Tag Archive Bố thí ba la mật

PHÁP ĐÀM SÁNG 30/09/2019 tại Hà nội – Phần II

Có người nói rằng những gì trao đổi ở đây chỉ là lý thuyết. Bên cạnh đó phải có thực hành mới được Câu hỏi đặt ra là thực hành là gì?

Người hỏi:   Là làm việc gì đó theo lời đức Phật dạy.

Sarah:          Vậy đức Phật dạy chúng ta làm gì?

Người hỏi:   Hiểu đúng và làm cho đúng.

Người dịch:   Chú có thể cho ví dụ cụ thể được không ạ?

Người hỏi:     Là nghe theo Giáo lý, hiểu đúng.

Người dịch:   Cụ thể là gì ạ?

Người hỏi:     Là hiểu đúng Giáo lý của đức Phật.

Sarah:           Theo lời đức Phật thì ai là người có thể có hiểu biết đúng? Có phải là mình hay ai đó có hiểu biết đúng không?

Người hỏi:      Không ai cả, tất cả là pháp do duyên sinh.

Sarah:             Vậy chẳng hạn như bây giờ nếu hiểu biết đúng sinh khởi thì đó có phải là thực hành không?

Người hỏi:       Đó cũng là thực hành.

Sarah:              Hiểu biết luôn phả ilà hiểu về khoảnh khắc này, không cần phải nghĩ đến một thời điểm khác hay một nơi chốn khác cho hiểu biết, hiểu biết đúng về khoảnh khắc này là quan trọng đúng không?

Người hỏi:        Bất kể pháp nào do duyên sinh không phải lúc này hay lúc khác mà đúng thì đều tốt cả, không nhất thiết chỉ là lúc này.

Người dịch:      Ý của bà Sarahlà thực tại lúc này mới là cái có thể được hiểu, chứ không phải là thực tại chưa sinh khởi, nghĩ đến một thời điểm khác hay một nơi khác.

Người hỏi:        Vâng.

Sarah:              Ở khoảnh khắc này, khi có cái hiểu thế nào là trí tuệ và trí tuệ có đối tượng là gì, liệu ta có thể nói nó là sự khởi đầu của thực hành?

Người hỏi:        Không ạ.

Sarah:              Tại sao lại không?

Người hỏi:   (suy nghĩ)

Sarah:              Bởi lúc nãy chú có nói rằng thực hành là làm theo lời dạy của Đức Phật là hiểu về hiện giờ, và rằng hiểu hiện giờ không phải là mình mà là pháp do duyên sinh,có đúng không?

Người hỏi:        Đúng

Sarah:              Dựa theo định nghĩa của chú về thực hành thì khi có cái hiểu đúng, dù là ít ỏi, thì đó là thực hành, phả ivậy không?

Người hỏi:        Đúng

Sarah:              Như vậy nhờ có việc nghe Pháp, thảo luận về cá cpháp chân đế khác nhau, có cái hiểu đúng những gì được nghe, dần dần sẽ có cái gọi là “thực hành”,có đúng không?

Người hỏi:        Đúng

Sarah:               Như vậy biết thêm về các pháp chân đế đang diễn ra hiện giờcó hữu ích không?

Người hỏi:        Có hữu ích

Sarah:               Chú đã được nghe về danh pháp và sắc pháp. Danh pháp là các thực tại kinh nghiệm, nhận biết, còn sắc pháp thì không kinh nghiệm, nhận biết gì cả. Chú có thể đưa ra một số ví dụ về danh pháp hay sắc pháp hiện giờ không?

Người hỏi:         Không ạ

Sarah:               Thông thường chúng ta vẫn nghĩ về các hình ảnh chế định như cái micro, con người, cái ghế, cái bàn,…Nhưng vì chúng ta quan tâm đến trí tuệ và các đối tượng của trí tuệ, chúng ta đã biết đó chỉ làcác phápchế định, hay những khái niệm mà thôi. Hiện giờ có cái thấy không?

Người hỏi:          Có

Sarah:                 Cái thấy có phải là pháp không?

Người hỏi:          Có

Sarah:                 Là chú thấy hay ai đang thấy?

Người hỏi:          Chỉ là thấy thôi.

Sarah:                 Như vậy, cái thấy là một pháp, cái thấy không phải là mình, nó là một pháp. Vậy cái thấy thấy cái gì?

Người hỏi:           Thấy những đối tượng trong này.

Sarah:                  Bình thường chúng ta nghĩ rằng cái được thấy là những bông hoa hay cái ly, hay những người bạn ngồi đây… Thực chất cái được thấy chỉ là đối tượng thị giác, tức là cái được thấy qua mắt, còn việc biết đó là bông hoa hay con người thì diễn ra trong suy nghĩ. Như vậy cái thấy là pháp, đối tượng thị giác là pháp, nhưng những bông hoa hay cái bàn chỉ là các khái niệm được nghĩ về mà thôi. Còn cái nghe, hiện giờ có cái nghe không?

Người hỏi:            Có

Sarah:                   Là ai đang nghe? 

Người hỏi:            Không ai đang nghe cả.

Sarah:                   Vậy cái nghe hiện giờ nghe cái gì?

Người hỏi:            Nghe âm thanh.

Sarah:                   Cũng giống như cái thấy, khi cái nghe sinh khởi nó chỉ nghe âm thanh, nó không thấy tiếng nói hay tiếng động cụ thể nào đó mà chỉ nghe âm thanh mà thôi. Chúng ta học về sự thật của cuộc sống để hiểu rằng trong thế giới tối hậu, thực tế chỉ có các thực tại sinh khởi, không phải là một thế giới đối tượng của suy nghĩ với những con người ở đó, không phải là tôi đang thấy, đang nghe hay thấy những bông hoa hay cái ly, chỉ có là các pháp sinh khởi và diệt đi. Nếu chúng ta không được nghe những lời giảng của Đức Phật về những pháp chân đế ấy và thảo luận kỹ càng về chúng, liệu những hiểu biết về các pháp hiện giờ mà chú gọi là “thực hành” đó có thể phát triển được không?

Người hỏi:             Không ạ

Sarah:                   Đó là mục đích chính của những buổi Pháp đàm, để cùng nhau tìm hiểu về những thứ có thực, về các pháp chân đế mà Đức Phật đã giác ngộ, khác với thế giới của suy nghĩ, nơi chúng ta đang sống trong vô minh. Hiểu về các pháp trong cuộc sống tại khoảnh khắc này có khó không?

Người hỏi:              Khó ạ

Sarah:                    Như vậy chú đang tán thán ơn đức của Đức Phậtvà Giáo lý của Ngài, chỉ ra rằng Giáo lý ấy vô cùng thâm sâu, vi diệu như chính Ngài đã nói. Giáo lý ấy rất khó để hiểu chứ không phải dễ dàng được nắm bắt hay “thực hành”.

Jonathan:                Nếu chúng ta chưa từng nghe sự thực về pháp chân đế, về những gì là thực ở khoảnh khắc này the tự mình có thể khám phá ra được không?

Người hỏi:               Không ạ.

Jonathan:                Như vậy chúng ta cần phải nghe những lời dạy của Đức Phật, và phải được nghe rất chi tiết, có nhiều khía cạnh khác nhau cần phải hiểu. Dù thực hành bao nhiêu đi nữa-theo nghĩa mà mọi người vẫn nói về thực hành, thì cũng không thể đưa tớ ihiểu biết về những gì Đức Phật đã giác ngộ. Vì vậy những lời dạy cuả Đức Phật cần phải được nghe, không chỉ một lần mà cần rất nhiều lần,và suy xét lặp đi lặp lại về những gì đã được nghe. Nhờ những lời dạy đó mà có cái hiểu đúng về những gì đang xuất hiện hiện giờ với đúng bản chất của chúng, nó hoàn toàn khác với việc cố tập trung vào thứ gì đó với mục đích để hiểu nó. Khi cố tập trung vào cái gì đó, thực ra chỉ là tập trung vào ý niệm về một cái gì đó chứ không  phải là cái hiểu về pháp đang xuất hiện một cách tự nhiên. Vì vậy mỗi khi chúng ta cố để hiểu hay chọn lựa đối tượng nào đó, đó không phải khoảnh khắc của trítuệ, bởi khoảnh khắc của trítuệ là khoảnh khắc sinh khởi một cách tự nhiên với một đối tượng xuất hiện tự nhiên không chọn lựa.

Người hỏi:              Cho tôi được hỏi,những lời dạy của Đức Phật phải được nghe đi nghe lại và suy xét nhiều lần, vậy sự say xét đó là lấy kinh nghiệm của mình hay lấy cái học hỏi nào để suy xét như thế nào cho đúng, thế nào là sai? Đó là kinh nghiệm thực tại của mình hay thế nào? Bởi nói suy xét thôi thì nó vẫn thế nào ấy.

Jonathan:                 Đây là một câu hỏi rất hay, bởi một số người cho rằng suy xét giống như một công việc mà mình chủ động làm vào một số thời điểm cụ thể, như là ngồi suy ngẫm. Nhưng như vậy vẫn là một hình thái của sự thực hành theo quan niệm thông thường. Nhưng sự suy xét mà Đức Phật đã thuyết giảng là sự suy xét phát sinh từ mối quan tâm đến những gì đã được nghe,và vì thế những khoảnh khắc suy xét đó diễn rất tự nhiên khi có những trao đổi với nhau như thế này, hoặc vào bất cứ thời điểm nào khác trong ngày khi chúng ta nghĩ lại về những gì đã được nghe (không phải là nghĩ một cách bâng quơ, mà là với sự suy xét).

Băn khoăn của chú là: sự suy xét là dựa trên kinh nghiệm của mình hay thế nào?;thì câu trả lời ở đây là: suy xét về những lời dạy của đức Phật xem có đúng với thực tế của các pháp đang diễn ra hiện giờ hay không. Như vậy suy xét không phải là chọn lấy một chủ đề rồi ngẫm nghĩ về nó, tìm cách phân tích nó, mà là xem xét xem những lời mà ta đã được nghe từ mô tả của đức Phật về thực tại có đúng như những gì đang diễn ra ở khoảnh khắc này hay không. Ví dụ như lời dạy của đức Phật về việc cái thấy chỉ kinh nghiệm đối tượng thị giác, rồi sau đó có suy nghĩ về hình dạng và từđó hình thành ý niệm về những con người khác nhau. Hay về cái nghe: cái nghe lại là một thực tại khác, nó kinh nghiệm đối tượng khác với cái thấy, vàcũng tương tự như cái thấy, cái nghe chỉ nghe âm thanh, còn ý nghĩa của âm thanh thì được biết trong suy nghĩ. Vậy chúng ta có thể suy xét xem những mô tả đó có đúng với thực tế hay không, cái mà thông thường chúng ta vẫn nhận thức theo một khối, không có sự tách rời. Chẳng hạn cho rằng cái thấy thấy ngay con người, hay cái nghe là “tôi”đang nghe, chứ không phải đó là những khoảnh khắc tâm khác nhau. Vậy những lời Đức Phật theo đó cái thấy và cái nghe là hai thứ khác nhau có đúng không? Cái thấy có thấy luôn con người hay không? Hay chắc chắn ý niệm con người được biết trong suy nghĩ v.v…? Sự suy xét đó có thể diễn ra vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, cả khi chúng ta đang đánh răng hay có một hoạt động nào đó. Ta không cần dành ra một khoảng thời gian cụ thể để suy xét về pháp.

Chú có thấy sự khác biệt giữa một bên là suy xét một cách rất tự nhiên về những gì mà Đức Phật đã giảng, và bên kia là chọn ra một thời điểm nào đó để suy xét dựa trên những kinh nghiệm của mình? Trong cuộc sống, có lúc ta nghĩ đến thứ gì đó mà không hề có ý định cho việc ấy. hay có lúc đang làm việc này nhưng lại nghĩ sang thứ khác. Hoặc bất chợt nhớ đến câu nói của ai đó hay nhớ đến một sự việc đã xảy ra trước  đó.  Cũng như vậy,sự suy xét có thể sinh khởi bởi mối quan tâm mà ta có với những gì đã từngđược nghe liên hệ với khoảnh khắc hiện tại. Nó diễn ra một cách rất tự nhiên mà không cần phải lên kế hoạch sắp xếp từ trước. Không có sự cố tình lựa chọn chủ đề hay thời điểm, nó diễn ra do bởi duyên tương ứng của nó.

Người hỏi:                Con đồng ý ạ.

Sarah:                       Về câu hỏi suy xét dựa trên kinh nghiệm của mình: nếu ta chưa từng được nghe Pháp, chưa từng có cái hiểu về những gì được nghe thì cái gọi là kinh nghiệm của chúng ta thật không đáng tin cậy. Đức Phật nói là hãy quy y Pháp,chứ không nói quy y kinh nghiệm của bản thân. Bởi kinh nghiệm của bản thân thì cho chúng ta thấy rằng có một cái “tôi”thấy bông hoa và kinh nghiệm những thứ khác nhau, hay kinh nghiệm của bản thân cho thấy “tôi bảo được con cái phải làm theo ý mình”,…Kinh nghiệm của bản thân mình xuất phát từ rất nhiều vô minh và tà kiến. Giống như khi chúng ta ngủ đêm và mơ, sau đó đến buổi sáng khi tỉnh dậy thì nhận ra là đó chỉ là giấc mơ, cũng như vậy,khi được học về sự thật của các pháp,chúng ta chợt nhận ra tất cả những gì trước đây chúng ta cho là thực hóa ra chỉ là giấc mơ, một giấc mơ giữa ban ngày. Học Giáo pháp làm cho chúng ta thức tỉnh. Vì vậy cần phải lắng nghe và suy xét rất nhiều lần bởi ý niệm về ngã trong chúng ta bắt rễ rất sâu dầy. Nếu chúng ta không đượcnghe từ lời giảng của đức Phật về sự vắng mặt của một tự ngã thì ta sẽ không bao giờ tự nghiệm được ra rằng thực chất không có một cái tôi nào cả. Chính vì vậy đức Phật nói rằng được nghe chánh Pháp, được  gần gũi bậc thiện trí, được đàm luận về Pháp là phước lành tối thượng.

Người hỏi:                 Nói kinh nghiệm ở đây là kinh nghiệm qua lời dạy của Đức Phật. Như Đức Phật nói là tai chỉ nghe âm thanh nhưng thực tế thì tai không thể nghe âm thanh mà chúng ta lại đặt vấn đề là ai nói hay ai nghe,… ý nói kinh nghiệm là kinh nghiệm như vậy. Thực tế là tai nghe âm thanh, mắt nhìn đối tượng, thực tế là mình gán luôn tên vào đó mà không thấy được đó là sắc, là cứng hay là mềm mà chúng ta hiểu nó là như thế.

Sarah:                       Việc mọi người nghe lời nói, hay thấy bông hoa là việc bình thường, nhưng khi được nghe lời dạy của Đức Phật thì có thể có sự suy xét rằng sự thực thì không phải là như thế. Dù ta chưa hoàn toàn kinh nghiệm đúng như sự thật,nhưng có sự khởi đầu nhận ra rằng sự thật không giống như những gì mình từng nghĩ, đó là sự khác biệt giữa được  nghe Pháp và không được nghe Pháp.

Jonathan:                  Chúng ta chỉ hiểu về mặt tư duy là như vậy, chứ không cố để không nghĩ về ý nghĩa của âm thanh sau khi nghe, hay cố để chia tách giữa cái thấy và nghĩ về cái được thấy,bởi nếu như vậy nó lại là một hình thái của sự thực hành,có phải không? Hiểu trực tiếp thực tại cần nhiều thời gian, không thể mong đợi nó diễn ra ngay lập tức, kinh nghiệm đúng như lời Đức Phật đã mô tả. Chính vì vậy nên ta nói tới sự suy xét, một suy xét không chủ ý, tự nhiên vun bồi qua thờii gian, và tầm quan trọng của việc được nghe về mô tả của đức Phật về sự thật, không phải chỉ một lần mà nhiều lần. Thực chất hiểu biết lúc đầu chỉ thuần túy là hiểu về mặt tư duy mà thôi. Ví dụ,chúng ta được nghe phân tích về cái nghe và âm thanh.Nếu không được nghe Giáo lý thì ta đương nhiên cho rằng mình nghe nghĩa của âm thanh, nhưng bằng tư duy chúng ta có thể  hiểu rằng bản thân âm thanh không có nghĩa gì cả, cái nghe chỉ nghe âm thanh còn ý nghĩa của âm thanh lại được biết đến trong suy nghĩ. Rõ ràng sự thật ấy khác với những gì chúng ta nhận thức về thế giới nếu không được nghe Giáo pháp của Đức Phật. Như vậy, chúng ta bắt đầu nhận thức được rằng có một sự thật nào đó ta chưa hiểu rõ và cần được hiểu hơn nữa.Nhưng ta cũng không thể đẩy nhanh quá trình phát triển của hiểu biết, nó cần có thời gian.

Sarah:                    Khi Đức Phật giảng về phát triển tứ niệm xứ, tứ niệm xứ có đối tượng là pháp chân đế. Nếu mình không biết pháp chân đế là gì thì làm sao có thể có trí tuệ hay chánh niệm sinh khởi hiểu các pháp chân đế ấy. Nếu quan tâm đến sự phát triển của tứ niệm xứ và để hiểu rõ các pháp chân đế là gì,cần phải có sự lắng nghe, thảo luận, và suy xét để hiểu rằng các đối tượng ấy khác với các khái niệm chế định, nếu không sẽ không thể có tứ niệm xứ sinh khởi trực tiếp kinh nghiệm các pháp chân đế.

….

Người hỏi:              Con kính thưa ông bà, kính thưa toàn thể pháp hội trước khi con đặt ra câu hỏi của mình cho phép con được nói lời tri ân đến Achaan, ông bà và các bạn đạo hữu trẻ đã dày công tổ chức các buổi pháp đàm để cho con có được cái hiểu đúng lời dạy của Đức Phật. Thứ hai, cháu xin gửi lời cảm ơn bác Hùng, bác đã có một câu hỏi vô cùng thiết thực cho những người cao tuổi, bố mẹ cháu ở nhà cũng có những suy nghĩ như vậy. Hôm nay được ông bà giải thích dưới ánh sáng của Đức Phật,con thấy mọi thứ vô cùng rõ ràng và đem lại cái hiểu rất sâu sắc. Đó là cuộc sống thực hiện nay. Nó giải tỏa được rất nhiều mối lo lắng mà chính những mối lo lắng này là nguyên nhân gây ra mọi rắc rối trong cuộc sống. Một lần nữa con xin được tri ân ông bà đã giải thích dưới ánh sáng của Giáo lý.

Câu hỏi của con là: trong hai hoàn cảnh, ví dụ như: một người bố thí để xây dựng công trình nào đó, việc làm   này được ghi tên vào bảng vàng và được thông báo ở mọi nơi để mọi người cùng biết; một việc bố thí nữa cũng lớn lao nhưng lại không được ghi tên vào bảng vàng hay bia đá. Hai loại bố thí này có gì khác nhau và có được gọi là bố thí ba la mật hay không ạ?

Jonathan:               Như chúng ta đã biết, chúng ta thường nói ở các Pháp đàm về những pháp khác nhau sinh khởi ở những thời điểm khác nhau. Khi chúng ta nói về một tình huống dài như bố thí rồi được khắc tên vào bảng vàng ở chùa thì đó là một câu chuyện rất dài rồi. Bởi vì trong đó bao gồm rất nhiều thực tại và khoảnh khắc khác nhau nên mình không thể mong biết và phân tích hết được những khoảnh khắc đó. Nhưng điều chúng ta đã từng nói và đề cập tới mà rất hữu ích để hiểu về chủ đề này, đól à:giá trị của một hành động phụ thuộc vào phẩm chất của tâm tại thời điểm thực hiệnhành động đó,chứ không phải là bản thân hành động đó. Một việc là thiện khi tâm sinh khởi làm việc đó là thiện. Quá trình bố thí bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau:mua vật thí,mang vật thí đến tặng cho người cần nhận,rồi sau đó nữa, có rất nhiều khoảnh khắc khác nhau với nhiều pháp sinh khởi khác nhau. Một điểm nữa chúng ta đã nói, đó là: những tâm đó sinh khởi do duyên của chúng chứ không do ý chí của chúng ta. Điểm chính mà chúng ta đã tập trung nói trong những buổi pháp đàm vừa qua là về sự phát triển hiểu biết về bản chất của các pháp, không chỉ một số trạng thái tâm nhất định, mà tất cả các pháp khác nhau trong cuộc sống. Chúng ta cũng có nói về những tích lũy về thiện hay bất thiện sinh khởi tùy thuộc vào tích lũy riêng của mỗi cá nhân. Hiểu về bản chất hay tính chất của thực tại đó khi chúng xuất hiện là điều lợi ích nhất mà chúng ta nên suy xét đến, bởi một cách tự nhiên khi hiểu biết về pháp chân đế tăng trưởng thì tự nó nó sẽ làm thanh tịnh hóa những khoảnh khắc của thiện pháp sinh khởi trong cuộc sống.

Sarah:                      Nói ngắn gọn,một sự bố thí cúng dường rộng rãi, hào phóng thì dù được ghi tên lên bảng vàng hay không cũng không có gì khác biệt. Cũng tương tự như vậy, sự cúng dường nhỏ bé dù được ghi nhận hay không được ghi nhận, được viết vào sổ công đức hay không, ghi bia đá hay không cũng không có sự khác biệt nào cả, quan trọng là phẩm chất của tâm khi làm việc đó. Nếu có cái hiểu ở khoảnh khắc làm công việc bố thí đó rằng nó chỉ là tâm, chỉ là pháp chứ không phải là tôi” bố thí, tôi bố thí nhiều hay ít, hiểu biết đó sẽ là sự khởi đầu của bố thí ba la mật. Như Đức Phật đã nói trong các loại thí, như cúng dường cho chùa chiền, bố thí tiền bạc của cải cho người khác,v.v….thì Pháp thí – sự chia sẻ hiểu biết về Giáo pháp cho những người khác là sự bố thí cao thượng nhất,và bất kể là bố thí nhiều hay ít, bố thí cái gì đi nữa thì yếu tố quyết định nằm ở tác ý và phẩm chất tâm ở thời điểm bố thí.

Hết buổi sáng ngày 30/9/2019

———

, ,

PHÁP ĐÀM SÁNG 30/09/2019 tại Hà nội – Phần I

 

Người tham dự: Kính thưa pháp hội, con xin phép được phát biểu: Trước tiên con rất lấy làm cảm kích trước lời dạy của hai vị thầy đã không quản đường xa để đến đây giảng pháp và giúp chúng ta trong mấy ngày hôm nay. Qua hai ngày lắng nghe con thấy có mấy điều như lời nhắc nhở của bác Jon: Trong việc tìm hiểu Giáo Pháp thì có ba loại:1. Tìm hiểu vì ngườ ikhác, 2. Tìm hiểu vì bản thân và 3. Tìm hiểu vì hiểu biết. Achaan cũng từng nói trí tuệ sẽ làm việc theo cách của nó. Tâm Bạch cũng nhắc nhở nếu mình cố làm cái gì đó thì đằng sau đó đã là cái tôi, một cái ngã nào đó rồi, động cơ của nó xuất phát từ ngã. Ba ý này hoàn toàn tương đồng nhau, bởi các pháp do duyên sinh. Vì vậy mình cứ lắng nghe để thu thập, bản thân sự hiểu biết sẽ dẫn chúng ta đến hành động của chính chúng ta mỗi ngày. Không cố bỏ công việc, cũng không cần cố để bỏ những thú vui để tập trung vào nghiên cứu Giáo pháp, cứ để sự lắng nghe và suy xét dần dần tự làm nhiệm vụ của nó, đến một lúc nào đó nó sẽ hướng dẫn người cư sĩ tại gia hay các vị xuất gia hướng đến giải thoát theo bản thân cái cách mà trí tuệ nó làm.  Trí tuệ sẽ làm công việc của nó, khi ấy chúng ta sẽ nhận ra rằng: cần phải nhẫn nại, nhẫn nại với sự hiểu biết ít ỏi của bản thân mình, sự nhẫn nại này có thể sẽ hơi lâu, nó lâu hơn một đời người.

Sarah: Vừa rồi là lời mở đầu rất hay, nó dẫn chúng ta đến những câu hỏi căn bản.  Bây giờ sẽ là thời gian để dành cho các câu hỏi của các bậc phụ lão cũng như các vị xuất gia.

Người hỏi:  Thưa Thầy, thưa cô chú Jon và Sarah, được sự động viên cổ vũ của mọi người tôi xin đưa ra những thắc mắc của mình mà lâu nay tôi vẫn chưa được giải tỏa. Tôi có hai câu hỏi:

1.Trước đây cũng có lần tôi phát biểu, mục đích ban đầukhi đi học Giáo pháp của tôi là để xem nội dung học là gì mà lại thu hút các bạn trẻ, trong đó có con gái tôi và bạn bè của cháu,như thế. Dần dần tôi nghe nhiều hơn và cảm nhận được những điều hay của Giáo pháp, nhưng tôi chưa hiểu được mục đích của việc học Giáo pháp, tôi từng nghĩ học Giáo pháp để rèn rũa bản thân, bỏ tham sân si và để mình trở nên tốt hơn.  Tuy nhiên qua những gì được trao đổi suốt hai ngày qua, các vị thầy đã chỉ ra rằng nếu học để cho mình, vì mình thì đó là tà kiến. Con rất phân vân vậy không biết việc học là để làm gì? Vì ai?  Con đường đi đến là thế nào? Theo anh Giao vừa nói thì việc học sẽ tự thấm dần, nó như kim chỉ nam, hướng suy nghĩ hành động của mình theo duyên mà đi. Tôi chưa hiểu lắm về những điều này, kính mong thầy cô giảng giải giúp.

2.Trong dịp kỉ niệm 47 năm ngày cưới của vợ chồng tôi thì con gái tôi tặng bố mẹ một lời chúc: chúc ba mẹ có bốn đồng-đồng giới, đồng thí, đồng tín và đồng tuệ.Xin được quý thầy cô và các đạo hữu giải thích giúp.

Sarah: Cũng như anh Giao có nói lúc mở đầu buổi Pháp đàm, khi chúng ta bắt đầu tìm hiểu Giáo pháp hay còn gọi là “tu tập”, thường mục đích là để có thêm một cái gì đó cho bản thân, chẳng hạn như có từ tâm hơn, bớt sân hơn,… tóm lại mục đích là để được một cái gì đó cho bản thân– “tìm hiểu vì bản thân”. Hoặc như bác nói, do tò mò muốn xem con gái tìm hiểu điều gì, có tốt không… Hoặc vì đó là một thành viên trong gia đình nên mình cũng làm theo cho được sự hòa hợp, hay bởi vì trong con mắt của xã hội thì đó là một việc làm tốt… Những xuất phát điểm như vậy chính là “tìm hiểu vì người khác”. 

Còn theo đức Phật, lý do thực sự để tìm hiểu Giáo pháp là để hiểu đúng, chỉ để hiểu đúng mà thôi.

Chúng ta có nhiều mục tiêu trong cuộc sống: kiếm sống, thu vén cho gia đình, xây dựng nhà cửa và các trách nhiệm khác nhau. Chúng ta thường bận bịu với đủ các mối quan tâm và nghĩa vụ trong cuộc sống, có rất nhiều thứ mà chúng ta cần phải làm trong cuộc đời này. Nhưng ta cần phải đặt câu hỏi: “cái gì là lợi ích nhất cho cuộc đời này?” để đến khi nhắm mắt, chúng ta thấy rằng cuộc đời này đã được sống một cách có ích, trong khi cái chết có thể tới bất cứ lúc nào. Tất cả những thứ chúng ta cho là quan trọng như nhà cửa, gia đình, những món ăn mà mình đã nấu, những thứ mà mình đã gây dựng,… tất cả sẽ mất đi hoàn toàn khi cuộc đời này chấm dứt, thậm chí là cũng chẳng nhớ gì về chúng cả. Cũng như bây giờ chúng ta không biết được kiếp trước chúng ta đã sống trong căn nhà nào, những người thân, quyến thuộc của mình là ai? Ăn những món ăn gì?… Mọi thứ sẽ bị quên lãng khi cuộc đời này chấm dứt… Nhưng hiểu biết thì sẽ được tích lũy, đó là thứ quý giá duy nhất của cuộc đời còn lại để mang tới kiếp sau, tích luỹ từ kiếp này sang kiếp khác. Như vậy cuộc đời dù dài hay ngắn thì thứ quý báu nhất vẫn là hiểu biết về sự thật, sự thật của cuộc sống, sự thật diễn ra từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác.

Sự thật -chân lý mà Đức Phật đã thuyết giảng cho chúng ta là: tất cả các khoảnh khắc thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, hay suy nghĩ tự diễn tiến mà không có một con người hay tự ngã nào đằng sau đó, chỉ là những khoảnh khắc kinh nghiệm, khoảnh khắc này tiếp nối khoảnh khắc khác. Với hiểu biết dần phát triển về sự thật của mỗi khoảnh khắc, ý niệm về một cái tôi hay tự ngã sẽ dần dần suy giảm. Thực chất, cái tôi này được chúng ta coi quan trọng hơn cả những thứ khác như nhàcửa, người thân trong gia đình…Việc tìm hiểu Giáo pháp có mục đích duy nhất là để hiểu sự thật của cuộc sống ngày một sâu sắc hơn,và tiến trình hiểu biết này phải được diễn ra một cách tự nhiên như trong lời dẫn nhập câu anh Giao lúc nãy.  Bởi nếu chúng ta tìm hiểu Giáo pháp với ý niệm mình là người đang học pháp,là người đang cố tập trung vào đề mục này, v.v…thì ngay ở đó đã có sự dính mắc vào ý niệm về ngã– “tôi”-có-thể-làm, “tôi”-có-thể-thấy…, ta có thể thấy rằng đó không phải là hiểu biết đúng về Giáo pháp của Đức Phật. Như vậy chúng ta sống một cách tự nhiên mà không cố để làm gì đó để trí tuệ hay hiểu biết sinh khởi, các pháp sẽ diễn tiến theo duyên của nó.

Đức Phật có nói về hai loại hạnh phúc: loại hạnh phúc thứ nhất là loại hạnh phúc mà ai cũng thường nghĩ, đó là hạnh phúc khi được ở bên người thân, được quây quần bên con cháu, thưởng thức ẩm thực mỹ vị, cùng vui vẻ bên những người bạn, hay có thời gian tụ họp với nhau đi chùa, v.v…Đó là những hạnh phúc thông thường mà người đời biết đến và cho là định nghĩa về hạnh phúc.  Nhưng thực tế,hạnh phúc này thường sinh kèm với dính mắc, nó luôn ngắn ngủi, dễ bị mất đi. Khi chúng ta mất đi ngôi nhà của mình, người thân của mình, hay những khoảnh khắc vui đùa đã qua, … khi đối tượng mà chúng ta dính mắc vào không còn thì thay vào cảm giác hạnh phúc sẽ là sự đau khổ và mất mát. Bởi hạnh phúc này gắn liền với sự mất mát nên Đức Phật nói rằng đây là loại hạnh phúc đưa đến khổ đau, đến mọi rắc rối trên thế gian. Loại hạnh phúc thứ hai mà Ngài nói tới là loại hạnh phúc gắn liền với hiểu biết về sự thật, là niềm vui sinh từ trí tuệ. Đây là loại hạnh phúc sâu sắc hơn rất nhiều, nó xa lìa với những ý niệm về mình và tự ngã, nó không bị đe dọa bởi sự mất mát và không dẫn tới khổ đau.

Sở dĩ chúng ta ngồi đây hôm nay cùng nhau đàm đạo về Pháp và có những khoảnh khắc hiểu biết sinh khởi là bởi trong quá khứ chúng ta đã từng có sự tìm hiểu và lắng nghe Giáo pháp, và chính nhờ hiểu biết đó mà lại có duyên để cùng nhau nghe Pháp và có cơ hội để phát triển hiểu biết hơnlên. Càng nghe Pháp thì hiểu biết đó càng tăng trưởng và khi chúng ta rời khỏi cõi đời này,hiểu biết đó được mang tới những kiếp sau, nơi nó sẽ tiếp tục được vun bồi và trở nên vững mạnh,vững mạnh hơn.

Jonathan:    Tôi cũng muốn bày tỏ rằng tôi đánh giá cao những chia sẻ chân tình của bác cũng như rất trân trọng mối quan tâm của bác với Giáo pháp. Những gì bác mô tả, như cô Sarah đã nói,phản ánh chân thực động cơ mà đa phần chúng ta đều có khi đến với Giáo pháp, đó là cho bản thân mình, muốn mình trở thành con người tốt hơn, minh triết hơn. Nhưng khi chúng ta đã tìm hiểu kỹ hơn lời dạy của Đức Phật, chúng ta biết được rằnghiểu biết hay trí tuệ sẽ làm thanh tịnh mọi loại thiện pháp.Nhờ đó,khi không có hiểu biết sinh khởi thì các khoảnh khắc thiện pháp khác nhau trong cuộc sống sẽ ít bị ô nhiễm bởi ý niệm về ngã bao quanh nó, Như vậy bản thân chúng ta cũng có sự kiểm chứng ở một mức độ nhất định về những lời dạy của Đức Phật trong cuộc sống qua trải nghiệm ấy.

Tôi cũng trân trọng lời dẫn nhập từ ái và đúng đắn của anh Giao. Tôi đã nghe cẩn thận tất cả những gì anh nói, cho đến đoạn anh nêu lên một ý rằng dù với những người kinh doanh hay với những người học Pháp thì mọi thứ đều phải làm với trí tuệ. Trước đó anh đã chỉ ra một cách đúng đắn rằng trí tuệ chỉ làm công việc của nó, nó chỉ sinh khởi khi có đủ duyên chứ không sinh khởi chỉ bởi vì ta muốn hay cố để có nó. Khi đã nói như vậy thì không cần nói thêm rằng chúng ta cần phải có thêm trí tuệ trong cuộc sống thường nhật. Không có nghĩa là điều ấy không thể xảy ra,nhưng nếu chúng ta hiểu các duyên để trí tuệ sẽ sinh khởi là gì thì sẽ không bị lạc lối sang những suy nghĩ muốn có thêm trí tuệ.

Một trong những duyên quan trọng để trí tuệ sinh khởi là được nghe Pháp và suy xét chân chánh về ý nghĩa của những gì được nghe, và đó là những gì chúng ta đã làm trong những buổi Pháp đàm trong những ngày vừa qua. Tuy nhiên khi nào những yếu tố ấy sẽ làm duyên cho trí tuệ sinh khởi, chúng ta không thể biết trước được, cũng như không thể tiên đoán trí tuệ khi đó sẽ lấy đối tượng là pháp nào. Những gì tốt nhất mà chúng ta có thể làm là suy xét về nhừng lời dạy của Đức Phật và để trí tuệ phát triển theo nhịp độ tự nhiên của nó.

Sarah: Khi chúng ta dùng những từ như ta cần phải, nên thế này, …nó rất dễ xuất phát bởi ý niệm “tôi”-có-thể-làm. Khi ta nói “cần phải có trí tuệ sinh khởi nhiều hơn”, hay “trong lúc làm việc cần phải có trí tuệ” rất dễ là ý niệm về ngã đằng sau đó, và ta đã quên đi là các pháp sinh khởi do duyên.

Về câu hỏi thứ hai của bác:  Tôi nhớ rằng khi tôi và Jonathan làm lễ thành hôn, chúng tôi cũng nhận được lời chúc phúc từ một vị sư.trong đó vị ấy có nhắc đến một bài kinh, nội dung bài kinh đó nói về điều kiện để cho một cặp vợ chồng có thể gặp nhau trong kiếp sau đó là cần phải có bốn yếu tố tương đồng, đó là đồng giới, đồng tín, đồng thí và đồng tuệ.  Hôm qua có câu hỏi về nghiệp nào đưa đến kết quả nào. Thông thường,khi nói về nghiệp và quả của nghiệp mọi người hay nói dưới những ngôn từ chế định, nhưng chúng ta cần suy xét xem dưới góc độ chân đế, thực tại của nó là gì? Trong ngôn ngữ chế định,ta nói rằng chúng tôi chia sẻ Pháp với các bạn.Thực tế thì, trí tuệ sinh khởi nơi tôi không thể được chia cho các bạn.Với Đức Phật cũng thế thôi, Ngài không thể đem trí tuệ của mình chia cho người này hay người kia, bởi những gì trong dòng tâm của người này không thể được chuyển sang dòng tâm của người kia. Tương tự, chia phước không có nghĩa là chúng ta lấy phước của mình mang ra chia cho một ai đó, vì điều ấy là không thể, mà chỉ đơn thuần là chúng ta nhắc đến thiện pháp mà bản thân đã làm để người khác có cơ hội biết tới điều ấy và sinh khởi tùy hỷ, khi ấy có phước lành nơi họ. Cũng tương tự như vậy khi nói đến bốn yếu tố tương đồng nhau trong đời sống vợ chồng là giới, tín, thí, và tuệ.  

Chú thích: chủ đề này được đức Phật thuyết giảng trong Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Bốn Pháp, phẩm Nguồn Sanh Phước, V. (55) Xứng đôi

Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn

Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.

Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.

– Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.

Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều sở cầu
.

Hôm qua chúng ta có bàn về việc khi trí tuệ được phát triển,nó tự phát huy ảnh hưởng, nó tác động đến cách chúng ta làm việc, đến cuộc sống cũng như hành xử của ta với những người xung quanh. Ví dụ như, để chuẩn bị cho những buổi Pháp đàm này, có rất nhiều thiện pháp đã sinh khởi: bạn Mai đã sửa soạn chuẩn bị cho Pháp đàm, thu xếp các bữa ăn chu đáo, cũng như đảm bảo nhà luôn ngăn nắp gọn gàng. Cùng với những người khác, mỗi người một tay một chân góp sức cho pháp đàm. Đó là bởi tín tâm cũng như nhận thức về tầm quan trọng của phát triển hiểu biết. Trong những buổi pháp đàm như thế này chúng ta cũng có thể thấy có rất nhiều thiện pháp sinh khởi nơi mọi người… Tôi cũng muốn đăc biệt nhắc đến anh Sơn, mặc dù không có mặt ở đây nhưng anh đã cũng ủng hộ cúng dường các bữa ăn trưa, cũng như góp chi phí tổ chức khiến cho pháp đàm được thành công tốt đẹp.

Tôi muốn nói những điều ấy để chỉ ra rằng mọi người cùng nhau tìm hiểu Giáo pháp, xuất phát từ niềm tin vào giá trị của hiểu biết về sự thật của cuộc sống. Trong kinh điển có nói về những thân bằng quyến thuộc, bạn bè cùng nhau tụ họp để nghe PPP, và nhờ vậy tạo ra được những cộng trú ấm cúng, hòa thuận, đem lại bao lợi ích không chỉ cho kiếp này mà còn cho nhiều kiếp sau. Đức Phật có giảng về 38 pháp hạnh phúc, chúng ta có phước lành vì trong 38 pháp ấy chúng ta có được rất nhiều. Đức Phật có nói rằng một trong những điều đó là được nghe Pháp và đàm đạo về Pháp. Một phước lành nữa là gần gũi bậc thiện trí để cùng nhau chia sẻ và tìm hiểu Giáo pháp. Những phước lành này có giá trị lợi ích và ý nghĩa hơn rất nhiều so với những ý niệm thông thường của thế gian về hạnh phúc hay những thứ cần có. Điều ấy không có nghĩa là trong đời sống gia đình hay trong các mối quan hệ với mọi người không còn có những lúc mâu thuẫn, cãi cọ hay những thời điểm khó khăn. Tuy nhiên khi hiểu về Giáo pháp, chúng ta sẽ biết được điều gì thực sự là quý giá nhất trong cuộc đời-đó chính là hiểu biết.Vì vậy, chúng ta dành thời gian cho việc chia sẻ hiểu biết ấy, và luôn cố gắng hỗ trợ, giúp đỡ lẫnnhau khi có thể.

Hôm qua chúng ta cũng nói về việc hiểu biết sẽ khiến một người trở nên biết cảm thông hơn. Vì vậy, khi chúng ta chia sẻ Pháp, có thể có những người có những quan điểm hay mối quan tâm khác với mình, ta sẽ không cố để thuyết phục họ nghĩ giống chúng ta, ta hiểu tích luỹ của mỗi người là khác nhau, và vì vậy dễ chấp nhận và cảm thông với họ.

Người hỏi:   Cảm ơn Pháp đàm đã cho tôi lời động viên. Do không theo dõi từ đầu nênnhững gì tôi sắp nói ra có lẽ sẽ lạc đề nhưng tôi mong mọi người thông cảm. Đó là những băn khoăn của riêng tôi nhưng tôi nghĩ nó cũng là của đa phần những người già như tôi, mong các vị hiểu. Người già rất thận trọng khi cuối đời ở với con cái. Từ khi sinh con ra bố mẹ như hai ngọn núi Thái Sơn, chăm sóc cho con, và con cũng tiếp nhận điều đó, cái gì cũng đúng, cái gì cũng nghe theo, rồi dần dần theo thời gian thì ngọn núi lụi dần, thấp dần xuống. Đến đỉnh cao con trưởng thành thì bố mẹ lại là trở ngại với con, hoặc lại càng ngày càng thận trọng hơn khi sống với con. Một nhu cầu cần trao đổi với con cũng phải thận trọng. Ví dụ: ở tuổi của chúng tôi là phải nghĩ đến hậu vận về sau, đến khi nằm xuống thì đặt ở đâu? Ai lo? Làm thế nào để khỏi bị động? Nhưng con nó bàng quang, trong khi mối lo đó chính là điều tôi lo cho các con. Tôi biết khi chết đi rồi thì ai muốn làm gì thì làm, nhưng mà đó là những nỗi niềm của người cha, người mẹ, lo lắng cho các con.  Nhưng con lại coi đó là bình thường, gặp đâu xử lý đấy, trong vòng 15 phút. Thời đại công nghệ cái gì cũng dễ dàng. Nhưng với chúng tôi, chúng tôi quan niệm như vậy là không có đạo lý.  Hôm nay tôi mới đi thăm một người bạn của mình, cũng là một người bà con. Vị này là một giáo sư có tên tuổi, khi gặp nhau chúng tôi chỉ cầm tay nhau và khóc, chúng tôi đồng cảm với nhau ở chỗ đều là những người già sắp ra đi hoặc đã đi thử một lần (là tai biến mạch máu não) nhưng không đi được bởi vẫn suy nghĩ và lo lắng cho các con chưa thành gia thất. Như vậy ý tưởng này có đúng không? có cần có con, có cháu để nối dõi tông đường không? Tôi đặt ra câu hỏi đó vì một số lớp trẻ bây giờ quan niệm rằng chỉ sống trên đời như vậy rồi thôi còn khi chết đi rồi là hết. Tôi không đồng tình với quan điểm như vậy, ý tưởng như vậy là bỏ hết gia phong, gia tộc. Nếu nói dựa trên khoa học thì ADN còn tiếp, bây giờ công nghệ khoa học đã tìm ra những ADN tốt để tạo ra những con người thông minh,như vậy có nghĩa là bố mẹ phải có thông minh, ông bà phải thông mình thì mới tạo ra những người con tốt, có trí tuệ. Vậy tôi xin dừng lại ở đây, mong ông bà giải đáp những thắc mắc của tôi.

Jonathan: Sáng nay chúng ta đã nói về ý niệm mạnh mẽ về bản thân, về những gì bản thân mình quan tâm.Chúng ta có thể thấy rằng mối bận tâm với bản thân đó sẽ dẫn dắt khiến chúng ta lo lắng không chỉ về khi còn sống mà cả về lúc chết đi. Thực tế là, ta không kiểm soát được việc mọi người sẽ làm gì khi chúng ta ra đi và phải mai táng, cũng như không ai có thể kiểm soát được những gì diễn ra hiện giờ. Tuy nhiên, lo lắng, bận tâm về những thứ như vậy nằm trong bản tính của chúng ta và sự lo lắng đó là thực. Tôi biết rằng mấy ngày trước bác chưa tham dự. Trong những ngày ấy, chúng tôi đã nói rất nhiều về các pháp chân đế và rằng, toàn bộ Giáo lý của Đức Phật là để hiểu về bản chất của các pháp tại mỗi khoảnh khắc. Đức Phật nói rằng các thực tại hay các pháp chân đế đó đều sinh và diệt theo duyên của chúng. Một số người có xu hướng lo lắng về những chuyện đã qua trong quá khứ, có những người lại lo lắng về những gì diễn ra hiện giờ và cũng có những người lo lắng về gì sẽ xảy ra trong tương lai, tất cả phụ thuộc vào tích lũy riêng của mỗi người. Cũng có một số khác lại không bận tâm đến tương lai -đó là tích lũy riêng của họ. Tôi không nói trường hợp này tốt hơn hay tệ hơn trường hợp kia, mà chỉ nói về những trường hợp khác nhau,và những trường hợp khác nhau ấy đưa đến các thực tại khác nhau.  Đôi khi chúng ta mong muốn cuộc sống hiện giờ khác đi để mình không phải lo lắng về điều gì đó, và dù có lo lắng như thế nhưng lúc chúng ta xem tivi hay bận nghĩ ngợi hoặc làm gì đó khác thì những lo lắng đó không tồn tại. Đó là minh hoạ cho thấy rằng các pháp diễn ra một cách tự nhiên và thực tế là ta không có sự kiểm soát nào về những gì xảy ra trong cuộc sống.

Sarah: Chúng ta hãy nói thêm về cái chết và những gì Đức Phật giảng về cái chết.Theo nghĩa sâu xa thì mỗi khoảnh khắc hiện giờ đều đang chết đi bởi ở mỗi khoảnh khắc tâm sinh khởi rồi diệt đi hoàn toàn, cũng giống như cái chết vậy. Như vừa nãy tôi đã nói, suy nghĩ với hạnh phúc sinh khởi, nó không kéo dài,nó diệt đi- chết đi, nó có thể được tiếp nối bởi những suy nghĩ với đau khổ hay buồn chán, và rồi những suy nghĩ ấy cũng diệt đi. Như vậy theo nghĩa tối hậu thì trong mỗi khoảnh khắc đều có cái chết. Cũng tương tự như vậy, đến thời điểm cuối cùng của cuộc đời này, khi tử thức sinh khởi và diệt đi, ngay lập tức sẽ có thức tái tục tiếp nối và bắt đầu một kiếp sống mới. Như vậy theo nghĩa chế định thì có một người chết đi nhưng theo nghĩa tối hậu, chỉ đơn thuần có một tâm diệt đi và được tiếp nối bởi một tâm khác sinh khởi trong một kiếp sống khác. Cái còn lại chỉ là phần sắc thân. Như chúng ta đã nói, nơi cái gọi là thân có những sắc được duyên bởi nghiệp,ví dụ như sắc nhãn căn, sắc nhĩ căn hay thân căn. Khi cuộc đời này chấm dứt,nghiệp không còn làm duyên cho các sắc đó sinh khởi nữa nên sẽ không còn các sắc do nghiệp sinh như nhãn căn, nhĩ căn hay thân căn,và theo chế định,ta nói rằng người ngày đã chết.Do đó,phầnthi hài còn lạivề bản chất chỉ là các sắc do nhiệt sinh, giống như các vật chất vô tri, không còn là con người mà chúng ta vẫn biết trước đó nữa.

Khi ta chạm vào xác chết hay thi hài, nó cũng cứng như chạm vào cái bàn này,vào một vật vô tri, bởi sắc do nghiệp sinh đặc trưng nơi chúng sinh có mạng sống không còn nữa.  Thức nơi người mà chúng ta gọi là người thân của mình đã tái tục ở một nơi khác rồi theo duyên nghiệp, không biết ở nơi nào. Khi chúng ta nhìn vào thi hài và cảm thấy buồn đau, thực chất dòng tâm thức của người quá cố đã theo duyên trôi chảy mà bắt đầu ở một nơi khác, một gia đình, một ngôi nhà khác hoặc một cõi khác, mà chúng ta không biết cụ thể là ở đâu. Vì vậy sự buồn đau than khóc lúc đó không dành cho người quá cố nữa mà cho chính sự mất mát của bản thân mình, chúng ta đã mất đi một người thân và giờ đây than khóc cho chính cảm giác mất mát ấy. Điều tốt đẹp nhất người sống có thể thể hiện với người đã ra đi không phải là việc làm gì đó với một nghi lễ nào đó với thi hài này, bởi như ta đã nói thi hài này chỉ như một vật chất vô tri. Điều đáng quý hơn sẽ là việc người còn sống có thể tưởng nhớ lại những điều tốt đẹp, những thiện pháp nơi người quá cố và mong người quá cố bắt đầu cuộc sống mới an lành.

Nếu những người thân còn lại trong gia đình đã được học Giáo pháp, đã tạo được nhiều thiện pháp và phát triển hiểu biết về sự thật của cuộc sống thì đó là cách tuyệt vời nhất để báo hiếu những người sinh thành ra mình, hơn cả những lễ nghi hình thức.  Trong khi làm theonhững thủ tục truyền thống thì họ vẫn có thể phát triển hiểu biết, đó là phước lành thực sự, cao thượng hơn rất nhiều.

Liên quan đến việc cần thiết duy trìnòi giống hay gia tộc, Đức Phật đã dạy rằng chúng ta đã trải qua vô vàn kiếp sống trong vòng sinh tử luân hồi, và trong vô số những kiếp sống đó thì tất cả những người xung quanh đây rất có thể đã từng là người thân trong gia đình chúng ta, là cha, là mẹ, là con, là thân bằng quyến thuộc.là bạn hữu của chúng ta. Vì vậy thực tế ta có vô số cha mẹ và vô số con cái. Vì vậy có thể có sự tôn trọng, tử tế, từ ái với tất cả những người xung quanh mình chứ không chỉ với những người thân trong gia đình mình.

Jonathan:    Tôi rất thích ẩn dụ về ngọn núi Thái Sơn của bác về hình ảnh bậc cha mẹ trong mắt con cái,bởi ở một khía cạnh nào đó,nó rất tương đồng với hành trìnhđiển hình của mỗi chúng ta trong cuộc đời. Khi còn trẻ chúng ta nghĩ rằng tất cả những người xung quanh đều phụ thuộc vào chúng ta. Nhưng khi chúng ta có tuổi hơnvà có thêm thời gian và sự từng trải để chiêm nghiệm, chúng ta nhận ra mọi thứ khác với những gì mình từng nghĩ, và rằng tất cả những gì mình dự định, trù bị cuối cùng đều diễn ra không giống như đã lên kế hoạch. Những người mà trước đây chúng ta cho rằng phụ thuộc vào mình giờ đã trưởng thành hơn, có những mối quan tâm riêng của họ, còn bản thân chúng ta, càng có tuổi thì lại càng phải dần từ bỏ những thú vui của cuộc sống và những gì mà ta gắn bó. Và đến khi cái chết tới thì chúng ta mất tất cả: tất cả những gì mà ta nghĩ mình từng có hay từng biết. Đây chỉ là những suy xét rất thông thường của thế gian, tuy nhiên suy ngẫm về những thực tế ấy cũng có ích lợi.

Chẳng hạn như,chúng ta thường quan tâm đến hình thức của mình,đến kiểu tóc, đến hình dáng và màu sắc của móng tay…Nhưng khi chúng ta tới tiệm cắt tóc thì những phần tóc cắt rồi rớt xuống đất trở nên hoàn toàn vô nghĩa: chúng ta không còn quan tâm đến chúng nữa, chúng ta chỉ quan tâm đến những gì còn lại trên đầu, những gì còn lại trên người mình thôi. Khi cuộc đời này chấm dứt, thân thể chúng ta cũng giống như những mớ tóc còn lại trên sàn của tiệm cắt tóc mà thôi. Tóc đã bị cắt cũng giống như cái thân này đã bị rời đi, hoại đi bởi thức, vì vậy cũng không cần lo lắng về điều gì sẽ xảy ra với thân thể của chúng ta khi chết.  Nó sẽ còn tồn tại trong một thời gian và rồi sẽ tan hoại, phân hủy như chúng ta biết. Chúng ta đều hiểu điều ấy về mặt lý thuyết nhưng vẫn lo lắng, mà bản chất chính là lo lắng về việc những người khác sẽ nghĩ như thế nào về ta. Tuy nhiên hình ảnh của chúng ta trong lòng người khác cũng chỉ là những thứ rất tạm bợ, chúng ta cũng không kiểm soát được hình ảnh của mình trong con mắt của người khác. Mặt khác, nếu con cái của chúng ta là những người đã phát triển những phẩm chất thiện thì ta có thể tin tưởng rằng họ sẽ tưởng nhớ về ta một cách đúng đắn.

Sarah: Cái chết cũng giống như việc ngủ say và rồi thức dậy ở một đất nước, một thế giới khác, chẳng còn liên quan gì đến nơi cũ nữa, chẳng còn bận tâm đến mớ tóc đã rớt xuống còn lại trên sàn nhà. Còn hình ảnh ngọn núi lùn đi, đó là mẫu số chung cho tất cả. Nó gợi tôi nhớ đến mẹ của tôi mấy năm trước, khi bà đã yếu đi rất nhiều, bắt đầu lãng trí và không còn khả năng tựlo cho bản thân mình nữa, tôi có nói với bà rằng mẹ cần phải làm việc này hay việc kia đi, nghe vậy bà bỗng nhiên bật dậy và nói rằng chính bà mới là người sẽ bảo tôi phải làm gì chứ không phải là ngược lại. Một tình huống phổ biến ở mọi nơi….Tôi cũng phảinói với bà rằng bà nên tập từ bỏ ý nghĩ quen thuộc rằng mình mới là người biết và chỉ dẫn cho các con cần phải làm gì, đó là một thực tế cần phải chấp nhận…

Những câu hỏi và những vấn đề bác đưa ra rất hữu ích cho mọi người, đó là những điều tưởng như bình thường nhưng lại khác khi được nghe giải thích dưới nhãn quan của Giáo lý Đức Phật.

———

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

, ,

Tìm hiểu mười ba la mật – Chương 1: Bố thí Ba la mật

Chương 1

Bố thí Ba la mật

Bố thí ba la mật được kể tới đầu tiên trong mười ba la mật. Như chúng ta đã đọc về định nghĩa về bố thí ba la mật trong cuốn Chú giải cho “Hạnh tạng”:

“Bố thí (dana) có đặc tính xả ly; chức năng/phận sự của bố thí là đẩy lui lòng tham với những thứ có thể cho đi; biểu hiện/thành tựu của bố thí là không dính mắc, hay đạt được phú quý và tái sinh an lành; cận nhân của bố thí là một đối tượng có thể được xả ly.”

Đa số mọi người đều biết rằng bố thí là sự cho đi vì lợi ích và hạnh phúc của những người khác. Những người tại gia cư sĩ không thể cho đi tất cả sản nghiệp của mình bởi họ vẫn còn dính mắc vào các đối tượng ngũ dục, nhưng mỗi khi có cơ hội bố thí, họ nên thực hành điều đó. Nếu ta không thể cho đi vì lợi ích của người khác những thứ lớn nhỏ mà  mình sở hữu, sẽ còn khó khăn hơn biết bao để từ bỏ sự dính mắc vào danh pháp và sắc pháp mà ta chấp thủ là tự ngã, là chúng sinh và con người. Vì thế, ta cần tập bố thí hết sức có thể, vì lợi ích và an sinh của người khác, để có thể tận diệt các phiền não, trong đó có sự bám víu vào của cải cũng như vào danh pháp và sắc pháp mà ta chấp tưởng là chúng sinh, con người và tự ngã. Do vậy, trong cuộc sống thường nhật, ta không nên lơ là việc vun bồi bố thí ba la mật. Ta cần phải biết liệu sự bố thí của mình có phải là ba la mật hay không. Bất kể ta bố thí nhiều tới bao nhiêu, sự bố thí ấy không phải là một ba la mật nếu ta không thấy được tính thiết yếu của việc tận diệt phiền não.

Những người hiểu Pháp và thực hành bố thí cần suy xét xem sự bố thí của mình có phải là ba la mật hay không. Nếu một người bố thí mà không mong đợi kết quả nào, dù là sự tái sinh nơi thiên giới, khi ấy sự bố thí của người ấy có thể là ba la mật. Tuy nhiên, nếu một người muốn nhận được phần thưởng khi mong mỏi tái sinh giàu sang hay tái sinh ở các cõi trời, hoặc nếu người ấy muốn nhận được lợi dưỡng, tôn vinh hay tán dương, cuộc sống của người ấy chất chứa mong cầu, và mục tiêu của người ấy không phải là sự tận diệt phiền não. Nếu ta suy niệm về điều này, ta có thể biết được liệu sự bố thí của mình ở một thời điểm cụ thể có phải là ba la mật hay không.

Bố thí ba la mật là một duyên để vượt sang bờ bên kia, hay nói cách khác là sự tận diệt các phiền não, đó là bến bờ đối nghịch với xứ sở của phiền não. Cần một thời gian cực kỳ dài để có thể tới được bến bờ nơi phiền não tận diệt; đạt tới đó thật chẳng dễ dàng. Chúng ta cần phải hiểu rõ ràng tận diệt phiền não có nghĩa là gì. Vì thế, chúng ta cần phải biết liệu ở khoảnh khắc bố thí mình có mong đợi điều gì hay không. Bố thí tận diệt tham ái là sự bố thí với mục đích tận diệt phiền não, và điều ấy có nghĩa rằng ta không nên mong đợi bất cứ kết quả nào.

Ngoài việc bố thí của cải vật chất, có sự bố thí cao thượng hơn, đó là bố thí Pháp. Đó thực chất là món quà trí tuệ thật lợi lạc cho kiếp này cũng như trong những kiếp vị lai. Khi chúng ta bố thí của cải vật chất cho những người nghèo khó, sự giúp đỡ ấy chỉ có hiệu ứng tạm thời. Có thể ta không cân nhắc tới nguyên nhân gốc rễ của sự nghèo túng ấy. Nghèo túng là quả của nghiệp bất thiện, và chừng nào ta tạo nghiệp bất thiện, chừng ấy vẫn còn duyên cho sự tái sinh trong cảnh nghèo.

Bên cạnh sự trợ giúp bằng vật chất, ta cần giúp mọi người đi tới gốc rễ sự nghèo túng của họ, tức là giúp họ có được hiểu biết đúng về sự thật của Giáo Pháp. Vậy là ta sẽ thấy rằng, mình thực sự có thể giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống thường nhật, bằng tài thí cũng như Pháp thí. Với Pháp thí, chúng ta giúp đỡ những người khác có được hiểu biết đúng về Giáo pháp cũng như cách áp dụng Giáo Pháp ấy. Hơn nữa, giúp đỡ mọi người có được hiểu biết đúng về Pháp có thể là một duyên khiến họ tăng trưởng thiện pháp: bố thí, trì giới và phát triển tâm trí.

Vì vậy, khi một người giúp đỡ những người khác hiểu Pháp bằng nhiều cách khác nhau – thông qua việc phát thanh, in sách, đàm đạo hay thuyết Pháp – mà không nhằm thu được gì cho bản thân, người ấy đang thực hành từ tâm. Khi ấy, những hành động bố thí của người ấy là ba la mật dẫn đến sự tận diệt phiền não. Người ấy có hiểu biết kiên cố rằng sự phát triển thiện pháp không bị ô nhiễm bởi phiền não chính là vun bồi các ba la mật. Một số người ưa hoằng pháp muốn đánh giá kết quả những việc tốt của mình. Tuy nhiên, kết quả thực sự của những nỗ lực của một người không liên quan đến số lượng người nghe Pháp mà người ấy thuyết hay số lượng thiện nghiệp mà người ấy đã tạo cho mục đích này. Kết quả của những cố gắng ấy được thể hiện trong tâm của người nghe giờ đã có thể phát triển trí tuệ và áp dụng Giáo pháp tốt hơn.

Khi một người nghe Pháp có được hiểu biết đúng, người ấy tích lũy sự chân thật, và đó là chân thật ba la mật. Người ấy cũng tích lũy cả quyết định ba la mật khi có niềm tin kiên cố vào mục tiêu của mình là tận diệt phiền não. Chúng ta có thể đánh giá lợi ích của việc nghe Pháp tại ngay thời điểm ấy: liệu chúng ta có tích lũy thêm thiện pháp và suy giảm bớt bất thiện pháp hay không?

Có một hình thái bố thí khác là vô úy thí (abhayadāna), đó là sự bố thí cảm giác an toàn khỏi hiểm nguy và sợ hãi.

Ta đọc trong cuốn “Tăng chi bộ kinh”,  Chương Tám Pháp, Phẩm Bố thí, IX (39), Nguồn nước Công đức, về tám nguồn nước công đức: quy y Tam bảo và năm bố thí1. Ta đọc về năm bố thí này như sau:

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh. Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, đem cho không sợ hãi cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng sanh, không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy sẽ được san sẻ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại…”

Lời dạy tương tự được thuyết về sự từ bỏ trộm cắp, tà dâm, nói dối và dùng các chất say. Như vậy, giới có thể được suy xét dưới khía cạnh bố thí. Từ bỏ những việc làm tổn hại người khác, cũng như trao tặng sự bảo vệ khỏi hiểm nguy đều nằm trong vô úy thí. Hơn nữa, tha thứ cũng được coi là một dạng của bố thí2. Khi ta tha thứ cho người khác, ta không trôi theo ác cảm và hận thù.

Nếu một người không biết được rằng tha thứ là một ba la mật, người ấy sẽ không tha thứ được cho người đã làm ác với mình. Nếu ta không tha thứ cho những người khác, làm sao ta có thể đạt được giác ngộ và tận diệt phiền não? Nếu ta suy xét về điều này, đó có thể là duyên cho vô úy thí. Hình thái bố thí này cao thượng hơn sự bố thí của cải vật chất (āmisa dāna). Nếu ta không thể tha thứ cho người mình không ưa, điều ấy cũng có nghĩa là ta không thể vun bồi các hình thái thiện pháp khác đối với người ấy. Nếu ta không tha thứ cho một người hoặc vẫn còn giận dữ với người ấy, ta sẽ không thể hào hiệp với anh ta, ta thậm chí không thể cho anh ấy vật chất. Ta cũng không thể tặng anh ấy món quà Pháp thí bằng cách giúp đỡ anh ấy qua việc đàm đạo, hay khuyên nhủ anh ấy về những gì có lợi và có hại của cuộc đời.

Vô úy thí là một duyên cho sự vun bồi trì giới ba la mật (sīla paramī); đó là duyên cho sự từ bỏ tà nghiệp và tà ngữ. Nếu ta không tha thứ cho người khác, chúng ta sẽ không cư xử như một người bạn và vì thế thiện pháp không thể phát triển. Vậy làm sao ta có thể vượt được sang bờ bên kia, bờ của sự tận diệt phiền não?

Điều này cho ta thấy rằng sự suy xét của chúng ta về bản chất của thiện pháp trong đời sống hàng ngày phải rất tinh tế. Một người phát triển loại trí tuệ có thể chứng ngộ Tứ Thánh Đế cần biết được tính chất của tâm mình; người ấy cần phải biết được khi nào tâm mình ô nhiễm và không có sức mạnh. Trong trường hợp như vậy, làm sao người ấy có thể du hành trên con đường Bát Chánh Đạo dài vô tận? Người ấy cần phải biết tính chất của tâm mình để có thể có được sức mạnh tâm trí nhờ các ba la mật. Người ấy có thể biết rằng Đạo chính là tứ niệm xứ, là sự phát triển hiểu biết về các thực tại; nhưng chánh niệm sẽ không sinh khởi nếu các ba la mật không đủ mạnh để có thể liễu ngộ Tứ Thánh Đế. Tất cả chúng ta cần vun bồi mười ba la mật với trí tuệ, cả khi chúng ta bố thí trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta cần biết sự thật, chúng ta cần biết sự khác biệt giữa bố thí không có trí tuệ và bố thí với trí tuệ, như trường hợp bố thí với trí tuệ của Đức Bồ tát. Bằng cách ấy, chúng ta có thể suy xét và hiểu được chân thật ba la mật, sự chân thật vì thiện pháp, để có thể đi theo bước chân của Đức Bồ tát, người đã phát triển các ba la mật trong từng kiếp sống. Ngài không phát triển riêng rẽ một ba la mật trì giới trong kiếp này, và xuất gia trong một kiếp khác, mà phát triển cả mười ba la mật trong mỗi kiếp, luôn luôn như vậy.

Bây giờ tôi sẽ bàn về pháp bố thí đi kèm với chân thật, với chân thật ba la mật, và ở đây chúng ta cần suy niệm về sự bố thí của Đức Bồ tát.

Cuốn “Paramattha Dipani”, là cuốn Chú giải cho Hạnh Tạng giải thích về ba loại bố thí ba la mật: tài thí (āmisadāna), vô úy thí (abhayadāna) và Pháp thí (dhammadāna). Chúng ta đọc về sự bố thí vật ngoại thân như sau:

Khi bậc Vĩ nhân bố thí vật ngoại thân, vị ấy bố thí bất cứ thứ gì bất cứ ai cần; và khi được biết ai đó cần thứ gì, vị ấy bố thí mà không cần đợi người ấy hỏi xin, huống gì khi được hỏi xin.”

Một người sẵn sàng bố thí thứ hữu dụng cho người khác khi người ấy cần là người có hiểu biết tinh tế về sự thực hành thiện pháp. Ngay khi thấy rằng một người đang có nhu cầu về một thứ, tâm bi liền sinh khởi, người ấy không đợi đến khi bị hỏi xin.

Chúng ta đọc tiếp trong Chú giải:

“Ngài chỉ bố thí khi có thứ để bố thí.”

Ngài không bận tâm hay cảm thấy phiền lòng khi  muốn bố thí nhưng lại không có gì để bố thí. Đức Bồ tát chỉ bố thí khi ngài có thứ để bố thí.

Chúng ta đọc:

“Khi có những thứ để bố thí, đức Bồ tát bố thí thứ người ta muốn có chứ không bố thí thứ họ không muốn”.

Khi những người khác đang cần thứ gì đó, ngài cho đi thứ ấy nếu có.

Chúng ta đọc:

“Ngài không bố thí bởi mong đợi được đáp trả. Và khi không có vừa để chia đủ hết cho tất cả, ngài phân phối đều tất cả những gì có thể sẻ chia. Nhưng ngài không bố thí những thứ đưa tới phiền não cho người khác, chẳng hạn như vũ khí, thuốc độc hay chất say. Ngài cũng không cho những thứ làm vui có tác hại và dẫn tới dễ duôi. Ngài không bố thí thực phẩm hay thức uống không phù hợp cho người ốm bệnh, kể cả khi người ấy đòi hỏi, và ngài không bố thí những gì phù hợp một cách vượt quá phạm vi hợp lý”

Nếu ta thực sự muốn giúp ai đó, chẳng hạn như một người ốm bệnh, ta cần phải suy xét với từ bi về cách thức hỗ trợ người ấy. Chúng ta không nên cứ bố thí không suy xét, mà cần biết thứ mình cho có phù hợp và hữu ích cho một người bệnh hay không. Ta cần phải biết tỉ mỉ cái gì là thiện pháp, ta cần biết phân biệt, không bỏ qua thiện pháp. Giống như một người thấy thuốc cần biết rõ tình trạng bệnh nhân và liều lượng thuốc phù hợp với từng người bệnh, cũng vậy ta phải bố thí với suy xét.

Chú giải nêu:

“Lại nữa, khi được hỏi xin, ngài bố thí cho các gia chủ những thứ phù hợp cho gia chủ; cho các bậc xuất gia những thứ phù hợp cho xuất gia. Ngài bố thí cho cha, mẹ, thân bằng quyến thuộc, bạn hữu và đồng môn, cho con cái, cho vợ, cho nô lệ và người làm công, mà không làm đau lòng ai. Nếu đã hứa bố thí thứ cao thượng, ngài không bố thí thứ hạ liệt. Ngài không bố thí bởi mong muốn lợi dưỡng, danh dự hoặc tiếng thơm, hay bởi mong đợi được đền đáp, hoặc một kết quả nào khác ngoài sự Toàn Giác (trong trường hợp của đức Bồ tát). Ngài không bố thí vì ghét bỏ món đồ bố thí, hay ghét bỏ người hỏi xin. Ngài không bố thí món đồ bỏ đi, kể cả cho những kẻ hành khất thiếu kiềm chế sỉ vả, nhục mạ ngài.”

Mỗi khi bố thí, ta cần thẩm định kỹ tâm mình. Tâm cần thực sự mềm mại và hiền dịu. Ta không nên coi thường những người hỏi xin hay bất mãn với những gì ta cho họ; ta không nên bố thí những món đồ bỏ đi, kể cả cho những người hành khất thiếu kiềm chế sỉ vả và nhục mạ ta.

Liệu chúng ta có theo được điều này không? Người nhận quà có thể tỏ vẻ khó chịu, hoặc có lúc hành xử một cách khiếm nhã. Dù thế, tâm của người bố thí có thể mềm mại và hiền dịu. Người ấy có thể bố thí mà không ác cảm với người nhận. Có thể rằng người nhận bố thí thiếu kiềm chế trong hành xử, có những hành động không đúng, hoặc giả người ấy có thể nhục mạ người bố thí; người ấy có thể giận dữ, nói rằng người kia cho quá ít, hoặc rằng mình không muốn có những thứ được cho. Tuy nhiên, mặc vậy, tâm của người bố thí cần kiên cố trong thiện pháp.

Chúng ta đọc trong Chú giải:

“Vị ấy luôn bố thí với tín tâm, với từ bi và cung kính.”

Bằng cách này ta có thể tận diệt những phiền não của mình kể cả khi bố thí. Chú giải nói:

“Ngài không bố thí vì tin vào điềm báo dị đoan: mà ngài bố thí với niềm tin vào nghiệp và quả của nghiệp. Khi bố thí ngài không làm người xin khổ sở bằng cách bắt người ấy phải đảnh lễ mình, v.v…; Ngài bố thí mà không làm khó người khác. Ngài không bố thí với ý định lừa dối những người khác, hay với ý định làm tổn thương; Ngài chỉ bố thí với một tâm vô nhiễm. Ngài không bố thí với những lời thô tháo hay cái chau mày, mà với những lời khả ái, thân hữu, cùng nụ cười trên môi.

Bất kỳ khi nào một món đồ trở nên thái quá bởi giá trị và vẻ đẹp, bởi sự cổ quý, bởi sự gắn bó đã tích lũy từ lâu, đức Bồ tát nhận ra sự luyến ái ấy, nhanh chóng từ bỏ luyến ái ấy, tìm người tiếp nhận và cho đi.”

Một người hiểu rõ mình biết dính mắc của mình ở mức nào, người ấy biết khi nào mình có thể từ bỏ thứ gì và khi nào thì không. Có lúc, người ấy có thể nghĩ đến việc bố thí, nhưng lại không thể bố thí. Tuy nhiên, như ta đã đọc, với đức Bồ tát thì khác.

Đoạn trích dẫn trên là bàn về tài thí – sự bố thí vật chất. Chú giải đưa ra nhiều ví dụ về sự thực hành của đức Bồ tát khi ngài vun bồi các ba la mật để có thể đạt tới sự giác ngộ của một vị Phật Chánh Đẳng Giác. Tuy nhiên, bây giờ chỉ có một ít chi tiết được bàn tới ở đây để mọi người có thể thẩm xét tâm mình một cách kỹ càng hơn để có thể phát triển thêm thiện pháp.

Chú giải nói về vô úy thí (abhayadāna) – bố thí cảm giác không sợ hãi – như sau:

“Vô úy thí là bố thí sự bảo hộ cho chúng sinh khi họ trở nên sợ hãi bởi vua, bởi kẻ trộm, bởi lửa, bởi nước, bởi kẻ thù, bởi sư tử, bởi hổ, bởi gấu hoang, bởi rồng, bởi chằn tinh, bởi quỷ, bởi yêu tinh, v.v…

Pháp thí là lời Pháp đúng đắn được thuyết bởi tâm vô nhiễm; tức là những pháp môn đưa tới thiện lành cho kiếp này, kiếp sau và tới sự giải thoát tột cùng. Bằng những lời Pháp ấy, những người chưa bước vào Giáo Pháp bước vào Giáo Pháp, còn những người đã bước vào Giáo Pháp đạt tới chín muồi. Và đây là pháp môn ấy: Tóm tắt là, vị ấy nói về bố thí, về trí giới, về thiên giới, về bất toại nguyện và nhiễm ô nơi lạc thú ngũ dục, và về sự lợi ích của việc từ bỏ những dục lạc ấy.”

Mọi người có thể hiểu về bố thí, về hiểm họa của ngũ dục và của lợi ích của việc từ bỏ những dục lạc ấy, nhưng nếu ta thất niệm và không nghe Pháp, ta sẽ dễ bị xâm chiếm bởi phiền não. Khi ta thường xuyên nghe Pháp, dù nghe lại những gì đã nói trước đó, hoặc khi ta nghe những gì đã được giảng về cuộc sống thường nhật, ta được nhắc nhở hãy suy niệm và hay biết thực tại, và nhờ thế sẽ có duyên cho sự tích lũy thiện pháp nhiều hơn. Chúng ta đọc tiếp trong Chú giải:

“Với những ai có tâm thiên về sự giác ngộ của bậc thanh văn (sāvakabodhiyam adhimuttacittānam), Ngài cho họ nền móng và tịnh hóa họ (trong tiến trình hướng về đích) bằng cách thuyết các bài Pháp chi tiết, giảng giải về các tính chất cao thượng của bất kỳ đề mục nào phù hợp trong các đề mục sau: quy y, trì giới, thu thúc lục căn, thiểu dục, chánh niệm-tỉnh giác…”

Ta cần biết được mức độ của hiểu biết của mình. Như đã đọc, đức Phật thuyết Pháp chi tiết cho những người tâm thiên về sự giác ngộ của bậc thanh văn, Ngài thuyết Pháp đặt nền móng và tịnh hóa họ (trong tiến trình hướng về đích) bằng cách thuyết các bài Pháp giảng giải về các pháp cao thượng phù hợp với họ.

Những người muốn phát triển tứ niệm xứ, phát triển hiểu biết đúng về các đặc tính của các pháp hiện tiền và vun bồi các ba la mật trong đời sống thường nhật là những người thiên về sự giác ngộ của bậc thanh văn, và điều ấy có nghĩa là họ quy y Tam Bảo, họ trì giới, họ thu thúc lục căn, họ thiểu dục và thực hành tinh tấn -chánh niệm-tỉnh giác.

Chúng ta cần vun bồi các ba la mật song song với tứ niệm xứ, kiếp này sau kiếp khác. Đức Bồ tát đã vun bồi các ba la mật trong nhiều a tăng tỳ kiếp tới mức độ vô song. Ngài đã tích lũy ba la mật bố thí cùng với trí tuệ và tất cả các phẩm chất thiện khác để tạo duyên (dưới dạng hành uẩn, saṅkhārakhandha3) cho sự chứng ngộ Tứ Thánh Đế đưa đến quả vị Phật. Chúng ta đọc trong Chú giải về sự tích lũy bố thí ba la mật của đức Bồ tát:

“Khi bố thí vật chất, bậc Vĩ nhân bố thí vật thực, suy tư: “Bằng sự bố thí này, nguyện cho tôi giúp các chúng sinh có được tuổi thọ, sắc đẹp, hạnh phúc, sức mạnh, trí tuệ, và quả tối thượng của tịnh lạc”. Ngài bố thí thức uống, mong mỏi làm dịu cơn khát của dục lạc; bố thí y áo để được phục sức bằng tàm và quý cùng nước da óng vàng (của một vị Phật); bố thí phương tiện để có thể có được các năng lực thần thông và hưởng lạc niết bàn; bố thí hương thơm để tạo ra sự tỏa ngát của giới; bố thí vòng hoa và phấn để tạo ra vẻ đẹp của Phật tính; bố thí chỗ ngồi để tạo ra sàng tọa của đài giác ngộ; bố thí giường nệm để tạo ra nơi nghỉ cho đấng Như Lai; bố thí trú xá để có thể trở thành nơi nương tựa cho chúng sinh; bố trí đèn đuốc để có thể có được ngũ nhãn4.  Ngài bố thí hình sắc để có được hào quang (xung quanh đức Phật); bố thí âm thanh để tạo ra giọng nói như Phạm Thiên (của đức Phật); bố thí vị ngọt để khả ái với thế gian; bố thí vật xúc để có được Phật tướng trang nhã. Ngài bố thí thuốc men để sau này có thể trao tặng hương vị bất tử và vô thủy của niết bàn. Ngài bố thí tự do cho nô lệ để có thể giải thoát chúng sinh khỏi sự nô dịch của phiền não. Ngài bố thí lạc thú cao thượng để tạo nên sự hân hoan trong Chánh Pháp. Ngài bố thí con đẻ để có thể nhận mọi chúng sinh là con bằng sự chào đời của các bậc Thánh. Ngài bố thí vợ để có thể trở thành bậc Chuyển luân vương. Ngài bố thí vàng, ngọc, san hô, châu báu, v.v… để có thể có được 32 Phật tướng, và bố thí mỹ phẩm để đạt được các nét phụ hoàn mỹ. Ngài bố thí các kho bạc để có được kho báu của Chánh Pháp; bố thí vương quốc để có thể trở thành Pháp Vương; bố thí tu viện, công viên, hồ, uyển để có thể đắc thiền, v.v…; bố thí chân để có thể bước tới đài giác ngộ với bàn chân in dấu các bánh xe hảo tướng; bố thí tay để có thể dang cánh tay Pháp giúp chúng sinh vượt qua tứ lũ5; bố thí tai, mũi, v.v…để có thể đạt được các căn tín, v.v….bố thí mắt để có thể có được nhãn giới; bố thí thịt và máu với ý nghĩ: “Nguyện thân ta làm phương tiện sự sống cho toàn thế gian! Nguyện thân ấy mang tới an sinh và hạnh phúc cho mọi chúng sinh mọi thời đại, dù họ chỉ thấy, nghe, tưởng nhớ hay phục vụ ta!”  Và Ngài bố thí đầu để có thể trở thành bậc Giáo chủ của thế gian.”

Tất cả các hạnh bố thí của Ngài đã góp phần đưa tới sự giác ngộ Tứ Thánh Đế khi Ngài trở thành đức Phật Chánh đẳng giác. Chúng ta đọc tiếp về các bố thí của đức Bồ tát:

“Bố thí âm thanh (sadda dāna) cần được hiểu theo nghĩa âm thanh của trống, v.v…Chắc chắn không thể bố thí âm thanh khi dâng hoa sen, tách hoa khỏi rễ và củ và nâng nó trên tay. Ta phải bố thí âm thanh qua vật thể tạo âm thanh. Do vậy, Ngài bố thí âm thanh bằng việc dâng cúng một nhạc cụ, chẳng hạn như trống, cồng cho Tam Bảo.”

Ta có thể cúng dường trống cho chùa như là sự bố thí âm thanh, vì nó được sử dụng để báo giờ hoặc canh (của ngày và đêm) và những thứ khác. Ta có thể chơi nhạc để cúng dường Tam Bảo bằng cách sử dụng các nhạc cụ như trống, cồng…  Ta có thể thu xếp để tự mình hoặc một người khác chơi một nhạc cụ, chẳng hạn trống, với tác ý cúng dường âm thanh.

Chú giải giảng thêm về các phương thức bố thí âm thanh như sau:

“…bằng sự bố thí chất trợ thanh, chẳng hạn như dầu và mật cho người thuyết Pháp; bằng việc báo tin thuyết Pháp; bằng việc tụng kinh điển, bằng việc thuyết Pháp, bằng việc chủ trì đàm đạo,  hoặc bằng lời tùy hỷ phước thiện của những người khác.”

Ta có thể mời mọi người ngồi đàm đạo hoặc nhờ người khác mời đạo hữu tham gia. Hoặc khi nói lên những lời tùy hỷ công đức, ta cũng đang bố thí âm thanh. Khi những lời ấy phát ra thành tiếng hoặc khi ta mời mọi người cùng tùy hỷ, ta đang bố thí âm thanh. Đó là duyên để những người khác cùng bố thí âm thanh bằng việc nói lên những lời tùy hỷ.

Chúng ta đọc trong Chú giải:

“Bố thí thế ấy, bậc Vĩ nhân bố thí không miễn cưỡng, không làm khó người khác, không vì sợ hãi, xấu hổ, hay vì lời mắng mỏ của người cần được bố thí. Khi có những thứ cao thượng, Ngài không bố thí thứ hạ liệt. Ngài không khen mình chê người. Ngài không bố thí vì mong đợi kết quả, hay vì ghét bỏ người hỏi xin, hay một cách thiếu cân nhắc. Ngược lại, Ngài bố thí một cách cẩn mực, bằng chính tay mình, đúng thời, với sự quan tâm, không phân biệt, tràn đầy hỷ lạc ở cả ba thời (trước, trong và sau bố thí). Một khi đã bố thí, Ngài không hối tiếc. Ngài không kiêu mạn hay quỵ lụy với người nhận, Ngài hành xử thân thiện với họ. Rộng rãi và phóng khoáng, Ngài bố thí mọi thứ kèm theo phần thưởng (saparivā). Bởi khi bố thí thực phẩm, suy nghĩ: “Ta sẽ bố thí cái này và thêm phần thưởng nữa”, Ngài cho thêm y áo v.v…kèm vào. Và khi bố thí y áo, suy nghĩ: Ta sẽ bố thí cái này và thêm phần thưởng nữa”, Ngài cho thêm thực phẩm v.v…kèm vào…”

Sự quảng đại của Ngài không có giới hạn, và Ngài còn cho thêm phần thưởng phụ vào phần quà bố thí. Trong đời sống hàng ngày, tất cả chúng ta cần thẩm xét và kiểm tra các thực tại sinh khởi nơi mình như chúng thực là. Mặc dầu chúng ta đã nghe những mô tả kinh điển về sự bố thí của đức Bồ tát, cách thức bố thí của mỗi chúng ta phụ thuộc vào nhiều duyên, và chúng ta không thể sánh ngang với đức Bồ tát về hạnh bố thí.

Trong phần sau của Chú giải, ta đọc rằng đức Bồ tát suy tư khi ngài có một đồ vật có thể bố thí, nhưng tâm ngài chưa sẵn sàng bố thí:

“Khi đức Bồ tát có những thứ có thể được bố thí và có mặt người nhận bố thí, nhưng tâm Ngài không hoan hỷ với ý nghĩ bố thí và Ngài không muốn cho đi, Ngài phải kết luận như sau: “Chắc chắn ta đã không quen bố thí trong quá khứ, vì thế nhiệt tâm bố thí bây giờ không phát khởi trong ta. Để tâm ta hoan hỷ với bố thí trong tương lai, nay ta sẽ bố thí. Với nhãn quan cho tương lai, giờ hãy để ta từ bỏ cái ta có cho những người cần đến thứ ấy.”

Như vậy, ta thấy rằng ta không thể thúc ép sự bố thí. Một người đã tích lũy xu hướng bố thí thường xuyên, liên tục sẽ dễ dàng bố thí ngay, không lưỡng lữ, không cần phải suy đi tính lại. Vì vậy, khi tâm một người không hoan hỷ với ý nghĩ bố thí ngay lập tức, hoặc do dự, có thể biết rằng anh ta đã không tích lũy bố thí nhiều trong quá khứ.

Ta đọc tiếp:

“Ngài bố thí như thế, quảng đại, dang tay, hoan hỷ trong xả ly; bố thí khi được hỏi xin, hoan hỷ trong bố thí và sẻ chia. Bằng cách ấy, Vĩ nhân hủy hoại, đập tan và tận diệt gông cùm đầu tiên kìm giữ bố thí.”

Ở đây ta thấy rằng chúng ta cần kiểm tra tâm mình khi chúng ta không sẵn sàng bố thí.

Chúng ta đọc:

“Lại nữa, khi đồ bố thí hạ liệt hay khiếm khuyết, Vĩ Nhân suy xét: “Bởi lẽ ta đã không sẵn sàng bố thí trong quá khứ nên hiện giờ vật dụng của ta có  khiếm khuyết. Vì vậy, dầu ngại ngùng, hãy để ta bố thí bất cứ thứ gì ta có, mặc cho thứ đồ ấy có hạ liệt và hèn kèm. Bằng cách ấy, trong tương lai, ta sẽ đạt được tột đỉnh của bố thí ba la mật.” Ngài bố thí như vậy, bất cứ thứ gì ngài có, quảng đại, dang tay, hân hoan trong xả ly, bố thí khi được hỏi xin, hoan hỷ trong bố thí và sẻ chia. Bằng cách ấy Vĩ nhân hủy hoại, đập tan và tận diệt gông cùm thứ hai kìm giữ bố thí.”

Khi một người không bố thí, người ấy có thể suy tư về điều ấy, người ấy có thể nhận ra rằng, mình chưa tích lũy đủ lòng quảng đại và rằng, mình sẽ nỗ lực tích lũy nó. Hoặc giả, người ấy nhận ra rằng những thứ mình có thể bố thí đều khiếm khuyết hoặc ít ỏi bởi lẽ mình đã không bố thí trong quá khứ, và rằng từ giờ trở đi, dù có ít ỏi, mình nên bố thí.

Chúng ta đọc tiếp:

“Khi có sự do dự bố thí sinh khởi bởi vẻ tuyệt hảo hay tuyệt mỹ của món đồ có thể cho đi, Vĩ nhân huấn thị mình: ‘Hiền giả, chẳng phải ngươi đã có phát nguyện đạt tới sự giác ngộ tối thượng, tới trạng thái cao quý nhất của mọi trạng thái? Vậy, hãy vì sự giác ngộ, thật phù hợp là ngươi hãy bố thí những món đồ tuyệt hảo và tuyệt mỹ.’ Như thế, Ngài bố thí những thứ tuyệt hảo và tuyệt mỹ, quảng đại, dang tay, hân hoan trong xả ly, bố thí khi được hỏi xin, hân hoan trong bố thí và sẻ chia. Bằng cách ấy, vĩ nhân hủy hoại, đập tan và tận diệt gông cùm thứ ba kìm giữ bố thí.”

Khi một người hối tiếc vì đã cho đi thứ gì đó, người ấy cần suy xét xem mình mong muốn thực sự điều gì: giữ món đồ đó hay giác ngộ Tứ Thánh Đế? Suy niệm theo cách này có thể là duyên cho sự sinh khởi của lòng quảng đại, và tại khoảnh khắc ấy, một gông cùm của bố thí được phá tan.

Chúng ta đọc:

“Khi Vĩ nhân bố thí, Ngài nhận thấy sự mất đi của món đồ bố thí, Ngài liền suy tư: ‘Đây là bản chất của tài sản, chúng chịu sự mất mát, biến hoại. Hơn nữa, do bởi ta không bố thí như vậy trong quá khứ nên giờ đây tài sản của ta bị khánh kiệt. Vậy hãy để ta bố thí thứ mình có, dù là ít ỏi hay dồi dào. Bằng cách ấy, trong vị lai, ta sẽ đạt tới tột đỉnh của bố thí ba la mật.’ Như thế, Ngài bố thí bất cứ thứ gì mình có, quảng đại, dang tay, hân hoan trong xả ly, luôn bố thí khi được hỏi xin, hân hoan trong bố thí và sẻ chia. Bằng cách ấy, vĩ nhân hủy hoại, đập tan và tận diệt gông cùm thứ tứ kìm giữ bố thí.”

Một số người cho rằng khi họ bố thí, tài sản của họ sẽ suy kiệt, nhưng trên thực tế, suy kiệt đã nằm trong của bản chất của tài sản. Bất kể ta có bố thí hay không bố thí, đến đúng thời tài sản của chúng ta phải suy kiệt, nó sẽ biến mất. Một số người sở hữu nhiều tài sản e rằng nếu họ không chia sẻ tài sản của mình nó sẽ suy kiệt, và vì vậy, họ tin rằng mình nên bố thí. Khi các thảm họa xảy ra do hỏa hoạn, lụt lội hay trộm cướp, hoặc khi tài sản bị vua chúa tịch thu, ta có thể hối tiếc rằng mình đã không bố thí trước đó. Ta có thể thấy rằng tài sản không bị biến mất bởi bố thí, mà do tùy thuộc vào nghiệp mà liệu ta còn tài sản hay phá sản.

Phát triển các ba la mật là vô cùng khó khăn, dầu rằng ta đã nghe Pháp và học nhiều về các ba la mật. Tùy thuộc khả năng mà mỗi cá nhân có thể phát triển thiện pháp tới mức độ nào. Các ba la mật cần được phát triển rất từ từ và song song với trí tuệ, lặp đi lặp lại. Chúng ta biết rằng cần phải nhận ra rằng mình có nhiều phiền não, và rằng rất khó phát triển loại trí tuệ có thể tận diệt được các phiền não ấy. Vì vậy, trong mỗi kiếp sống, các phiền não cần được dần loại bỏ để Tứ Thánh Đế có thể được chứng ngộ khi ta trở thành bậc Dự lưu. Khi ấy, ta đạt tới tầng giác ngộ đầu tiên, và sẽ không còn tái sinh nhiều hơn bảy lần.

Chúng ta cần biết loại trí tuệ nào đi kèm với bố thí ba la mật. Cuốn Bộ Phân Tích (Vibhanga – bộ thứ hai của Tạng Vi Diệu Pháp), chương 16, Luận về trí, 325) giải thích về các loại trí tuệ khác nhau, chẳng hạn như là trí nhờ tư duy, trí nhờ nghe, trí nhờ bố thí, trí nhờ trì giới.

Cuốn “Xua tan si ám” (Chú giải của Bộ Phân Tích, Chương 16, 412) lý giải rằng trí tuệ gắn với tác ý bố thí (danā cetanā) là “trí dựa trên bố thí” hay “trí nhờ bố thí” (dānamayā pannā).

Khi đọc điều này ta cần xem xét kỹ về trí tuệ sinh kèm với tác ý bố thí (dānacetanā). Trí tuệ không thể sinh khởi với tâm bất thiện, nó không thể sinh khởi khi một người mong đợi kết quả.

Chúng ta đọc trong “Xua tan si ám”:

“…trí gắn với tác ý bố thí theo cách này được gọi là “trí dựa trên bố thí) (dānamayā pannā). Nhưng nó thể hiện ở ba thời, trước, trong và sau khi bố thí, tương ứng với người suy nghĩ: “ta sẽ bố thí”, khi người ấy đang bố thí, và khi người ấy hồi quán sau khi đã bố thí.”

Cuốn “Xua tan si ám” nói chi tiết về tuệ sinh kèm với các tâm thiện tác ý bố thí. Tâm thiện có thể hợp trí hoặc không hợp với trí. Tâm thiện dục giới sinh kèm với tâm sở trí tuệ (mahā-kusala citta nānasampayutta6) có thể là tâm thiện ở mức độ bố thí, trì giới, hoặc phát triển tâm trí (bhāvanā), bao gồm cả samatha và satipaṭṭhanā (hay sự phát triển của minh sát tuệ (vipassanā)). Khi vun bồi bố thí ba la mật, mục tiêu cần phải là hiểu biết đúng về các pháp như chúng thực là, chứ không vì mong đợi kết quả cho bản thân. Đây là điều kiện cho trí tuệ dựa trên bố thí (dānamayā paññā).

Chúng ta đọc trong “Hạnh Tạng”, Phần II, Xuất gia Ba la mật, số 1, “Giới của Yudhañjaya”, về đức Bồ tát Thái tứ Yudhañjaya. Ngài nhìn thấy một giọt sương tan do hơi ấm mặt trời, và điều ấy nhắc nhở Ngài về vô thường, khiến Ngài khởi tâm xuất gia. Chú giải cho phần này nói:

“Trí tuệ của giai đoạn khởi đầu suy niệm về tính chất vô thường của các pháp biết pháp nào lợi lạc cho bố thí v.v. và pháp nào không. Đó là trí tuệ ba la mật.”

Bố thí là sự cho đi vì lợi ích và an sinh của những người khác. Khi bố thí, chúng ta không vị kỷ. Trí tuệ ở giai đọan khởi đầu suy niệm tính chất vô thường của các pháp. Chúng ta có bao giờ suy niệm ở khoảnh khắc bố thí rằng không có gì trường tồn không? Kể cả tài sản mà ta có hôm nay và chưa từ bỏ cũng có thể biến mất trước khi chúng ta có thể bố thí chúng, bởi vì chúng là vô thường. Bản thân chúng ta, người chưa hành bố thí, cũng vô thường, chúng ta có thể chết trước khi có cơ hội tỏ lòng quảng đại. Khi ta suy niệm về sự vô thường của cả người cho và người nhận, tâm thiện có thể thúc đẩy ta giúp đỡ người khác. Khi chúng ta trao tặng những thứ hữu ích cho người khác với hiểu biết về tính vô thường của vạn pháp, trí tuệ ba la mật có thể phát triển. Chỉ chúng ta mới có thể tự biết liệu có suy xét ấy ở những khoảnh khắc đó hay không. Khi chúng ta gặp người nghèo, chúng ta có thể suy niệm về tính chất bất toại nguyện và vô thường của cuộc sống trước, trong, và sau khi bố thí, như vậy, có tác ý thiện (kusala cetanā) với bố thí ở cả ba thời điểm.

Một số người cảm thấy hoan hỷ với một số loại bố thí chứ không với tất cả các bố thí, và khi hồi tưởng lại việc bố thí của mình, họ cảm thấy hân hoan và dính mắc với sự bố thí ấy. Điều này chỉ ra rằng, có thể có tác ý thiện trước và trong khi bố thí, nhưng sau đó, có thể lại không có tâm thiện.

Ta cần phải kiểm tra xem khi mình nhớ lại việc bố thí đã làm thì tâm là thiện hay bất thiện. Ta có thể vui sướng khi thấy rằng mình đã làm việc có ích,  rằng mình đã trợ giúp được cho ai đó để họ bớt khổ đau. Những người khác có thể đã không giúp đỡ vì không biết đến nhu cầu của họ. Khi ta giúp đỡ người khác và nhớ về thiện pháp đã tạo, ta có thể cảm thấy hoan hỷ, nhưng đó là vô ngã, anattā; việc hoan hỷ sinh khởi hay không là nằm ngoài kiểm soát. Thọ hỷ có thể khởi sinh bởi ta đã có cơ hội giúp đỡ người khó khăn và cần ta trợ giúp. Tuy nhiên, nếu ta muốn hồi niệm thiện pháp của mình để mình được lợi lạc, đó không phải là bố thí ba la mật. Sự khác biệt giữa pháp bố thí là ba la mật và pháp bố thí không phải là ba la mật rất mong manh và tinh tế.

Chú thích

  1. Tôi thêm bài kinh này cùng những nhận xét của mình vào. Tôi đang sử dụng bản dịch của Đại Đức Nyanaponika, Wheel no. 238-240, B.P.S Kandy, Sri Lanka.
  2. Trong tiếng Thái, từ tha thứ nghĩa là vô úy thí –abhāya. Bhaya có nghĩa là sợ hãi, hiểm nguy- úy, còn tiết đầu ngữ a là chỉ sự phủ định
  3. Pháp hữu vi có thể được xếp thành năm uẩn: sắc uẩn (rūpakkhandha), thọ uẩn (vedanākkhandha), tưởng uẩn (saññākkhandha), hành uẩn (saṅkhārakkhandha), thức uẩn (viññāṇakkhandha). Hành uẩn bao gồm tất cả các tâm sở ngoài thọ (vedanā) và tưởng (saññā). Nó bao gồm tất cả các tâm sở bất thiện và các tâm sở tịnh hảo. Bố thí (vô tham) cùng các tâm sở tịnh hảo khác như chánh niệm (sati) và trí tuệ (paññā) tích lũy cùng nhau và trợ duyên cho nhau để cuối cùng có thể đạt tới giác ngộ
  4. Ngũ nhãn (năm mắt) bao gồm: thiên nhãn thấy sự sinh tử của chúng sinh; tuệ nhãn thấy đặc tính và duyên hệ của mọi pháp, phật nhãn thấy căn cơ chúng sinh, và chánh biến tri nhãn
  5. Lũ (bộc -ogha) bao gồm ngũ dục bộc, hữu bộc, kiến bộc và vô minh bộc.
  6. Mahā-kusala citta, tâm đại thiện dục giới có thể hợp với trí (ñāna sampayutta), hoặc ly trí (ñāna vippayutta), ñāna có nghĩa là trí, trí tuệ.

,

Translate »