Monthly Archive January 16, 2013

Bức thư vipassana 1

Bức thư Vipassana I

Thân gửi các đạo hữu

Sarah và Jonathan đã từ Hồng Kông đến Băng Cốc để gặp Khun Sujin (Achaan Sujin Boriharnwanaket) và trao đổi về các vấn đề nảy sinh trong việc thực hành tứ niệm xứ. Tôi đã nhận được các cuốn băng ghi âm buổi thảo luận và muốn chia sẻ với các bạn những gì tôi đã học được từ cuốn băng đó.

Cuộc trao đổi xung quanh mục tiêu thực hành và cách phát triển tứ niệm xứ. Mục tiêu là hiểu biết đúng về các thực tại sinh khởi qua sáu căn. Khun Sujin đã giải thích rằng, thật vô ích nếu có những giây phút hay biết mà không có chút hiểu biết nào, không có hiểu biết về thực tại sinh khởi qua một trong sáu căn. Chúng ta nên nhớ rằng bất kỳ đối tượng tứ niệm xứ nào đều là pháp chân đế, là thực tại tuyệt đối, tức là danh – yếu tố tinh thần và sắc – yếu tố vật chất, sinh khởi một mình tại một thời điểm. Trước khi chúng ta học Giáo Pháp, chúng ta chỉ biết về thực tại tục đế (hay quy ước, chế định) như con người, nhà cửa và cây cối. Qua Giáo pháp, chúng ta học về các pháp chân đế, danh và sắc. Tâm (hay thức) là danh, nó kinh nghiệm mọi thứ. Sắc là thực tại không kinh nghiệm gì cả. Cái thấy là một tâm, nó kinh nghiệm đối tượng, tức đối tượng thị giác. Đối tượng thị giác là sắc, nó không kinh nghiệm gì cả. Khun Sujin lưu ý rằng, cần kết hợp giữa nghiên cứu Tạng Kinh với nghiên cứu Tạng Vi diệu pháp, bởi nó sẽ giúp chúng ta hiểu biết về bản chất của cuộc sống, chỉ là những thực tại khác nhau, là danh và sắc.

Chúng ta nên suy ngẫm nhiều hơn về bản chất của tâm – cái kinh nghiệm đối tượng. Khi chúng ta biết hơn về các duyên để tâm sinh khởi, chúng ta sẽ có hiểu biết hơn về đặc tính vô ngã của chúng. Khun Sujin đã nhắc nhở Sarah và Jonathan rằng các đối tượng khác nhau xuất hiện bởi có các tâm sinh khởi trong lộ trình kinh nghiệm đối tượng qua các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Khi chúng ta ngủ sâu, không có đối tượng xuất hiện qua các căn. Chỉ có tâm hộ kiếp, duy trì mạng sống, sinh và diệt liên tục, tâm đó có chức năng bảo tồn sự sống của một cá nhân trong kiếp sống đó. Nếu không có tâm, chúng ta sẽ không tồn tại. Khi chúng ta ngủ sâu, chúng ta không biết bất kỳ đối tượng nào trên thế giới này, chúng ta không biết cha mẹ chúng ta là ai, chúng ta có tài sản gì và chúng ta liên quan tới mọi thứ trên thế giới này ra sao. Khi chúng ta thức dậy, chúng ta lại kinh nghiệm các đối tượng qua ngũ căn. Đối tượng thị giác tiếp xúc với nhãn căn và được kinh nghiệm bởi nhãn thức và các tâm khác trong lộ trình nhãn môn. Có âm thanh tiếp xúc với nhĩ căn và có các đối tượng khác tiếp xúc với các căn tương ứng. Từ các đối tượng được kinh nghiệm, các tâm sinh khởi [tiếp theo] hầu hết là bất thiện, thích hoặc không thích đối tượng. Chúng ta tiếp tục suy nghĩ về đối tượng được kinh nghiệm qua ngũ quan và chúng ta tạo nên các câu chuyện dài về người hay vật. Chúng ta xem thường việc các đối tượng khác nhau xuất hiện suốt cả ngày, nhưng chúng ta nên nhớ rằng, chúng sinh khởi chỉ nhờ có các tâm sinh khởi trong lộ trình tâm (vithi citta – tâm lộ). Khi có cái thấy, cần có mặt một vài duyên tố để cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác. Nhãn thức (cái thấy) là tâm quả, là quả của nghiệp, một việc đã được làm trong quá khứ. Nhãn căn cũng là một duyên tố cho cái thấy; mắt do nghiệp tạo nên. Đối tượng thị giác là một duyên tố khác cho cái thấy; nếu nó không tác động lên mắt, sẽ không có cái thấy. Nhãn thức tiếp nhận đối tượng thị giác, và sau đó sẽ có sự chú ý tới hình dạng, kích thước và khi đó không phải là cái thấy nữa. Rất quan trọng cần nhận biết sự khác biệt giữa cái thấy và suy nghĩ về các khái niệm như người hay vật.

Khi ấy, có thể thấy rõ hơn rằng, các thực tại tối hậu như nhãn thức và đối tượng thị giác có thể là đối tượng của chánh niệm và trí tuệ, trong khi ấy, các thực tại quy ước, tức các khái niệm, là đối tượng của suy nghĩ chứ không phải là đối tượng của chánh niệm. Tuy nhiên, suy nghĩ về khái niệm là một loại danh và vì vậy nó có thể trở thành đối tượng của chánh niệm. Khun Sujin đã nói rằng khi có hiểu biết sâu sắc hơn nhờ nghiên cứu và suy ngẫm, sẽ có chánh niệm sinh khởi, và khi đó có thể phát triển hiểu biết trực nhận về các đặc tính của thực tại. Tôi xin trích dẫn từ bức thư gửi từ Anh của Alan Weller chia sẻ kinh nghiệm học Giáo Pháp của mình nhằm sách tấn chồng tôi.

Tôi nhớ lại về những khó khăn của mình khi nghe cuốn băng của Khun Sujin, tôi đã phải nghe đi nghe lại các cuốn băng đó nhiều lần. Những cuốn sách như Thanh tịnh đạo thường làm tôi buồn ngủ. Tôi không thể nắm bắt được các phân loại trong đó. Tuy nhiên, tôi dần dần tiếp bước. Giờ đây tôi không gặp vấn đề với Thanh tịnh đạo và tôi hào hứng trước sự chuẩn xác của nó. Giáo lý rất rộng lớn, có các cuốn sách, băng, hay pháp đàm với mọi người. Tôi muốn nghiên cứu những thứ mình thích, và nếu tôi thấy chán hay khó khăn, tôi lại chuyển sang cái mà mình hứng thú. Những câu chuyện tiền thân Đức Phật (Jakata) rất dễ đọc và hữu ích cho cuộc sống hàng ngày. Đọc nhiều là duyên để trân trọng hơn những lời Khun Sujin nói trong cuốn băng. Nếu không có những cuốn băng đó, tôi không thể hiểu được sự sâu sắc của Giáo Pháp hay có được sự tự tin như bây giờ. Đây là lời khuyên của tôi dành cho Lodewijk: Hãy tiếp bước.

Alan đã dẫn lại lời Khun Sujin nói ở Ấn Độ: Hãy tiếp bước, dù cho đó chỉ là những bước đi lẫm chẫm. Chúng ta cần tin tưởng hơn vào  giá trị của việc nghe Pháp, nghiên cứu kinh điển và nghiền ngẫm nhiều về Giáo pháp. Điều đó sẽ tạo duyên cho hiểu biết đúng về danh và sắc, hiểu biết này sẽ dần được tích lũy. Chắc chắn rằng cách này sẽ tạo duyên cho chánh niệm và chánh kiến sinh khởi, thứ hoàn toàn khác biệt với sự suy nghĩ về các thực tại.

Theo kinh điển (Tăng Chi Bộ Kinh, Quyển 7, Chương VII, phần 7), phát triển hiểu biết một cách từ từ được ví như là việc làm hao mòn chuôi dao do cầm nó hàng ngày

Tuy nhiên, chuôi dao bị hao mòn chậm đến mức chúng ta không thể nhìn thấy từng ngày. Jonathan đã lưu ý rằng, nếu chúng ta thực hành đúng chúng ta sẽ nhìn thấy sự tiến bộ. Anh ấy thấy rằng không có chánh niệm trong khi làm việc ở văn phòng. Thế giới của công việc dường như khác với thế giới của Giáo Pháp. Anh ấy nghĩ làm việc căng thẳng không phải là điều kiện tốt để có chánh niệm. Chúng ta nên có hoàn cảnh thuận lợi và thời gian thư thái.

Khun Sujin đã trả lời rằng đó chỉ là suy nghĩ. Chúng ta nên biết sự khác biệt giữa khoảnh khắc kinh nghiệm thực tại và suy nghĩ. Chỉ qua tứ niệm xứ, chúng ta mới có thể biết sự khác biệt này. Đó là lời nhắc nhở tốt. Chúng ta bị vướng mắc vào suy nghĩ phải có chánh niệm, tìm cách để có thêm chánh niệm, thế còn cái gì đang sinh khởi hiện giờ? Chỉ có một danh đang suy nghĩ. Khi nhận ra điều này, sự ham muốn sẽ biến mất, không còn lo lắng về chánh niệm nữa. Khun Sujin đã nói:

Đừng nghĩ về quá khứ hay tương lai, hãy chánh niệm. Thực tại đang sinh khởi, tại sao bạn lại bỏ qua chúng?. Đó không phải là cách hiểu đúng khoảnh khắc này. Luôn có cái thấy, nghe, nếm, ngửi, xúc chạm hay suy nghĩ, cho dù chúng ta làm việc hay không. Nếu chánh niệm không sinh khởi thường xuyên, đó là vì không có đủ duyên cho nó sinh khởi. Chỉ mong có chánh niệm là đủ hay sao? Hãy vun bồi nó!

Nếu không có hiểu biết về các tâm đang kinh nghiệm đối tượng qua sáu căn, chúng ta sẽ không biết làm thế nào để thực hiện những điều Khun Sujin nói, “bây giờ hãy  vun bồi chánh niệm”. Các đối tượng thị giác, âm thanh hay xúc chạm sinh khởi liên tục. Chúng chỉ có thể xuất hiện nhờ có tâm kinh nghiệm chúng. Bạn đã suy nghẫm đủ về điều này chưa? Có thể có âm thanh nhưng nếu không có nhĩ thức, âm thanh sẽ không trở thành đối tượng được kinh nghiệm, âm thanh sẽ không hiện diện. Chúng ta tin rằng chúng ta nhìn thấy thế giới với con người và cảnh vật, nhưng thực chất chỉ có tâm suy nghĩ về những gì được thấy. Cái thấy không còn hiện diện vào thời điểm có suy nghĩ. Nhãn thức kinh nghiệm đối tượng thị giác – đối tượng xuất hiện qua nhãn căn, cái thấy không chú tâm định dạng đối tượng. Tuy nhiên, cái thấy tạo duyên cho suy nghĩ định dạng, định danh đối tượng là người hay đồ vật khác nhau. Khun Sujin đã viết trong cuốn sách “Khảo cứu về Pháp Chân đề” của bà như sau:

Vì tâm sinh diệt rất nhanh, nên dường như thế giới không tan rã mà thường hằng, trong đó có nhiều thứ và nhiều người. Sự thực, thế giới chỉ tồn tại trong một khoảnh khắc và rồi diệt đi ngay.

Nếu có một đĩa hoa quả trên bàn, chúng ta có thể nhìn thấy chúng và chúng dường như không diệt mất. Rất hữu ích khi biết được lý do tại sao như vậy. Các pháp chân đế, như đối tượng thị giác, là một loại sắc, luôn sinh diệt. Tuy nhiên, chúng ta cứ nghĩ mãi về câu chuyện do chúng ta dựng nên. Các khái niệm như “hoa quả” mà chúng ta nghĩ đến không phải là pháp chân đế, chúng không phải là thực tại, vì vậy chúng không sinh diệt. Chúng hoàn toàn do suy nghĩ tạo nên.

Khun Sujin nói với Jonathan:

Khi chúng ta bận bịu với công việc, chỉ cần nhớ rằng chánh niệm có thể hay biết bất kỳ khoảnh khắc nào. Khi không bị thất niệm mà có chánh niệm, chúng ta có thể bắt đầu có một số biểu biết, dù cho rất nhỏ, về thực tại là gì. Tâm là một thực tại kinh nghiệm đối tượng. Một người chết, kể cả vẫn còn mắt và tai, cũng không thể kinh nghiệm được gì. Tâm kinh nghiệm. Kinh nghiệm là một thực tại. Chúng ta không nên dính mắc vào ý niệm “làm thế nào để tôi có nhiều chánh niệm hơn”. Chánh niệm có thể phát triển trong vài kiếp. Chúng ta hãy bàn về cái thấy và đối tượng thị giác, nhờ đó có thể tạo duyên cho chánh niệm về chúng. Nếu không có hiểu biết về thực tại này, làm sao hiểu biết có thể được tăng trưởng? Xem xét đối tượng thị giác tại văn phòng không khác với việc xem xét đối tượng thị giác lúc này. Không cần phải thay đổi hoàn cảnh hay làm bất cứ điều gì khác nhằm phát triển hiểu biết đúng. Khi không  bị các ý niệm sai lầm về chánh niệm che lấp, chánh niệm có thể sinh khởi một cách tự nhiên và biểu lộ đặc tính vô ngã của nó, không phải tôi hay của tôi. Kể cả khi chúng ta nói về những thứ bình thường tại văn phòng, vẫn có thể có chánh niệm về danh và sắc.

Jonathan nói rằng anh ấy muốn tiếp tục suy xét về đối tượng thị giác, vì nó luôn có. Khun Sujin đã nhấn mạnh rằng một ít khoảnh khắc chánh niệm bây giờ còn tốt hơn suy nghĩ về nhiều khoảnh khắc chánh niệm trong tương lai khi có thời gian. Có phải chúng ta có xu hướng muốn thiện hơn vào thời gian sau? Khun Sujin đã nói về một người phụ nữ nào đó đã trì hoãn bố thí, bà ấy muốn bán được đồ của mình trước rồi sau đó mới có nhiều tiền để bố thí. Tại sao bà ấy không cho ngay bây giờ, dù chỉ chút ít? Cũng như vậy với chánh niệm. Chúng ta đọc trong Tăng Chi Bộ Kinh (Quyển IV, Chương I, Phần 6) về bốn hạng người: Người nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên; Người nghe ít, điều đã được nghe được khởi lên; Người nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên; Người nghe nhiều, điều đã được nghe có khởi lên. Chúng ta đọc như sau:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được nghe ít về Kinh (Sutta), Ứng Tụng (Geyya), Biện Giải (Veyyākaraṇa), Kệ Tụng (Gāthā), Cảm Hứng Ngữ (hay Tự Thuyết) (Udāna), Phật Thuyết Như Vậy (Như Thị Ngữ) (Itivuttaka), Tiền Thân Đức Phật (Bổn Sanh) (Jātaka), Vị Tằng Hữu (Abbhuta)Phương Quảng (Vedalla). Người ấy, với điều đã được nghe ít ỏi này, không biết nghĩa, không biết pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người nghe ít, điều đã được nghe có khởi lên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được nghe ít về Kinh…. Nhưng người ấy, với điều đã được nghe ít ỏi này, biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp đúng pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người nghe ít, điều đã được nghe có khởi lên.

Tương tự như vậy đối với người nghe nhiều nhưng điều đã được nghe không khởi lên và người nghe nhiều, điều đã được nghe có khởi lên. Theo Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (Manorathapurani), người nghe ít nhưng sống và thực hành theo giáo pháp có thể đoạn trừ được các lậu hoặc. Điều này cũng đúng đối với người nghe nhiều và điều được nghe có khởi lên. Vì vậy, khi chúng ta nghiên cứu Giáo Pháp và phát triển tứ niệm xứ, chúng ta có thể giác ngộ và cuối cùng trở thành bậc A la hán. AlanWeller đã viết:

Một vài tuần gần đây tôi rất bận và có ít thời gian để đọc và viết. Đoạn kinh về những lợi lạc kể cả với người nghe ít rất hữu ích. Tôi thường thấy mình muốn đọc hay nghiên cứu và quên đi thực tại hiện tiền. Tất cả chúng ta đều cần hiểu biết tường tận, vì phiền não rất xảo quyệt trong việc lôi chúng ta ra khỏi thực tại. Người ta thường  thiếu hiểu biết về tứ niệm xứ, họ nghi ngờ liệu có thể phát triển tứ niệm xứ trong cả quá trình làm việc. Hiểu nhầm ấy sinh khởi bởi họ tin rằng nên tập trung vào danh và sắc. Họ nghĩ rằng họ nên nắm bắt thực tại để chánh niệm về chúng. Chúng ta nên biết rằng có thể có tà định, được sinh khởi cùng với tâm bất thiện. Nhất tâm là một biến hành tâm sở, sinh khởi cùng với tất cả các loại tâm. Chức năng của nhất tâm là tập trung trên một đối tượng tại một thời điểm. Không thể duy trì nhất tâm mãi được, nó diệt ngay tức thì cùng với tâm. Nếu chúng ta nghĩ rằng cần phải chú tâm trên danh và sắc, đó là một suy nghĩ kèm với dính mắc. Chúng ta cố gắng kiểm soát chánh niệm nhưng điều đó là không thể. Khi có đủ duyên cho chánh niệm và trí tuệ sinh khởi, cũng có cả chánh định mà không cần nghĩ đến việc định tâm.

Tâm và tâm sở là các danh uẩn thuộc pháp hữu vi. Có một tâm sinh khởi tại một thời điểm, và kèm theo mỗi tâm có một số tâm sở thực hiện chức năng riêng nhằm hỗ trợ tâm nhận biết đối tượng. Nếu chúng ta không biết rằng chánh kiến (trí tuệ), chánh niệm và chánh định là các tâm sở sinh khởi cùng thiện tâm, chúng ta sẽ dính mắc vào chúng và nhìn nhận sai về chúng. Chúng ta cần biết thấu đáo vì phiền não bám rễ rất sâu.

Khun Sujin đã nói rằng, những ai phát triển tứ niệm xứ một cách tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày sẽ ít dính mắc hơn những người không phát triển tứ niệm xứ một cách tự nhiên. Nếu chúng ta phát triển tứ niệm xứ một cách tự nhiên, chúng ta sẽ không cố gắng kiểm soát chánh niệm hay đối tượng của chánh niệm. Có thể có khoảnh khắc chánh niệm và sau đó tiếp nối bởi khoảnh khắc thất niệm. Chúng ta có thể học để hay biết sự khác biệt giữa các khoảnh khắc đó. Tại khoảnh khắc đó, pháp chân đế sinh khởi hay chỉ là suy nghĩ về khái niệm? Có thể có chánh niệm về khoảnh khắc vô minh xuất hiện và rồi có thể nhận ra đó chỉ là một thực tại do duyên khởi.

Jonathan nói rằng đối tượng thị giác khác với những gì chúng ta nghĩ về nó. Chúng ta có xu hướng suy đoán về nó, chúng ta phân vân đối tượng thị giác mà chúng ta thấy tại khoảnh khắc này sẽ diễn tiến ra sao. Chúng ta biến chúng trở thành cái gì đó trừu tượng, nhưng trên thực tế, nó chỉ là cái được thấy. Tất cả những gì sinh khởi qua nhãn căn đều là đối tượng thị giác. Nếu chúng ta bị mù, chúng không thể xuất hiện. Khun Sujin hỏi liệu đối tượng thị giác có thể di chuyển? Khi chúng ta thấy sự thay đổi về vị trí của những gì chúng ta thấy, đó chỉ là suy nghĩ. Do các kinh nghiệm quá khứ còn được lưu giữ nên chúng ta tin rằng chúng ta thấy có người di chuyển. Nếu có một khoảnh khắc chánh niệm về một thực tại, sẽ không còn dính mắc vào khái niệm về một “khối”, vào hình ảnh một người đang đi.

Khi chúng ta nghe tiếng chó sủa, có các khoảnh khắc kinh nghiệm khác nhau. Có cái nghe đang nghe âm thanh đó và sau đó chúng ta nhớ rằng đó là tiếng chó sủa. Chúng ta có thể tự nhắc mình đó không phải là “tôi” ghi nhớ mà là tưởng (sanna), một loại tâm sở [có chức năng] ghi nhớ một đối tượng hay “đánh dấu” đối tượng để sau đó có thể nhận ra nó. Tưởng đi kèm với tất cả các tâm, có thể là cái thấy, cái nghe hay tâm suy nghĩ về các khái niệm. Chúng ta nhận ra con  người hay sự vật nhờ tưởng. Các kinh nghiệm đã có được tích lũy và ghi nhớ. Ngoài ra, trong quá khứ chúng ta đã nghe tiếng chó sủa, chúng ta đã biết được con chó là gì và nó sủa ra sao. Nhờ có tưởng, chúng ta có thể bắt chước tiếng chó sủa, hoặc, khi người khác bắt chước, chúng ta có thể biết đó không phải là tiếng của con chó. “Âm thanh không biết bạn đang nghĩ về nó”, Khun Sujin nói, bà nhắc nhở chúng ta rằng không có người đang nghe, không có con chó trong âm thanh. Đó chỉ là sắc được nhận biết qua nhĩ căn; khi có đủ duyên, một âm thanh cụ thể, dễ chịu hay khó chịu, có thể được nghe thấy. Âm thanh chỉ xuất hiện khi có các tâm lộ sinh khởi trong lộ trình nhĩ môn. Khi chúng ta ngủ sâu, có thể có âm thanh, nhưng không hề được nghe thấy.

Nhãn thức, nhĩ thức hay các thức khác trong ngũ song thức luôn được tiếp nối bởi suy nghĩ tạo ra những câu chuyện dài về cái được kinh nghiệm. Chúng ta bị đắm chìm  vào những khái niệm mà chúng ta nghĩ đến. Khun Sujin nói, phải mất thời gian mới nhận ra rằng chúng ta sống với suy nghĩ của riêng mình, trong thế giới suy nghĩ của riêng mình. Thật ích lợi khi biết các chức năng của tâm sở tầm (cetasika vitakka) – cái cũng được dịch là “tư duy”. Nó sinh kèm với nhiều loại tâm, mặc dù không phải tất cả các tâm. Nó “chạm” vào đối tượng được kinh nghiệm, hay nó “dẫn” tâm đến đối tượng, nhờ đó tâm có thể kinh nghiệm đối tượng. Chúng ta đọc trong kinh về “tầm” bất thiện: suy nghĩ với tham, với sân và với bạo lực. Chúng ta cũng đọc về tầm tịnh hảo (sobhana): suy nghĩ với xuất ly (nekkhamma), với vô sân, với phi bạo lực. Có chánh tư duy (samma-sankappa) trong Bát chánh đạo. Nó “chạm” vào đối tượng của chánh niệm, một danh hay một sắc, nhờ đó trí tuệ có thể nhận biết nó như nó là.

Nếu chúng ta không biết suy nghĩ là do hoạt động của tầm (vitakka), chúng ta sẽ đồng hóa nó với ngã. Hầu hết thời gian chúng ta suy nghĩ với tâm bất thiện, chúng ta phiền não với chính những câu chuyện do mình tạo ra.

Một người đã viết thư cho tôi nói rằng, anh ta  bị mê đắm trong trí tưởng tượng của mình trong một thời gian dài. Vì thế anh ta thấy mình là người xấu. Nếu chúng ta nghĩ về bản thân mình là người xấu, chúng ta đang chấp tâm bất thiện  là “ta”. Chúng ta có thể học từ những kinh nghiệm như vậy, rằng suy nghĩ nằm ngoài tầm kiểm soát, nó là vô ngã. Phiền não sinh khởi vì có đủ duyên cho nó sinh khởi. Người viết bức thư ấy nghĩ rằng, sự tưởng tượng của anh ta là kết quả của quá trình giáo dục mà anh ta đã có. Tuy nhiên, đây chỉ là một “câu chuyện” mà người ta có thể nghĩ đến nhưng không giải thích được nguyên nhân sâu xa nhất. Một điều có thể xảy ra với tất cả chúng ta là: không có lý do rõ ràng, đột nhiên chúng ta có những suy nghĩ rất tồi tệ, những ý nghĩ ghen tuông hay thậm chí là những tư tưởng hận thù, và chúng ta có thể băn khoăn, những suy nghĩ này từ đâu đến?

Chúng ta đã tích lũy phiền não từ vô số kiếp trước kiếp sống này. Chúng ta không biết các kiếp sống trước của mình ra sao, nhưng trong vòng luân hồi này, hẳn chúng ta đã từng là một con thú. Những phiền não trong tất cả các kiếp quá khứ được tích lũy từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác và chúng có thể được sinh khởi bất kỳ lúc nào với tâm bất thiện, thậm chí chúng còn thúc đẩy những hành động xấu xa. Chúng ta thường kinh nghiệm các đối tượng giác quan với tâm bất thiện vì chúng ta đã tích lũy nhiều tâm bất thiện như vậy. Khi chúng ta nhận ra các phiền não của mình thì không cần tiếp tục suy nghĩ về chúng với sân, khi đó chúng ta sẽ chỉ tích lũy thêm bất thiện tâm. Chúng ta có thể học cách phát triển hiểu biết đúng về tâm bất thiện hiện sinh khởi, nhằm nhận ra chúng không phải là ngã, chỉ là một thực tại do duyên khởi. Khun Sujin đã giải thích như sau:

Chúng ta nên dũng cảm đối mặt với thực tại ở khoảnh khắc này với hiểu biết đúng, khi đó sẽ có chánh tinh tấn. Rất khó để theo đúng Trung đạo, tức là theo sát các thực tại một cách tự nhiên. Thông qua hiểu biết đúng, chúng ta sẽ thấy rõ hơn các tâm bất thiện của mình, kể cả những dính mắc vi tế hơn đối với ngũ dục.

Nghiên cứu Vi diệu pháp có thể nhắc nhở chúng ta rằng, các tâm khác nhau cùng các tâm sở đồng sinh sinh khởi bởi những duyên riêng của chúng và diệt ngay lập tức. Ví dụ, khi chúng ta muốn giữ giới nhưng lại không thể làm được trong một số hoàn cảnh cụ thể, chúng ta nên nhớ rằng đó không phải là “ta” – một cái ngã nào đó có thể  giữ giới mà là những tâm sở giới phần (virati cetasika) thực hiện chức năng tránh làm điều bất thiện. Chúng là: Tránh tà ngữ, tránh tà nghiệp và tà mạng. Khi tâm sở giới phần không sinh khởi, không thể có sự giữ giới. Chỉ thông qua phát triển tứ niệm xứ mới có thể tạo duyên để giữ giới. Chúng ta đọc trong Thiên cung sự ( , Thiên cung sự, V, Đại Xa, 53, Lâu đài của Chatta) rằng: nam tử Bà La Môn tên là Chatta đi đường mang tiền trả cho thầy giáo. Bọn cướp nghe tin rình đợi để giết và cướp tiền của chàng. Đức Phật ngồi dưới cội cây trên đường Chatta đi qua và đã dạy chàng về tam quy và ngũ giới. Chatta tiếp tục đi, ghi nhớ những lời dạy của Đức Phật, và sau đó chàng bị bọn cướp giết. Chàng được tái sinh làm chư thiên và cùng một lâu đài nguy nga. Để cho nhiều người biết về những nghiệp thiện mà Chatta đã làm, Đức Phật đã yêu cầu chàng giáng trần. Chatta đã giải thích rằng đầu tiên chàng không muốn thọ tam quy nhưng sau đó lại thực hiện. Cũng vậy, chàng đã không muốn giữ năm giới nhưng sau đó đã giữ. Chúng ta đọc như sau

Con đến gần người Chiến thắng huy hoàng; Ðể quy y Giáo pháp với Tăng đoàn; Bạch Thế Tôn, con nói ‘không’ trước nhất; Sau đó con hành trì theo giới luật.

Không sống theo tà hạnh tạo đau thương; Vì các trí nhân không thể tán dương; Sự buông thả đối với loài sinh vật; Bạch Thế Tôn, con nói ‘không’ trước nhất; Rồi về sau con giữ đúng luật Ngài

Chúng ta đọc thấy chàng nói “không” đối với năm giới điều, nhưng sau đó chàng đều thực hiện cả. Chúng ta tiếp tục đọc:

Theo Giáo pháp Như lai, việc thực hành; Dù ít, quả vẫn được nhiều lợi lớn; Nhìn Chat-ta nhờ thiện hành, chiếu sáng; Cõi đất này chẳng khác mặt trời kia.

Điều này có thể xảy ra với tất cả chúng ta, đầu tiên chúng ta sẽ nói “không” khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta không thể giữ giới. Nhưng khi thiện tâm sinh khởi, điều này có thể thực hiện được. Dù một khoảnh khoắc thiện tâm ngắn ngủi cũng rất ích lợi. Khi chúng ta học rằng tứ niệm xứ nên được phát triển một cách tự nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, kể cả trong công việc, đầu tiên chúng ta có thể nói “Không, tôi không thể”. Nhưng khi có duyên cho thiện tâm sinh khởi với hiểu biết đúng, chúng ta sẽ nhận thấy điều ấy có thể làm được. Hoặc chúng ta có thể nghĩ, “không, tôi không thể chánh niệm trên tâm bất thiện, tôi phải ngăn chặn chúng trước tiên”. Khi có hiểu biết đúng hơn về tâm và tâm sở do duyên khởi, chúng ta có thể biết rằng nó không phải là ngã, nhưng chánh niệm có thể hay biết đặc tính của bất thiện tâm.

Sarah cứ phân vân tại sao cần phải học tường tận về các tâm, tâm sở và sắc? Liệu chỉ đọc một trang trong kinh điển trong suốt cuộc đời là không đủ hay sao? Khun Sujin trả lời rằng, với những người có đủ nhân duyên để giác ngộ sớm, Đức Phật đã không phải dạy bảo một thời gian dài. Tuy nhiên, đối với chúng ta thì khác. Chúng ta có thể đọc, “Cái thấy là vô thường”, nhưng từng ấy không đủ với chúng ta. Chúng ta cần nghe nhiều, đọc, nghiên cứu nhiều và suy nghĩ về Giáo pháp thường xuyên. Chúng ta phải học để nhận biết đi nhận biết lại với hiểu biết đúng về các đặc tính của thực tại sinh khởi hiện giờ. Tâm thiện và bất thiện có thể sinh khởi rất nhanh kế tiếp nhau, và để biết đặc tính khác nhau của chúng, cần phải có chánh niệm và hiểu biết tinh tế. Có thể có tâm thiện với cảm thọ lạc và sau đó có tâm bất thiện với cảm thọ lạc và sự dính mắc vào ý niệm “thiện tâm của tôi”.

Chúng ta có biết sự khác nhau giữa những khoảnh khắc như vậy không?

Sarah nói rằng cô ấy thích kiếm tiền bằng công việc của mình, công việc giúp cô có cơ hội đi lại tới Băng Cốc hay Anh. Nhưng cô nhận thấy rằng Giáo pháp làm cho ta cảm thấy xấu hổ khi thích kiếm tiền. Khun Sujin nói: “Bạn không hoàn toàn hiểu về bản thân mình, bạn không trung thực với chính mình. Nếu chúng ta không hiểu về những tích lũy thực sự của chúng ta, chúng ta có tham vọng phải sống mẫu mực như Chánh Pháp.” Những người đã đạt giác ngộ là “các bậc thực hành ngay thẳng, đúng đắn” (Bậc Trực hạnh – Ujupatipanno). Họ biết sự tích lũy của mình, họ rất trung thực với bản thân mình. Đôi khi tôi cảm thấy xấu hổ khi thích đọc tạp chí hay tiểu thuyết. Tuy nhiên, tứ niệm xứ nên được phát triển một cách tự nhiên, nhờ đó chúng ta nhận thấy được rằng các cá tính tích lũy của mình là vô ngã. Đầu giường của tôi có kinh sách cũng như tạp chí và tiểu thuyết. Có lúc tôi đọc kinh sách, lúc lại đọc tạp chí hay tiểu thuyết. Tôi không thể nói trước tôi sẽ làm gì, nó phụ thuộc vào nhân duyên. Kể cả trong khi đọc tạp chí, có thể có chút ít khoảnh khắc ghi nhận đối tượng thị giác và sau đó lại bị cuốn vào các câu chuyện, cái sinh khởi trong khoảnh khắc khác.

Khi chúng ta nhìn người khác, tứ niệm xứ có thể phát triển một cách tự nhiên. Khi chúng ta thấy màu tóc, môi, mắt và làn da, chúng ta nghĩ về chúng như những phần khác nhau thuộc cơ thể, nhưng chúng ta nên nhớ rằng tất cả mọi màu sắc chỉ là đối tượng thị giác, chúng xuất hiện qua nhãn căn. Chúng không thể xuất hiện nếu chúng ta nhắm mắt. Màu sắc không xuất hiện như một mảng màu đồng nhất, nó không phải toàn là màu xám hay màu đen. Có nhiều màu khác nhau nhưng chúng chỉ là đối tượng thị giác, chúng được kinh nghiệm bởi cái thấy. Trong khi chúng ta ăn, có nhiều vị giác khác nhau xuất hiện, như vị ngọt, vị chua và vị mặn. Thiệt thức kinh nghiệm tất cả các vị khác nhau được tiếp xúc với cơ quan vị giác. Có vô số các đối tượng màu sắc, âm thanh, mùi, vị và đối tượng xúc chạm xuất hiện và được hay biết bởi các thức qua các căn tương ứng. Nếu chúng ta nhớ điều này, chúng ta sẽ không hình dung đối tượng của cái thấy, cái nghe và của các thức còn lại khác với bản chất thật của chúng. Khi đó tứ niệm xứ có thể được phát triển một cách tự nhiên. Sau khi lộ trình ngũ môn kết thúc, đối tượng được kinh nghiệm qua ý môn và sau đó sẽ có các tâm thuộc lộ trình ý môn định danh và suy nghĩ về đối tượng.

Chúng ta không nên lo lắng khi tứ niệm xứ không sinh khởi thường xuyên. Khi Khun Sujin ở Anh, bà đã nói rằng chúng ta không nên bị dính mắc vào các tầng tuệ minh sát – tuệ vipassana:

“Chúng ta không nên bận tâm về tuệ vipassana, chỉ nên có hiểu biết đúng về thực tại sinh khởi tại giây phút hiện tại. Nó là vô ngã, không nên có bất kỳ sự mong đợi nào. Chừng nào còn có mong đợi, chừng đó tuệ vipassana sẽ không thể sinh khởi. Khun Sujin nhắc nhở chúng ta nhiều lần rằng, chúng ta nên luôn khiêm tốn, chẳng là ai cả, thay vì là ai đó. Một người khôn ngoan có hiểu biết rằng các thực tại sinh khởi do duyên sẽ bớt dính mắc vào những lời khen ngợi, danh dự và thành công. Chúng ta có nghĩ về “sự phát triển của tôi” không? có ý niệm về “tôi đã làm điều đó” không? Khi chúng ta muốn trở thành ai đó thì đó không phải là cách đúng đắn”

Sarah nói với Khun Sujin rằng thật khó khăn để thấy được hiểm họa của sự sinh khởi của danh và sắc, để thấy được lợi ích không còn có chúng nữa. Khun Sujin đã trả lời: Đó là lý do tại sao có nhiều tầng tuệ vipassana khác nhau. Ngay cả khi kinh nghiệm được các thực tại sinh và diệt cũng vẫn chưa đủ. Sự dính mắc và các phiền não khác bén rễ rất sâu dày. Cần có hiểu biết sâu sắc hơn nữa để nhìn thấy hiểm họa của sự sinh và diệt của danh và sắc. Chúng xuất hiện và biết mất ngay lập tức, nhưng thực tại tiếp theo sinh khởi liền theo và lại có dính mắc. Dính mắc bám chặt vào bất kỳ đối tượng nào sinh khởi. Chúng ta có thể nói nhiều về sự vô thường của các thực tại, nhưng điều này chẳng có nghĩa gì nếu thực tại của giây phút này không được kinh nghiệm trực tiếp là vô thường. Sarah đã hỏi: “Chẳng nhẽ nghĩ về đặc tính vô thường của các thực tại không hữu ích chút nào nếu không kinh nghiệm trực tiếp về sự vô thường ư?” Khun Sujin đã trả lời: “Đó là suy nghĩ đúng và lành mạnh, nhưng nó không thể tiêu diệt được bất thiện pháp. Đó là lý do vì sao Đức Phật dạy chúng ta phát triển trí tuệ hơn nữa. Ngài nói về các đối tượng cần chánh niệm, nhờ đó chánh kiến có thể tăng trưởng. Hiểu biết tường tận bằng tư duy có thể tạo duyên để trí tuệ thấy được đặc tính vô ngã của tất cả các thực tại. Chúng ta có thể đọc kinh điển, nhưng nếu không có chánh niệm về giây phút hiện tại, chúng ta sẽ không hiểu những điều được dạy trong kinh điển.

Với tâm từ,

Nina Van Gorkom

Pháp đàm với Achaan Sujin tại Hà nội ngày 07/11/12, buổi sáng

Pháp đàm ngày 07/11/12, buổi sáng

Câu hỏi (dành cho một học viên): Bạn có thích các buổi thảo luận không? Bây giờ, bạn có thấy đã hiểu hơn về Giáo lý của Đức Phật chưa?

Trả lời: Bây giờ tôi hiểu hơn về bản thân mình.

Achaan: Nhưng bạn thấy đấy, không có Giáo lý của Đức Phật, bạn không thể hiểu hơn về bản thân mình.

Trả lời: Vâng, giờ thì tôi hiểu rằng, mọi vấn đề đều đến từ cái “tôi”. Không có cái “tôi”, chúng ta sẽ không có vấn đề nào cả. Nhưng con người sinh ra và tồn tại bởi đã có cái “tôi”, chỉ có Đức Phật mới có thể đến với thế giới mà không có cái “tôi”. Đó là vấn đề chung của tất cả mọi người. Chúng ta không thể từ bỏ cái “tôi” chừng nào chưa trở thành bậc a la hán…

Achaan: Không phải vậy, vị Thánh Dự Lưu đã không còn có ý niệm về “tôi”.

Trả lời: Vị thánh dự lưu là gì ạ?

Sarah: Đó là giai đoạn đầu tiên của sự giác ngộ.

Achaan: Ngay cả chính Đức Phật cũng phải đạt giác ngộ qua từng giai đoạn.

Trả lời: Tất cả mọi người đều có một cái “tôi” ở trong tâm

Achaan: Đó là lý do vì sao chúng ta nghe Giáo lý, để tận diệt cái “tôi” nhờ việc hiểu về nó. Nếu không, sẽ luôn có cái “tôi” mọi lúc.

Trả lời: Về cơ bản, tôi đồng ý với Achaan rằng tất cả mọi người đều đã có ý niệm về “tôi” khi chúng ta sinh ra. Rằng cái “Tôi” mới tạo ra những vấn đề cho chúng ta. Trong thực tại thuần túy, không hề có “tôi”. Nhưng…

Achaan: Khi không có ý niệm về “tôi”, sẽ không hề có vấn đề, có đúng không?

Người phiên dịch: Tôi đã hỏi anh ấy xem anh ấy có thể tìm thấy ý niệm về “tôi” ở đâu. Anh ấy trả lời rằng, nó đến khi chúng ta nói, chúng ta làm mọi việc, tất cả mọi thứ.

Achaan: Ai thấy hiện giờ?

Trả lời: Tôi thấy

Achaan: Vậy bất cứ khi nào không có hiểu biết, sẽ có ý niệm về “tôi”.

Người phiên dịch: Cũng tương tự với cái nghe, cái ngửi,… bất cứ cái gì đang xảy ra qua sáu môn, có đúng không ạ?

Achaan: Nếu không có “cái thấy”, liệu có thể có ý niệm “tôi thấy” không? Nếu cái thấy không sinh khởi hiện giờ, liệu có thể có ý niệm  “tôi thấy” không? Khi không có cái thấy, làm sao có thể có ý niệm “tôi thấy”? Nhưng bất cứ khi nào có cái thấy mà không có cái hiểu về nó, chúng ta sẽ cho cái thấy là “tôi”, chúng ta cho mọi thứ đang xuất hiện là “tôi” và “của tôi”. Hiện giờ, có cái thấy và đó là “tôi thấy”, có đúng không? Và khi có “cái nghe”, đó lại là “tôi nghe”. Nếu không có cái thấy, cái nghe, sẽ không có “tôi thấy”, “tôi nghe”, không có “tôi nghĩ”, “tôi thích”, “tôi không thích”, không hề có ai cả, chỉ là các thực tại khác nhau sinh khởi hết lần này đến lần khác. Bạn có thể tìm thấy cái “tôi” nào đó khi không có tất cả các thực tại này không?

 

Cái gì không phải là “tôi” hiện giờ? (Không có trả lời) Có “tôi đang ngồi”, “tôi nghe”, “tôi nghĩ”…. Vậy cái gì không phải là “tôi”?

Trả lời: Đối tượng không phải là “tôi”.

Achaan: Được rồi, đối tượng của không phải là “tôi”, nhưng “tôi” có ý niệm rằng đó không phải là “tôi”. Vẫn là “tôi” có ý niệm rằng đó không phải là “tôi”. Ai nghĩ rằng đối tượng không phải là “tôi”? Bạn hay ai? Không có suy nghĩ, sẽ không có “tôi nghĩ”. Không có suy nghĩ, liệu có thể có “tôi” không?

Trả lời: Tôi hiểu rằng không có “tôi”, nhưng loại bỏ ý niệm về “tôi” này vô cùng khó khăn. Cũng giống như việc đi đến Paris, chúng ta có thể nghe nói về Paris, về tháp Eiffel, nhưng không giống như khi ta tới đó.

Achaan: Đó là lý do vì sao có những mức độ hiểu biết khác nhau: Hiểu biết về mặt lý thuyết; hiểu biết trực nhận; và sự chứng đắc đạo quả là thành tựu của sự phát triển tuệ giác.

Câu hỏi: Cái gì xảy ra với ý niệm về “tôi” khi chúng ta chết?

Achaan: Ta chết trong từng khoảnh khắc.

Người phiên dịch: Anh ấy nói rằng về mặt lý thuyết thì là vậy. Nhưng trên thực tế, hiện giờ chúng ta vẫn đang sống và đến lúc nào đó, chúng ta sẽ chết. Nhưng tôi nói không phải vậy, trên thực tế, chúng ta chết trong từng khoảnh khắc.

Về mặt lý thuyết, anh ấy có thể hiểu rằng có cái chết trong từng khoảnh khắc, cũng giống như tất cả mọi thứ khác trong vũ trụ. Anh ấy nói rằng mọi thứ trong vũ trụ đều có đặc tính riêng, chẳng hạn: lửa có đặc tính nóng. Khi chúng ta thắp ngọn nến, ánh lửa diệt đi trong một khoảnh khắc rồi lại sinh khởi lại, sinh và diệt liên tục. Nhưng anh ấy hiểu rằng, chừng nào nó vẫn còn đó thì vẫn còn có đặc tính nóng. Nhưng ngay khi không còn nhân duyên cho ngọn lửa tồn tại nữa, nó đã diệt mất thì đặc tính nóng cũng diệt theo. Anh ấy nghĩ rằng đối với cuộc sống cũng vậy, phải có một đặc tính tồn tại, khi chúng ta chết thì không thể tìm thấy đặc tính ấy ở đâu được nữa.

Achaan: Bạn muốn nói gì với từ “đặc tính tồn tại”?

Người phiên dịch: Anh ấy hiểu cuộc sống cũng giống như ngọn lửa, đều giống nhau. Anh ấy cho rằng ngọn lửa được tạo duyên bởi nhiều yếu tố như ô xi, cái nóng,… và tất cả các yếu tố ấy tạo duyên cho ngọn lửa tồn tại. Cũng giống như cuộc sống, phải có những nhân duyên cho cuộc sống tồn tại và để  có một đặc trưng tồn tại của cuộc sống. Vậy tại khoảnh khắc không còn những nhân duyên này nữa sẽ không còn có cuộc sống nữa. Anh ấy cho rằng cuộc sống chấm dứt khi nó chấm dứt, không có gì còn lại.

Achaan: Cũng giống như Đức Phật ư?

Người phiên dịch: Anh ấy không ghĩ là sau kiếp sống này sẽ có các kiếp sống khác.

Achaan: Lúc đầu bạn đã nói đúng: mọi thứ sinh khởi nhờ có nhân duyên, phải vậy không? Chừng nào còn có nhân duyên, chừng đó phải có nhân duyên cho một thực tại sinh khởi. Như hiện giờ, cái thấy sinh khởi nhờ nhân duyên, không có mắt, không có đối tượng thị giác, sẽ không bao giờ có cái thấy. Chừng nào còn có nhân duyên, chừng đó phải có cái gì đó hay thực tại nào đó sinh khởi, cho dù bạn gọi nó là kiếp sống này hay kiếp sống sau. Chẳng hạn, ngày hôm qua và hôm nay, có nhân duyên cho thực tại sinh khởi từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, bạn không thể ngăn sự sinh khởi của bất cứ cái gì cả.

Người phiên dịch: Tôi nghĩ rằng đó là vì chúng ta bị dính mắc vào ý niệm về ai đó. Nếu chúng ta thực sự hiểu rằng cuộc sống chỉ là cái thấy, cái nghe,… một khoảnh khắc, khi đó kiếp sống sau hay kiếp sống này, tất cả đều như nhau, không hề khác biệt, có đúng không ạ?

Achaan: Có cái thấy ngày hôm qua, phải không? Bạn không tạo ra nó. Không ai có thể có nó bằng ý chí. Giống như hôm nay, có cái thấy hiện giờ, nhờ nhân duyên, bất kể chúng ta thích hay không thích. Vậy cứ từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, sau khi chết cũng vậy, phải có nhân duyên cho khoảnh khắc kế tiếp sinh khởi. Chúng ta có thể gọi nó là cái chết, nhưng trên thực tế, nó chỉ là sự tiếp nối của các thực tại, bởi nhân duyên mà thôi.

Jon: Có cuộc sống hiện giờ, phải vậy không? Tại sao lại có cuộc sống hiện giờ? Bởi vì có nhân duyên trong quá khứ để có cuộc sống hiện giờ. Đúng không ? Vậy những nhân duyên đó là gì? Những nhân duyên nào trong quá khứ là nguyên nhân cho cuộc sống hiện giờ? (Không có trả lời). Theo Đức Phật, chừng nào còn có vô minh và tham ái, chừng đó còn có nhân duyên cho cuộc sống. Vậy nếu chúng ta hiểu về nhân duyên tạo duyên cho cuộc hiện giờ, chúng ta cũng sẽ biết liệu còn có cuộc sống trong tương lai hay không.

Achaan: Và khoảnh khắc này là tương lai của khoảnh khắc đã qua. Bất kể là bạn nghĩ gì hay người khác nghĩ gì, thực tại là thực tại, nó sinh và diệt, từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, không thể ngăn cản được. Phải có cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, sự xúc chạm và suy nghĩ và sau đó thì ngủ. Vậy cuộc sống chỉ là ngủ, ăn, dính mắc và suy nghĩ… Liệu bạn có thể thay đổi những điều ấy không? và trước khi chìm vào giấc ngủ hay khi ăn, có cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, sự xúc chạm và suy nghĩ. Không có gì còn lại, nhưng không phải là “tôi”. Cái thấy chỉ thấy, cái nghe chỉ nghe, suy nghĩ chỉ là suy nghĩ, hiện giờ. Và rồi lại đến lúc phải ăn.

Câu hỏi: Tôi xin hỏi Achaan, không thể hiểu các thực tại bằng suy nghĩ, có đúng không ạ?

Achaan: Ở mức độ của cái hiểu lý thuyết thì có thể. Không có cái hiểu lý thuyết, không thể có cái hiểu trực tiếp.

Sarah: Chúng ta có thể thấy rằng chúng ta chỉ kinh nghiệm thông qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và suy nghĩ, và khi không phải là khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, sự kinh nghiệm thông qua thân căn, khi đó là suy nghĩ. Vậy khi có ý niệm về “tôi” hay “đặc tính tồn tại”, cái chết, các nguyên tử hay Việt Nam, đó chỉ là suy nghĩ về các ý niệm hay khái niệm khác nhau mà thôi. Cái thấy là thực, đối tượng thị giác là thực và suy nghĩ là thực. Ý niệm về bản ngã, đặc tính tồn tại và cái chết vĩnh viễn chỉ là các ý niệm tại khoảnh khắc đó. Tại khoảnh khắc đó, chỉ là suy nghĩ, suy nghĩ là thực, cho dù nó nghĩ về cái gì.

Achaan: Làm thế nào mà bạn biết rằng đây là Việt Nam? Một con ruồi có thể biết đây là Việt Nam không? Nó có biết không? Con rắn hay con chim có thể biết không?

Nó có thể thấy không? Mặc dù nó có thể thấy, nó vẫn không biết đây là Việt Nam. Nó thấy, nhưng nó không có chút ý niệm nào rằng đây là Việt Nam. Như vậy “Việt nam”  chỉ là một suy nghĩ.

Câu hỏi: Chúng ta có thể kiểm soát tâm được không?

Achaan: Hãy thử kiểm soát đi!…. Hãy biết tâm là gì, và xem bạn có thể kiểm soát được nó không?

Người phiên dịch: Anh ấy nói rằng khi người ta hành thiền, dường như họ có thể ngăn chặn được suy nghĩ, điều đó có nghĩa là họ có thể kiểm soát được tâm.

Achaan: Ngăn chặn suy nghĩ để làm gì?

Trả lời: Những người đạt được trạng thái thiền định sâu có thể ngăn chặn suy nghĩ. Thông qua đó, họ có thể kiểm soát suy nghĩ. Chắc chắn là tôi không thể kiểm soát được suy nghĩ của mình nhưng có những người có thể làm được như vậy.

Achaan: Ngừng suy nghĩ có nghĩa là ngừng hiểu biết. Không có hiểu biết khi không còn có suy nghĩ.

Sarah: Mục đích của việc ngăn chặn suy nghĩ là gì?

Tả lời: Tối đồng ý, không phải là ngăn chặn suy nghĩ, nhưng chúng ta có thể định hướng được suy nghĩ, chẳng hạn, tại khoảnh khắc này tôi đột nhiên nghĩ về cánh đồng lúa nhưng muốn chuyển nó sang hướng khác, về biển chẳng hạn và tôi đưa suy nghĩ của mình tới biển hay cái gì đó tương tự. Đó là cách đơn giản để có thể điều chỉnh suy nghĩ.

Achaan: Tới cái gì? Đổi hướng suy nghĩ tới cái gì?

Trả lời: Tới đối tượng.

Achaan: Tới đối tượng nào?

Trả lời: Tôi muốn nói là đổi hướng suy nghĩ từ đối tượng này sang đối tượng khác.

Sarah: Đối tượng nào mà bạn muốn đổi hướng suy nghĩ tới?

Trả lời: Chẳng hạn như tôi đang suy nghĩ về cánh đồng, sau đó thấy chán, tôi lại hướng suy nghĩ về biển. Tôi chỉ định hướng suy nghĩ thôi.

Achaan:  Như bây giờ… từ cái thấy đến cái nghe, bạn có đổi hướng được không? Bạn không cần phải định hướng, nó tự vận hành. Một khoảnh khắc của cái thấy, rồi lại một khoảnh khắc của cái nghe, và sau đó là một khoảnh khắc của suy nghĩ. Tại sao bạn lại muốn điều khiển chúng?

Sarah: Như hiện giờ, có khoảnh khắc của cái thấy thông qua mắt, rồi một khoảnh khắc của cái nghe, suy nghĩ về cái được thấy và cái được nghe. Nó luôn thay đổi cực kỳ nhanh. Vậy tại sao chúng ta lại cần thay đổi nó hay làm  gì về nó ? Chẳng phải do sự dính mắc hay sao? Bởi vì có sự dính mắc rất mạnh vào ý niệm về bản ngã –  người có thể kiểm soát và muốn thay đổi cái đang xảy ra. Chánh đạo của Đức Phật không phải để làm thay đổi hay điều khiển mà là hiểu và phát triển sự xả ly với những gì đang xuất hiện bây giờ. Khi có ý niệm cố gắng thay đổi hay điều khiển cái gì đó, đó là sự dính mắc với ý niệm về ngã – người có thể kiểm soát. Đó không phải là hiểu biết. Đó không phải là sự xả ly với những gì đang sinh khởi hiện giờ, bởi nhân duyên.

Trả lời: Vâng, đúng vậy.

Achaan: Và sự thực là vô ngã, anatta.

Sarah: Trong cuộc sống, chúng ta luôn tìm cách thay đổi mọi thứ, cho rằng chúng ta có thể điều khiển cuộc sống. Nhưng Đức Phật đã dạy điều đó là không thể, bởi vì bất cứ cái gì là thực trong cuộc sống, như cái thấy, cái nghe, suy nghĩ, thích, không thích… đều sinh khởi bởi nhân duyên, không có người nào cả, không có tôi, không có Achaan Sujin, không có ai có thể tạo ra cái thấy, cái nghe… hay thay đổi những thứ ấy theo ý muốn. Tất nhiên, mọi người đều muốn luôn có cảm thọ hỷ và mọi thứ dễ chịu, nhưng điều đó là không thể, bởi vì các thực tại luôn thay đổi: cái thấy, cái nghe, thích, không thích, cảm thọ khổ, cảm thọ lạc,… không thể làm cho thực tại sinh khởi theo như ta muốn. Vậy điều quan trọng không phải là cố gắng thay đổi thực tại mà là hiểu thực tại như nó là, bởi nó đã được sinh khởi bởi nhân duyên, không có cái ngã hay người nào có thể thay đổi hay làm cho  khác đi. Thay vì cố gắng ngăn chặn suy nghĩ, cố gắng có cái thấy khác đi, hay cố gắng không thấy những cánh đồng lúa,… hãy chấp nhận thực tại như nó đang là và phát triển thêm hiểu biết. Khi đó chúng ta có thể sống rất dễ dàng mà không cần cố gắng thay đổi hay ép buộc điều gì, chỉ hiểu dhamma như chúng là ngay tại khoảnh khắc này. Chúng ta luôn sống với ý niệm về bản ngã – người có thể kiểm soát hay điều khiển thực tại, và cuộc sống như vậy vô cùng khó khăn, không chút dễ dàng. Bởi vì chúng ta luôn nghĩ những gì xảy ra tại khoảnh khắc này phải khác đi, nhưng cái xảy ra đã sinh khởi  rồi, bởi nhân duyên. Có đúng không ?

Trả lời: Vâng

Achaan: Vậy bây giờ, cần phải hiểu rằng không hề có bản ngã hay cái “tôi”,  hiểu điều ấy ngày một rõ hơn, ngày một sâu sắc hơn, cho đến khi có cái hiểu trực tiếp về từng thực tại hiện giờ hoàn toàn là vô ngã.

Câu hỏi: Khi chúng ta đọc sách để có cái hiểu lý thuyết, khi đó chúng ta cũng cần phải có tác ý suy xét những điều chúng ta đọc?

Achaan: Đó là thực tại tuyệt đối, hay là nama, không phải là bạn. Chỉ có citta, cetasika và rupa, phải không? Và ngay cả tại khoảnh khắc của cái hiểu, cái hiểu cũng không phải là ai cả. Những cetasika khác sinh khởi với chánh kiến thực hiện chức năng của chúng, kể cả ngay bây giờ.

Câu hỏi: Sự suy xét không sinh khởi bởi ý chí, có đúng không ạ?

Achaan: Không có gì có thể sinh khởi bởi ý chí.

Câu hỏi: Vậy khi được nghe Bà chia sẻ về Giáo pháp hay đọc lời giảng của Bà, sẽ tự động có citta suy xét ư?

Achaan: Có citta và các cetasika. Ngay cả tại khoảnh khắc của cái nghe cũng có thể có tác ý chân chánh và tác ý không chân chánh.

rả lời:  Thật giải phóng !, vì không có gì để làm cả…

 

Câu hỏi: Nhưng nếu chỉ nghe hay đọc sách…

Achaan: Giống như được nghe Đức Phật giảng vậy, vì chính Ngài đã giảng cho các tì kheo. Trong khi bạn đọc Giáo lý, cũng giống như những người được nghe Đức Phật giảng. Sau cái thấy và cái nghe sẽ có suy nghĩ về âm thanh, về từ được nghe…

Bây giờ bạn có đang đọc không, tại khoảnh khắc này?

Trả lời: Có cái thấy, sự xúc chạm… hiện giờ.

Achaan: Cái thấy thì thấy, nó thấy hình khối, chính xác cũng giống như khi bạn đọc thì thấy các chữ, cũng chỉ là hình khối. Nhưng vì có suy nghĩ sau cái thấy, cho dù đó là đọc hay suy nghĩ về hình khối, khi đó không còn là cái thấy nữa, nó là những khoảnh khắc khác.

Sarah:  Có suy nghĩ và ghi nhớ rồi diễn giải về cái vừa được thấy, điều ấy diễn ra hoàn toàn tự nhiên, không có gì phải làm thêm vào cả. Sau cái thấy. Có thể có sự suy xét chân chánh , hoặc không chân chánh , không ai có thể thay đổi hay khiến nó phải theo cách này hay cách kia. Không có gì để làm cả. Việc nghe và suy xét hơn về các thực tại sẽ tạo nhân duyên để có thêm sự suy xét chân chánh, thêm hiểu biết, chứ không phải bằng việc cố gắng tạo ra nó hay mong muốn có sự suy xét chân chánh hay hiểu biết hiện giờ. Nếu không, sẽ chỉ có thêm dính mắc, cố gắng tạo ra chúng, đó là một trở ngại.

Câu hỏi: Dính mắc được nhận biết bởi trí tuệ đúng không ạ?

Achaan: Ý bạn là ở mức độ tư duy ư?

Trả lời: Đôi khi, khi đối diện với nhiều tình huống, có thể thấy rằng có dính mắc và khi đó…

Achaan: Bạn đặt tên cho nó hay bạn suy nghĩ về nó, nhưng đó không phải là chính  khoảnh khắc của cái biết hay cái hiểu về thực tại sinh và diệt đó.

Trả lời: Tôi muốn nói rằng vào lúc đó, một cách tự nhiên sẽ biết về sự dính mắc.

Achaan: Panna có thể biết sự khác biệt giữa việc chỉ có kinh nghiệm mà không có cái hiểu, không có chánh niệm về thực tại với việc kinh nghiệm có chánh niệm và cái hiểu về một đặc tính của thực tại, chứ không chỉ là từ ngữ hay suy nghĩ. Chẳng hạn về cái thấy hiện giờ, có cái thấy, nhưng chưa có đủ chánh kiến để hiểu về nó, chỉ về nó thôi. Không hình dạng, rất tối nhưng nó có thể thấy hiện giờ. Đến lúc ấy, bạn hiểu danh- thực tại kinh nghiệm một đối tượng là gì, một yếu tố, nó không phải là âm thanh, không phải là ánh sáng, nhưng bất cứ khi nào nó sinh khởi, nó kinh nghiệm và rồi diệt đi trong một khoảnh khắc cực kỳ ngắn ngủi.

Câu hỏi: Vậy dính mắc là một cetasika?

Achaan: Nó không phải là citta, nó là một cetasika. Bởi vì đôi khi có dính mắc, đôi khi không. Thay vì dính mắc lại có thể có sân đi kèm với citta. Tại khoảnh khắc đó không có sự dính mắc.

Câu hỏi: Các mức độ hiểu biết khác nhau sẽ nhận biết các mức độ dính mắc khác nhau, phải không ạ?

 

Achaan: Rất chậm chạp, rất ít ỏi so với tích lũy vô minh và dính mắc từ trước, từ kiếp này đến kiếp khác.

Câu hỏi: Để hiểu rõ ràng hơn, tôi xin hỏi, nếu tôi ngồi như thế này, có phải có rất nhiều tác ý liên tục để duy trì tư thế ngồi này hay chỉ cần một tác ý trong cả quá trình mà vẫn có thể ngồi cho đến khi chúng ta có tác ý khác để đứng lên hay nằm xuống?

Achaan: Tác ý sinh khởi với từng khoảnh khắc của citta. Citta sinh và diệt từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác. Vì vậy tác ý sinh khởi cùng với citta cũng khác nhau từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác. Tại khoảnh khắc này, bạn nghĩ rằng mình đang ngồi, nhưng còn tác ý sinh khởi cùng cái thấy thì sao? Đó không phải là tác ý ngồi. Tác ý ngồi có sinh khởi cùng với cái thấy không?

Trả lời: Đó là lý do vì sao tôi nghĩ chỉ có một tác ý ngồi, bởi vì sau đó, sẽ có các thực tại khác như cái nghe, cái thấy, sự xúc chạm hay bất kỳ cái gì đó…

Achaan: Những khoảnh khắc đó cũng cần có tác ý, tại khoảnh khắc của cái thấy chẳng hạn, nhưng đó không phải là tác ý để ngồi.

Sarah: Có 7 citesika sinh khởi với tất cả các citta. Một trong số đó là cetana – hay tâm sở tác ý. Mỗi một khoảnh khắc, với tất cả các citta, đều có cetana hay tác ý. Khoảnh khắc của cái thấy, khoảnh khắc của cái nghe, tất cả các khoảnh khắc suy nghĩ đều có cetana và nó tùy thuộc vào citta. Chẳng hạn, tại khoảnh khắc của suy nghĩ, suy nghĩ nghĩ về cái gì, loại tác ý nào sinh khởi tại khoảnh khắc đó?

Trả lời: Ý tôi là, tôi đang ngồi như thế này, trong tư thế này. Tôi không đứng lên để nghe hay là…

Sarah: Nhưng có tác ý nói, tác ý cử động tay, có tác ý trong từng khoảnh khắc.

Trả lời: Và kể cả như vậy, trong khi có tác ý nói hay tác ý cử động tay vẫn có tác ý giữ nguyên tư thế ngồi, đúng không ạ?

Sarah: Có các đối tượng khác nhau tại các khoảnh khắc các nhau, như khi bạn cử động tay hay…. Bạn không thể biết có bao nhiêu khoảnh khắc tác ý, bởi nó sinh khởi trong từng khoảnh khắc. Mỗi khi tôi cử động tay hay chớp mắt, có tác ý trong từng khoảnh khắc ấy. Ai có thể biết người khác có bao nhiêu khoảnh khắc suy nghĩ về việc ngồi…

Achaan: Việc ngồi đã được xảy ra, không cần có tác ý khác để tiếp tục giữ nó.

Trả lời: Tôi cũng hiểu như vậy, nhưng có người nói rằng trong khi chúng ta ngồi một giờ hay nửa giờ chẳng hạn, luôn có tác ý ngồi.

Achaan: Giờ bạn hãy tự mình chứng minh, liệu có tác ý ngồi bây giờ không?

Trả lời: Đó là lý do vì sao tôi không thấy có tác ý ngồi khi tôi…

Sarah: Khi bạn đang ngồi như hiện giờ, bạn không đang suy nghĩ về nó chút nào, bạn suy nghĩ về những thứ khác…

Trả lời: Đó cũng là cách tôi hiểu.

Câu hỏi: Để duy trì cơ thể trong một tư thế nhất định nào đó, cái gì giữ cho cơ thể ở tư thế đó mà không bị đổ xuống?

 

Sarah: Cũng giống như hôm qua trong buổi thảo luận, có người ngủ gật, sau đó họ nghĩ về việc ngồi dậy, như thế này, khi đó có những suy nghĩ đặc biệt về việc đó. Tôi cho rằng bạn có thể tự kiểm tra hay tìm ra xem liệu có suy nghĩ về việc đó không.

Tất nhiên, chính tác ý tạo duyên cho sự cử động.

Achaan: Hãy tìm hiểu xem đặc tính của tác ý và chức năng của tác ý là gì. Vì nó sinh khởi với tất cả các citta nên chúng ta phải hiểu các khía cạnh khác nhau của tác ý. Chẳng hạn, trong khi chúng ta ngủ sâu, có citta không? (Trả lời: Có ạ, có bhavanga citta – tâm hộ kiếp) Và, có tác ý khi đó không? (Trả lời: Có ạ). Vậy chúng ta không biết chức năng của citta, chúng ta chỉ biết  citta ở khoảnh khắc của tác ý làm việc gì đó, nhưng trên thực tế không phải vậy.

Câu hỏi: Có nhiều khoảnh khắc chúng ta không hề có chánh niệm về tác ý, có đúng không ạ?

Achaan: Nếu nó không phải là đối tượng của chánh niệm, làm sao chúng ta có thể biết một cách chính xác? Nhưng hãy nghĩ xem: tại khoảnh khắc ngủ sâu, có citta không? Có tác ý hay cetana trong từng citta không? Nó làm cái gì vậy?

Trả lời: Nó điều phối các cetasika khác tại khoảnh khắc đó.

Achaan: Chức năng của nó là đốc thúc, như người lớp trưởng giúp các học sinh khác làm nhiệm vụ khi thầy giáo đến, hay cái gì đó tương tự. Vậy khi đó là tâm hộ kiếp (bhavanga), nó không có tác ý là thiện hay là ngồi hay làm cái gì cả, nhưng nó sinh khởi cùng với bhavanga, nó đốc thúc các cetasika khác sinh khởi cùng với citta để thực hiện chức năng riêng của chúng. Đó là chức năng của cetana. Nhưng ai biết các khía cạnh này của cetana? Không ai biết cả. Nhưng khi nó là tác ý thiện hay bất thiện, chúng ta có thể nhìn thấy tại lúc đó có tác ý sát sinh hay tác ý nói một cách sai trái hay đúng đắn. Tại khoảnh khắc này không có suy nghĩ về rupa ngồi chút nào. Tại khoảnh khắc của cái thấy, nó kinh nghiệm đối tượng thị giác. Tại khoảnh khắc của suy nghĩ,…. là đối tượng của suy nghĩ, như vậy đó! Không có lúc nào nghĩ về rupa đang ngồi. Có bao nhiêu citta có thể tạo duyên cho tư thế đó? Như ở trong tâm thiền (jhanna citta), tại khoảnh khắc đó không hề có cử động chút nào, nhưng có thể giữ cho cơ thể ngồi nguyên ở tư thế đó. Chức năng của nó là như vậy. Khi chúng ta nghiên cứu Giáo pháp,chúng ta cần có sự suy ngẫm. Khi tìm hiểu về citta hay cetasika, chúng ta phải suy xét thật kỹ lưỡng để thực sự hiểu mọi khía cạnh của từng thực tại, dù cho cái đang sinh khởi là gì, dù đó là tâm siêu thế kinh nghiệm Niết bàn, tâm thiền (jhanna), tâm bất thiện hay bất kỳ cái nào. Chức năng của nó là thực hiện việc kinh nghiệm, nó không thể thích hay không thích, nó không thể nghĩ, nó chỉ kinh nghiệm, như hiện giờ. Cái thấy – chúng ta bắt đầu hiểu về cái thấy nhưng không thực sự kinh nghiệm trực tiếp đặc tính của nó. Khi mới bắt đầu, đó chỉ là cái hiểu lý thuyết. Rồi dần dần sau đó, khi ngày càng có thêm hiểu biết về sự khác biệt giữa cái hiểu mang tính lý thuyết ấy, và sự tiếp cận trực tiếp đặc tính của cái thấy, trí tuệ được phát triển nhờ việc học, suy xét sẽ có thể bắt đầu hiểu bản chất của cái thấy là vô ngã, không có ai cả.  Và đó là ý nghĩa của pháp hành (patipati) –tiếp cận thực tại với chánh niệm và chánh kiến về đặc tính của thực tại, không phải chỉ bằng suy nghĩ. Điều này sẽ đưa đến pháp thành (pativedha), sự chứng ngộ sự thực của thực tại như nó là tại khoảnh khắc đó, một đặc tính tại một thời điểm. Trí tuệ, sự phát triển trí tuệ là cốt lõi. Giáo lý của Đức Phật sẽ ngày càng mang đến trí tuệ, hay hiểu biết đúng. Đừng dính mắc vào…  hay mong muốn có cái gì đó, mà không chịu phát triển chánh kiến. Chánh kiến hay minh thì rất khác với vô minh. Trong suốt 45 năm, Đức Phật đã giảng về điều ấy.

Câu hỏi: Vô minh (avija) thì còn vi tế hơn tà kiến rất nhiều, có đúng không ạ? Vậy ngay bây giờ, đối với chúng tôi, tà kiến có thể dễ dàng được nhận biết và thẩm sát hơn chăng?

Achaan: Vô minh (avija) sinh khởi với mọi loại bất thiện tâm. Các thực tại như sự dính mắc, sân hận khi xuất hiện đều có avija là gốc rễ, nó luôn có đó…

Câu hỏi: Tại khoảnh khắc không có avija, không hẳn đã có panna, đúng không ạ?

Sarah: Đúng vậy, bởi vì ngay cả khi citta là thiện tâm, hầu hết trong mọi trường hợp đều không có panna. Chỉ trong sự phát triển tâm trí (bhavana), panna mới sinh khởi. Còn tại khoảnh khắc của bố thí hay trì giới hay từ tâm, có thể có hay không hề có panna sinh khởi. Với tâm quả, panna cũng không sinh khởi. Vậy khi không phải là bất thiện tâm thì cũng không có nghĩa là có panna.

Achaan: Thuật ngữ “bhavana” có nghĩa là sự phát triển. Cũng có cả các thuật ngữ khác như “kusala bhavana”, điều đó không có nghĩa rằng phải có panna, chỉ là sự phát triển thiện pháp từ việc bố thí và trì giới. Đó là lý do vì sao mọi người có những cá tính khác nhau, người thích bố thí, người khác lại thích trì giới, là do sự tích lũy.

Câu hỏi: Và panna có thể có nhiều mức độ khác nhau: panna nhìn thấy sự khác biệt giữa thiện và bất thiện thì khác với panna hay biết thực tại như nó là, có đúng không ạ?

Achaan: Và cái hiểu trực tiếp ấy, với sự giác ngộ là những mức độ khác nhau.

Sarah: Lúc trước, khi chúng ta bàn về các tư thế hay oai nghi, bạn đã nói về trường hợp bạn đang ngồi khoanh chân chẳng hạn, khi đó có suy nghĩ về oai nghi và có người khác nói rằng cô ấy không suy nghĩ về điều đó. Trên thực tế, nếu bạn đang ngồi bắt chéo hai chân và bạn bị đau, có thể có nhiều suy nghĩ về việc ngồi cho ngay ngắn, điều đó tùy thuộc vào nhân duyên của mỗi thời điểm. Như hiện giờ, không có suy nghĩ về việc ngồi, nhưng có thể có vào lúc khác…

Achaan: Ngay khi nói đến việc ngồi là đã nghĩ đến việc ngồi rồi. Nếu không, bạn sẽ không nghĩ về nó.

Bạn đã học Vi diệu pháp chưa?

Trả lời: Rất ít ạ. Tôi đã đọc cuốn “Tổng quan Vi diệu pháp” của Boddhi Bikkhu

Sarah: Vi diệu pháp toát yếu (Abhidhammattha Sangaha) giống như một bản tóm lược khái quát về Vi diệu pháp, rất tốt.

Câu hỏi: Tác ý đến từ đâu ạ?

Achaan: Nó là thực tại hữu vi, không có nhân duyên, nó không thể sinh khởi.

Câu hỏi tôi đưa ra là: Có sự khác biệt nào giữa pháp (dhamma), vi diệu pháp (Abhidhamma) và pháp chân đế (paramattha dhamma) không? Không khác chút nào. Nhiều người nghĩ rằng họ không cần phải học Vi diệu pháp mà chỉ học về Pháp (dhamma) thôi.

 

Trả lời: Đó thật là một hiểu nhầm lớn. Nhưng tôi thấy rằng cách mà Achaan dạy hoàn toàn khác với cách của các vị thầy khác cũng giảng về Vi diệu pháp. Bởi vì điều họ dạy dường như chỉ toàn là các khái niệm, còn Bà dạy về cái gì đang là thực hiện giờ.

Sarah: Khi mọi người không thích nghe rằng thực tại là vô ngã, khi đó họ tìm lý do rằng Vi diệu pháp không phải là lời dạy của Đức Phật, họ không thích và từ chối Vi diệu pháp.

Achaan: Hãy nghĩ về Đức Phật. Một bậc Giác ngộ như ngày không thể chỉ dạy về dhamma mà không dậy Abhidhamma.

Câu hỏi: Tôi có đọc về một thiền sư, ngài S. Trước kia, Ngài chưa từng  học Vi diệu pháp, nhưng sau khi đạt giác ngộ, điều Ngài dạy cũng giống như trong Vi diệu pháp.

Achaan: Không bao giờ như vậy…. Ngài ấy có dạy về sự giác ngộ của mình không?

Trả lời: Ngài ấy là một thiền sư đương đại rất nổi tiếng. Ngài đã quá cố.

Achaan: Ngài dạy về cái gì?

Trả lời: Người ta nói rằng sau khi Ngài giác ngộ, Ngài dạy về thiền và cũng cả về Vi diệu pháp nữa.

Achaan: Không bao giờ giống nhau cả. Vi diệu pháp mà Ngài dạy là gì?

Trả lời: Tôi không biết nhiều về điều đó. Tôi chỉ nghe nói như vậy thôi.

Achaan: Như vậy là không có sự giải thích. Làm sao ta có thể nói rằng đó chính xác là Abhidhamma? Hãy tìm hiểu lời dạy của Ngài, khi đó bạn sẽ biết.

Câu hỏi: Hiểu về Vi diệu pháp có phải là kết quả của việc hành thiền, của Tứ niệm xứ không?

Achaan: Nếu bạn nghiên cứu sai, sẽ có ý niệm về ngã – người có thể làm.

Câu hỏi: Nhưng giả sử là ai đó không thực hành sai…

Achaan: Đó là hành thiền sai, đó là hiểu sai.

Trả lời: Nhưng theo tôi hiểu, có một số người đã thực hành đúng và sau đó họ đã đạt được…

Người khác: Cái gì tạo duyên cho sự thực hành đúng? Thực hành là gì? Ai thực hành?

Achaan: Điều ấy rất quan trọng. Thực hành là gì?

Trả lời: Cách họ thực hành có thể không mâu thuẫn với những gì Bà đang giảng hiện nay…

Sarah: Ngay khi có ý niệm về sự thực hành là đã có ý niệm về ai đó làm việc gì đó. Đó không phải là cái hiểu về các thực tại. Đó là ý niệm về việc hành tứ niệm xứ, chú tâm vào các oai nghi hay chánh niệm trên hơi thở…

Trả lời: Trước tiên họ có thể bắt đầu với một số đối tượng, sau đó có thể đến với các thực tại.

Sarah: Nếu khi bắt đầu, họ thực hành với một số đối tượng, điều ấy có nghĩa là…

Trả lời: Có thể sau đó họ nhận ra có gì không đúng trong sự thực hành của mình và rồi sau đó…

 

Người khác: Nguyên nhân đúng sẽ mang đến kết quả đúng, nguyên nhân sai sẽ mang đến kết quả sai, có đúng không? (Trả lời: Tôi đồng ý). Vậy cái gì là nguyên nhân đúng cho kết quả đúng? Liệu tà kiến có thể là nguyên nhân đúng không?

Sarah: Liệu sự thực hành sai có thể dẫn đến sự thực hành đúng không? Liệu tà kiến có dẫn đến chánh kiến không?

Trả lời: Đầu tiên họ có thể thực hành với một số đối tượng, sau đó…

Người khác: Cái gì là nguyên nhân và cái gì là kết quả?

Trả lời: Nhưng sau đó, họ…

Người khác: Không phải là họ. Đức Phật đã dạy về nhân và quả. Chỉ có nguyên nhân và kết quả. Để có được kết quả đúng, phải có nguyên nhân đúng (Trả lời: Đúng vậy). Vậy nếu tà kiến là nguyên nhân, cố thể có chánh kiến là kết quả được không? (Trả lời: Không) Vậy nếu có ý niệm về sự thực hành, có ý niệm về bản ngã – người có thể làm cái gì đó, đó là tà kiến hay chánh kiến?

Trả lời: Nhưng trước tiên, bạn nên biết rằng, họ có thể thực hành với một số đối tượng như phồng-xẹp, các cảm thọ hay những gì sinh khởi trong tâm, nhưng sau đó họ có thể thấy như vậy là sai và họ có thể thay đổi…

Achaan: Có nghĩa là họ có thể làm được việc ấy? Đó là tà kiến ngay từ ban đầu. Cho rằng “anh ấy có thể làm” có phải là chánh kiến không?

Sarah: Hay “anh ấy có thể làm mà không có đối tượng hiện giờ”?

Nếu chúng ta đồng ý rằng hãy quên giai đoạn đầu đi, vì tất cả đều sai, và sau đó, giai đoạn tiếp theo, ý niệm về cái hiểu và sự thực hành khi đó là gì?

Trả lời: Cũng là việc kinh nghiệm những thứ sinh khởi tại giây phút hiện tại.

Achaan: Sau đó, người ấy có nói cái gì là khởi đầu sai và cái gì là khởi đầu đúng  không?

Trả lời: Sau đó, tất cả mọi người đều nói về thực tại. Và cái hiểu có thể đến từ sự thực hành của họ.

Sarah: Với điều kiện sau đó họ có hiểu biết về các thực tại. Chúng ta trước kia đều có thể đã đi theo những phương pháp hành thiền nào đó, nhưng bây giờ có thể có chút hiểu biết về các thực tại, nhưng việc có được cái hiểu đúng về thực tại- mặc dầu đã tích lũy thực hành sai, không phải là kết quả của việc thực hành sai. Có nghĩa rằng mặc dù có tà kiến và thực hành sai, vẫn có những khoảnh khắc hiểu biết được tích lũy đủ để có cái hiểu về các thực tại hiện giờ. Việc thực hành sai không bao giờ có thể đưa đến việc thực hành đúng.

Trả lời: Tôi không nói rằng họ cứ thực hành sai ở mãi, sau đó họ có thể không thực hành sai nữa.

Người khác: Cái gì là nguyên nhân cho họ không còn thực hành sai nữa?

Trả lời: Họ cũng…. Đó là thực tế.

Người khác: Cần có một nguyên nhân cho một kết quả, có đúng không? Vậy nếu tại một khoảnh khắc, họ bắt đầu có cái hiểu đúng, vậy cái gì là nguyên nhân cho điều đó?

 

Trả lời: Tôi cho rằng không bao giờ có sự thực hành sai. Khi họ nhận ra đó là thực hành sai thì nó đã đúng.

Sarah: Nếu họ hiểu đó là sự thực hành sai, khi đó, đó là sự hiểu biết.

Trả lời: Cái hiểu đúng đến từ kinh nghiệm, không phải là từ việc đọc sách.

Achaan: Chánh kiến sẽ biết cái gì là thực hành đúng, cái gì là thực hành sai. Người ấy nên nói rõ cái gì là sự thực hành đúng, cái gì là thực hành sai.

Sarah: Ban nãy bạn nói rằng chánh kiến đến từ kinh nghiệm, không phải từ việc đọc sách, nhưng trên thực tế, nếu không được nghe lời giảng đúng, không có sự suy xét, sẽ không thể có hiểu biết. Chẳng hạn, nếu chúng ta không nghe về các thực tại như cái thấy, đối tượng thị giác, âm thanh… chúng ta có thể cho rằng có chánh niệm về hiện tại, nhưng như ai đó đã nói trong buổi thảo luận hôm qua, đó chỉ là những ý niệm mơ hồ về việc hay biết tình huống mà không phải là chánh kiến về thực tại, bởi vì chúng ta chưa từng được nghe về các thực tại, về cái kinh nghiệm, cái được kinh nghiệm, bởi vì có rất nhiều dính mắc, vô minh và tà kiến. Tất cả mọi người đều cần được nghe Giáo lý.

Trả lời: Những thứ sinh khởi trong giây phút hiện tại có nghĩa là thực tại, vậy đó là sự kinh nghiệm về các thực tại.

Sarah: Ngay cả những người chưa từng được nghe Giáo lý, như tôi đã trao đổi với T ngày hôm qua, họ vẫn kinh nghiệm các thực tại, vẫn thấy đối tượng thị giác nhưng…..

Trả lời: Họ đã từng đọc về Giáo lý, nhưng có thể không phải là Vi diệu pháp.

Achaan: Nếu không phải là Vi diệu pháp thì là gì?

Người khác: Tôi nhớ trong buổi pháp đàm của Bà tại Campuchia, ngay khi bắt đầu Bà đã nói rằng, khi chúng ta hiểu sâu sắc Giáo lý, khi đó chúng ta sẽ thấy toàn bộ Tam tạng phải hoàn toàn thống nhất với nhau, vậy cái được giảng trong Kinh cũng giống với trong Vi diệu pháp, có đúng không ạ? Không hề khác nhau.

Achaan: Như vậy người ấy không phải là đệ tử Phật, bởi vì người ấy nghĩ rằng người ấy có thể tự mình thành tựu.

Người phiên dịch: Cô ấy nói rằng trên thực tế, hiện giờ họ đã giác ngộ. Làm thế nào mà bạn biết họ đã giác ngộ?

Trả lời: Chúng ta có thể nói như vậy bằng niềm tin, chẳng hạn đó là Achaan M, Achaan  B,…

Achaan: Họ đã dạy những gì? Achaan M đã dạy những gì?

(Không có trả lời)

Sarah: Chúng ta không cần gọi đó là Vi diệu pháp, chúng ta không phải dùng từ ngữ, nhưng càng hiểu hơn về các thực tại trong Giáo lý của Đức Phật sẽ càng đánh giá cao những gì chúng ta được dạy về bất kỳ phần nào thuộc Tam tạng, chúng hoàn toàn thống nhất với nhau, mà chúng ta không cần phải sử dụng ngôn từ cụ thể nào. Không hề nghi ngờ rằng, khi chúng ta đọc về các thực tại khác nhau, bất kể đó là gì, thì đó chính là Giáo lý của Đức Phật.

, , , , , ,

Translate »