Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 3: Ý nghĩa của Pháp
Chương 3
Ý nghĩa của Pháp
Buổi thảo luận thứ hai tại Battambang
Buth Sawong: Làm thế nào để chúng ta có thể thực hành đúng theo tứ niệm xứ?
Khun Sujin: Mọi người thường hỏi làm thế nào để họ thực hành Tứ niệm xứ. Cả ở Thái lan cũng vậy, mọi người thường hỏi câu này. Thay cho việc hỏi chúng ta nên thực hành như thế nào và băn khoăn về điều ấy, chúng ta nên có hiểu biết đúng về các thực tại, về các pháp chân đế ngay từ ban đầu. Tại khoảnh khắc này chúng ta đang thấy và nghe, có các thực tại và, như Đức Phật đã dạy, chúng đều là vô ngã. Thấy chỉ là một khoảnh khắc tâm sinh khởi do duyên và liền diệt mất. Thay cho việc phân vân phải thực hành như thế nào thì chúng ta nên hiểu về những thực tại xuất hiện tại khoảnh khắc này. Chúng ta cần hiểu rằng thấy là pháp, nghe là pháp, ngửi là pháp, nghĩ là là pháp. Tất cả mọi thứ đều là pháp, không bao giờ thiếu pháp cả. Liệu trí tuệ đã biết rõ đặc tính của các pháp như chúng là hay chưa? Mọi người không nên cố gắng thực hành theo một cách khiên cưỡng mà cần phải phát triển hiểu biết đúng đắn hơn về các thực tại đang sinh khởi một cách tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày.
Buth Sawong: Vậy dhamma chính xác là gì?
Khun Sujin: từ “dhamma” chỉ đến tất cả những gì có thực. Tiếng Pali, từ “sacca dhamma”, tức là pháp đế hay pháp thực cũng được sử dụng, và từ này được dùng để chỉ những gì có thực. Ở thời điểm này có cái thấy, và đó là thực. Vì vậy cái thấy là pháp đế, là pháp thực, nghe cũng là pháp đế, là pháp thực. Tại khoảnh khắc này có pháp đế hay pháp-dhamma, nhưng khi có vô minh, dhamma không được nhận biết. Đức Phật, khi giác ngộ, đã xuyên thấu được từng loại pháp và nhận biết chính xác được bản chất của chúng. Ngài hiểu rằng chỉ có các thực tại sinh khởi bởi các duyên tương ứng và không có một chúng sinh, một con người hay cái ngã nào cả. Tuy nhiên, chừng nào chúng ta vẫn chưa hiểu thực tại như chúng là, chúng ta vẫn còn bám dính vào tà kiến rằng “tôi đang thấy”, “tôi đang nghe” và chúng ta dính mắc vào những sắc trên thân là “thân của tôi”.
Buth Sawong: Một số người nghĩ rằng cuộc sống thường ngày của chúng ta tại giây phút này thì không phải là dhamma, là pháp. Điều đấy có đúng hay không?
Khun Sujin: Nếu khoảnh khắc này không phải là dhamma thì khi nào mới là dhamma?
Buth Sawong: Tất cả những gì được thấy, được nghe dù là hữu tình hay không thì đều là dhamma, là pháp.
Khun Sujin: Đúng vậy, và tất cả các pháp đều vô ngã. Chúng ta đọc trong Kinh Pháp cú:
Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường
Tất cả các pháp hữu vi đều khổ
Tất cả các pháp đều vô ngã
Điều ấy chỉ cho chúng ta rằng mọi thứ, không có gì ngoại trừ, đều là pháp, là một thực tại vô ngã. Đặc tính cứng, chẳng hạn, là dhamma. Liệu có ai có thể tạo nên sự sinh khởi của tính cứng hay không? Không có ai có thể tạo nên sự sinh khởi của tính cứng. Nó sinh khởi bởi những duyên riêng của nó, và tất cả các hiện tượng có thật đều là pháp.
Buth Sawong: Vậy ý nghĩa của việc xuyên thấu bản chất thực sự của dhamma – pháp là gì?
Khun Sujin: Tại thời điểm hiện giờ, thực tại đang sinh khởi. Trước khi chúng ta có thể xuyên thấu được bản chất thực sự của pháp thì chúng ta cần phải biết đặc tính của từng thực tại ở một thời điểm mà chúng ta vẫn thường cho là ta. Hiểu biết về pháp được duyên bởi việc nghe, nghiên cứu và suy xét. Bằng cách này, chúng ta sẽ biết rằng có hai loại thực tại: danh pháp, thực tại biết hay kinh nghiệm thứ gì đó, và sắc pháp, thực tại không kinh nghiệm gì cả. Chẳng hạn, “thấy” là thực tại kinh nghiệm cái xuất hiện qua mắt, còn cái xuất hiện qua mắt, đối tượng thị giác, thì không biết gì cả. Khi trí tuệ hiểu một cách rõ ràng các đặc tính của danh pháp và sắc pháp chỉ là các thực tại không phải là ngã, rồi nó sẽ chứng ngộ sự sinh và diệt của các pháp ấy và sẽ xuyên thấu được Tứ Thánh Đế.
Buth Sawong: Tôi biết rằng tất cả các thực tại đều không phải là ngã, không phải là một chúng sinh, không phải là một người. Tôi biết rằng tất cả mọi thứ có tâm và không có tâm đều vô thường, nhưng tôi muốn biết sự chứng ngộ Tứ Thánh Đế có nghĩa là như thế nào. Phải chăng sự nhận biết rằng các thực tại đều là vô thường và khổ, chính là chứng ngộ Tứ Thánh Đế?
Khun Sujin: Biết được những thứ này vẫn chưa phải là xuyên thấu Tứ Thánh Đế.
Buth Sawong: Biết rằng mọi thực tại khổ và vô ngã, đó có phải là chánh kiến về chân lý hay không?
Khun Sujin: Có chăng cái hiểu về khổ hiện giờ, trong khi bạn đang ngồi đây? Cái hiểu về dukkha hiện giờ là gì? Nói cách khác, vào thời điểm này có chánh niệm hay không, có sự phát triển của Bát chánh đạo hay không? Nếu chánh niệm không sinh khởi, liệu có thể có hiểu biết rằng thực tại đang thấy là danh, rằng nó sinh và diệt, rằng nó là vô thường hay không?
Buth Sawong: Đâu là duyên để cho sukha – lạc và dukkha – khổ sinh khởi?
Khun Sujin: Dù một người là người Campuchia hay người Thái, dù là sống ở đâu, dù là nghèo hay giàu, chừng nào người ấy vẫn còn phiền não thì người ấy sẽ có dukkha. Bởi vì tham, sân, si khiến người ấy lo lắng và cảm thấy bị đè nén, và người ấy sẽ bị khổ đau. Không có ai thực sự hạnh phúc và an vui tĩnh lặng trừ khi đã trở thành một vị a la hán, người đã diệt tận toàn bộ phiền não, người khi chết đi sẽ đạt Bát niết bàn. Vị A la hán sẽ không còn tái sinh và vì vậy sẽ không còn dukkha đối với vị ấy nữa. Tôi đánh giá rất cao mối quan tâm về pháp mà các đạo hữu Campuchia đã thể hiện. Thiện pháp của các bạn trong quá khứ đã tạo duyên cho mối quan tâm của các bạn với việc nghe pháp hôm nay. Các bạn đang nghe bởi vì các bạn biết rằng Giáo pháp là nơi trú ẩn thực sự của các bạn. Chúng ta có thể nghe ở thời điểm này, vì còn nghiệp là duyên để cuộc sống của chúng ta vẫn tiếp tục từ giây phút này đến giây phút khác, dù chúng ta đang ở đâu. Giây phút của thấy hay nghe một cái gì đó dễ chịu, dù chúng ta đang ở Campuchia hay đâu nữa thì đều là kết quả của nghiệp thiện. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả các kinh nghiệm dễ chịu qua các căn là sự thực rằng, các bạn, do nhân duyên từ việc nghe Giáo pháp trong quá khứ, đã có đủ niềm tin hôm nay để tiếp tục nghe và tiếp tục phát triển hiểu biết đúng. Bằng cách ấy, các đặc tính của thực tại đang sinh khởi hiện giờ có thể được hiểu như chúng là. Không có gì khác trên thế giới này có giá trị hơn Tam bảo, Tam bảo thực sự là nơi nương tựa của chúng ta.
Buth Sawong: Liệu chúng ta có nên xua đuổi phiền não hoặc chạy trốn khỏi phiền não hay không?
Khun Sujin: Phiền não đi kèm với tâm, chúng đã được tích lũy. Dù bạn có trốn đi đâu chăng nữa thì phiền não vẫn luôn luôn theo đuổi bạn. Nơi nào có tâm thì có phiền não. Nhưng khi tâm là kusala – tức là thiện tâm, khi có trí tuệ, thì sẽ không có tham (lobha), sân (dosa) hay si (moha); vào giây phút đó sẽ không có phiền não tạo nên đau khổ.
Buth Sawong: Tôi nên làm gì để vượt qua phiền não?
Khun Sujin: Bạn tin rằng bạn có thể tự mình vượt qua phiền não ư? Hay bạn nên phát triển trí tuệ, mà chính trí tuệ đó sẽ đảm nhận chức năng tận diệt phiền não?
Buth Sawong: Một số người hỏi họ nên làm gì để có thể đạt niết bàn?
Khun Sujin: Tại thời điểm này niết bàn không xuất hiện. Bạn đang thấy hay đang nghe hiện giờ. Nếu bạn đã xuyên thấu đặc tính của các thực tại đang xuất hiện hiện giờ thì sự dính mắc vào các thực tại ấy có thể được loại bỏ. Khi trí tuệ đã được phát triển đến mức độ có thể đạt được giác ngộ thì tâm sẽ quay lưng lại với các pháp hữu vi, tức là các thực tại do duyên khởi luôn sinh và diệt, nó sẽ không còn mong muốn kinh nghiệm chúng nữa; nó hướng tới thực tại vô vi là niết bàn. Và vào thời điểm giác ngộ thì trí tuệ là trí tuệ siêu thế.
Buth Sawong: Mọi người có đặt câu hỏi về những mức độ khác nhau của các vị thánh Dự lưu (sotapanna), của những người đã đạt được giai đoạn đầu tiên của sự giác ngộ. Các vị thánh Dự lưu khác nhau có số lần tái sinh khác nhau và các kiểu tái sinh khác nhau.
Khun Sujin: Điều ấy tùy thuộc vào mức độ sức mạnh của trí tuệ của vị thánh Dự lưu đó. Nếu như mức độ trí tuệ của vị ấy rất lớn thì vị ấy sẽ chỉ tái sinh một lần nữa mà thôi. Nếu mức độ trí tuệ của vị ấy ít hơn thì vị ấy sẽ tái sinh nhiều hơn một lần. Nhưng theo kinh điển thì một vị Thánh Dự lưu sẽ không bao giờ tái sinh lại quá bảy lần.
Buth Sawong: Làm sao có thể có những mức độ trí tuệ khác nhau mà cùng xuyên thấu Tứ Thánh Đế ở giây phút giác ngộ? Liệu có thể phân biệt giữa trí tuệ ở mức độ cao và mức độ thấp hay không?
Khun Sujin: Điều này có thể so sánh với việc nhiều thí sinh khác nhau cùng thi đỗ. Tất cả họ đều đỗ nhưng một số người đỗ điểm cao và một số người đỗ điểm thấp, tùy vào mức độ kiến thức và khả năng của họ. Cũng như vậy, khi giác ngộ đạt được thì trí tuệ của những người khác nhau có mức độ khác nhau và dù nó ở mức độ thấp hơn hay cao hơn thì nó đều xuyên thấu Tứ Thánh Đế.
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, bhavana, Chánh kiến, chánh niệm, khái niệm, Nina Van Gorkom, Thực tại, vi diệu pháp, vipassana
Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 4: Nghe Pháp
Chương 4
Nghe Pháp
Buổi thảo luận với Nhóm Phật tử Campuchia tại Nakorn Nayok (Thái Lan) (Phần 1)
Khun Sujin: Tôi muốn bày tỏ sự kính trọng sâu sắc nhất của tôi tới vị Đại đức đang có mặt tại đây. Tôi rất hạnh phúc rằng tất cả các bạn đã đến đây để đàm đạo về Giáo pháp. Trong một buổi pháp đàm, tôi không nên là người duy nhất nói, mà mọi người cũng cần phải tham gia thảo luận. Nếu có vấn đề hay câu hỏi liên quan đến Giáo pháp, thì chúng ta hãy thảo luận bây giờ, vì thời gian của chúng ta có hạn.
Người phiên dịch: Chúng tôi vẫn chưa dám đặt câu hỏi.
Khun Sujin: Nếu vẫn chưa có câu hỏi, tôi muốn nói về Tam bảo, về ý nghĩa của việc quy y Tam bảo. Tất cả chúng ta đều biết, chúng ta quy y Đức Phật là người đã hoàn toàn giác ngộ. Chúng ta quy y trí tuệ, sự thanh cao và lòng từ bi của Ngài. Quy y Phật có vẻ không có gì ghê gớm lắm, tuy nhiên nếu mọi người không nghiên cứu và không có hiểu biết sâu sắc về ý nghĩa của trí tuệ, sự thanh cao và lòng từ bi của Đức Phật, họ sẽ chỉ bày tỏ sự kính trọng một cách hời hợt và họ sẽ chỉ đi theo cái mà họ được nghe từ những người khác về những ơn đức ấy. Nếu chúng ta muốn biết trí tuệ , sự thanh cao và lòng từ bi của Đức Phật thực sự là gì, chúng ta cần nghiên cứu và quán chiếu về pháp. Nếu mọi người chưa nghiên cứu Giáo lý thì họ vẫn chưa thực sự biết được ý nghĩa của câu nói rằng Đức Phật là một người không có phiền não.
Hẳn phải có một con đường dẫn đến sự tận diệt phiền não. Sau khi Đức Phật đạt giác ngộ, Ngài đã chỉ con đường đó cho những người khác. Tuy nhiên, chúng ta cần thực sự hiểu Pháp mà Đức Phật đã xuyên thấu tại thời điểm giác ngộ và thuyết giảng cho những người khác. Pháp là cái gì đó mà mọi người không tự biết được. Đức Phật đã tích lũy các “ba la mật” trong bốn a tăng tì kiếp và một trăm ngàn đại kiếp, để có thể chứng ngộ Chân lý (sacca Dhamma) tại thời điểm giác ngộ. Vì vậy, Ngài đã có thể hoằng Pháp cho các chúng sinh.
Chúng ta cần phải có hiểu biết đúng đắn về “chân pháp” (sacca dhamma). Không ai có thể thay đổi được bản chất của cái là chân lý, cái là thực. Ngay tại thời điểm này có pháp, cái là thực. Nếu chúng ta không nghiên cứu Giáo lý, chúng ta có thể đi tìm pháp thực ở đâu đó, nhưng nếu chúng ta nghiên cứu điều Đức Phật dạy, chúng ta có thể biết rằng ngay tại thời điểm này đang có chân pháp, pháp có thực, và rằng tất cả mọi người đều có thể tự mình kiểm chứng sự thực về pháp. Bất cứ ai sinh ra đều có mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và tâm. Chính thông qua mắt tai, mũi, lưỡi, thân và tâm, chúng ta có thể biết về dhamma, pháp. Nếu như không có cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, không có kinh nghiệm xúc chạm và suy nghĩ thì sẽ không ai có thể biết rằng có các pháp hay thực tại. Vì các thực tại được nhận biết bởi kinh nghiệm qua ngũ môn và ý môn nên chúng ta không cần phải đi tìm pháp ở nơi nào khác. Cái thấy tại thời điểm hiện giờ là pháp, là dhamma, đó là một thực tại đang thấy. Trong Tam Tạng, Đức Phật giải thích về sự thật của thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và suy nghĩ. Vào thời điểm hiện giờ đang có pháp, nhưng bởi vô minh, chúng ta không thể hiểu rằng đang có pháp và nó là vô ngã. Chính vì vậy, chúng ta cần phải nghe lời dạy của Đức Phật – người đã giải thích rằng mọi thứ đều là pháp.
Pháp xuất hiện qua mắt tại thời điểm này vì nó đã sinh khởi. Nếu như nó chưa sinh khởi, nó sẽ không thể xuất hiện. Pháp là âm thanh xuất hiện qua tai chính là pháp đã sinh khởi. Nếu nó chưa sinh khởi thì nó sẽ không thể xuất hiện. Bất cứ cái gì sinh khởi đều phải có các yếu tố làm duyên để chúng sinh khởi, sau khi đã sinh khởi thì chúng sẽ diệt đi. Một người có trí tuệ phát triển có thể nhận biếtqua kinh nghiệm trực tiếp các đặc tính vô thường, sinh diệt của các thực tại qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Người ấy có thể hiểu một cách trực tiếp rằng, mọi thứ ở bên trong và xung quanh người ấy đều là pháp đang sinh khởi và rồi diệt mất.
Nếu nghe Pháp, chúng ta có thể có được hiểu biêt về mặt lý thuyết về các thực tại. Khi có cái thấy, chúng ta có thể hiểu rằng đó là một thực tại đang sinh và rồi diệt đi. Khi có cái nghe, chúng ta có thể hiểu rằng đó là một thực tại đang sinh và lại diệt đi. Nếu như thực tại xuất hiện qua mắt, tai, lưỡi, ý, thân và ý không phải là pháp thì còn có thể tìm thấy pháp ở đâu nữa?
Để có thể hiểu được và trở nên quen thuộc với pháp thì chúng ta, qua việc lắng nghe Giáo lý, cần học thêm về những gì có thực và đang xuất hiện. Bằng cách này, mọi người dần dần sẽ có thêm hiểu biết về các thực tại. Nhìn chung, mọi người có xu hướng nghĩ về kết quả mà thường là rất xa, như là sự xuyên thấu Tứ Thánh Đế hay sự kinh nghiệm trực tiếp về niết bàn. Tuy nhiên, nếu ta không biết đặc tính của pháp đang sinh khởi hiện giờ, ta sẽ không thể biết được đặc tính của niết bàn. Tại thời điểm hiện giờ, đặc tính của niết bàn chưa xuất hiện, nhưng thực tại có thể được kinh nghiệm qua mắt đang xuất hiện. Thực tại có thể được kinh nghiệm qua tai đang xuất hiện, nó sinh và diệt ngay, cứ mãi thế. Vì vậy, điều quan trọng cần nhớ là chúng ta nên luôn luôn thẩm xét và nghiên cứu Giáo lý của Đức Phật. Giáo lý mà Ngài đã dạy chỉ nói về các thực tại được kinh nghiệm trong đời sống hàng ngày qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Nếu chúng ta nghe Pháp, dần dần chúng ta có thể hiểu đặc tính của thực tại đang sinh khởi hiện giờ. Chúng ta sẽ không chỉ có hiểu biết mang tính lý thuyết nhờ việc suy nghĩ về chúng mà cũng sẽ có được cái hiểu về thực tại đang xuất hiện.
Kiến thức lý thuyết về các thực tại rất khác với cái hiểu trực tiếp về các thực tại hiện đang sinh khởi. Có hai mức độ hiểu biết khác nhau. Chẳng hạn, bây giờ chúng ta có thể nói về cái thấy như là một thực tại, một loại danh, vô ngã, một yếu tố đang kinh nghiệm đối tượng thị giác. Khi ai đó nói về đặc tính của cái thấy mà vẫn chưa thực sự hay biết về đặc tính của cái thấy trong khi có cái thấy thì đó chỉ là hiểu biết ở mức độ tư duy, tức là hiểu biết trên mặt lý thuyết, đến từ việc nghe và suy ngẫm về những gì đã được nghe. Việc suy ngẫm và thẩm định Giáo pháp mà ta đã được nghe là rất quan trọng, đó là cơ sở cho hiểu biết đúng đắn. Hiểu biết tới từ việc nghe được tích lũy và sự tích lũy hiểu biết này làm duyên cho sự sinh khởi chánh niệm trực nhận về sau. Khi ấy có thể có được chánh niệm về cái thấy khi nó xuất hiện, và ở thời điểm đó, có thể có cái hiểu trực nhận về đặc tính của cái thấy; cái thấy có thể được hiểu là một thực tại, một yếu tố (giới –dhatu) chứ không phải là ngã.
Cái thấy hiện giờ không xuất hiện qua nhãn căn. Giữa thực tại thấy và thực tại là sắc pháp sinh khởi qua nhãn căn, tức đối tượng thị giác, có sự khác nhau về đặc tính và những đặc tính ấy cần phải được phân biệt. Cái thấy thì kinh nghiệm đối tượng thị giác, trong khi đối tượng thị giác lại không kinh nghiệm gì cả. Đối tượng thị giác là một thực tại tiếp xúc với nhãn căn và đó là một duyên cho sự sinh khởi của tâm thấy. Thực tại sinh khởi qua mắt, hay đối tượng thị giác, thì khác với thực tại sinh khởi qua tai, tức là âm thanh. Âm thanh là một thực tại khác sinh khởi và tiếp xúc với nhĩ căn. Âm thanh làm duyên cho sự sinh khởi của nhĩ thức. Âm thanh là một loại sắc và nó khác với tâm nghe. Tất cả các pháp đều vô ngã, không có một chúng sinh hay con người nào cả.
Trí tuệ được phát triển nhờ hiểu dần dần các đặc tính của các thực tại đang sinh khởi. Chúng ta đọc trong Tam tạng, Kinh Đại Niệm Xứ và trong các bài kinh khác về người “sống quán sát” các đặc tính của các pháp hiện khởi. Có nghĩa là, người ấy vẫn thường có xu hướng hay biết về các thực tại xuất hiện. Không phải tất cả các thực tại đều xuất hiện, nhưng tất cả các hiện tượng trên thân và tâm (danh và sắc) trong cuộc sống của chúng ta, cũng như tất cả các thực tại không xuất hiện thì đều sinh và diệt. Trí tuệ chỉ có thể hiểu trực tiếp những thực tại đang xuất hiện mà thôi.
Pháp là các thực tại trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, và dần dần chúng ta có thể hiểu hơn về chúng nhờ nghe Giáo lý và tìm hiểu chúng. Điều quan trọng cần nhớ là: các thực tại đang sinh khởi bây giờ và ở đây, và rằng chúng ta không phải tìm chúng ở đâu đó hay lúc nào khác mà ở ngay đây, bây giờ. Khi có chánh niệm và hiểu biết về các pháp đang sinh khởi hiện giờ thì trí tuệ sẽ phát triển để biết các pháp như chúng là: là những thực tại sinh và diệt và là vô ngã. Khi một người chỉ nhắc đi nhắc lại từ “pháp sinh và diệt” thì khi đó chỉ có cái hiểu lý thuyết về các thực tại chứ không có trí tuệ trực tiếp sự sinh diệt của chúng, không có tuệ giác trực nhận chân lý.
Nếu các bạn có câu hỏi thì hãy hỏi đi.
Người phiên dịch: Một số người phân vân đặt câu hỏi về sự sinh và diệt của thực tại. Cái gì sinh và cái gì diệt?
Khun Sujin: Hiện giờ đang có cái thấy và cái nghe. Nếu trí tuệ đã được phát triển và trở nên sắc bén hơn thì nó có thể hiểu trực tiếp sự sinh và diệt của một thực tại tại một thời điểm. Những người chưa nghiên cứu hay chưa suy xét về Giáo pháp thì chỉ có thể có cái hiểu mang tính lý thuyết về thực tế rằng cái thấy không phải là cái nghe. Sự phát triển của tứ niệm xứ (satipaṭṭhāna) là con đường mà Đức Phật và các đệ tử của Ngài đã bước qua. Bằng cách đi theo con đường ấy, những Phật tử ngày hôm nay cũng có thể thực hành những gì Đức Phật đã dậy, ngay tại khoảnh khắc này. Tuy nhiên, mọi người cần phải bắt đầu từ căn bản, có nghĩa là trước hết họ cần phải nghe Pháp. Đức Phật đã thuyết Pháp một cách rất chi tiết trong suốt 45 năm cho các đệ tử của mình, và Ngài cũng dạy cho chúng ta hôm nay. Trong suốt cuộc đời cho đến khi tịch diệt, Đức Phật đã dạy Giáo lý cho những người khác nhau với những căn cơ khác nhau. Ngay cả khi Ngài không dạy một cách chi tiết thì một số người, nhờ có trí tuệ đã được tích lũy từ trước, trong khi nghe giảng đã chứng ngộ được sự sinh diệt của các thực tại đang xuất hiện qua một trong sáu môn. Các thực tại sinh và diệt, cả trước đây và bây giờ, đều là vô ngã, chúng không phải là chúng sinh, là con người. Những người thực sự chân thành tìm hiểu và thẩm định thực tại sẽ không tự lừa dối mình về mức độ hiểu biết của bản thân. Mặc dù người đó đã được nghe rằng thực tại sinh và diệt, rằng chúng là vô ngã, người ấy có thể chưa kinh nghiệm trực tiếp sự thực. Khi người ấy thành thực, người ấy có thể thấy rằng mình chưa chứng ngộ chân lý; người ấy biết rằng cái mà người ấy thấy hiện giờ dường như vẫn là người này hay người kia. Cần phải thực sự chân thành với mức độ hiểu biết hay tuệ giác của mình và phải nhớ rằng chúng ta cần liên tục phát triển trí tuệ để cuối cùng thực tại được thấy như chúng là.
Bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu mà chúng ta đang thấy, đều có thể hiểu rằng cái thấy chỉ là một loại thực tại, một yếu tố (dhatu-giới) kinh nghiệm đối tượng, một loại danh. Có nhiều loại danh. Cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác tại thời điểm này là một loại danh. Tâm nghe âm thanh qua tai lại là một loại danh khác, khác với cái thấy. Cái nghe chỉ là một yếu tố sinh rồi diệt, không có ai nghe cả. Nó có thể được so sánh như một ngọn lửa bật rồi tắt đi. Ngọn lửa đã tắt đi thì hoàn toàn biến mất, nó không đi đâu cả. Thực tại đang sinh khởi hiện giờ và rồi diệt đi đã biến mất hoàn toàn. Nếu cho rằng cái diệt đi là ta hay của ta thì không đúng với sự thật. Trong cả cuộc đời của chúng ta, từ khi sinh ra cho đến bây giờ, không có một thực tại nào mà sau khi sinh lại không diệt đi. Tất cả cả các thực tại đều như ngọn lửa, nó sinh khởi rồi tắt ngấm; nó không tồn tại mãi và hoàn toàn vô ngã. Cái nghe sinh khởi chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi và rồi lại diệt đi. Cái thấy của giây phút này khác với cái nghe của giây phút trước. Cái nghe của giây phút này thì khác với cái nghe của giây phút trước. Cái nghe của giây phút trước thì không thể tìm đâu được nữa. Không có ai nghe cả, nghe chỉ là một thực tại, là một loại giới (dhatu) sinh khởi, nó nghe rồi diệt đi hoàn toàn. Thực tại sinh và diệt liên tiếp, nối tiếp nhau từ cái này đến cái kia cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời này, đến giây phút của cái chết. Tất cả chúng ta đều biết rằng chết là sự ra đi, rằng đó là sự chia cắt với tất cả mọi thứ; rằng với cái chết thì không còn lại gì của cuộc sống chúng ta trên trên thế giới này. Cũng như vậy, đối với cái nghe vừa sinh khởi, nó đã hoàn toàn diệt rồi, không còn lại gì nữa, nó đã “chết”. Trong Giáo lý, thành ngữ “cái chết trong từng sát na” (khanika marana) được sử dụng. Nếu chúng ta hiểu nghĩa của thuật ngữ này, chúng ta sẽ thấy rằng có cái chết của từng thực tại, cái đã sinh rồi diệt đi hoàn toàn. Chúng ta không cần phải đợi cho đến cái chết thực sự để phát triển hiểu biết rằng không gì còn lại từ cái gọi là “chúng ta”. Trí tuệ cần phải chứng ngộ “cái chết trong từng sát na”, tức là sự sinh và diệt của thực tại tại thời điểm này. Bằng cách ấy, tà kiến vẫn cho rằng thực tại là của ta, là ta, là chúng sinh và con người mới có thể được tận diệt. Chúng ta cần phải dần dần phát triển hiểu biết đặc tính của các thực tại đang xuất hiện hiện giờ, nếu không chúng ta sẽ chỉ dậm chân ở mức độ của hiểu biết theo lý thuyết. Chúng ta sẽ chỉ nhớ đến ngôn từ mà Đức Phật đã nói về sự vô thường của các pháp và bản chất vô ngã của chúng.
Tất cả mọi người ở đây muốn biết bằng cách nào có thể xuyên thấu về các thực tại đang sinh khởi rồi diệt đi và đều là vô ngã. Đức Phật đã chỉ ra con đường duy nhất để chứng ngộ sự thật, đó là: hay biết đặc tính của thực tại đang sinh khởi tại giây phút hiện giờ. Mọi người đã được nghe nói về từ “chánh niệm” (chánh niệm), nhưng điều đó không có nghĩa là họ đã hiểu đặc tính của chánh niệm. Chúng ta cần phải nghe pháp để có thể hiểu rằng chánh niệm là một tâm sở tịnh hảo. Chánh niệm khác với suy nghĩ (vitakka –tâm sở tầm). Suy nghĩ có thể là thiện (kusala) hay bất thiện (akusala), và khi có suy nghĩ bất thiện thì không có chánh niệm. Chúng ta cần phải biết rằng chánh niệm là một tâm sở tịnh hảo rất chú ý, lưu tâm, hay biết cái gì là thiện. Chúng ta đang nghe Pháp tại thời điểm này, và nếu có thêm hiểu biết về thực tại thì đó là nhờ có chánh niệm chú ý hay biết những gì được nghe. Khi một ai đó buồn ngủ và không có sự hứng thú trong Giáo pháp hoặc nghĩ về việc gì khác thì tâm không còn là thiện (kusala), và như vậy là không có chánh niệm. Từ lúc sinh cho đến khi chết, xuyên suốt cuộc đời chúng ta, có chánh niệm, suy nghĩ và các pháp khác sinh khởi, nhưng nếu chúng ta không nghe Giáo lý, sẽ có sự nhầm lẫn về tất cả các thực tại ấy. Chúng ta sẽ không thể phân biệt được đặc tính của thực tại này với thực tại kia và chúng ta sẽ tưởng chúng là ta, là ngã. Một số người có thể sử dụng các thuật ngữ Phật Pháp mà họ đã nghe, như chánh niệm (chánh niệm), chánh định (samådhi) hay trí tuệ (trí tuệ), nhưng họ không biết ý nghĩa thực sự của những thuật ngữ này, hoặc họ đưa ra những diễn giải riêng của họ về chúng. Nếu ai đó đã nghiên cứu Giáo lý, người ấy có thể có được cái hiểu đúng về các thuật ngữ này, người ấy sẽ biết rằng chánh niệm thì khác với định (samadhi) và khác với trí tuệ, người ấy sẽ không tin rằng các thực tại này là một. Người ấy biết khi nào một thực tại cụ thể sinh khởi, và nó sinh khởi bởi những nhân duyên riêng. Ngày nay một số người tin rằng họ đang thực hành Giáo pháp, nhưng họ không biết liệu họ có hiểu đúng về pháp hành hay không. Đức Phật dạy Pháp mà Ngài đã xuyên thấu tại thời điểm Giác ngộ để những người nghe có thể phát triển trí tuệ của mình. Điều ấy biểu lộ lòng từ bi vô lượng của Đức Phật đối với các đệ tử của mình. Khi ai đó thuyết Pháp, có thể có lúc những người nghe không hiểu chút nào về những gì họ được nghe. Nếu trí tuệ không sinh khởi nhờ việc nghe Pháp thì việc nghe không thực sự có ích. Các Phật tử đảnh lễ Đức Phật vì Ngài đã giáo huấn họ để họ có thể tự mình phát triển được trí tuệ và xuyên thấu được Tứ Thánh Đế. Khi mọi người nghe Pháp và hiểu những gì được giảng thì sẽ có trí tuệ biết cách thực hành Pháp đúng đắn. Không có một cái ngã nào thực hành cả mà chỉ có các thực tại, các pháp mà thôi. Chánh niệm là vô ngã, là một loại thực tại riêng. Samadhi hay định là một loại thực tại khác. Và trí tuệ là một loại pháp khác. Nếu không có cái hiểu đúng thế nào là chánh niệm, thế nào là định, thế nào là trí tuệ, mọi người sẽ tưởng nhầm là mình đang thực hành Pháp.
Theo kinh điển Tam Tạng, Đức Phật đã dạy con đường đúng và con đường sai (đạo và phi đạo). Một người nghiên cứu Giáo pháp và có cái hiểu đúng về Giáo pháp biết được con đường thực hành nào là con đường đạo và con đường nào là phi đạo. Người ấy biết rằng con đường chánh đạo là sự phát triển trí tuệ – thứ có thể xuyên thấu bản chất thực của các thực tại đang xuất hiện. Nếu một người tin rằng mình đang thực hành Giáo pháp nhưng không có hiểu biết đúng về các thực tại đang xuất hiện thì chắc chắn người ấy đang đi con đường phi đạo. Như vậy, con đường phi đạo là sự thực hành trong đó không có sự phát triển trí tuệ, ngược lại con đường đạo là sự thực hành của sự phát triển hiểu biết đúng về các thực tại. Nếu trí tuệ không sinh khởi và ta không hiểu sự khác biệt giữa định với chánh niệm và trí tuệ, khi ấy ta đang đi con đường phi đạo. Ngay từ đầu chúng ta cần phải biết chúng ta đang thực hành pháp tại giây phút này hay không. Nếu một người tin rằng người ấy không thể thực hành Pháp tại thời điểm này, người ấy không đi theo sự thực hành như đã dạy trong Tam tạng. Những người đã xuyên thấu Tứ Thánh Đế đã giác ngộ từ chính trong cuộc sống hàng ngày của họ. Trí tuệ có thể xuyên thấu được bất kỳ thực tại nào xuất hiện tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, nếu không có trí tuệ thì sự thực của giây phút này sẽ không thể được hiểu. Giáo lý mà Đức Phật đã dạy không tách biệt khỏi cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Đức Phật dạy sự thực về những gì sinh khởi qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, về tham, sân, về thiện và về từ bi. Đức Phật dạy về tất cả những thực tại ấy một cách chi tiết. Chúng ta cần hiểu chánh niệm khác với định như thế nào. Mọi người thường nhầm lẫn giữa hai thực tại này và họ cho định là chánh niệm. Họ vẫn tưởng nhầm rằng, họ nên chú tâm vào một vài thực tại cụ thể nào đó, và rằng đó là con đường đúng. Nếu ai đó phát triển con đường dẫn đến sự chứng ngộ Tứ Thánh Đế thì người ấy biết rằng, tại thời điểm này, chánh niệm có thể sinh khởi một cách tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày. Chừng nào không có hiểu biết đúng về pháp, sẽ không có cơ sở cho sự thực hành đúng và vì vậy, tốt hơn là không nên thực hành gì cả.
Tất cả những người là đệ tử của Đức Phật đều đã từng nghe Giáo pháp. Mức độ hiểu biết của họ về Giáo pháp phụ thuộc vào mức độ tích lũy các ba la mật của họ. Nếu họ có nhiều hiểu biết, có chánh niệm thì có thể hay biết đặc tính của thực tại, và bằng cách ấy đặc tính thực sự của chúng có thể được xuyên thấu, đúng theo những gì mà Đức Phật đã dạy.
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, bhavana, Chánh kiến, chánh niệm, khái niệm, Nina Van Gorkom, samatha, Thực tại, vipassana
Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 6: Con đường Bát chánh đạo
Chương 6
Con đường Bát chánh đạo
Buổi pháp đàm với các Phật tử Campuchia tại Nakorm Nayok (Phần 3)
Khun Sujin: Khi Đức phật giảng về các thực tại như cái thấy và đối tượng thị giác được kinh nghiệm qua mắt, những người nghe đã hiểu đặc tính của chánh niệm, họ có thể biết có chánh niệm trong khi thấy hay không. Khi Đức Phật giảng về cái nghe và âm thanh, những người nghe biết được, khi chánh niệm sinh khởi, có sự hay biết về các đặc tính của âm thanh hay của cái nghe, tức là thực tại kinh nghiệm âm thanh. Pháp mà bây giờ tôi nói đến chính là Pháp mà Đức Phật đã thuyết giảng tại Kỳ viên Tịnh xá, Trúc Lâm viên và các nơi khác. Nếu chúng ta quay lại thời Đức Phật tại thế, hơn 2500 năm trước đây, Pháp mà tôi nói đến bây giờ cũng đúng với mọi người ở thời điểm đó. Nếu mọi người ở thời điểm đó không thất niệm về các thực tại, họ đã có thể xuyên thấu tính chất thực sự của chúng. Một số người, trong lúc Đức Phật giảng về các thực tại, đã có thể xuyên thấu được chân lý, một số khác có được điều ấy sau khi được nghe giảng giải về các thực tại kỹ lưỡng và chi tiết hơn. Nhưng thời nay không còn những người như vậy nữa. Kể cả sau khi nghe những lời giảng về cái thấy thì cũng không chắc rằng đã có chánh niệm hay biết cái thấy. Chúng ta cần phải phát triển hiểu biết chính xác về các thực tại sinh khởi qua sáu môn, và chúng ta cần phải biết liệu đã có chánh niệm về các thực tại đó hay chưa. Mọi người cần phải tự thẩm sát khoảnh khắc có sự thất niệm về các thực tại và khoảnh khắc có chánh niệm. Họ cần phải hiểu rằng khi chánh niệm không sinh khởi, không thể biết các thực tại đang xuất hiện như chúng thực là. Không thể khiên cưỡng tạo nên sự sinh khởi của chánh niệm, nhưng trí tuệ có thể được phát triển từng bước một nếu ta trung thực với quá trình vun bồi trí tuệ và tự biết liệu có chánh niệm hay không. Đó là cuộc sống hằng ngày, và mọi người cần hiểu cuộc sống hằng ngày của chính mình.
Đức Phật đã giảng về sự phát triển con đường Bát chánh đạo, con đường này bao gồm tám chi là các tâm sở như sau:
Chánh kiến – sammā-dithi
Chánh tư duy – sammā-sankappa
Chánh ngữ – sammā-vācā
Chánh nghiệp – sammā-kammanta
Chánh mạng – sammā-ājíva
Chánh tinh tấn – sammā-vāyāma
Chánh niệm – sammā-chánh niệm
Chánh định – sammā-samādhi
Chánh kiến và chánh tư duy là hai chi thuộc nhóm tuệ của con đường Bát chánh đạo. Chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng là các chi thuộc nhóm giới của con đường Bát chánh đạo. Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định là những chi thuộc về nhóm định của con đường Bát chánh đạo. Như vậy sẽ có giới, định và tuệ của con đường Bát chánh đạo.
Khi có chánh kiến về thực tại thì tại thời điểm đó sẽ có “tu tập” (sikkha) về tăng thượng giới (tăng thượng có nghĩa là cao hơn), tăng thượng định và tăng thượng tuệ. Ba loại “tu tập” (Tam học) này được gọi là “ Tăng thượng tu – sự tu tập ở mức độ cao” (adhi-sikkha), bởi vì chúng là sự tu tập ở mức độ cao hơn, vi tế hơn và sâu sắc hơn các loại tu tập khác. Vào thời điểm ai đó làm việc bất thiện thì có vô minh về tham, sân và si. Khi chánh niệm sinh khởi, nó có thể hay biết về bất thiện pháp, dù chỉ là một mức độ tham nhẹ mà thôi, chưa tới độ đậm đặc của nghiệp bất thiện. Chánh niệm vẫn có thể hay biết về đặc tính thực sự của thực tại ấy. Đó là mức độ tu tập cao hơn về giới, vì ngay cả một mức độ bất thiện rất nhẹ cũng có thể được hay biết.
Định (Samadhi) là tâm sở nhất tâm (ekaggatā tâm sở), đó là thực tại tập trung vào đối tượng mà nó kinh nghiệm; nó làm duyên cho tâm kinh nghiệm đối tượng. Có tà định (miccha samadhi) đi kèm với các tâm bất thiện và chánh định (samma samadhi) đi kèm với tâm thiện. Bất cứ khi nào chánh niệm sinh khởi và hay biết đặc tính của thực tại thì chánh định tập trung trên đối tượng của chánh niệm. Chính vào thời điểm đó, hiểu biết về đối tượng có thể được phát triển và dần dần đặc tính của thực tại có thể được biết như chúng là.
Phát triển tuệ minh sát là một loại phát triển tâm trí cần rất nhiều thời gian, bởi vì chánh niệm không sinh khởi thường xuyên trong ngày, nó sinh khởi kém thường xuyên hơn các tâm bất thiện. Chánh niệm sinh khởi rất hiếm hoi, nhưng khi sinh khởi thì nó hay biết về các thực tại và trí tuệ có thể dần dần có thêm hiểu biết về chúng. Khi thất niệm trở lại, lại có vô minh không rõ các thực tại như chúng là. Hằng ngày có nhiều khoảnh khắc vô minh và vì vậy có rất nhiều vô minh được tích lũy, trong khi chánh niệm và trí tuệ chỉ có thể được tích lũy một cách nhỏ giọt.
Tuệ giác có thể xuyên thấu đặc tính thực sự của tất cả các thực tại. Khi một người đã chứng ngộ sự sinh diệt của các thực tại thì dần dần sẽ loại bỏ tà kiến rằng các thực tại là ngã, và người ấy, tại thời điểm giác ngộ, có thể xuyên thấu được Tứ Thánh Đế. Người đã xuyên thấu được Tứ Thánh Đế tại thời điểm giác ngộ tầng thứ nhất được gọi là vị thánh Dự lưu (sotāpanna). Tại thời điểm đó, đặc tính của niết bàn được kinh nghiệm và hoài nghi cùng tà kiến về các thực tại được hoàn toàn loại bỏ.
Vị thánh Dự lưu biết rằng vị ấy không phải là Vị Thánh Nhất lai, người đã đạt được tầng giác ngộ thứ hai và cũng không phải là vị A na hàm, hay thánh Bất lai, người đã đạt được bậc thánh thứ ba và cũng không phải là vị A la hán, người đã đạt được sự giác ngộ hoàn hảo và loại bỏ hoàn toàn phiền não. Trí tuệ ở mức độ vị thánh Dự lưu không thể loại bỏ được tham, sân và si. Ngoài các kiết sử đã được tận diệt, vẫn còn nhân duyên tích lũy khiến các pháp bất thiện khác sinh khởi. Vì vậy một vị Thánh Dự lưu vẫn cần phải tiếp tục phát triển trí tuệ theo cách người ấy đã biết rõ, tức là hay biết về các thực tại đang xuất hiện một cách tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày của mình. Đó là cách duy nhất để đạt được mục đích, không có con đường nào khác.
Người phiên dịch: Như vậy ý nghĩa của cụm từ “chú ý để biết kịp thực tại” là như thế nào?
Khun Sujin: Đó là sự dính mắc vào ý niệm rằng thực tại là ta. Khi chánh niệm không sinh khởi và có sự thất niệm về thực tại, ta thường cho thực tại là cái gì đó thực sự tồn tại. Chẳng hạn, khi có cái thấy, mọi người tin rằng họ thấy một ngôi đền, con người và những thứ khác nhau, chúng dường như đang tồn tại. Trong khi ấy nếu có trí tuệ, nó sẽ nhận ra rằng cái được biết qua nhãn môn không phải là người hay những thứ khác con nhau, mà chỉ là đối tượng thị giác, là một yếu tố xuất hiện qua nhãn môn. Khi chúng ta nhắm mắt lại, cái được thấy không còn ở đó nữa nhưng chúng ta vẫn có thể nghĩ về những người đang ngồi, chúng ta có thể nhớ về họ, nhưng những giây phút đó khác với giây phút thấy đối tượng thị giác đang xuất hiện qua mắt. Nếu một người nhắm mắt và mặc dù mọi người đã rời khỏi ngôi đền, người ấy có thể cho rằng vẫn có người ở trong ngôi đền đó. Điều đó cho thấy rằng, giây phút suy nghĩ về các khái niệm thì hoàn toàn khác với giây phút của cái thấy thực sự. Thực tại sinh và diệt, nối tiếp nhau rất nhanh. Các thực tại sinh khởi tiếp nối nhau qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thì bị cho là một “khối” – một người hay một thứ gì đó cụ thể. Chúng ta không nên cố gắng chú tâm trên một thực tại ở một thời điểm để có thể biết nó “kịp”, điều đó là không thể. Chỉ có chánh niệm mới có thể hay biết đặc tính của thực tại đang xuất hiện, một đặc tính tại một thời điểm, cho đến khi đặc tính ấy được hiểu một cách rõ ràng và thể hiện tính chất vô ngã.
Người phiên dịch: Người nghe muốn được biết thêm về cuộc đời riêng của bà – Achaan Sujin, quá trình giáo dục của bà, công việc của bà cũng như những việc bà đã làm để giảng giải Giáo pháp của Đức phật. Họ muốn biết về những điều ấy, dù là ngắn gọn hay chi tiết. Tôi muốn đóng vai trò của người phỏng vấn. Bà có phải người gốc Bangkok hay không?
Khun Sujin: Tôi không biết tôi có thể nói là tôi gốc người Bangkok hay không. Bố tôi làm việc ở Sở Lâm nghiệp và các con của ông sinh ra ở tỉnh nơi ông ấy sống. Tôi được sinh ra tại Ubonrajadhani, nhưng tôi được giáo dục ở Trường Saint Mary ở Bangkok. Tôi đã sống toàn bộ tuổi thơ của mình ở Bangkok cho đến khi học hết lớp sáu tại trường trung học. Sau đó tôi đã thi vào trường dự bị đại học Chulalongkorm. Sau đó tôi đăng ký vào học tại trường Đại học và học ở đó cho đến năm thứ hai. Tuy nhiên tôi không hoàn tất việc học của mình. Vì tôi vẫn thường bỏ lỡ những môn học quan trọng và không đi học thường xuyên, tôi đã thi trượt hai lần và cuối cùng đã rời bỏ trường Đại học. Sau đó tôi đến ở với cha, lúc đó ông đang làm việc tại Sở Lâm nghiệp ở Chiang Mai. Các con của ông thường đi học ở Bangkok, nơi có người chăm lo cho họ, vì mẹ của tôi đã mất khi chúng tôi còn bé. Vào kỳ nghỉ, chúng tôi đi thăm cha ở tỉnh. Khi chị gái của tôi đã có bằng đại học, chị ấy bắt đầu dạy tại trường Hoàng gia tại Chiang Mai. Tôi cũng có được đặc cách dạy tại trường Dara, gần trường Hoàng gia đó. Khi cha tôi rời công việc nhà nước và quay trở về Bangkok, chúng tôi lại đi theo ông về Bangkok sinh sống.
Có người đã khuyến khích tôi dạy tiếng Thái cho người nước ngoài tại khoa Tiếng Thái của Trường Dòng và tôi đã dạy ở đó trong một thời gian dài. Sau đó tôi rời ngôi trường này, cùng một số người bạn chúng tôi đã lập ra trường riêng, gọi là Hiệp hội các trường dạy tiếng Thái. Sau này trường này được rời từ tòa nhà trụ sở đầu tiên đến một nơi khác gần nhà của tôi tại Sathorn. Cuối cùng cha tôi đã bán ngôi nhà mà chúng tôi đã sống hơn bốn mươi năm, và sau đó chúng tôi chuyển gần về nhà em gái chúng tôi ở Soy Patthanavet (phố Sukhumvit 91). Vì ở đây rất xa trường mà tôi dạy nên tôi đã ngừng dạy và giao lại việc giảng dạy cho những người bạn, để họ cùng nhau tiếp tục công việc này.
Người phiên dịch: Bà bắt đầu nghiên cứu Giáo pháp như thế nào?
Khun Sujin: Tôi bắt đầu với việc học Vi diệu pháp. Tôi đọc một thông báo trên báo “Thế giới Bangkok”, nói rằng Hiệp hội Phật tử có một lớp dạy về Đạo phật và từ đó tôi bắt đầu học với Achaan Naeb Mahaniranan (Achaan Naeb) và với những người khác là thành viên của Hiệp hội giáo thọ. Tôi chủ yếu học ở trong lớp của Achaan Naeb. Vào thời điểm đó tôi vẫn còn đang làm việc, nhưng chỉ một nửa ngày thôi và còn lại tôi dành thời gian để ôn lại những gì mà tôi đã được học từ các lớp Vi diệu pháp vào chủ nhật. Trước năm 1957 vẫn chưa có bản dịch Tam Tạng từ tiếng Pali sang tiếng Thái, mà chỉ có một vài cuốn sách về Đạo phật bằng tiếng Thái. Nhưng sau năm 1957, khi bắt đầu có bản dịch thì tôi bắt đầu nghiên cứu các bản dịch Tam tạng sang tiếng Thái và các cuốn sách khác như Thanh tịnh đạo (Visudhimagga). Tôi gặp Achaan Naeb vào hầu như tất cả các ngày thứ năm, và khi tôi có thắc mắc gì về một số chủ đề nhất định thì tôi hỏi ý kiến của bà. Bà đã giảng những chủ đề đó cho tôi với tâm từ rất lớn. Bất cứ khi nào bà muốn tôi đi cùng bà và giúp bà giảng Pháp thì tôi lại đi cùng , dù đó là một đám tang trong tỉnh hay việc khác. Khi tôi nghiên cứu Vi diệu pháp được hai hay ba năm, Achaan Naeb đã đề nghị tôi giảng Pháp ở Viện Văn hóa quốc gia và cả ở nhà tù của phụ nữ. Bất cứ khi nào Achaan Naeb muốn tôi làm việc gì để truyền bá Đạo Phật thì tôi làm hết khả năng của mình. Khi Achaan Naeb lập Trung tâm Nghiên cứu Đạo Phật và Tổ chức Hỗ trợ tâm linh vào năm 1963 thì tôi cũng giảng ở đó. Về sau tôi bắt đầu giảng ở Chùa Maha-Dhatu và sau đó ở trong các giảng đường của Trường Mahamarkut thuộc Chùa Bovornivet. Bây giờ tôi không còn giảng Pháp nữa nhưng tôi vẫn giúp các buổi pháp đàm, và tôi xem xét lại những bài giảng của tôi mà mọi người đã được nghe trên các chương trình phát thanh. Giáo sư Somporn bây giờ đang giảng về cuốn “Vi diệu pháp toát yếu” (Abhidhammattha Sangaha). Hiện nay, tôi đang sắp xếp và xem xét lại tất cả các cuốn băng, tổng cộng hơn hai nghìn cuốn, về các chương trình của tôi trên các đài phát thanh khác nhau. Tôi biên tập lại để có thể làm cho nội dung được cô đọng hơn và có ít sự lặp lại hơn.
Người phiên dịch: Bà đã đọc và nghiên cứu Tam Tạng . Bà đã làm thế nào để có được sự hiểu biết về phát triển Tứ niệm xứ từ sự nghiên cứu của mình?
Khun Sujin: Không có chút nghi ngờ nào rằng Giáo pháp mới chính là vị đạo sư của chúng ta và vì vậy mọi người không nên bị dính mắc vào những người thầy của mình. Rất khó có thể hiểu sâu sắc và hoàn toàn Tam tạng, dù theo nghĩa đen của câu chữ hay theo ý nghĩa, nhưng chúng ta có thể có thêm hiểu biết bằng việc nghe bất cứ ai giảng sự thực về Pháp. Tuy nhiên chúng ta không nên chấp nhận những gì không đúng với pháp. Chúng ta không nên dính mắc vào con người, chúng ta không nên tin vào con người hơn là vào Giáo pháp. Chúng ta cần thực sự có niềm tin vào Giáo pháp mà Đức Phật đã dạy, hãy coi đó là người thầy của chúng ta.
Mọi thứ xảy ra do nhân duyên tương ứng. Không có ai có thể biết được mình có những nhân duyên tích lũy nào cho khía cạnh này hay khía cạnh kia của Pháp, hay để làm những việc này hay việc kia trong lĩnh vực Đạo Phật. Mong tất cả những ai có mong muốn nghiên cứu Giáo pháp có thể giúp người khác biết được về Giáo pháp với đúng khả năng của mình. Nếu một ai đó đang cố gắng giảng Pháp thì không nhất thiết phải có nhiều người đến nghe. Những người có kiến thức và hiểu biết về Giáo pháp đều có thể, theo cách riêng của mình, giúp những người khác chưa biết về Giáo pháp có thêm hiểu biết. Không cần phải suy nghĩ “tôi hơn người này” hay “người kia hơn tôi”. Mỗi một người khác nhau đều có thể làm những việc riêng biệt trong lãnh địa Giáo pháp, phù hợp với sự hiểu biết và khả năng mà người ấy đã tích lũy.
Cách chia sẻ Giáo pháp là trước hết phải tự tìm hiểu để có hiểu biết đúng đắn. Sẽ sai lầm nếu mong chờ người khác tìm hiểu về Giáo pháp mà không tự mình nghiên cứu. Ai đó có thể nói rằng Đạo phật mang lại rất nhiều lợi lạc, rằng nó mang đến giải pháp cho những vấn đề của cuộc sống chúng ta và cho xã hội, nhưng liệu người ấy có thực sự tự mình tìm hiểu Giáo pháp hay không? Người muốn tìm hiểu Giáo pháp cần biết chắc khi nào mình sẽ làm điều ấy. Nếu không người ấy sẽ tiếp tục nghĩ về việc nghiên cứu sẽ làm trong tương lai, thay cho thực sự tìm hiểu. Khi một người chắc chắn rằng mình sẽ nghiên cứu Giáo pháp thì cũng cần biết cái mình chắc chắn sẽ nghiên cứu và khi nào, ở đâu mình sẽ nghiên cứu. Những điều này mọi người cần phải thẩm định một cách đúng đắn, họ không nên lơ là việc tự nghiên cứu và có được hiểu biết về Giáo pháp, họ không nên chỉ nhắc lại những gì đã được nghe từ người khác.
Chỉ có một cách duy nhất đúng đắn, mỗi người cần là nơi nương tựa của chính mình khi nghiên cứu Giáo pháp với mục đích hiểu Pháp rõ hơn. Tất cả những ai tìm hiểu và hiểu đúng Giáo pháp đều đang góp phần hoằng dương Phật Pháp, cho cả chính mình và mọi người. Khi người ta không tự mình có hiểu biết đúng về Pháp, họ không thể truyền bá được Phật Pháp.
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, bhavana, Chánh kiến, chánh niệm, Thực tại, trí tuệ, vipassana, đạo Phật
Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 7: Con đường đúng và con đường sai (Đạo và Phi đạo)
Chương 7
Con đường đúng và con đường sai (Đạo và Phi đạo)
Buổi pháp đàm tại Pnompenh (Phần 1)
Buth Sawong: Tất cả mọi người đang có mặt tại đây đều muốn nghe về sự phát triển tứ niệm xứ. Tôi muốn biết sự khác biệt giữa trí tuệ ở mức độ tư duy về danh và sắc, và trí tuệ xuyên thấu đặc tính của danh và sắc.
Khun Sujin: Trước hết, mọi người nên lắng nghe Giáo pháp để có hiểu biết đúng, để hiểu được sự thực rằng ngay tại thời điểm này chỉ có các thực tại vô ngã. Tuy nhiên không phải dễ dàng để hiểu rằng tại thời điểm này, trong lúc nghe Pháp thì không có ai đang nghe cả, chỉ có các thực tại mà thôi.
Tất cả mọi người đều biết là mình đang thấy và cái thấy là thực. Đức Phật đã giảng rằng cái thấy là một thực tại, là danh, là yếu tố kinh nghiệm cái gì đó. Tuy nhiên, mọi người không nhận ra sự thực, rằng cái thấy chỉ kinh nghiệm cái xuất hiện qua nhãn môn, tức đối tượng thị giác. Họ vẫn tưởng rằng cái được thấy là cái này hay cái kia, một “cái gì đó” cụ thể.
Chúng ta cần nghe Pháp để có được cái hiểu đúng đắn, chắc chắn và vững vàng về thực tại. Dường như ở thời điểm này chúng ta thấy con người, bông hoa hay cái bàn, nhưng chúng ta cần phải biết rằng một vị Phật toàn giác, tại thời điểm giác ngộ Phật quả, đã xuyên thấu bản chất của các thực tại. Vị ấy đã chứng ngộ rằng cái được thấy chỉ là một thực tại xuất hiện qua nhãn môm. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng Pháp mà Đức Phật đã xuyên thấu là sự thực đang sinh khởi lúc này.
Mặc dù mọi người đã được nghe Pháp một thời gian, nhưng dường như khi mắt họ mở ra và có cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác thì họ vẫn thấy mọi người và đồ vật khác nhau như bình thường. Điều ấy chỉ ra rằng có rất nhiều sự vô minh. Vô minh (avijja) là thực tại không hay biết đặc tính của các pháp như chúng là.
Tất cả mọi người ở đây đều biết rằng họ cần tiếp tục phát triển trí tuệ, bởi trí tuệ ở mức độ lý thuyết, được duyên bởi cái nghe thì không có khả năng hiểu được một cách rõ ràng bản chất thực sự của thực tại. Để có sự phát triển của trí tuệ, rất quan trọng phải biết được sự khác biệt giữa các khoảnh khắc có chánh niệm và khoảnh khắc không có chánh niệm, hay thất niệm về thực tại. Khi chúng ta lắng nghe Giáo pháp, có thể nhờ có chánh niệm mà ta hiểu được cái đang nghe. Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là mức độ của chánh niệm trực tiếp hay biết đặc tính của thực tại đang sinh khởi. Nghe Pháp sẽ đạt được lợi ích lớn lao nếu ta cũng suy xét về những gì đã được nghe, như vậy dần dà sẽ có thêm hiểu biết về các thực tại đang xuất hiện trong hiện tại; có thể có thêm hiểu biết về cái thấy khi cái thấy xảy ra. Không nên có chút mong đợi nào về thời điểm có hiểu biết rõ ràng về thực tại xuất hiện. Chúng ta có thể bắt đầu hiểu rằng cái xuất hiện qua nhãn môn chỉ là một loại sắc, là đối tượng thị giác mà thôi. Màu sắc hay đối tượng thị giác được duyên bởi tứ đại, bao gồm các yếu tố địa đại (sự cứng mềm), thủy đại (sự kết dính), hỏa đại (sự nóng lạnh), phong đại (sự chuyển động, căng-trùng). Nếu không có tứ đại sinh khởi cùng đối tượng thị giác thì nó sẽ không thể xuất hiện. Màu sắc hay đối tượng thị giác không thể tự sinh khởi từ hư không. Nó cần có sự hỗ trợ của ba đại sinh cùng nó. Nhờ ba đại sinh khởi cùng với nó, chúng ta có thể nhận ra những hình dạng khác nhau. Tưởng (sanna) có thể nhận ra những thứ này là cái này hay cái kia. Sanna, sự ghi nhớ, không phải là tà kiến. Những người đã loại bỏ tà kiến, nhờ có sanna, vẫn có thể nhận ra được những gì mà họ đã thấy.
Khi chánh niệm đã được phát triển và trí tuệ có thể trở nên sắc bén hơn, hoài nghi về sự khác biệt giữa các đặc tính của danh – thực tại kinh nghiệm đối tượng và của sắc – chẳng hạn như đối tượng thị giác xuất hiện qua nhãn môn – có thể được loại bỏ hoàn toàn. Nhưng cần phải vô cùng kiên nhẫn để có thể lắng nghe Giáo pháp, suy xét và thẩm định về thực tại rằng tất cả những gì đang xuất hiện tại thời điểm này chỉ là pháp, là thực tại mà thôi. Nếu chánh niệm sinh khởi, nó có thể hay biết đặc tính của bất cứ thực tại nào đang xuất hiện. Khi bắt đầu, vẫn có ý niệm về ngã. Chánh niệm có thể sinh khởi, nhưng vẫn có ý muốn cố gắng hiểu thực tại. Rất quan trọng nhận ra sự khác biệt giữa giây phút của cái hiểu và giây phút của mong muốn hiểu thực tại. Chúng ta cần phải hay biết sự dính mắc của chúng ta đối với hiểu biết, nếu không sự dính mắc sẽ không thể bị diệt trừ. Dính mắc là nguồn gốc của khổ đau, đó chính là tập đế trong Tứ Thánh Đế. Dính mắc là nguyên nhân khiến ta không hay biết sự thực của các thực tại.
Chúng ta cần phải biết được mục đích của việc nghe Pháp. Mục đích không phải là để đạt được cái gì đó cho bản thân, không phải vì danh vọng hay tiếng thơm, không phải để được ngưỡng mộ là một người thông minh có đầy đủ trí tuệ. Mục đích là hiểu bản thân mình, nhận ra hiểu biết còn thiểu sót của mình về các đặc tính của thực tại, hiểu sự vô minh của chúng ta, chẳng hạn về đối tượng thị giác đang xuất hiện trước mắt. Chúng ta nên nhớ rằng, chừng nào chúng ta còn sống thì điều đáng quý nhất chính là trí tuệ hay biết thực tại như chúng là.
Nếu Đức Phật chưa dạy con đường phát triển tuệ giác, chúng ta sẽ không thể hay biết về đặc tính của thực tại. Suốt cả cuộc đời, chúng ta sẽ tiếp tục thấy mà không biết thực tại của cái thấy là gì. Nhưng nhờ có lời dạy của Đức Phật, mọi người có thể tự nhận ra khi nào có chánh niệm và khi nào có thất niệm về thực tại. Không ai có thể nói cho chúng ta biết mình có chánh niệm hay không, chúng ta chỉ có thể tự biết điều này cho bản thân mà thôi. Kể cả khi chánh niệm sinh khởi, đặc tính của các thực tại có thể vẫn chưa được thấy như chúng là. Tuy nhiên, chánh niệm lại có thể sinh khởi tiếp và bằng cách ấy dần dần sẽ có thêm một chút hiểu biết về thực tại. Chúng ta có thể hiểu rằng các thực tại đang sinh khởi một cách tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày khi có đủ duyên phù hợp cho chúng, và rằng kể cả đặc tính của chánh niệm cũng chỉ có thể xuất hiện khi có đủ nhân duyên, rằng sự sinh khởi của chánh niệm không thể được tạo ra bằng ý chí. Chúng ta nên nhớ, chỉ chánh niệm, chứ không phải ai đó, hay biết đặc tính của thực tại. Hiểu điều này là cách duy nhất để có thể loại bỏ được ý niệm về ngã, ý niệm rằng “tôi đang thực hành”.
Giáo pháp mà mọi người nghe hôm nay là Pháp mà Đức Phật đã thuyết giảng tại Kỳ viên tịnh xá (Jetavana), Trúc lâm tịnh xá (Veluvana) và các nơi khác. Những người nghe Pháp hiểu rằng thấy, nghe, suy nghĩ, hạnh phúc hay khổ đau đều là các thực tại, là pháp. Đó là các pháp thực, pháp đế (sacca pháp), đó là pháp thực trong mỗi một cuộc đời. Hiểu biết về pháp thực được tích lũy từ trước, nó phụ thuộc vào việc đã được nghe Pháp từ trong các tiền kiếp. Nếu ai đó trong cuộc đời của mình không có cơ hội nghe và hiểu Pháp, thì cuộc sống của người ấy đầy tham, sân, si và các loại phiền não khác, và người ấy luôn tích lũy ngày càng nhiều các bất thiện pháp. Vì vậy, khi có cơ hội được nghe Pháp thì chúng ta cần phải biết lắng nghe và suy xét, chúng ta cũng nên tự thẩm sát những đặc tính của thực tại đang xuất hiện tại giây phút này. Chúng ta cần nghe đi nghe lại và tiếp tục thẩm sát các thực tại nhằm phát triển hiểu biết, từng chút một. Nếu ai đó có ý định phát triển trí tuệ thì người ấy cần phải tích lũy từ bây giờ. Nếu người ấy không bắt đầu tại thời điểm này thì không thể có trí tuệ.
Tôi đánh giá cao thiện pháp của những người nghe đã tích lũy được trong quá khứ. Sự tích lũy này tạo duyên cho sự sinh khởi trí tuệ hiểu được lợi ích của Giáo pháp; và đó là nhân duyên để quan tâm nhiều hơn đến nghe và áp dụng Giáo pháp.
Buth Sawong: Tôi muốn hỏi lại sự khác biệt giữa trí tuệ ở mức độ lý thuyết và trí tuệ trực tiếp xuyên thấu sự thực về pháp.
Khun Sujin: Tại thời điểm này mọi người nghe Pháp và hiểu điều họ được nghe, nhưng đó vẫn chưa phải là cái hiểu trực tiếp, cái hiểu được bản chất thực sự của cái thấy khi thấy. Cái nghe xuất hiện tại thời điểm này và mọi người biết rằng đó là một loại danh, nhĩ thức, sinh khởi rồi diệt đi. Họ có cái hiểu lý thuyết về các thực tại này nhưng có thể họ vẫn chưa nhận ra đặc tính thực sự của thực tại đang nghe âm thanh sinh khởi và diệt đi. Mới chỉ có trí hiểu thực tại ở mức độ lý thuyết, tư duy. Nghe sinh khởi tại thời điểm này là thực, đó là pháp sinh và diệt. Chừng nào ta vẫn chưa trực tiếp hiểu được sự thực về thực tại sinh khởi tại giây phút này, thì vẫn chỉ là hiểu biết ở mức độ lý thuyết, được duyên bởi việc nghe. Trong khi đó, khi ai đó có cái hiểu trực tiếp và xuyên thấu được đặc tính của thực tại, người ấy biết rằng loại trí tuệ này khác với cái hiểu lý thuyết. Trước hết, mọi người cần phải biết đặc tính của chánh niệm.
Chánh niệm của Bát chánh đạo không phải là một “ai đó”, người đang hay biết. Samma-sati hay chánh niệm của Bát chánh đạo hay biết thực tại đang xuất hiện. Khi nó sinh khởi, sẽ không chỉ có cái hiểu lý thuyết. Chánh niệm hay biết trực tiếp đặc tính của thực tại xuất hiện, và nhờ vậy bản chất thực sự của nó có thể được hiểu vào thời điểm ấy. Vì vậy chúng ta có thể thấy được sự khác biệt giữa cái hiểu lý thuyết và trí tuệ – cái hiểu trực tiếp thực tại đang sinh khởi. Tất cả mọi người có thể tự biết rằng mình đang ở mức độ hiểu biết nào.
Trong quá khứ, khi Đức Phật thuyết Pháp và giảng về sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, thì người nghe, khi có chánh niệm sinh khởi, có thể tự hay biết được bản chất của các thực tại đang xuất hiện qua các căn đó. Khi chánh niệm không sinh khởi, họ biết rằng mới chỉ có cái hiểu lý thuyết được duyên bởi việc nghe Pháp. Chỉ trí tuệ mới có thể hiểu được đặc tính của thực tại, chúng ta không phải làm điều gì đặc biệt. Nếu tại thời điểm này trí tuệ có thể xuyên thấu được đặc tính của các thực tại, đó không phải bởi vì có một cái ngã nào đã cố gắng làm điều gì đó đặc biệt. Không có ai cả, không có người nào đang phát triển tứ niệm xứ. Khi chánh niệm sinh khởi và hay biết về các thực tại, chúng ta có thể biết được đặc tính của chánh niệm và trí tuệ, và bằng cách ấy thì tà kiến cho rằng các thực tại là ta hay là ngã có thể dần dần được loại bỏ. Cuối cùng, có thể có được hiểu biết rõ ràng về sự thực rằng tất cả những gì đang sinh khởi hiện giờ chỉ là pháp. Pháp xuất hiện hằng ngày qua các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Khi chánh niệm sinh khởi, nó hay biết thực tại, và nếu nó không sinh khởi, sẽ có vô minh không hiểu được thực tại. Chánh niệm có thể hay biết được đặc tính của thực tại đang xuất hiện một cách tự nhiên, chúng ta không phải làm điều gì đặc biệt. Trí tuệ phát triển rất từ từ, nhưng đó là cách thực hành đúng đắn.
Muốn biết cái gì đó khác ngoài cái xuất hiện hiện giờ là vô ích. Các thực tại đang xuất hiện tại thời điểm này và vì vậy bất kỳ cái gì đang xuất hiện bây giờ đều có thể được hiểu như nó là. Nếu chúng ta vẫn chưa hiểu được thực tại thì ta cần phải nghe, nghe đi nghe lại, suy ngẫm đi suy ngẫm lại, chúng ta nên học để hay biết đi hay biết lại và như vậy sẽ có thêm hiểu biết. Sự kham nhẫn và bền bỉ là không thể thiếu được.
Đạo hay con đường đúng cần phải được phát triển. Một người đi con đường sai khi người ấy muốn biết gì đó khác ngoài những thực tại đang xuất hiện hiện giờ. Như vậy sẽ không có trí tuệ. Nếu có trí tuệ thì nó phải hiểu được đặc tính của thực tại đang xuất hiện.
Những người đã chứng ngộ được chân lý có thể hiểu trí tuệ lớn lao của Đức Phật, người ấy có thể hiểu rằng, tại thời điểm giác ngộ, Đức Phật đã xuyên thấu sự thực về các thực tại vốn vô cùng khó để hiểu được. Thực tại luôn sinh khởi, nhưng dù chúng ta đã nghe Pháp trong một thời gian dài, trí tuệ vẫn có thể rất hiếm khi sinh khởi và phát triển rất chậm chạp. Tuy nhiên, cách đó vẫn còn tốt hơn là đi theo con đường sai, nơi không có chút trí tuệ nào.
Buth Sawong: Một số người nghe muốn hỏi làm thế nào để thực hành tứ niệm xứ. Tôi nhận ra rằng có rất nhiều sự thực hành sai lầm. Nhiều người thực hành quán niệm hơi thở theo cách sai và quán niệm hơi thở nằm trong tứ niệm xứ, phần niệm thân. Họ không biết đặc tính của các thực tại tạo nên thân.
Khun Sujin: Hãy hỏi đi, vì đây là một buổi pháp đàm. Chúng ta hãy thảo luận tại sao một người không thực hành theo con đường đúng.
Buth Sawong: Làm thế nào để mọi người có thể thực hành theo con đường đúng?
Khun Sujin: Có con đường đúng và con đường sai. Bây giờ tôi lại muốn hỏi các bạn: Bởi điều gì mà một người lại thực hành theo con đường sai?
Buth Sawong: Bà làm ơn giúp chúng tôi giải thích điều này không?
Khun Sujin: Người đặt câu hỏi cũng cần phải tự suy ngẫm và thẩm sát những câu hỏi này. Người ấy cũng cần phải tìm ra nguyên nhân nào mang đến kết quả nào. Nếu người ấy không tự suy nghĩ về câu hỏi của mình trước, người ấy sẽ không biết rõ nhân nào dẫn đến quả nào. Bởi vì có trí tuệ mà người ấy có thể tự trả lời những câu hỏi về sự thực hành. Nếu như người ấy không thể trả lời những câu hỏi ấy, người ấy sẽ không thể đi theo cách thực hành đúng được. Bạn có thể trả lời ngắn gọn câu hỏi của tôi được không: Lý do nào khiến một người thực hành theo con đường phi đạo?
Buth Sawong: Tôi lại muốn hỏi trong một vài câu ngắn ngủi: làm thế nào để ai đó có thể thực hành theo con đường đúng?
Khun Sujin: Liệu bạn có thể suy ngẫm lý do tại sao ai đó không thể thực hành theo con đường đúng không?
Buth Sawong: Bởi vì người ấy không biết sự thực.
Khun Sujin: Người ấy không biết thế nào là con đường sai. Người ấy vô minh, người ấy không hiểu gì cả. Nếu người ấy có được cái hiểu đúng, người ấy sẽ đi theo con đường đúng. Sự thực hành sai hay phi đạo là một dạng của tà kiến (miccha ditthi) và nó được duyên bởi vô minh. Nếu ai đó nói với người khác rằng ngồi là cần thiết cho sự thực hành đúng, thì những người đi theo lời khuyên này sẽ có thêm hiểu biết gì? Nếu những người ấy không có thêm hiểu biết gì trong khi ngồi thì lý do để ngồi là gì? Hiểu biết là điều không thể thiếu được đối với pháp hành đúng. Đức Phật dạy Giáo pháp với mục đích giúp mọi người hiểu đặc tính của thực tại đang xuất hiện tự nhiên tại giây phút này. Đức Phật không bảo mọi người ngồi mà bảo mọi người nghe Pháp để có thêm hiểu biết. Nếu mọi người không có được cái hiểu đúng về mặt lý thuyết về thực tại, cái được duyên bởi việc nghe Pháp thì họ đang thực hành theo cách nào? Nếu họ không có thêm hiểu biết nào thì có vô minh, và như vậy cũng có cả tà kiến đang làm duyên cho tất cả những loại thực hành sai. Một điều cơ bản phải hiểu là không có cái ta, cái ngã nào đang thực hành cả. Mọi thứ đều là pháp: chánh kiến (samma-ditthi) là pháp, tà kiến (micha-ditthi) là pháp, tham (lobha), sân (dosa), si (moha), trí tuệ, tất cả đều là pháp, là các thực tại vô ngã
Một người có tà kiến sẽ đi theo pháp hành sai, người ấy sẽ không thể đi theo pháp hành đúng được. Trong khi ấy người có cái hiểu đúng thì không thể đi theo pháp hành sai. Nếu một người khác nói với một người có cái hiểu đúng rằng ngồi là cần thiết cho pháp hành thì người ấy sẽ không ngồi bởi vì người ấy biết rằng, người ấy không phát triển được bất kỳ hiểu biết nào chỉ nhờ việc ngồi, và vì vậy không có lý do nào để cho người ấy ngồi.
Buth Sawong: Làm sao chúng ta có thể thực hành theo con đường đúng của Tứ niệm xứ và đặc biệt là của niệm thân?
Khun Sujin: Tại sao bạn lại chọn một đối tượng nhất định cho chánh niệm?
Buth Sawong: Bởi vì tôi đọc trong kinh điển về niệm thân, nhưng tôi không biết làm cách nào để thực hành nó.
Khun Sujin: Có sáu cửa giác quan, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Các đối tượng sinh khởi qua sáu căn tạo nên “thế giới” xuất hiện trước chúng ta; trên thực tế có sáu thế giới đang xuất hiện qua sáu môn. Nếu không có sáu thế giới đó thì chúng ta sẽ không kinh nghiệm gì cả. Vào thời điểm này, có cái thấy nhưng chúng ta có thể không biết được cái thấy như nó là. Đó chỉ là một thực tại, một loại kinh nghiệm khác với nghe hay suy nghĩ. Cái xuất hiện qua mắt là đối tượng thị giác, khác với âm thanh.
Những người chứng ngộ được sự thực tại thời điểm thấy, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm hay suy nghĩ sẽ không có một chút nghi ngờ nào về tứ niệm xứ: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp. Sẽ có thể có sự nghi ngờ về cái tên của tứ niệm xứ, về các khái niệm nhưng không có sự nghi ngờ về các thực tại. Người đã trực nhận được sự thực biết rằng có các thực tại trên thân là sắc luôn xuất hiện. Sắc xuất hiện ở khắp mọi nơi trên thân, từ đầu tới chân, đều là pháp, là các thực tại. Tâm có thể kinh nghiệm thực tại xuất hiện qua thân căn khi có sự xúc chạm với cơ thể. Hiện giờ răng, máu hay tim có đang xuất hiện lúc này không?
Buth Sawong: Những cái đó tồn tại theo nghĩa chế định.
Khun Sujin: Bạn có thể nhớ rằng chúng có tồn tại, nhưng hiện giờ chúng có xuất hiện không?
Buth Sawong: Chúng không xuất hiện hiện giờ
Khun Sujin: Chúng đã sinh và diệt rồi. Cái đã sinh và diệt không xuất hiện tại thời điểm bây giờ. Nhưng mọi người nhớ chúng theo một cách sai lệch và chính vì vậy, chúng có vẻ kéo dài, thường hằng. Họ cho rằng cái thân từ đầu tới chân là ta. Đó chính là nhớ tưởng sai lầm về ngã (atta sanna).
Đức Phật nói rằng tất cả các pháp đều vô ngã, anattā. Sắc pháp là sắc pháp và danh pháp là danh pháp. Mỗi thứ đều có đặc tính riêng của chúng và không ai có thể thay đổi những đặc tính ấy; chúng là những thực tại, không phải là ta. Sắc pháp sinh và diệt cực kỳ nhanh, nhưng danh pháp sinh và diệt còn nhanh hơn cả sắc pháp. Khi sự thực đã được chứng ngộ, không gì còn lại trong cuộc đời của chúng ta ngoài một khoảnh khắc của tâm kinh nghiệm sắc hay danh đang xuất hiện. Mọi người vướng mắc vào cái ta, và bởi tưởng mà họ biết mình có phổi, gan, tim hay tụy, chúng dường như tồn tại, nhưng khi có trí tuệ thì nó có thể nhận ra rằng đó chỉ là suy nghĩ mà thôi. Tứ niệm xứ không phải là suy nghĩ, nó là sự phát triển cái hiểu trực tiếp về đặc tính của các thực tại đang xuất hiện.
Khi chúng ta chạm vào bất kỳ phần nào trên thân thì đặc tính mềm hay cứng đang xuất hiện. Cứng và mềm là các sắc sinh và diệt ngay lập tức. Vì có tưởng mà chúng ta nghĩ về các phần khác nhau của thân, và tôi sẽ đưa ra ví dụ về điều này. Một người có một cái chân bị cụt vẫn có cảm giác rằng mình có chân. Đó chính là do tưởng đã làm duyên cho người ấy nghĩ rằng người ấy vẫn có chân, mặc dù cái chân ấy đã bị cụt. Có sự ghi nhớ về tất cả những sắc được gọi là chân. Trên thực tế thì sắc đang sinh khởi hiện giờ diệt ngay lập tức, và khi có duyên đầy đủ thì nó lại được thay thế bởi sắc khác lại sinh và diệt. Tuy nhiên, bởi vì có tưởng, mọi người nghĩ về toàn thân của họ từ đầu tới chân, cũng như trong trường hợp người có cái chân bị cắt vẫn có cảm giác người ấy có chân. Chỉ khi ngã tưởng, tức là sự ghi nhớ sai lầm về ngã (atta sanna), mà bởi nó chúng ta vẫn tiếp tục suy nghĩ rằng có cái thân tồn tại, đã được tận diệt, thì ta mới có thể hiểu rằng tất cả các pháp đều là vô ngã, rằng không có gì còn lại của thân như là một khối mà chỉ có đặc tính của sắc tại mỗi thời điểm đang sinh khởi. Đó là cách để hiểu ý nghĩa của anattā.
Rất khó để có thể loại bỏ sự ghi nhớ sai lầm về ngã. Khi sắc là tính lạnh tác động lên một phần nào đó trên thân, nó diệt ngay lập tức, nhưng thật khó mà nhận ra điều này. Sẽ luôn luôn có sự ghi nhớ “tôi là người đang ngồi” và sẽ có sự ghi nhớ về cái tay, cái chân, cái đầu và về toàn thân. Tà kiến về ngã vẫn chưa được tận diệt. Đức Phật giải thích rằng khi chánh niệm sinh khởi và hay biết về từng đặc tính một của thực tại đang xuất hiện qua thân căn, thì ở thời điểm ấy có niệm thân. Tứ niệm xứ không phải là cái gì đó khác ngoài chánh niệm về cái đang xuất hiện qua mắt, qua tai, qua mũi, qua thân và qua ý. Mọi người không nên lựa chọn đối tượng của Tứ niệm xứ bởi vì như thế là có sự dính mắc vào ý niệm về một cái ngã có thể lựa chọn một đối tượng. Không ai có thể ra lệnh cho chánh niệm hay một đối tượng cụ thể nào. Chỉ có chánh niệm mới có thể hay biết đối tượng này hay đối tượng kia. Chánh niệm có thể hay biết cái xuất hiện qua mắt hay đối tượng của cái thấy tại thời điểm này khi đang có cái thấy. Tại thời điểm ấy không có chánh niệm trên thân. Sẽ có thể có chánh niệm về pháp hay chánh niệm về tâm, tức là niệm pháp hay niệm tâm, tùy thuộc vào nhân duyên. Không có phương pháp nào quy định ai đó có thể làm gì đó cụ thể để có thể có chánh niệm trên thân, thọ, tâm hay pháp. Không có phương pháp nào để có thể đi theo. Cách duy nhất để phát triển Tứ niệm xứ là dần dần hiểu được các thực tại đang xuất hiện. Chánh niệm có thể biết được bất kỳ thực tại nào đang xuất hiện, chẳng hạn khi có cái thấy thì có thể có sự hay biết về thọ. Khi có sự hay biết về các đặc tính của thọ thì có thể tại giây phút đó không có chánh niệm về thân hay chánh niệm về tâm. Thuật ngữ pali được sử dụng trong trường hợp này là Vedananupassana Satipaṭṭhāna, nghĩa là: sự suy xét hay quán niệm về thọ. Điều này chỉ ra rằng trí tuệ được phát triển nhờ chánh niệm, qua sự suy xét về các đặc tính của thực tại. Nếu một người chưa từng hay biết về các đặc tính của thọ, thì người ấy vẫn tiếp tục coi thọ là ngã.
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, bhavana, Nina Van Gorkom, Thực tại, trí tuệ, vi diệu pháp, vipassana
Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 8: Phát triển tuệ giác một cách tự nhiên
Chương 8
Phát triển tuệ giác một cách tự nhiên
Buổi pháp đàm tại Pnompenh (Phần 2)
Khun Sujin: Không có phương pháp cụ thể nào cần được theo đuổi để phát triển tứ niệm xứ. Hiểu biết có được nhờ nghe Pháp đã được tích lũy từ trước làm duyên cho chánh niệm hay biết các đặc tính của thực tại xuất hiện bây giờ. Hiểu biết về các thực tại xuất hiện tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày có thể được phát triển. Không cần thiết phải hỏi nên theo đuổi phương pháp thực hành nào. Nếu tại thời điểm này không có hiểu biết thì vẫn cần tiếp tục lắng nghe Giáo pháp thêm nữa để có thêm hiểu biết. Bằng cách ấy mọi người sẽ biết khoảnh khắc nào có chánh niệm và khoảnh khắc nào không có chánh niệm. Nếu một người nghĩ đến việc thực hành trong tương lai thì có nghĩa là không có chánh niệm. Thực tại đã xuất hiện rồi nhưng người ấy không nhận ra. Thật vô ích khi nghĩ về tương lai vẫn còn chưa tới. Nếu ai đó nghĩ rằng mình sẽ thực hành trong tương lai, người ấy không biết rằng tại khoảnh khắc này có thực tại cần được hiểu. Sẽ không ích lợi gì khi băn khoăn chúng ta phải làm gì, phải thực hành như thế nào. Chánh niệm có thể hay biết cái thấy hiện tại, cái là thực, hoặc hay biết cái nghe hiện tại, cái là thực. Nó có thể hay biết thực tại như tính chất cứng hoặc mềm được kinh nghiệm do sự xúc chạm, như suy nghĩ, cảm giác hạnh phúc, bất hạnh hay cảm thọ trung tính, cảm thọ khổ hoặc lạc trên thân. Tất cả những hiện tượng này đều là thực và đều có thể là đối tượng của chánh niệm.
Chúng ta không cần trì hoãn phát triển hiểu biết, chúng ta không nên tin rằng phải làm cái gì đó đặc biệt trước đã. Tại thời điểm này có cái thấy đang kinh nghiệm cái xuất hiện qua nhãn môn. Có thể có chánh niệm về cái thấy. Đặc tính của cái thấy là danh, yếu tố kinh nghiệm đối tượng. Chúng ta có thể thấy, chúng ta khác với một người chết mặc dù vẫn có mắt nhưng không thể thấy, không thể nhận ra cái bàn hay cái ghế. Chúng ta có thể thấy chừng nào vẫn còn sống và chưa bị mù. Vào thời điểm này có cái thấy và đó chỉ là một sát-na tâm. Không ai có thể tạo ra cái thấy, nó sinh khởi bởi các duyên tướng ứng của nó. Tâm là cái thấy khác với tâm là cái nghe. Chúng ta cần phải nhớ rằng có những thực tại khác nhau. Dần dần chúng ta có thể hiểu được các đặc tính của tâm là cái thấy ở giây phút hiện tại. Trí tuệ chưa thể hiểu rõ ràng lúc khởi đầu. Nếu ai đó băn khoăn liệu có vô minh hay không, câu trả lời là: vô minh không biết cái thấy chỉ là cái thấy khi nó đang xuất hiện, tức là nó không biết bản chất thật của cái đang xuất hiện hiện giờ. Trí tuệ là sự đối nghịch của vô minh; trí tuệ hiểu các thực tại, trong khi ấy vô minh thì không biết gì cả.
Cái thấy sinh khởi bởi những duyên thích hợp của nó. Khi chánh niệm hay biết cái thấy thì tại thời điểm ấy, trí tuệ có thể hiểu bản chất của nó, nó có thể hiểu rằng đó là một loại thực tại. Chánh niệm và trí tuệ sinh và diệt cùng nhau rất nhanh chóng. Chúng chỉ sinh khởi khi có nhân duyên cho chúng sinh khởi. Không ai có thể cố khiến chúng phát sinh, nhưng chúng có thể được phát triển một cách từ từ. Sự phát triển của chánh niệm và trí tuệ cần một thời gian rất dài. Khi chánh niệm mới sinh khởi, không ai có thể có ngay được hiểu biết rõ ràng về thực tại.
Để có thể đạt được quả vị Phật, Đức Phật đã phải bồi bổ “ba la mật” từ khi Đức Phật Nhiên Đăng đã thọ ký cho Ngài trở thành vị Phật tương lai, Ngài đã phải tích lũy những ba la mật ấy trong bốn a tăng tì kiếp và một trăm ngàn đại kiếp. Ngài Ananda cũng đã phải tích lũy các ba la mật trong một trăm ngàn đại kiếp. Vậy, tại sao mọi người lại hỏi họ cần phải thực hành như thế nào? Nếu ai đó hỏi những câu hỏi như vậy, điều ấy chỉ ra rằng người ấy đang muốn hiểu trực tiếp ngay lập tức thực tại xuất hiện ở thời điểm hiện giờ, tuy nhiên điều ấy là không thể.
Người phát triển Bát chánh đạo cần phải tự biết, người ấy cần phải trung thực với chính mình. Tại thời điểm có vô minh, người ấy không hiểu thực tại, và tại thời điểm có chánh niệm sinh khởi, người ấy có thể biết rằng có chánh niệm hay không. Khi chánh niệm sinh khởi, nó hay biết thực tại xuất hiện tự nhiên trong cuộc sống. Tại thời điểm này, cái thấy đang sinh khởi tự nhiên. Chúng ta có thể thẩm sát một cách đúng đắn cái thấy là gì, chúng ta có thể hiểu rằng đó chỉ là một loại thực tại. Ở khoảnh khắc đó có chánh niệm sinh khởi cùng với cái hiểu tư duy. Khi có cái hiểu trực tiếp đặc tính của cái thấy là danh thì được gọi là tứ niệm xứ. Ở những khoảnh khắc ấy, có hiểu biết đặc tính của thực tại như chúng là, nhưng hiểu biết chưa thể thấu đáo và rõ ràng ngay lập tức. Trí tuệ cần phải được phát triển dần dần. Những người phát triển hiểu biết không có chút nghi ngờ về việc nếu chánh niệm không sinh khởi và không hay biết đặc tính của thực tại, trí tuệ sẽ không thể phát triển, và như vậy đặc tính của thực tại không thể được hiểu một cách rõ ràng. Vì thế, người ấy cần phải phát triển tứ niệm xứ một cách tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày của mình. Người ấy nhận ra rằng có những khoảnh khắc chánh niệm có thể hay biết thực tại, nhưng cũng có những khoảnh khắc chánh niệm không sinh khởi, tuy thế người ấy không mong muốn cố làm chánh niệm phát sinh. Người ấy biết rằng chánh niệm không sinh khởi bởi ta mong muốn có nó. Mỗi nhân đều mang đến một kết quả tương ứng. Nếu ai đó có tác ý làm thiện pháp thì người ấy cần phải bắt đầu tại giây phút này. Nếu người ấy không muốn sân hận, ngay thời điểm này người ấy cần phải bớt xu hướng giận dữ. Thiện pháp cần phải được phát triển chứ không sinh khởi theo mong muốn của ta. Nếu một người muốn phát triển trí tuệ thì người ấy cần hay biết đặc tính của thực tại một cách tự nhiên, và không thể có ý niệm về “tôi” hay cái ngã đang hay biết. Khi chánh niệm sinh khởi và hay biết các thực tại, chúng ta có thể thấy rằng đã có chánh niệm, và không cần thiết phải làm điều gì đặc biệt để có được chánh niệm. Không có gì khác cần phải làm ngoại trừ dần vun bồi hiểu biết về đặc tính của các thực tại.
Ai đó có thể cảm thấy thỏa mãn với hiểu biết của mình hay với sự sinh khởi của chánh niệm, nhưng khi ấy có sự dính mắc, và người ấy cần từ bỏ sự dính mắc ấy. Chúng ta không nên hy vọng sẽ có chánh niệm sinh khởi trong tương lai, cũng như không nên dính mắc vào chánh niệm đã sinh khởi rồi, đó là sự thực hành sai. Con đường thực hành đúng đắn là phát triển hay biết các thực tại khi chúng xuất hiện một cách tự nhiên. Khi có thực hành đúng, sẽ không có dính mắc hay sân hận với thực tại xuất hiện, bởi vì thực tại đó không phải là “ta”, của ta hay tự ngã. Không phải chỉ trong cuộc đời này mới có sự dính mắc vào khái niệm về “ta” hay ngã, mà trong vô vàn kiếp sống đã có sự dính mắc ấy. Làm sao hôm nay chúng ta có được ngay lập tức cái hiểu rõ ràng các đặc tính của danh và sắc? Nếu vẫn chưa nghe nhiều và có sự suy xét đầy đủ về Giáo pháp thì không thể có được tuệ giác về sự sinh và diệt của thực tại khi hay biết thực tại ấy. Mỗi khi Đức Phật giảng Pháp, có rất nhiều người xuyên thấu được Tứ Thánh Đế, nhưng điều này không có nghĩa là tất cả những người nghe đều có thể đạt giác ngộ. Những người đã đạt được giác ngộ ở mức độ của vị A la hán ít hơn số người đạt được giác ngộ ở mức độ của vị thánh Bất lai, cũng như vậy, số người trở thành thánh Bất lai thì ít hơn số người đạt được quả vị Nhất lai, tầng thánh thứ hai. Và những vị thánh Nhất lai cũng ít hơn số người đạt được giai đoạn thứ nhất của giác ngộ, vị thánh Dự lưu. Những người đã trở thành vị Thánh Dự lưu thì cũng ít hơn số người không đạt được bất kỳ tầng giác ngộ nào. Nghe và suy xét về Pháp không bao giờ đủ. Tất cả mọi người cần phải tiếp tục nghe Pháp và suy xét về những gì đã được nghe.
Khi đọc những câu chuyện về các tiền kiếp của các vị đệ tử của Đức Phật, chúng ta thấy rằng có những người, mặc dù đã nghiên cứu toàn bộ Tam Tạng và Chú giải, vẫn chưa xuyên thấu được Tứ Thánh Đế. Vì thế, sẽ vô ích nếu tự hỏi khi nào thì mình sẽ hiểu được thực tại. Bên cạnh đó, ta không nên hỏi người khác liệu mình sẽ có được trí tuệ sau một thời gian dài phát triển hay chỉ trong một thời gian ngắn mà thôi. Mỗi người cần phải tự biết tại thời điểm này, chánh niệm có hay biết thực tại đang xuất hiện hay không. Mọi người cần tự mình biết sự thực, và người ấy phải trung thực với quá trình vun bồi trí tuệ của bản thân. Con đường duy nhất cần theo đuổi là phát triển hiểu biết từng chút từng chút một.
Buth Sawong: Liên quan đến việc thực hành Giáo pháp, mọi người đã nghe Pháp thấy rằng thực tại sinh và diệt quá nhanh. Họ nói rằng, vì vậy họ không thể hiểu chúng một cách rõ ràng. Dường như họ vẫn thấy chúng sinh và con người, chứ không phải là các đối tượng thị giác, vì các thực tại khác nhau sinh và diệt quá nhanh. Họ cảm thấy rằng họ không đủ nhanh để có thể hiểu được các thực tại khác nhau.
Khun Sujin: Họ không đủ nhanh để hiểu các thực tại hay là họ không hiểu chúng chút nào cả?
Buth Sawong: Họ biết về các thực tại ấy như là chúng sinh, con người và ngã.
Khun Sujin: Có phải vấn đề là ở chỗ quá chậm để hiểu thực tại hay đơn giản chỉ là không hiểu các thực tại chút nào?
Buth Sawong: Quả thực, họ không hiểu các thực tại chút nào chứ không phải là vấn đề quá chậm để bắt được thực tại ấy.
Khun Sujin: Đúng như vậy. Tại thời điểm này các thực tại đang xuất hiện với tất cả chúng ta vì chúng ta đang thức. Có cái thấy, nhưng liệu có hiểu biết biết rằng cái thấy chỉ là một thực tại kinh nghiệm cái gì đó, rằng không có một cái tôi nào đang thấy hay không? Cái được kinh nghiệm qua mắt là đối tượng thị giác đang xuất hiện. Hiện giờ đã có hiểu biết hay chưa? Chúng ta không nên tìm cái đang xuất hiện qua mắt vì nó đã ở đó rồi. Tại giây phút này thực tại đang xuất hiện nhưng chúng vẫn chưa được biết như chúng là. Tuy nhiên, điều này không phải là do quá chậm để có thể nắm bắt chúng. Vì vậy mọi người không nên nói rằng họ quá chậm để có thể hiểu pháp; họ chỉ có được cái hiểu về mặt lý thuyết rằng sự thực các thực tại đang sinh và diệt rất nhanh. Tại thời điểm này, thực tại đang sinh và diệt, và không có ích gì khi nghĩ rằng ta quá chậm để nhận ra điều ấy. Chỉ trí tuệ đã được phát triển thì mới có thể chứng ngộ được sự thực về vô thường. Cái đã diệt thì đã diệt rồi, không ai có thể thay đổi sự thực ấy. Trong lúc người nào đó nghĩ rằng họ quá chậm để nhận ra được sự diệt đi của thực tại thì thực tại đã sinh và diệt rồi. Cách duy nhất cần theo đuổi là phát triển hiểu biết về các đặc tính của những gì xuất hiện tại thời điểm hiện giờ, và không nên trì hoãn. Đó là cách để kiểm tra hiểu biết nơi mình, để tìm ra rằng liệu đã có hiểu biết đặc tính thực sự của các thực tại hay chưa. Nếu ai đó dần dần có thêm hiểu biết về các thực tại, điều ấy có nghĩa rằng trí tuệ đang phát triển.
Phải chăng chúng ta có đang muốn đạt giác ngộ mà không cần biết đặc tính của các thực tại đang sinh khởi tại giây phút này như chúng là? Điều ấy là không thể. Chừng nào ai đó vẫn chưa xuyên thấu được sự thực về các thực tại đang xuất hiện hiện giờ, người ấy không nên tin rằng mình sẽ chứng ngộ được Tứ Thánh Đế, rằng mình sẽ đạt được niết bàn. Tất cả mọi người đều có thể nhắc lại Giáo lý mà mình đã được nghe, người ấy có thể nhắc đi nhắc lại rằng các thực tại sinh khởi do duyên, rằng các thực tại đã sinh khởi có thể được kinh nghiệm. Tuy nhiên, tại giây phút này thì có cảm giác cứng qua xúc chạm, liệu mọi người có được hiểu biết trực tiếp về sự thực này, tức là về tính cứng đang được kinh nghiệm nhờ sự xúc chạm, xuất hiện bởi vì nó đã sinh khởi hay không? Rằng nếu tính cứng không sinh khởi thì nó sẽ không được kinh nghiệm bởi sự xúc chạm? Tất cả mọi người đều chạm vào cái này hay cái khác và nếu chánh niệm không sinh khởi, mọi người sẽ nghĩ rằng đó là cái bàn hay một cái tay đang kinh nghiệm sự xúc chạm. Nhưng khi chánh niệm sinh khởi, nó có thể hay biết đặc tính cứng, nhưng điều ấy không có nghĩa rằng trí tuệ có thể xuyên thấu được bản chất thực của thực tại ngay lập tức. Chúng ta cần phải nhớ những lời dạy của Đức Phật mà chúng ta đã đọc trong kinh điển, về việc thường xuyên chánh niệm, lặp đi lặp lại. Chỉ khi có chánh niệm thường xuyên thì nó mới có thể hiểu được rằng tính cứng chỉ là một loại sắc, khác với thực tại kinh nghiệm tính cứng là danh. Khi đã thường xuyên có chánh niệm về đặc tính của danh và sắc, trí tuệ có thể trở nên sắc bén hơn và đạt được đến mức độ của tuệ minh sát, và vào thời điểm ấy thì thực tại xuất hiện như chúng thực là. Tuy nhiên điều đấy không có nghĩa là sự sinh và diệt của các thực tại có thể được xuyên thấu một cách ngay lập tức. Trong quá trình phát triển của trí tuệ, có nhiều giai đoạn tuệ giác, và sự sinh diệt của thực tại thì không được liễu ngộ ngay tại tuệ minh sát thứ nhất, mà mãi về sau. Khi một người cho rằng người ấy có thể ngay lập tức thấy được sự sinh diệt của các thực tại thì người ấy đang đi con đường phi đạo. Người ấy không nên nghĩ đến việc có đủ thời gian để “nắm bắt” được sự sinh diệt của thực tại. Người ấy phải bắt đầu hiểu biết các đặc tính của loại thực tại đang kinh nghiệm gì đó, danh và đặc tính của loại thực tại không kinh nghiệm gì cả, sắc. Người ấy phải bắt đầu hay biết các thực tại xuất hiện qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Chỉ có sáu cánh cửa giác quan mà qua đó thực tại xuất hiện, nhưng vô minh thì không thể hiểu được điều ấy.
Đức Phật đã dạy Giáo pháp rất chi tiết trong 45 năm, Người đã dạy Vinaya (Tạng luật), Suttanta (Tạng Kinh) và Abhidhamma (Tạng Vi Diệu Pháp). Ngài đã dạy Giáo pháp một cách rất chi tiết, bởi vì Ngài biết lượng vô minh khổng lồ của chúng ta. Thực tại chỉ có danh và sắc, nhưng Đức Phật đã dạy nhiều khía cạnh của chúng. Ngài dạy tứ niệm xứ để ta có thể hiểu được thực tại chỉ là vô ngã. Chẳng hạn, ngài dạy niệm thọ để ta biết sự thực về các loại cảm thọ khác nhau. Trong đó có thọ hỷ, thọ ưu, thọ xả và thọ khổ, thọ lạc trên thân, tất cả đều không phải là “ta”, là ngã. Bây giờ, chúng ta có thể nhận thấy rằng có nhiều loại danh và sắc, các thực tại xuất hiện qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Cảm thọ sinh khởi mỗi lúc có cái thấy, cái nghe, cái nếm, cái ngửi hay kinh nghiệm đối tượng xúc chạm hay suy nghĩ.
Khi chúng ta xem xét thực tại của cảm thọ, chúng ta thấy chúng có nhiều loại khác nhau. Nhưng ngoài cảm thọ ra cũng có những thực tại khác, chẳng hạn như tham, sân, sự ghen tỵ, bủn xỉn, và nhiều loại tâm sở bất thiện khác. Bên cạnh ấy cũng có nhiều loại tâm sở thiện (tâm sở tịnh hảo). Tất cả những thực tại này đều sinh diệt theo nhân duyên tương ứng. Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta có nhiều sự thất niệm và vô minh khi không có chánh niệm hay biết đặc tính của các thực tại đang xuất hiện.
Buth Sawong: Tôi nhận được một câu hỏi từ ai đó hỏi rằng một người thực hành tứ niệm xứ cần phải làm gì khi người ấy kề cận cái chết?
Khun Sujin: Không có ai cả, không có cái ngã nào có thể làm gì. Chỉ có tâm, tâm sở và sắc sinh khởi liên tục theo duyên riêng của chúng.
Buth Sawong: Ở thời điểm lâm chung và sắc đã diệt đi, danh cũng diệt đi. Vậy cái gì sẽ sinh?
Khun Sujin: Sẽ lại có sự sinh khởi của danh và sắc. Có phải rằng chỉ một khoảnh khắc trước thì danh và sắc đã diệt đi không?
Buth Sawong: Đúng là như vậy
Khun Sujin: Và như vậy lại có sự sinh khởi của danh và sắc?
Buth Sawong: Đúng vậy
Khun Sujin: Danh và sắc sinh khởi và diệt đi hoàn toàn do duyên, luôn như vậy. Nếu danh và sắc không sinh khởi thì chúng ta đã không ngồi ở đây.
Buth Sawong: Khi tôi và những người thân của mình tới gặp bà tại sân bay, bạn đã nói với chúng tôi rằng chúng tôi có trí tuệ. Trí tuệ bà nói đến đó là ở khía cạnh nào?
Khun Sujin: Những người thân của bạn đã nghe Pháp mà bạn giải thích trong các bài giảng của bạn trước khi đến gặp tôi, có đúng ko?
Buth Sawong: Đúng là họ cũng có nghe
Khun Sujin: Nếu họ không có chút hiểu biêt nào từ cái nghe, liệu họ có nghe tiếp hay không?
Buth Sawong: Họ đã nghe và có được cái hiểu từ cái đã được nghe.
Khun Sujin: Đó chính là trí tuệ, trí tuệ là cái hiểu!
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, bhavana, chánh niệm, Nina Van Gorkom, Thực tại, tuệ giác, vi diệu pháp, vipassana