy tùy thuộc vào nhân duyên, không quyết định được. Mời Sarah nói thêm về các ách hay xiềng xích (yoga).
Sarah: Như chúng ta đã nói từ trước, các loại xiềng xích (ách, gông) như vô minh, tham ái và dính mắc trói buộc chúng ta trong vòng luân hồi. Chẳng hạn bây giờ có thể có một chút hiểu biết về mặt tư duy về thực tại. Chúng ta có thể cảm thấy phấn khích về điều đó và cho rằng có sự hoan hỉ ở trong đó. Liệu có thể có tham thọ hỷ mà chúng ta đã tích lũy từ lâu trong đó? Cái đó giống như một cái bẫy. Nếu chúng ta băn khoăn liệu có thể có thêm những khoảnh khắc hiểu biết hay không vào ngày mai, đó đã là một cái ách to hơn rồi. Khi chúng ta bắt đầu phân vân, liệu đây có phải là cái hiểu về đối tượng thị giác v.v… đó lại là cái ách nữa. Khi lại tiếp tục hỏi liệu bao lâu nữa ta sẽ lại có thêm hiểu biết ấy, thì đó lại là thêm ách, thêm cái bẫy tiếp theo. Thay cho việc tiếp tục bị chìm đắm trong những câu chuyện về con người và mọi thứ, chúng ta có thể bị chìm đắm trong những câu chuyện về cái cứng, về cái thấy, đối tượng thị giác và v.v. Ở những khoảnh khắc đó có tâm tham hợp với tà kiến về ngã và mong muốn có thêm hiểu biết cho bản thân ra. Đây không phải là mục đích của việc phát triển hiểu biết đúng. Mục đích tốt nhất của sự phát triển trí tuệ không phải là để cho bản thân, cho thế giới, hay cho một người nào đó, mà chỉ cho chính trí tuệ đó mà thôi. Ngay lúc đầu, sư có nói một câu rất trung thực rằng, đến đây nghe Achaan giảng cũng bị thúc đẩy bởi ý niệm về ngã và mong muốn cho bản thân; đó cũng đều là những thực tại hữu vi mà thôi, là sự dính mắc vào việc muốn có hiểu biết. Đó cũng là vô ngã. Như vậy, tất cả những gì ở khoảnh khắc này, ví dụ như dính mắc, hay xiềng xích mà chúng ta vừa nói tới, đều có thể trở thành đối tượng của hiểu biết. Bất cứ thực tại nào, bất cứ pháp nào đều có thể là đối tượng của hiểu biết đúng, kể cả những dính mắc đã đưa chúng ta đi vào con đường sai.
Achaan: Chúng ta có thể nói về một số những khía cạnh khác nhau của phiền não, nếu không thì chúng ta sẽ không thể nhận ra là chúng ta có nhiều phiền não đến mức nào. Mỗi người chỉ có một tâm ở một thời điểm, ai biết được có những gì ở trong đấy đã được tích lũy, bao nhiêu bất thiện và bao nhiêu thiện, cùng với những thực tại khác, tùy thuộc vào khoảnh khắc mà nó sinh khởi mà thôi. Vậy nếu không có những gì đã tích lũy thì sẽ không còn những phiền não nữa, nhưng một khi nó đã sinh khởi và diệt đi thì tâm tiếp theo sẽ mang theo tích lũy vừa xảy ra, cứ tiếp tục như vậy trong mỗi khoảnh khắc của tâm. Kể cả ở khoảnh khắc của sự tái sinh (trong kiếp cuối), Đại Bồ tát cũng chưa tận diệt được hết phiền não. Mặc dù vẫn còn phiền não dưới dạng ngủ ngầm nhưng những Ba la mật của Ngài còn mạnh mẽ hơn.
Ta có thể thấy những gì mà chúng ta đang tích lũy hôm nay, dù là thiện pháp hay bất thiện pháp, đều không phải là tôi mà chỉ là những tích lũy trong tâm được chuyển tiếp từ tâm này sang tâm khác. Chính những tích lũy hiểu sự thật mới đưa chúng ta tới đây. Nhưng bên cạnh đó, cũng có tất cả những tích lũy bất thiện. Chính vì vậy khi trí tuệ vẫn chưa đủ, ta vẫn nghe Pháp chỉ vì cho bản thân mình mà thôi. Khi đó sẽ có ý niêm tôi sẽ nghe, tôi sẽ hiểu. tôi sẽ chứng đắc, v.v. Đấy là một khía cạnh của phiền não gọi là ách mà cô Sarah vừa đề cập tới.
Hôm trước, chúng ta có nhắc tới 3 nhóm phiền não: ngủ ngầm, lụt và ách (xiềng xích, gong, cùm). Asava- lậu hoặc là những ô nhiễm đã được tích lũy, ủ men, và chúng sẵn sàng tiết ra bất cứ lúc nào. Ngay ở khoảnh khắc của cái thấy, nếu đó là thời điểm để cho một loại phiền não sinh khởi thì nó sẽ lập tức sinh khởi. Không ai có thể biết được mức độ đó của phiền não, nó rất vi tế. Chỉ những loại phiền não mạnh hơn như thế thì chúng ta mới có thể nhận biết được mà thôi. Chỉ có Đức Phật mới có năng lực biết được cả những phiền não dưới dạng ngủ ngầm của chúng sinh. Đó chính là cái chúng ta gọi là phiền não ngủ ngầm. Nó vẫn tiềm ẩn trong tâm nhưng chưa sinh khởi, nó chỉ chờ đợi ở đó để có dịp sinh khởi mà thôi. Đó là loại phiền não vi tế nhất. Asava lậu hoặc cũng vi tế, bởi vì nó sinh khởi mà ta không biết, còn ngủ ngầm thì hoàn toàn không sinh khởi. Nếu không có ngủ ngầm thì chẳng còn phiền não nào cả. Từ chỗ không có gì cả, nhưng do nó tồn tại dưới dạng ngủ ngầm, khi có cơ hội để nó sinh khởi thì nó lại sinh khởi. Dường như chỉ có một cái lỗ rất nhỏ để nó có thể thoát ra, cái lỗ nhỏ đấy chính là asava – lậu hoặc. Có một cụm từ dùng để chỉ các vị A la hán, đó là người đã đoạn tận các lậu hoặc, khi các lậu hoặc đã được tận diệt bởi tâm đạo. Thay cho việc nói rằng các phiền não đã được tận diệt, ta cũng có thể nói là đoạn tận lậu hoặc. Có bốn loại lậu hoặc: thứ nhất là dục lậu hoặc – khi nào thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm thì lậu hoặc này ở đó; cùng với nó có thể có tà kiến lậu hoặc cho rằng cái được kinh nghiệm là một cái gì đó tồn tại kéo dài; cũng có thể có hữu lậu hoặc ở đó nữa; và lậu hoặc căn bản nhất là avijja asava- vô minh lậu hoặc, luôn có ở khoảnh khắc của bất thiện. Do vô minh mà có tham, và mỗi khi có sân thì cũng có vô minh ở đó, vô minh đứng đằng sau tất cả bất thiện. Vậy tâm mang theo nhiều bất thiện đến mức nào, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Và nó lại dày thêm, dày thêm ở mỗi khoảnh khắc bất thiện sinh khởi. Như vậy, đừng nghĩ ta có thể sớm trở thành một vị Tu đà hoàn mà không có hiểu biết thực sự phát triển. Mỗi khi lậu hoặc sinh khởi thì nó giống như là một trận lụt, giống như biển cả cứ rộng thêm và rộng thêm nữa. Ta cảm thấy rất khó khăn khi bơi qua đại dương đó khi nó càng ngày càng xâm lấn nhiều hơn. Một loại phiền não nữa là ách hay xiềng xích. Đó là một cái ách, gông, cùm hay xiềng xích giữ chúng ta ở một chỗ khiến ta không thể di chuyển được, giống như một cái khung tranh vậy, khung tranh giữ ta ở đó không thể thoát ra khỏi, như bị dính chặt vào. Khi có những ý niệm như “làm thế nào” hay “liệu tôi có thể”, thì lúc đó không thể thoát ra khỏi cái ách đó. Cũng có thể ví nó như việc một người bị cùm ở trong một căn phòng, căn phòng đó lại bị khóa kín, và cửa nhà cũng bị đóng chặt. Vậy nếu không có trí tuệ thì không thể nào thoát khỏi mấy ông chủ là tham, tà kiến và vô minh.
Kể cả khi ta đã tạo được các thiện pháp ở mức độ cao như đắc thiền, nó cũng giống như một sợi dây thôi, nó cho ta đi xa một đoạn nhưng vẫn bị kéo về, rồi lại bị nhốt vào căn phòng đó và lại bị khóa cửa lại. Hãy hiểu điều đấy để thấy được giá trị và ơn đức lớn lao của Đức Pháp, cái giúp chúng ta thoát khỏi vòng xiềng xích của những phiền não ấy. Khi đọc về cuộc đời của những vị đệ tử của Đức Phật, chúng ta thấy các vị ấy đã phát triển tuệ giác trong nhiều đại kiếp, bắt đầu từ hiểu biết về mặt tư duy. Kể cả từ pháp, sáng nay chúng ta đã nghe nhiều lần, nhưng bây giờ có cái hiểu nào về pháp hiện khởi ở đây hay không? Nếu ta không được nhắc nhở thường xuyên, thì suy nghĩ lại cứ nghĩ sang những chuyện khác, luôn luôn suốt cả ngày. Chính vì vậy Đức Phật đã thuyết giảng trong 45 năm, từ sáng đến trưa, đến chiều và cả tối nữa cho bất cứ ai có cơ hội nghe Ngài thuyết giảng, và Ngài vẫn tiếp tục thuyết giảng kể cả ngay trước khi nhập diệt.
Vị sư 1: Chúng ta sống trong vô minh dày đặc, vì thế để có chánh niệm nhận ra đặc tính của thực tại thì rất là khó khăn.
Achaan: Chính vì lẽ đó mới cần nhấn mạnh đến hiểu biết đúng. Thông thường chúng ta vẫn hay nhắc đến chánh niệm, nhưng mấu chốt là, khi có hiểu biết đúng sẽ có chánh niệm ở đó. Bình thường chánh niệm cũng có trong bố thí, trì giới, nhưng chánh niệm của Bát Chánh đạo phải đi kèm với hiểu biết đúng. Còn khoảnh khắc muốn có chánh niệm thì sẽ có xiềng xích ở đó, nó không thể sinh khởi từ việc muốn có mà phải từ việc hiểu. Khi hiểu biết về mặt lý thuyết vẫn chưa đủ vững vàng đến mức độ sacca nana, nó không thể tạo duyên cho chánh niệm sinh khởi. Chính vì vậy chánh niệm không nên là đối tượng của mong muốn, dính mắc, mà nó cần phải là đối tượng của hiểu biết đúng. Khi không có hiểu biết đúng thì chánh niệm cũng sẽ trở thành đối tượng của sự dính mắc. Khi có đủ hiểu biết đúng, sẽ thấy chẳng có gì cần phải làm về nó, bởi vì tất cả các pháp sinh khởi do duyên và chỉ do duyên mà thôi. Hiện giờ cái thấy được sinh khởi do duyên, cũng như vậy chánh niệm cũng sinh khởi do duyên. Cách tốt nhất là không nghĩ về việc có nó, hãy hiểu thôi! Đấy là cách duy nhất để giúp chúng ta xa rời các ông chủ kia.
Sadhu sadhu sadhu!