Monthly Archive January 17, 2013

Bức thư vipassana 8

Bức thư vipassana 8

Thân gửi Robert

Bạn đã biết rằng Bát chánh đạo mà Đức Phật dạy chính là con đường trung đạo. Đức Phật đã nói tại Isipatana (Vườn nai) với năm vị đại đệ tử rằng, hai con đường cực đoan nên tránh là lợi dưỡng và khổ hạnh (trong Tương ưng Bộ kinh, Thiên Đại Phẩm -Maha-vagga, Quyển XII, Chương II). Chúng ta có thể hiểu về mặt lý thuyết rằng chúng ta phải theo con đường trung đạo, nhưng khi thực hành thì hoài nghi lại xuất hiện. Liệu chúng ta có nên làm điều gì đó đặc biệt để có chánh niệm hơn và chúng ta có nên tránh những điều dường như là bất lợi cho việc vun bồi Tứ niệm xứ (Satipathana)? Chúng ta có thể làm những việc thiện như bố thí khi giúp đỡ người khác, nhưng sự dính mắc, tham lam, ác cảm, sân hận, vô minh vẫn sinh khởi liên tiếp, và chánh niệm (sati) thì hiếm khi sinh khởi. Chúng ta có thể trở nên nản chí vì sự thiếu tiến bộ của mình. Bạn hiểu rằng, Tứ niệm xứ nên được phát triển một cách tự nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, nhưng, như bạn đã viết, bạn phân vân liệu mình có nên tránh những hoàn cảnh nhất định nào đó không.

Bạn nói rằng bạn  phân vân liệu có nên chấp nhận lời mời của bạn bè đi xem phim hay nên ở nhà để nghiên cứu Phật pháp. Bạn cảm thấy việc chấp nhận lời mời là sự dễ duôi trước dục lạc. Tuy nhiên, bạn cũng lại thấy rằng, ngay cả trong khi xem phim, bạn sẽ vẫn có cơ hội đối mặt với thực tại. Tôi  xin trích dẫn từ bức thư của bạn:

Mặc dù nếu ở nhà, tôi sẽ có cơ hội để học Phật Pháp, nhưng có lẽ sẽ là cảm giác “sự thực hành của tôi”, “giới luật của tôi”, vì vậy mà có thể không có nhiều ích lợi. Trong khi đó, nếu tôi chấp nhận (lời mời), tôi có thể mất đi thời gian dành cho việc học này, nhưng lại giảm nguy cơ tăng trưởng dính mắc vào sự “thực hành của tôi”  và thực ra cũng có chừng ấy thời gian để quan sát thực tại hiện tiền. Tất nhiên, khi trí tuệ phát triển, một cách tự nhiên, người ta có thể không hề có mong muốn đi xem phim, và khi đó, đằng nào ta cũng sẽ từ chối thôi. Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng, sẽ có nhiều điều kiện để phát triển thiện tâm hơn nếu chúng ta ở nhà . Tôi đồ rằng, câu trả lời cho vấn đề này là, việc thực hành không phải chủ yếu là để tích lũy nhiều thiện tâm mà là để phát triển sự hiểu biết, giúp nhận ra các đặc tính khác nhau của tất cả danh và sắc, và nhận thấy chúng là vô ngã, trong đó bao gồm cả niệm (sati) và trí tuệ (panna).”
Câu trả lời cho tình thế tiến thoái lưỡng nan này là, ta không bao giờ biết trước loại tâm nào sẽ sinh khởi tại từng khoảnh khắc, tâm thiện hay bất thiện. Chỉ có bậc thánh Bất lai, người đã đạt đến đến giai đoạn thứ ba của sự giác ngộ, sẽ không bao giờ thưởng thức những cảm giác vui thú của dục lạc.  Ngài sẽ không có xu hướng đi xem phim. Đối với chúng ta thì lại khác. Có khi chúng ta sẽ chấp nhận lời mời đi xem phim, có khi lại từ chối, và tâm phát sinh trong cả hai trường hợp này có thể là thiện hoặc bất thiện. Chúng ta cũng có thể chấp nhận lời mời vì lòng tốt, không muốn người bạn phải đi một mình. Làm sao mà ta có thể định trước cái tâm nào sẽ ra quyết định? Mỗi tâm khởi sinh do điều kiện nhân duyên riêng của nó, nó là vô ngã, ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.

Đôi khi trong lúc xem phim, bạn có thể có chánh niệm về thực tại, nhưng điều này phụ thuộc vào tích lũy trí tuệ của mỗi người. Có thể có chánh niệm khi hay biết đối tượng thị giác xuất hiện qua nhãn căn. Khi chúng ta bị cuốn theo nội dung cuốn phim, khi đó có sự suy nghĩ về các khái niệm. Suy nghĩ được tạo duyên bởi cái thấy.  (Trong khi ấy), khi ở nhà để học giáo pháp, có thể không có bất kỳ chánh niệm nào, làm sao mà lên kế hoạch trước cho điều này được? Có thể ta sẽ ngủ gật hoặc có các thứ khác làm ta xao nhãng. Như bạn đã nói, luôn luôn có thể bị dính mắc vào “sự thực hành của tôi”, nhưng đó cũng là danh sinh khởi do các nhân duyên và có thể được nhận diện như vậy.
Bạn đã hiểu rằng mục tiêu của chúng ta không nên chỉ đơn thuần là tích lũy thiện tâm mà là hiểu biết rằng mọi thực tại, trong đó bao gồm cả chánh niệm và trí tuệ, là vô ngã. Khi chúng ta cố gắng tạo ra chánh niệm bằng cách làm điều gì đó đặc biệt, chúng ta sẽ không bao giờ nhận thấy nó là vô ngã. Ai đó đã viết rằng, một thiền sư khuyên thiền sinh nên có chánh niệm liên tục. Tuy nhiên, điều này là không thực tế. Chúng ta không thể tránh được cái thấy và cái nghe cứ lặp đi lặp lại, những loại tâm này cứ sinh khởi dù chúng ta muốn hay không. Thấy và nghe sinh khởi trong lộ trình của tâm và trong lộ trình này, rất nhanh sau cái thấy và cái nghe diệt đi, luôn có tâm thiện hay bất thiện khởi sinh, nhưng hầu hết là tâm bất thiện. Thông thường, ta có thể không chú ý đến cái thấy hoặc cái nghe, chúng vụt qua. Tương tự thế, các loại tâm bất thiện khởi sinh ngay sau cái thấy và nghe cũng vụt qua, chúng ta đều không để ý tới. Tâm sinh và diệt rất nhanh. Vì vậy, rất khó để nhận biết tâm đang sinh khởi tại từng thời điểm là thiện hay bất thiện. Bạn phân vân không biết các loại tâm nào sinh khởi trong khi bạn đang bị cuốn vào việc học Giáo Pháp ? Không ai có thể chỉ cho bạn biết, bạn phải tự mình tìm ra. Khi bạn học Giáo Pháp để hiểu về các thực tại, có tâm thiện ở đó, nhưng cũng có thể có cả tâm bất thiện sinh khởi. Trong khi bạn học Giáo Pháp, cũng có cái thấy và cái nghe, và bạn phải tìm ra xem tâm thiện hay tâm bất thiện đang sinh khởi sau cái thấy và cái nghe, cái được gọi là những tâm quả (vipakacittas), các quả của nghiệp. Có thể có sự bám víu vào cái thấy, vào đối tượng của cái thấy, vào những khái niệm ta dựng nên cho những thứ được nhìn thấy. Chúng ta tưởng rằng, chúng ta không đặc biệt thích thú những gì mình nhìn thấy, nhưng kỳ thực chúng ta vẫn còn dính mắc với tất cả các đối tượng. Chúng ta dính mắc với tất cả những thứ quen thuộc xung quanh chúng ta, giấy, sách vở và bút, chiếc ghế đang ngồi. Tuy nhiên, khi chúng ta học Phật Pháp, chúng ta có thể được nhắc nhở để nhận biết bất cứ thực tại nào xuất hiện. Vì thế, chúng ta không quên mục tiêu của việc nghiên cứu giáo pháp của mình là: để hiểu những gì xuất hiện trong giây phút này.

Bạn viết rằng bạn có xu hướng bị trượt khỏi trung đạo. Tất cả chúng ta đều như vậy, chừng nào chúng ta chưa trở thành vị thánh Nhập lưu. Tôi xin trích dẫn từ bức thư của bạn:

Tôi có khuynh hướng nghĩ rằng, “Ồ, đã có sẵn tích lũy thói quen hưởng thụ ở đó rồi. Tôi có thể thưởng thức thú vui đó miễn là tôi biết nó không phải là cái ngã đang làm, mà chỉ là tham đang sinh khởi”. Nhưng thường thì tôi nhận thấy rằng, nếu cứ thế mà hưởng thụ, dường như có rất ít chánh niệm, mà dính mắc thì lại tăng thêm. Mặt khác, khi kiềm chế ham muốn như bằng cách giữ tám giới chẳng hạn, cảm giác khó chịu có thể xuất hiện. Nhưng cách này có lợi ích là giúp  phiền não lộ rõ.

Ở đây cũng vậy, chúng ta không thể thiết lập bất kỳ quy tắc cho tâm phải quyết định làm gì tại một thời điểm cụ thể. Khi chúng ta lắng nghe Giáo lý và suy xét về những gì được nghe, chúng ta học về thiện và bất thiện pháp”. Khi chúng ta bắt đầu chánh niệm, chúng ta dần nhận ra có nhiều khoảnh khắc bất thiện mà ta đã không thấy trước khi được học Giáo Pháp. Chúng ta cũng học về nhiều biểu hiện khác nhau của bất thiện pháp mà chúng ta chưa hề nghĩ đến trước đây. Khi trí tuệ, panna, phát triển, nó sẽ nhìn thấy thường xuyên hơn những bất lợi của bất thiện pháp và lợi ích của thiện pháp. Khi chúng ta đầu hàng với vui thú và nghĩ, “đó không phải là ngã”, sự suy nghĩ này có thể khởi sinh với tâm bất thiện nhưng cũng có thể là tâm thiện. Khi không có niệm và tuệ, chúng ta có thể sử dụng suy nghĩ về vô ngã như là một cái cớ để phát triển bất thiện tâm. Trái lại, khi niệm, tuệ phát triển và có chánh niệm về sự ham muốn như là một thực tại do duyên sinh khởi, hoàn toàn vô ngã, thì đó là thiện tâm. Bạn thấy rằng việc giữ tám giới làm cho bạn khó chịu. Không ai khác ngoài bạn có thể nói cho bạn biết nên giữ giới hay không. Chúng ta nên tìm hiểu những tâm gì khiến chúng ta quyết định trì giới. Có phải là ta bám vào “tâm thiện của tôi”, hay là chúng ta muốn được hoàn hảo ngay lập tức? Bạn có thể nhận thấy sự dính mắc của mình vào chiếc ghế hay chiếc giường mềm khá rõ ràng khi giữ tám giới, nhưng còn sự dính mắc sinh khởi sau cái thấy và cái nghe bây giờ? Liệu chúng ta có nên hiểu rõ nhằm giảm bớt vô minh? Sự chân thực là không thể thiếu được trong phát triển Tứ niệm xứ. Chúng ta phải trung thực về các loại tâm khác nhau sinh khởi, có thể là tâm thiện hoặc bất thiện. Để biết tại thời điểm này là tâm thiện hay bất thiện, chúng ta cần chánh niệm – tỉnh giác (sati-sampajanna), chánh niệm và trí tuệ. Có nhiều cấp độ chánh niệm – tỉnh giác khác nhau, thường được diễn giải là “sự thấy biết rõ ràng”. Biết thiện là thiện và bất thiện là bất thiện là một mức độ của chánh niệm – tỉnh giác. Nếu chúng ta muốn phát triển thiện tâm, chúng ta phải biết tâm tại thời điểm này là thiện hay bất thiện. Sẽ không thể biết điều này nếu không có chánh niệm – tỉnh giác sinh khởi. Nếu chúng ta muốn phát triển thiền chỉ, chúng ta cần chánh niệm – tỉnh giác để biết liệu có thiện tâm với sự an tịnh, do đối tượng của thiền chỉ  làm phát sinh hay không. Chánh niệm – tỉnh giác trong thiền minh sát nhận ra danh là danh và sắc là sắc, nó nhận ra chúng là vô ngã. Chánh niệm – tỉnh giác của minh sát tuệ được hỗ trợ bởi các cấp độ khác của chánh niệm – tỉnh giác, cấp độ chánh niệm – tỉnh giác nhận ra thiện là thiện và bất thiện là bất thiện, và cấp độ nhìn thấy những bất lợi của bất thiện và lợi ích của thiện. Mặt khác, chánh niệm – tỉnh giác của minh sát tuệ hỗ trợ tất cả các mức độ thiện pháp.

Có thể phát triển chánh niệm – tỉnh giác bằng việc lắng nghe và suy ngẫm Giáo Pháp, và sau đó chúng ta sẽ biết phân biệt tinh tế hơn các tâm thiện và bất thiện trong cuộc sống hàng ngày. Khi nói về Tứ Niệm Xứ, chúng ta cũng cần phải thảo luận về những khoảnh khắc tâm thiện và bất thiện khác nhau khởi sinh trong cuộc sống hàng ngày. Phải phát triển Tứ Niệm Xứ song song với tất cả các loại  thiện pháp khác bởi lẽ mục tiêu cuối cùng là để diệt trừ phiền não. Nếu chúng ta tìm hiểu về danh và sắc nhưng lại bỏ qua việc thực hành bố thí, chúng ta sẽ tiếp tục bám vào tự ngã. Thật khó khăn để phát triển bố thí khi đã tích lũy rất nhiều sự keo kiệt, nhưng chúng ta nên biết các tích lũy thiên hướng thực sự của chúng ta. Khi chúng ta nhận ra sự keo kiệt, chúng ta không thích nó, chúng ta có ác cảm về nó. Hoặc là có sự hối tiếc (kukkucca – tâm sở hối hận) về bất thiện pháp của chúng ta hoặc về thiện pháp mà chúng ta đã bỏ qua không làm, thì đó cũng chính là tâm bất thiện. Khi chánh niệm – tỉnh giác có cơ hội sinh khởi, sẽ không có sân hay hối tiếc. Chánh niệm – tỉnh giác có thể nhận ra đặc tính của sự keo kiệt như một thực tại do duyên khởi, một loại danh pháp. Có thể có hiểu biết hơn về nhân duyên của nó: nó sinh khởi bởi vì nó đã được tích lũy sâu dày. Chúng ta không muốn keo kiệt, chúng ta có thể nói mình không phải là kẻ keo kiệt, không nói những lời thể hiện sự keo kiệt của mình, nhưng sự keo kiệt vẫn sinh khởi. Chúng ta có thể học ra từ những tình huống như vậy. Thay vì làm ta nản chí , chánh niệm tỉnh giác có thể sinh khởi và nhận ra bất lợi của bất thiện tâm, và tại thời điểm đó, không thể có sự khó chịu về nó. Nên có chánh niệm – tỉnh giác để nhận ra ngã mạn xuất hiện thường xuyên thế nào trong mối quan hệ của chúng ta với người khác. Chúng ta có thể cảm thấy không hài lòng về những gì người khác đang làm hay nói với mình. Có một sự so sánh, có “anh ta” và “tôi”, chúng ta tự hỏi “làm sao mà anh ta có thể làm điều đó với tôi.” Sau đó là tự phụ, chúng ta bám víu vào “cá nhân quan trọng của tôi”. Ngã mạn gây cản trở cho sự rộng lượng và tâm từ. Chúng ta có thể tha thứ cho người khác một cách dễ dàng không? Tha thứ là một dạng của lòng từ bi, một loại bố thí. Nó là “abhayadana – vô úy thí”, mong muốn một người nào khác không bị hại. Chúng ta nên thường xuyên xem xét các lợi ích của sự tha thứ hơn, nó giúp chúng ta giảm tính tự phụ.

Chúng ta có thể có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác, chúng ta có thể muốn khiển trách người khác. Tuy nhiên, khi chánh niệm – tỉnh giác có mặt, chúng ta sẽ tự thẩm tra tâm mình và sau đó chúng ta sẽ bớt xu hướng muốn đổ lỗi cho người khác. Chúng ta đọc trong “Tăng Chi bộ kinh” (Chương Mười Pháp, Phẩm Mắng Nhiêc,  IV, tại Câu Thi Na) rằng khi Đức Phật đang ở tại Câu Thi Na, Ngài đã nói rằng trước khi vị tì khưu muốn buộc tội người khác thì nên tự suy ngẫm và tự quán sát năm pháp nội tâm. Chúng ta đã đọc rằng, vị tì khưu nên tự thẩm tra liệu mình có thực hành sự trong sạch về thân nghiệp và khẩu nghiệp, liệu vị này có tâm từ đối với các vị tì khưu khác và không có ác ý. Nếu không, mọi người xung quanh sẽ nói vị này nên tự mình thực hành những điều này. Chúng ta đọc trong kinh như sau:

Lại nữa, này các tì kheo, tì kheo muốn buộc tội người khác, cần phải quán sát như sau: Ta có phải là người nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất giữ điều đã nghe hay không? Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp ấy, ta có nghe nhiều, có thọ trì, có tụng đọc bằng lời, có suy tư với ý, được khéo thể nhập với chánh kiến? Pháp ấy có nơi ta hay không? Này các tì kheo, nếu tì kheo không phải là vị đã nghe nhiều … có người sẽ nói với vị ấy như sau: “Mong rằng tôn giả hãy học tập về luật”. Người ta sẽ nói như vậy đấy.

Sau đó chúng ta đọc thấy rằng nếu một vị tì kheo muốn buộc tội người khác, vị tì kheo đó nên thẩm tra liệu mình có được học về giới luật đầy đủ hay không. Năm yêu cầu mà vị tì kheo phải tự mình thiết lập, đó là:

(Vị tì kheo tự cân nhắc): Ta nói đúng thời, không phải phi thời ? Ta nói đúng sự thật, không phải không đúng sự thật? Ta nói lời nhu hòa, không phải nói lời thô bạo? Ta nói lời liên hệ đến mục đích, không phải lời không liên hệ đến mục đích; Ta nói với tâm từ bi, không nói với tâm sân hận?.

Năm pháp này vị tì khưu phải tự an trú nội tâm. Chúng ta có thể thực hành bài kinh này trong cuộc sống hàng ngày. Khi có chánh niệm – tỉnh giác, có thể nhận ra liệu những pháp này có được thực hiện hay không. Rất khó thực hiện đầy đủ cả năm pháp này, và khi chúng ta nhận thấy điều đó, chúng ta có thể bớt đổ lỗi cho một ai đó. Khi chúng ta thực sự suy ngẫm bài kinh này, nó có thể tạo duyên phát triển chánh niệm – tỉnh giác, thứ giúp chúng ta nhận biết điều bất lợi của tâm bất thiện và lợi ích của tâm thiện. Khi đó, tâm thiện có thể được sinh khởi bởi vì nó trở thành bản chất của chúng ta. Không cần áp đặt các nguyên tắc hay phải đến một nơi đặc biệt nào đó để phát triển thiện tâm. Một người đã viết rằng chúng ta nên cố gắng nuôi dưỡng  thiện pháp trong tâm một cách tối đa. Khi đó có thể có một ý tưởng về ngã – ai đó đang cố gắng, và người đó chắc chắn sẽ thất bại. Người viết bức thư này ở trong một trường thiền và cô ta hy vọng tại đó mình có thể phát triển tâm từ. Tuy nhiên, cô ta nhận thấy cô ta đã không thể. Điều này cho thấy rằng thực tại nằm ngoài sự kiểm soát, vô ngã. Có thể nản lòng khi thấy trong một ngày có ít tâm từ quá. Chúng ta đã từng nhầm lẫn tâm từ với sự dính mắc. Chúng ta có xu hướng chỉ tốt với một vài người cụ thể nào đó, chứ không phải với bất kỳ ai mà ta gặp. Nhưng thật hữu ích khi nhận ra rằng sự dính mắc và ngã mạn đã cản trở từ tâm.

Chúng ta nên xem xét tất cả các loại thiện tâm và bất thiện tâm được sinh khởi trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày. Bạn nói rằng bạn đã từng tách biệt cuộc sống thiền định với cuộc sống thường ngày, nhưng giờ bạn đã biết, đó không phải là Trung đạo. Khi chúng ta chỉ ngồi trong một căn phòng yên tĩnh, làm sao ta biết về bản thân mình thực sự trong cuộc sống hàng ngày, trong công việc và trong mối quan hệ với những người khác? Chúng ta cần phải trung thực và không nên giả vờ là mình tốt hơn mình thực sự là, kể cả chỉ đối với chính bản thân mình.

Từ “thiền” có thể tạo ra sự nhầm lẫn. Người ta liên hệ “thiền” với việc đi tới nơi hẻo lánh và cố gắng tập trung vào cái gì đó đặc biệt. Nếu chúng ta muốn tu luyện định tâm tới mức an chỉ định, chúng ta phải sống một cuộc sống tách biệt và chúng ta phải sử dụng một đề mục của thiền chỉ để phát triển tâm an tịnh. Để phát triển thiền minh sát, chúng ta không cần phải đi đâu cả. Chúng ta nên phát triển nó một cách tự nhiên, trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta phải phải biết những tích lũy thật sự của chúng ta, phiền não của chúng ta. Nếu chúng ta không phát triển hiểu biết về các thực tại nào xuất hiện, tuệ giác sẽ không thể phát triển. Bạn hỏi về sự khác biệt giữa trí tuệ trong thiền chỉ và trí tuệ trong thiền minh sát. Mục tiêu khác nhau và vì vậy, phương pháp để đạt được chúng là khác nhau. Trong thiền chỉ, có những người trước thời Đức Phật đã nhìn thấy sự nguy hại của sự tiếp xúc giữa ngũ căn và ngũ trần. Họ đã nhận thấy phiền não theo sau ngay cái thấy, cái nghe và các sự tiếp xúc khác của ngũ căn với cảnh trần. Vì vậy họ đã sử dụng đối tượng của thiền chỉ để đạt tới an chỉ định, bởi vì trong giây phút tâm an chỉ định, không thể có bất kỳ hoạt động nào của ngũ căn. Bằng thiền định, phiền não tạm thời bị kiềm chế nhưng không bị diệt trừ. Mục tiêu của thiền minh sát là diệt trừ phiền não thông qua  hiểu biết tất cả các thực tại như chúng là. Đối tượng của thiền minh sát là danh hoặc sắc – thứ sinh khởi ngay bây giờ… Đối tượng không phải là một con người, một cơ thể hay một khái niệm nào khác, nó là pháp chân đế, một danh hay một sắc. Đối tượng của thiền chỉ có thể là khái niệm nhưng cũng có thể là pháp chân đế như tứ đại. Tuy nhiên, mục đích khi ấy không phải là để nhận ra chúng là vô ngã, mà là giảm bớt sự dính mắc vào chúng. Trong thiền minh sát, đối tượng thay đổi từ khoảnh khắc này tới khoảnh khắc khác, vì vậy nó là thực tại xuất hiện ở giây phút hiện tại. Chúng ta không bao giờ biết cái gì sẽ xuất hiện tiếp theo. Đó là sự khác biệt với thiền chỉ, vì trong thiền chỉ, ta phải chú tâm trên một đối tượng nhằm đạt được định tâm tới mức an chỉ định. Chúng ta có thể không có đủ các kỹ năng cần thiết để phát triển định tâm tới mức an chỉ định. Tuy nhiên chúng ta có thể phát triển sự an tịnh trong cuộc sống hàng ngày, một cách tự nhiên, khi hoàn cảnh đến. Ví dụ, khi chánh niệm – tỉnh giác biết đặc tính của tâm từ, tâm từ có thể sinh khởi một cách tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày, mà không cần nghĩ “tôi nên có nhiều tâm từ hơn”. Cũng có thể có giây phút tỉnh giác khi chúng ta nhận ra tâm từ như một thực tại do duyên sinh khởi, một loại danh mà không phải là ngã. Giây phút an tịnh tâm và giây phút minh sát tuệ có thể được khởi sinh một cách tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày, nhưng tất cả đều phụ thuộc vào chánh niệm – tỉnh giác. Như chúng ta đã thấy, có những mức độ chánh niệm – tỉnh giác khác nhau và tất cả đều mang lại lợi ích.

Để có hiểu biết đúng về danh và sắc, nên có chánh niệm về bất kỳ thực tại nào sinh khởi thông qua một trong sáu căn. Điều này rất khó và vì vậy chúng ta phân vân, liệu trong giai đoạn bắt đầu có nên chỉ chánh niệm trên một căn, ví dụ như những gì sinh khởi qua sự xúc chạm của thân. Liệu chúng ta có nên giới hạn đối tượng của chánh niệm? Bạn thấy rằng một số bài kinh dường như nói như vậy. Bạn đã trích dẫn câu truyện của ngài Pothila từ chú giải  Kinh Pháp cú – Dhammapada (282, chú giải 282). Một vị A- la- hán đã hướng dẫn vị tì kheo Pothila qua ẩn dụ sau: Nếu một con kỳ đà trú trong hang, hang ấy có sáu cái lối ra vào. Muốn bắt con kỳ đà ấy, phải đóng kín 5 lối ra vào, con kỳ đà sẽ đi ra ở lối thứ sáu và nó sẽ bị bắt. Vì vậy, ngài Pothila nên thu thúc năm trong sáu căn và chỉ nhận thức ý căn. Sau đó chúng ta đọc thấy rằng ngài đã chánh niệm trên thân và bắt đầu phát triển tuệ giác. Sau khi nghe Đức Phật thuyết giảng một đoạn kệ, ngài đã đạt A la hán quả. Đoạn kệ như sau:

Tu tập sinh nhiều trí, không tu tập trí hư hoại
Biết rõ hai con đường, tái sinh và không tái sinh
Hãy tự mình chọn lấy. Giúp trí tuệ vững mạnh.

Khi trí tuệ đã hoàn mãn, chúng ta sẽ không còn chút dao động nào trước được và mất và những ngọn gió đời khác. Cái gì sẽ diễn ra nếu chúng ta tự nói rằng chúng ta giờ đây sẽ chỉ tập trung hướng tâm vào một căn, như thân căn chẳng hạn? Khi đó sẽ có chánh niệm về thực tại sinh khởi, nhưng có cả ý tưởng về ngã – người cố gắng hướng tâm trên một đối tượng, người lựa chọn đối tượng của chánh niệm. Người đó nghĩ về nó và cố gắng tập trung vào nó. Trong khi người đó cố gắng kiểm soát niệm, anh ta sẽ không còn biết rằng mỗi thực tại đang khởi sinh bởi những nhân duyên riêng của nó, nó nằm ngoài sự kiểm soát. Một số bài kinh dường như nhấn mạnh đến thân, một số bài kinh khác lại nhấn mạnh đến cảm thọ hoặc các thực tại khác. Tại sao lại như vậy? Đó chỉ là để nhắc nhở chúng ta rằng không nên quên thực tại nào đang sinh khởi. Khi có sự nhận biết về đặc tính cứng thông qua thân căn, chúng nên tìm hiểu chúng với chánh niệm nhằm biết đó chỉ là một loại sắc, không phải là “cơ thể của tôi”. Cũng có cả danh – cái đang kinh nghiệm cái cứng, hoặc danh – cái đang cảm nhận. Nếu chúng ta không nhận thức về danh đang sinh khởi, chúng ta sẽ tiếp tục dính mắc vào ý niệm về ngã – người đang kinh nghiệm đối tượng. Chúng ta nên biết rằng chỉ có một danh uẩn đang kinh nghiệm đối tượng, không phải là ngã. Tuệ minh sát đầu tiên  là phân biệt sự khác nhau giữa đặc tính của danh và đặc tính của sắc. Vì vậy, cần tìm hiểu về cả danh và sắc đang sinh khởi với chánh niệm. Điều này tùy thuộc vào việc có thường xuyên hơn chánh niệm về tính cứng, về đối tượng của thị giác, về cảm xúc, hay về bất kỳ thực tại nào khác. Mỗi người sẽ khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta không nên cố ý giới hạn đối tượng của chánh niệm, chúng ta không nên đặt ra bất kỳ nguyên tắc nào, bởi vì khi đó có mong muốn và điều này cản trở chánh niệm thực sự.

Cuối cùng, tất cả đối tượng xuất hiện qua sáu căn đều cần phải được nhận biết. Ngài Pothila không thể đạt đạo quả A la hán nếu ngài không hay biết tất cả các thuwch tại. Một số người có khả năng phát triển cả thiền chỉ và thiền minh sát. Khi phát triển thiền chỉ, chúng ta phải vượt qua sự dính mắc vào các đối tượng ngũ căn. Tuy nhiên, để phát triển trí tuệ, phải có hiểu biết về tất cả danh và sắc được sinh khởi. Tại khoảnh khắc chánh niệm về đối tượng xuất hiện qua sáu căn, có sự  thu thúc lục căn ( indriya samvara sila). Tại khoảnh khắc đó, có sự “chặn lại” các bất thiện tâm đối với những gì xuất hiện qua các giác quan.

Chúng ta có thể nghĩ rằng một số bài kinh chỉ nhấn mạnh về một đối tượng của chánh niệm, nhưng quan trọng là cần đọc tất cả bài kinh. Ví dụ, chú ta đọc trong Tương ưng bộ kinh (Thiên Đại Phẩm, Tương Ưng Đạo Phẩm Tà Tánh, IX, Thọ) rằng Đức Phật, khi ở tại Savatthi, đã nói với các tì kheo:

 Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây là ba thọ này.

Muốn liễu tri ba thọ này cần phải tu tập Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Muốn liễu tri thọ này cần phải tu tập Thánh đạo Tám ngành.

Khó để biết được đặc tính thực sự của cảm thọ, để biết nó như là danh, khác với sắc. Chẳng phải là chúng ta cứ nhầm lần giữa cảm thọ trên thân và sắc là đặc tính cứng – cái tác động lên thân thể hay sao? Luôn có cảm thọ nhưng chúng ta không có chánh niệm về nó, chúng ta bị dính mắc vào cảm thọ và coi nó là ngã. Bài kinh này có thể nhắc nhở chúng ta hãy hay biết về các cảm thọ. Bài kinh sau (X) nhắc nhở chúng ta hãy chánh niệm về các đối tượng ngũ căn. Chúng ta đọc thấy rằng Đức Phật đã giảng giải cho Uttiya về “5 pháp tăng trưởng các dục”. Đức Phật nói:

Các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn, các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận nhận thức… các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Năm dục công đức này, này Uttiya, được Ta nói đến.

Muốn đoạn tận năm dục công đức này, này Uttiya, cần phải tu tập Thánh đạo Tám ngành. Thế nào là Thánh đạo Tám ngành? Tức là chánh tri kiến… chánh định. Muốn đoạn tận năm dục công đức này, này Uttiya, cần phải tu tập Thánh đạo Tám ngành này.

Chúng ta không thể tự nhiên đoạn tận năm dục lạc này. Điều ấy chỉ có thể thực hiện được thông qua sự hiểu biết đúng đắn về các đối tượng như chúng là. Chúng ta phải bắt đầu hay biết về bất kỳ đối tượng nào sinh khởi qua một trong sáu căn nhằm tăng trưởng sự hiểu biết.

Bạn đã hỏi làm thế nào mà chúng ta có thể phân biệt sự khác nhau giữa danh và sắc, và đặc biệt là sự khác nhau giữa các hiện tượng trên thân và kinh nghiệm về các hiện tượng trên thân, điều này thực sự rất khó. Liệu có phải lại một lần nữa có ý tưởng về ngã – người có thể lựa chọn đối tượng nhằm hay biết về chúng? Chúng ta hiểu rằng cần biết sự khác biệt giữa danh và sắc nhưng không nên có bất kỳ sự lựa chọn đối tượng hay biết nào. Chúng ta vô minh về tất cả các đối tượng. Liệu chúng ta có biết về đối tượng thị giác như nó là, cái thấy như nó là, cảm thọ như nó là hay không? Khi đối tượng thị giác xuất hiện, có thể có chánh niệm về nó, nhờ vậy hiểu biết về nó có thể được phát triển. Hiểu biết đúng có thể nhận biết nó chỉ là sắc, khác với danh. Cũng có thể có chánh niệm về các đối tượng khác được sinh khởi nhưng chúng ta không nên có ý niệm rằng sau chánh niệm về đối tượng thị giác phải có chánh niệm về cái thấy nhằm nhận biết sự khác biệt giữa danh và sắc. Có thể có chánh niệm về cảm thọ hoặc âm thanh, chúng ta không thể định hướng cho niệm được. Tương tự như vậy khi đạt đến tầng tuệ đầu tiên, khi nhận biết rõ sự khác biệt giữa danh và sắc khi chúng sinh khởi. Đối tượng của chánh niệm không chỉ là cái thấy và đối tượng thị giác, cái nghe và âm thanh. Chúng là bất kỳ loại sắc nào xuất hiện và loại danh nào sinh khởi, không có sự lựa chọn đối tượng, không có định trước rằng chúng cần phải xuất hiện như thế nào. Khi chúng ta lo lắng làm sao để chúng ta có thể biết sự khác biệt giữa một loại sắc cụ thể với một loại danh cụ thể là lúc chúng ta không phát triển sự biết. Vì vậy, không có đơn thuốc nào cho chúng ta để đi tìm sự khác biệt giữa danh và sắc. Tất cả đều phụ thuộc vào sự phát triển của chánh niệm – tỉnh giác.

Khi chúng tôi ở Ấn Độ, Khun Sujin đã nói rằng nếu chúng ta không biết đặc tính của chánh niệm, chánh niệm không thể được vun bồi. Mặt khác, chỉ khi chánh niệm sinh khởi, chúng ta mới biết đặc tính của nó. Dường như là cái vòng luẩn quẩn. Khun Sujin đã nói đi nói lại điều này, “ Hãy vun bồi nó ngay bây giờ”. Chúng tôi cứ băn khoăn làm sao có thể làm được. Câu trả lời rằng, thông qua việc học hỏi, suy ngẫm về chúng, thông qua việc đưa ra câu hỏi, tư tuệ  sẽ dần được xây đắp. Đó là điều kiện để thỉnh thoảng có chánh niệm trực tiếp về một thực tại khi nó sinh khởi. Chúng ta cần kiên nhẫn lắng nghe và suy ngẫm đi suy ngẫm lại, chúng ta không nên mong tạo ra chánh niệm. Khun Sujin nói: “tôi đảm bảo rằng, nếu không mong có chánh niệm, nó sẽ sinh khởi”. Tại sao chúng ta cứ thảo luận mãi về đối tượng thị giác? Nhằm nhắc nhở chúng ta hãy tìm hiểu nó với chánh niệm. Khi chúng ta thấy, chúng ta lập tức suy nghĩ về con người hay đồ vật xung quanh chúng ta, đó là bởi vì chúng ta luôn luôn làm như vậy, chúng ta quen làm như vậy. Tuy nhiên, giờ đây chúng ta có thể thay đổi sự tích lũy của mình, chúng ta có thể nhớ rằng cái gì xuất hiện qua nhãn căn chỉ là đối tượng thị giác. Sẽ lại xuất hiện suy nghĩ về con người, nhưng khi đó chúng ta có thể nhớ rằng điều này xảy ra vì chúng ta đã quen làm như vậy. Bằng cách này, chúng ta sẽ bớt dính mắc vào suy nghĩ của mình. Chúng ta cần thảo luận về nhiều thực tại, và khi đó, với việc không có sự lựa chọn về đối tượng cụ thể nào, sẽ có nhân duyên để bản chất tự nhiên của danh và sắc dần dần hiển lộ. Chúng ta có thể tưởng rằng, chỉ cần chánh niệm về đối tượng thị giác một vài lần là có thể biết nó là cái gì. Không đủ đâu. Đối tượng thị giác ở trước mặt ta nhưng chúng ta thường quên nó. Chúng ta không phải nghĩ về nó, nó ở đó và nó xuất hiện qua mắt. Chúng ta không thể nhìn thấy âm thanh, chúng ta chỉ có thể nhìn thấy cái in dấu lên nhãn căn. Có thể có nhân duyên để học hỏi danh và sắc với chánh niệm, nếu chúng ta ghi nhớ rằng thật ích lợi khi biết rằng (về thực chất) chúng ta không thấy người nào cả, điều đó sẽ giúp chúng ta bớt dính mắc vào mọi người . Cũng có cả danh đang kinh nghiệm đối tượng thị giác. Đó không phải là ngã, đó chỉ là một thực tại đang kinh nghiệm đối tượng. Chúng ta thường bỏ lỡ cơ hội để nghiên cứu đối tượng – chúng luôn có ở đó, hàng ngày. Chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu mọi đối tượng khi chúng sinh khởi qua tất cả các căn. Chỉ có thể có chánh niệm về một thực tại sinh khởi qua một trong sáu căn tại một thời điểm, và chúng ta không nên nghĩ hay lo lắng về nó rằng đó là danh hay sắc. Tại thời điểm lo lắng hay phân vân, sẽ không có chánh niệm, tâm lúc đó là bất thiện. Chúng ta nên biết rằng, không thể đạt được giác ngộ với việc vun bồi tứ niệm xứ chỉ trong một kiếp sống. Chánh niệm về thực tại là một tích lũy mới có được một cách từ từ. Chúng ta đọc trong Tăng Chi Bộ Kinh (Phần 3, Ch XIV, khổ. 131, Phẩm KChiến sĩ) rằng một chiến sĩ có ba đức tính: kẻ chiến sĩ là người bắn xa, bắn nhanh như tia chớp và đâm thủng được vật lớn. Một tì kheo đáng được kính trọng cũng nên có ba đức tính ấy.  Kinh nói như sau:

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn xa?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phàm có sắc/thọ/ tưởng/ hành/ thức gì, quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, tất cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

Năm uẩn, tất cả danh và sắc do duyên khởi nên được nhận biết như chúng là. Sau đó chúng ta đọc thấy rằng vị tì kheo bắn như chớp nhoáng khi vị này hiểu được Tứ Thánh đế: khổ, sự sinh khởi của khổ, sự diệt khổ và con đường dẫn đến diệt khổ. Vị tì kheo đâm thủng được vật lớn khi vị ấy đâm thủng bức màn vô minh to lớn.

Nếu chúng ta muốn học về nghệ thuật bắn cung tên, chúng ta phải có sự kiên trì, nhẫn nại vô cùng để học được kỹ năng này. Như vậy chúng ta phải có sự kiên trì, nhẫn nại rất lớn để vun bồi tứ niệm xứ. Phải học mà không có ý niệm về có người đang học. Cần có tiền đề đúng đó để có thể phát triển hiểu biết đúng đắn. Người muốn bắn xa và có thể nhắm trúng đích cũng giống như người đã phát triển trí tuệ một cách sắc bén đến mức  có thể thấy biết như thật về thực tại sinh khởi. Trí tuệ nhanh như một tia chớp và nó có thể xé tan bức màn vô minh dày đặc. Vì  vô minh được tích lũy sâu dày trong vô lượng kiếp, nó  không thể được đoạn trừ trong một thời gian ngắn.

 

Với tâm từ
Nina Van Gorkom

 

(Chuyển ngữ: Thanh Mai)


Bức thư vipassana 7

Bức thư vipassana 7

Hague, ngày 20 tháng 5 năm 1991

Sarah thân mến!

Cảm ơn về các cuốn băng mà bạn đã thu ở Băng Cốc khi bạn và Jonathan thăm Khun Sujin. Những cuộc thảo luận diễn ra ở những nơi khác nhau: trong công viên Safari, trong xe ô-tô, trong nhà hàng với nhạc nền thật to, trong công viên có vườn Nhật bản và trong nhà của Khun Sujin. Khung cảnh thì luôn thay đổi nhưng chúng chỉ là danh và sắc: các đối tượng thị giác và cái thấy, âm thanh và cái nghe và tất cả các  thực tại khác. Chúng xuất hiện nhưng ta cần phải có những lời nhắc để không quên chánh niệm về chúng. Trong thư, bạn viết là bạn đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho các cuộc Pháp đàm vào các buổi chiều trong ba ngày bạn ở Băng Cốc, nhưng mọi thứ hóa ra lại khác với những gì bạn mong đợi. Một ngày Khun Sujin bị ốm và bà không thể nói  nhiều. Tuy nhiên, bạn cũng đã có một buổi nói chuyện hay với em gái của bà và với Khun Duangduen. Chúng ta định ra các kế hoạch tuyệt vời nhưng ta chẳng bao giờ biết cái gì sẽ xảy ra, bởi vì cái gì xảy ra đều là do nhân duyên. Thư của bạn là một lời nhắc lại về sự thật này. Tôi thích câu nhắc nhở của bà Khun Sujin lắm “Cuộc sống hàng ngày là một phép thử cho sự vun bồi hiểu biết và tuệ giác”. Chúng ta ở các hoàn cảnh khác nhau, có khi thì dễ chịu, lúc thì khó chịu, nhưng ta không nên quên rằng các thực tại đang xuất hiện nơi sáu căn, dù ta ở bất kỳ đâu.

Bạn nói về stress trong cuộc sống hàng ngày, khi bạn làm việc. Bạn thấy khó để nhớ rằng chỉ có danh và sắc, và đây là vấn đề chung của tất cả chúng ta . Khi chúng ta cố loay hoay, vội vã để hoàn thành công việc của mình như lau chùi nhà cửa hay nấu nướng, ta tin rằng ta cần nhiều thời gian thảnh thơi và nhièu thời gian để đọc kinh hơn. Nhưng, như Jonathan đã nhận xét, liệu ta có thực sự dùng thời gian rảnh cho Giáo Pháp, hay ta sẽ làm các hoạt động khác, như chơi với máy tính, hay dùng nó để giải quyết một vấn đề gì đó? Chính các tâm khác nhau thôi thúc các hoạt động của ta, một vài tâm thì là thiện, nhưng các tâm bất thiện thì nhiều hơn nhiều. Chúng sinh khởi do nhân duyên, và thay vì cố gắng kiểm soát chúng, ta nên phát triển hiểu biết của mình về chúng. Tôi thích câu trả lời của Khun Sujin rằng, ta không nên lo lắng, vì lo lắng là tâm bất thiện và rằng chúng ta nên phát triển trí tuệ  một cách thư giãn. Tôi dẫn ra lời của bà:

…Hãy vun bồi một cách thư giãn, đừng vội. Bạn không nên muốn có kết quả nhanh chóng. Ta nên hiểu mức độ trí tuệ của chính mình. Khi có giây phút không hiểu, thì lúc đó không thể chuyển lại thành hiểu được. Nhưng, khi không có cái hiểu về đối tượng thị giác, ta có thể bắt đầu phát triển sự hiểu biết của mình.

Khun Sujin kể về cuộc sống hàng ngày của bà. Bà đi chợ, bà chơi trò xếp chữ và tiếp khách. Không phải lúc nào bà cũng đọc Kinh, nhưng bà nghe Pháp hàng ngày qua đài: Bà theo con đường Trung Đạo. Không nên có một ý tưởng rằng ta nên phát triển tứ niệm xứ (satipatthana). Ta không thể đoán trước được giây phút tới sẽ như thế nào. Khi có dính mắc, ta có thể xem nó chỉ như là một thực tại. Bà Khun Sujin chỉ ra rằng chúng ta cần rất nhiều “nguyên liệu” cho sự phát triển chánh kiến. Các nguyên liệu này là các tâm sở tịnh hảo (sobhana cetasikas) đã được tích lũy và có thể hỗ trợ lẫn nhau để chánh kiến có thể phát triển đến một mức độ nào đó, khi nó có thể thoát khỏi tà kiến về ngã. Một người đầu bếp cần rất nhiều nguyên liệu để làm nên một bữa ăn. Cũng như vậy, rất nhiều nguyên liệu cần có cho một khoảnh khắc hiểu chính xác về  thực tại đang có mặt. Rất cần thiết phải tích lũy nhiều thời gian nghe, đọc, nghiên cứu và nghiền ngẫm. Khi chúng ta học giáo pháp kỹ lưỡng, ta thu thập các nguyên liệu giúp dẫn đến sự hiểu biết trực nhận sau này. Bà Khun Sujin nói:

Ta đọc để hiểu về khoảnh khắc này

Ta nghe để hiểu về khoảnh khắc này

Ta nghiền ngẫm để hiểu về khoảnh khắc này

Khi ta hay biết mà vẫn không có tiến bộ, ta có thể biết lý do: không có hiểu biết trọn vẹn  về các chi tiết của Giáo Pháp.

Bạn băn khoăn tại sao ta nên biết kỹ lưỡng về Tứ Đại, Đất, Nước, Lửa và Gió, vốn là các sắc cơ bản có các đặc tính cứng, dính kết, nhiệt độ và chuyển động sinh khởi với mỗi nhóm sắc. Tôi thích cuộc thảo luận của bạn với Khun Sujin, vì mọi người thường băn khoăn tại sao cần phải biết những chi tiết này. Bạn đã hỏi tại sao nếu chỉ hay biết cảm giác cứng khi nó xuất hiện thì chưa đủ. Khun Sujin đã trả lời rằng khi ta chỉ hay biết về cảm giác cứng thôi thì chưa đủ. Có rất nhiều thực tại xuất hiện và chúng được tạo duyên bởi nhiều yếu tố khác nhau. Đối tượng thị giác là sắc xuất hiện qua nhãn căn, nhưng đối tượng thị giác không sinh khởi một mình, chúng sinh khởi trong một nhóm các sắc khác, mà trong đó có tứ đại. Các đối tượng thị giác đa dạng vì chúng được duyên bởi sự phối hợp của tứ Đại. Các kiến thức chi tiết giúp ta nhận ra rằng những gì mình kinh nghiệm chỉ là các thực tại do duyên tạo. Chúng ta càng hiểu về các nhân duyên, ta càng hiểu rằng không có ngã.  Khun Sujin cũng nói là những gì ta học được ở kiếp này sẽ bị quên khi ta tái sinh trong kiếp sau, nhưng khi ta nghe lại [ở kiếp sau], sẽ có nhân duyên giúp ta hiểu Pháp sâu sắc hơn. Việc học Giáo Pháp không bao giờ mất đi.

Cũng có ích khi ta biết về các loại tâm khác nhau sinh khởi trong các lộ trình vì đây chính là cuộc sống thường nhật của chúng ta. Như Khun Sujin nói, ta học để hiểu về giây phút này. Ta không nên quên mục đích của việc học. Khi có sự tiếp xúc với đối tượng thị giác, âm thanh hay các đối tượng của giác quan khác qua sáu căn, các đối tượng này được kinh nghiệm bởi các tâm sinh và diệt, nối tiếp nhau trong các lộ trình. Trong mỗi một lộ trình, có các tốc hành tâm, có thể là thiện hoặc bất thiện, nhưng hầu như chúng ta toàn không biết về điều này. Từ các đối tượng được kinh nghiệm qua các căn khác nhau, ta tạo dựng các câu chuyện dài, ta bị chìm đắm trong suy nghĩ của mình. Các tâm suy nghĩ sinh khởi trong lộ trình của ý môn, chúng có thể là tâm thiện, nhưng phần lớn là bất thiện. Ta dính mắc với mọi người xung quanh hoặc ta khó chịu về họ và ta quên rằng chẳng có ai cả, chỉ là danh và sắc. Khun Sujin nhấn mạnh trong cuộc thảo luận rằng khi ta đi ngủ, những câu chuyện ta dựng nên trong ngày bị quên lãng. Đúng là khi tôi ngủ, tôi không biết tôi là ai, tôi đã lấy ai hay tôi đang sống ở đâu. Ta quên đi niềm vui, sự sợ hãi và các lo lắng. Khi ta ngủ, và không mơ, không có lộ trình của các tâm kinh nghiệm các đối tượng tiếp xúc qua sáu căn. Khi đó có các tâm hộ kiếp (bhavangacittas), tâm có chức năng duy trì sự tương tục trong kiếp sống, và những tâm này kinh nghiệm cùng một đối tượng với tái sinh thức, là đối tượng được kinh nghiệm ngay trước tử thức của kiếp trước. Biết các chi tiết này sẽ có ích, chúng giúp ta hiểu được những câu chuyện mà ta đang đắm chìm vào bây giờ thực ra chẳng là gì cả. Chúng chỉ tồn tại chừng nào ta còn nghĩ về chúng, nhưng chúng sẽ bị quên ngay khi ta ngủ. Khun Sujin nói rằng ta không nên đợi đến lúc ta đi ngủ để quên đi các câu chuyện mình đã dựng nên, mà ta nên buông chúng từ ngay bây giờ. Dính mắc không mang lại bình an. Hiểu rằng mọi thứ chỉ là tạm bợ tạo duyên cho an tịnh. Ta có thể nhân ra rằng các lộ trình của tâm kinh nghiệm các đối tượng giác quan lướt qua như một nháy sáng, và rồi sau đó là các suy nghĩ về chúng. Ta sống trong thế giới của suy nghĩ từ khi sinh ra đến lúc chết. Ta có các cảm thọ khác nhau vì do các suy nghĩ, nhưng (kỳ thực) mọi thứ qua nhanh như một nháy sáng, rất tạm bợ, vô thường. Sau cái thấy, là suy nghĩ, sau cái nghe, là suy nghĩ. Những gì chúng ta thường cho là trường tồn xuất hiện trong một khoảnh khắc rất ngắn và sau đó hoàn toàn biến mất. Ta đã nghe điều này rồi, nhưng được nghe nhắc lại sự thật này thật là tốt. Khun Sujin đã nhận xét:

Trong ý niệm của bạn, dường như là mọi thứ là trường tồn, nhưng mọi thứ đều rất ngắn ngủi, chẳng có gì cả. Khi ai đó nói, “ Cuộc đời thật ngắn”, ta nên nhớ rằng mỗi khoảnh khắc- sát na còn ngắn hơn nữa. Nó không bao giờ quay lại. Ta nghe chim hót nhưng nó trôi qua trong một tích tắc.

Bạn đã nhận xét rằng mới chỉ có các suy nghĩ về sự vô thường mà thôi, và đó là một hình thức thiền chỉ (samatha) với vô thường làm đối tượng. Bạn đưa ra điểm này rất hay. Chúng ta đều có cảm giác rằng mình hiểu về vô thường trên lý thuyết và rằng ta có thể suy nghĩ về nó, nhưng ta không trực tiếp kinh nghiệm chân đế. Tôi dẫn ra một đoạn trong phần nói chuyện của bạn với Khun Sujin

Khun Sujin: Có thể có những khoảnh khắc của trí tuệ, hiểu về thực tại sinh diệt, nhưng điều này còn phụ thuộc liệu sự phát triển của tuệ giác đã đạt đến mức đó hay chưa. Đây không phải là vấn đề của mong muốn hay cố gắng, mà đó là vấn đề của sự vun bồi tuệ giác.

Sarah: Nói về các tầng tuệ thường làm ta lo lắng. Tại sao ta không chỉ cần chánh niệm về các đặc tính đang sinh khởi?

Khun Sujin: Kể cả khi nói về các tầng tuệ, ta cũng không cần phải lo lắng về chúng. Có thể ở đây có sự vô minh và dính mắc. Ta lo lắng, muốn trải nghiệm các tầng tuệ. Ta phải phát triển sự hiểu biết đã. Sau đó, ta sẽ không còn lo lắng về các tầng tuệ. Ta sẽ biết rằng ta sẽ đạt các tầng tuệ một ngày nào đó, nếu con đường đi của ta là đúng. Mỗi  khoảnh khắc hiểu biết sẽ dẫn đến hiểu biết nhiều hơn. Chỉ có sáu căn mà thôi.

Cái thấy tiếp nối qua các kiếp sống. Nếu một người bây giờ chết và được tái sinh trong cõi thiên chẳng hạn, cái thấy sẽ theo ngay tức thì và nó luôn là như thế từ vô lượng kiếp . Một người có thể thấy rất nhiều và không hiểu về cái thấy cho đến khi nghe Pháp và bắt đầu phát triển trí tuệ. Khi đó sẽ có sự hiểu biết về cái thấy như nó là.

Nếu một người nghĩ rằng việc phát triển trí tuệ là quá khó và rằng nên làm các việc khác để có chánh niệm hơn, người đó đã không thấy được giá trị của chánh niệm về thực tại và hiểu biết về chúng.

Bài kinh sau nhắc chúng ta rằng trí tuệ không phát triển chỉ vì ta mong ước, và rằng nó chỉ tăng trưởng bằng cách vun bồi nó ngay bây giờ. Ta đọc trong Tăng Chi Bộ Kinh (Quyển 3, Chương X, Đoạn 91, Cấp thiết):

Này các Tỷ-kheo, có ba việc cấp thiết này, người nông phu gia chủ cần phải làm. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người nông phu gia chủ mau lẹ khéo cày thửa ruộng, khéo bừa thửa ruộng, sau khi mau lẹ khéo cày thửa ruộng, khéo bừa thửa ruộng, liền mau lẹ gieo hạt giống, sau khi mau lẹ gieo hạt giống, liền mau lẹ cho nước vô, cho nước ra. Này các Tỷ-kheo, đây là ba việc cấp thiết mà người nông phu gia chủ cần phải làm.

Người nông phu gia chủ ấy, này các Tỷ-kheo, không có thần lực hay không có uy lực (để ra lệnh): “Hôm nay lúa của ta được mọc lên, ngày mai chúng sẽ trổ hạt, ngày kế tiếp chúng sẽ chín”. Nhưng chính theo thời gian của người nông phu gia chủ, các cây lúa do sự hướng dẫn của thời tiết được mọc lên, được trổ hạt và được chín. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có ba công việc cấp thiết này Tỷ-kheo cần phải làm. Thế nào là ba?

Chấp hành tăng thượng giới học, chấp hành tăng thượng định học, chấp hành tăng thượng tuệ học. Ba công việc cấp thiết này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải làm. Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, không có thần lực hay không có uy lực (để ra lệnh): “Hôm nay, tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ, ngày mai cũng vậy, ngày kế tiếp cũng vậy”. Nhưng này các Tỷ-kheo, chính do thời gian Tỷ-kheo ấy sử dụng để học tập tăng thượng giới, để học tập tăng thượng tâm, để học tập tăng thượng tuệ, mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn của ta để chấp hành tăng thượng tuệ học”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

Việc chấp hành tăng thượng giới, tăng thượng định và tăng thượng tuệ chính là tam học Giới, Định, Tuệ của con đường Bát Chánh Đạo. Ta có thể giữ mãi suy nghĩ rằng việc chứng ngộ chân lý là quá khó. Ta trì hoãn chánh niệm về giây phút hiện tại và ta vẫn mong rằng sẽ có lúc sự giác ngộ sẽ xảy ra. Ta không nên đợi có một phép màu. Nếu không có sự vun bồi trí tuệ ngay từ bây giờ, các phiền não sẽ không thể bị đoạn trừ. Ta không thể rút ngắn quá trình phát triển trí tuệ, nhưng khi ta hiểu rằng phát triển con đường Bát Chánh Đạo là cách duy nhất để diệt trừ vô minh, đó sẽ là nhân duyên cho chánh niệm. Đồng thời, cũng cần phải nhớ rằng không nên có ý niệm về một cái ngã đang cố gắng chánh niệm. Không nên có dính mắc vào chánh niệm, vì nếu vậy, chánh niệm không thể sinh khởi. Chánh niệm sinh khởi vì các nhân duyên riêng của nó, đó là học Giáo Pháp, nghe và nghiền ngẫm. Ta không nên đổ lỗi sự thiếu chánh niệm của mình cho hoàn cảnh. Khun Sujin nói:

Khi ta muốn kiểm soát hoàn cảnh, ta đang tạo thêm các câu chuyện, các khái niệm. Ai thấy được giá trị của chánh niệm sẽ có chánh niệm ngay tức thì và sẽ không mong phải đi tới đâu khác nữa. Người đó biết rằng cần một thời gian lâu dài để phát triển tuệ giác.

Bạn đã có thảo luận [với Khun Sujin] về nhận biết sự khác nhau giữa thiện và bất thiện. Chúng ta biết trên lý thuyết rằng chúng khác nhau, nhưng ta cũng thấy khó mà biết một cáchtrực tiếp khi tâm là thiện hay bất thiện. Khi ta giúp một ai đó, thì lúc đó có các tâm thiện, nhưng cũng có thể có cả tâm bất thiện dính mắc với người ta giúp hoặc dính mắc với “tâm thiện của ta”. Các tâm rất vi tế và chúng thay đổi nhanh chóng.” Khun Sujin nói rằng cần phải biết sự khác nhau giữa thiện và bất thiện, nếu không, ta sẽ không thể phát triển được thiện pháp. Bà giải thích rằng chúng ta chỉ có thể biết được giây phút hiện tại:

Nếu ta không nói về giây phút này, làm sao ta có thể biết liệu tâm là thiện hay bất thiện? Biết điều này trong cuộc sống hàng ngày là rất có ích. Khi bạn nghĩ về lợi ích của người khác mà không có dính mắc, có thể có thiện, ở cấp độ bố thí. Mọi người có thể có nhiều tâm thiện trong một ngày nhưng họ không biết. Chánh kiến thì hiểu rằng đó là các danh khác khác nhau.

Bà Khun Duangduen đã mời Jonathan uống cà phê. Khi bà làm việc này cho Jonathan mà không có dính mắc, tâm đó là thiện. Thông thường, ta lo lắng quá nhiều về việc phát triển thiện pháp. Khun Sujin nhận xét rằng một số người nghĩ và nghĩ và nghĩ mãi xem có thể có thêm nhiều  thiện pháp bằng cách nào, trong khi đó, người khác chỉ cần làm các điều thiện bất kỳ khi nào có thời gian và cơ hội. Ta cứ lo mãi về tâm thiện và cả về tâm bất thiện của ta. Tôi để ý rằng Khun Sujin nhấn mạnh vài lần rằng ta không nên lo lắng và rằng ta nên phát triển chánh kiến một cách thư giãn. Bà lặp lại những gì bà nói ở Ấn Độ về tâm sân của bà. Bà nói rằng khi bà sân, bà không thấy có vấn đề gì với cái sân ấy, vì sân khởi sinh do các nhân duyên của nó. Bà không nghĩ “Ôi, tôi đã học rất nhiều và vì vậy, tôi không nên sân chứ.” Gabi đã nghe các băng của bà nói được thu âm ở Ấn Độ và cô ấy viết cho tôi về những phản ứng của cô liên quan đến chủ đề này:

Tôi rất ngạc nhiên khi nghe Khun Sujin nói , “Cái sân của tôi không làm tôi bận tâm mấy, tôi không muốn kiểm soát chúng”. Tôi bị choáng bởi những lời này và chúng khiến tôi có một cách tiếp cận hoàn toàn mới với sân và vô ngã, annata. Khun Sujin thường nói, “Đó không phải là cái sân của bạn”, nhưng điều này vẫn chưa thuyết phục tôi lắm. Chẳng nhẽ một người không nên cố gắng cải thiện mình, không nên ép mình một chút sao, và nếu người đó có ý chí để làm điều này, họ có thể thành công không? Các buổi hội thảo, tập huấn được tổ chức để giúp những người có vấn đề trong quan hệ và giúp họ thay đổi hành vi, và những hội thảo đó đã thành công.  Vậy mà bây giờ, tôi nghe từ Khun Sujin, “Cái sân không làm tôi bận tâm và tôi chẳng muốn kiểm soát chúng”. Tại sao tôi lại bị bận tâm bởi cái sân của tôi? Bởi vì các cảm giác đi kèm là khó chịu và vì những người bạn của tôi không thích tôi sân, hoặc họ không ngưỡng mộ tôi nữa.

Ta không thể ngăn không nghĩ, nhưng quan trọng là không quên rằng các pháp là vô ngã, ngoài tầm kiểm soát. Tôi nghĩ rằng ta có thể nói rằng Khun Sujin không muốn kiểm soát cái sân “của bà ấy” và vì thế không bị nó làm xao động.

Đó chính là câu trả lời. Khi một người nhận ra rằng những gì xuất hiện “chỉ là một thực tại”, rằng đó là do duyên khởi, chứ không phải là do ngã, người đó sẽ bị xao động ít hơn. Điều này không có nghĩa là ta không nên phát triển các phẩm chất tốt đẹp. Ta nhận thấy rằng ta thường thất bại nhưng thay vì có sự khó chịu, khi đó có thể có hiểu biết về thực tại đang sinh khởi, và nhờ đó, các tâm sẽ là tâm thiện. Sẽ có sân nữa nhưng sau đó lại có các khoảnh khác của hiểu biết tiếp. Khi chúng ta thực sự nghiền ngẫm các thực tại, và có chánh niệm về chúng, sẽ có hiểu biết sắc bén hơn về các đặc tính của chúng. “Một người không lo lắng sẽ tiếp tục phát triển hiểu biết, Khun Sujin nói.

Bạn uống trà và vắt quả chanh và lúc đó Khun Sujin nhắc bạn về giây phút hiện tại. Bà nói: “Khi bạn vắt quả chanh, thay vì suy nghĩ về chánh niệm, có thể có hiểu biết về các đặc tính xuất hiện”. Chúng ta nghĩ và lo lắng về chánh niệm nhưng ta quên để ý các đặc tính mềm hay cứng xuất hiện liên tục. Anh Jonathan nhận xét rằng các đặc tính của vô ngã không xuất hiện. Khun Sujin trả lời:

Bây giờ có một đối tượng thị giác. Có thể có hiểu biết rằng đó chỉ như là một đối tượng thị giác. Ta sẽ học cách bắt đầu phân tách nhãn căn với ý căn. Đối tượng thị giác chỉ là một thực tại. Khi hiểu điều này, ta có thể xóa bỏ ý niệm là có cái gì trong đó. Khi một người bắt đầu quá trình phát triển hiểu biết, sẽ không có sự phân tách giữa danh và sắc, chúng đều trộn vào nhau. Vì vậy, sẽ không thể xóa bỏ ý niệm về ngã ở các thực tại. Bằng việc phát triển hiểu biết về thực tại từng chút một, ta có thể học rằng thực tại đang  kinh nghiệm đối tượng hiện giờ chỉ là một danh, nó là một thực tại khác với các đối tượng thị giác được nhìn thấy. Nếu ta hiểu điều này, ta sẽ hiểu rằng không có ai, hay cái gì trong đó. Để hiểu rõ ràng về đối tượng thị giác, cái thấy, âm thanh, cái nghe, của tất cả các thực tại diễn ra qua sáu căn phải mất thời gian.

Khi ta nhìn thấy ai đó, ta có thể nhớ rằng nó cũng giống như nhìn vào trong gương, vì chỉ có đối tượng thị giác là được kinh nghiệm và chẳng có người nào cả. Chúng ta tự tạo các chuyện về người. Chúng ta bắt đầu hiểu rằng đó là đối tượng thị giác, không phải một vật hay một người. Đây chẳng phải bước đầu của sự hiểu về bản chất vô ngã của đối tượng thị giác hay sao? Khun Sujin đã chỉ ra vài lần trong buổi thảo luận rằng khi một người nhìn thấy giá trị của chánh kiến, điều đó sẽ làm duyên ngay lập tức cho chánh niệm. Ta có thể nói rằng ta hiểu giá trị của chánh kiến, nhưng liệu ta có thực sự nghĩ vậy không ? Đoạn kinh sau nhắc nhở chúng ta về những gì quí giá nhất trong cuộc sống. Chúng ta đọc trong Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya III, Kinh Phúng Tụng, Sáu pháp, 18): Sáu vô thượng: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, học giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm vô thượng

Đoạn Kinh này tuy ngắn nhưng ý nghĩa thật sâu sắc. Các kinh nghiệm tối thượng là các kinh nghiệm tốt đẹp, quý giá nhất. Thuật ngữ Pali được dùng ở đây là “vô thượng – anuttariya. Khun Sujin đã giải thích ý nghĩa của sáu “anuttariya” khi ở Chùa Bovornives Temple và dẫn “Manorathapurani”, chú giải cho Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya, Chương Một Pháp, XIII). Chú giải này có liên quan đến sáu vô thượng – anuttariyas.

Kinh nghiệm tối thượng đầu tiên là kiến vô thượng (dassana). Ngài Ananda đã có kinh nghiệm này vì ngài được nhìn thấy Đức Phật cả ngày và Ngài đã phát triển được chánh kiến và đạt được giác ngộ. Nếu một người nhìn thấy Đức Phật nhưng không phát triển chánh kiến, cũng sẽ không có kinh nghiệm tối thượng của cái thấy. Người này không thực sự thấy giá trị của Đức Phật và các lời dạy của Người.  Chú giải có nói rằng các đệ tử đã giác ngộ khác và những “bậc thiện trí”  (kaliyana puggala), là những người đã đi theo con đường Bát Chánh Đạo, có kinh nghiệm tối thượng của cái thấy. Chúng ta ngày nay không còn nhìn thấy Đức Phật nhưng chúng ta có thể áp dụng những gì Người nói với Vakkali, một vị vốn dính mắc vào hình ảnh của Người (Theragatha 205). Đức Phật nói “ Ai thấy Pháp là thấy Như lai”.

Đối với văn vô thượng (savana), Tôn giả Ananda đã nghe Đức Phật giảng dạy và đã phát triển chánh kiến, giúp ngài đạt giác ngộ. Cũng tương tự như vậy đối với các vị đệ tử đã giác ngộ và những người đi theo con đường Bát Chánh Đạo. Họ đã nghe và phát triển tứ niệm xứ, vì thế họ đã đạt được giác ngộ. Bây giờ, khi nghe Giáo Pháp và bắt đầu phát triển tứ niệm xứ, chúng ta có thể có cái nghe tối thượng. Ta có thể nhận ra rằng được nghe giảng về Giáo Pháp là điều quý báu nhất được nghe.

Lợi đắc vô thượng (labha) là gì? Mỗi người ai cũng muốn có các thứ tuyệt nhất, nhưng nếu không có trí tuệ, người ta sẽ không biết liệu cái mình có có thực sự tốt hơn các thứ khác không. Những ai có lòng tin tưởng vào Đức Phật, như ngài Ananda, có các lợi đắc tối thượng nhất. Cũng tương tự như vậy đối với các đệ tử đã giác ngộ và những bậc thánh đã theo con đường Bát Chánh Đạo. Chúng ta cho rằng những thứ cho ta cảm giác dễ chịu là những thứ quý giá nhất trong cuộc sống. Tuy nhiên, Giáo lý nhắc nhở ta rằng các cảm giác dễ chịu chỉ rất tạm thời, rằng dính mắc vào các đối tượng dễ chịu dẫn đến khổ đau. Khi chúng ta có đủ niềm tin vào Giáo lý, chúng ta sẽ tiếp tục phát triển chánh kiến đối với tất cả các thực tại xuất hiện. Ta sẽ thấy điều quý báu nhất là biết được các phiền não của mình, là ít vô minh hơn về các thực tại. Khi đó, ta sẽ có lợi đắc quý báu nhất.

Đối với ba học giới vô thượng (sikkha), đó là tăng thượng giới học, tăng thượng định học và tăng thượng tuệ học trong Bát Chánh Đạo. Tôn giả  Ananda và các vị đệ tử khác của Đức Phật đã coi những thực tập này là tối thượng, vì chúng giúp diệt trì phiền não. Nếu ta coi chúng là tối thượng, ta sẽ không dễ duôi, ta sẽ chánh niệm hơn về mọi thứ xuất hiện, dù dễ chịu hay khó chịu, thiện hay bất thiện.

Hành vô thượng (paricariya) là phụng sự Đức Phật, như Tôn giả Ananda và các vị đệ tử khác đã thực hành. Họ đã phục vụ Đức Phật với chánh kiến về danh và sắc. Thiếu chánh kiến, sự phụng sự đối với Đức Phật sẽ không là kinh nghiệm tối thượng. Đức Phật đã nhập diệt nhưng chúng ta vẫn có thể phục vụ Giáo Pháp. Một người phụng sự Giáo Pháp khi người ấy nghiên cứu Giáo Pháp, luận giảng về Giáo Pháp cho người khác để những người đó cũng có thể phát triển chánh kiến.

Như chú giải nói, ức niệm vô thượng (anussata) là tưởng nhớ đến các phẩm chất của Đức Phật, các phẩm chất mang tính chất thế gian cũng như thuộc về Siêu thế. Thiếu trí tuệ, một người không thể tưởng nhớ đến các phẩm chất của Đức Phật. Khi chúng ta chánh niệm về danh và sắc, lúc đó, chúng ta thấy được giá trị của trí tuệ của Đức Phật. Không có sự chỉ dạy của Người, chúng ta không thể phát triển được tứ niệm xứ. Vì thế, tại thời điểm đó, có kinh nghiệm tối thượng thứ sáu.

Khun Sujin nói rằng giác ngộ không thể đạt được nếu thiếu sáu kinh nghiệm tối thượng này. Nếu chúng ta không coi Giáo Pháp như là điều quý báu nhất trong cuộc đời mình, không thể đạt được giác ngộ. Ta coi trọng Giáo Pháp không chỉ bằng lời nói, mà cả bằng hành động, bằng việc phát triển chánh kiến. Khi ta nghe Giáo Pháp, nghiền ngẫm những gì mình nghe, và bắt đầu có chánh niệm về các thực tại, ta có thể xác nhận lại chân lý của những gì Đức Phật dạy. Khi đó, ta có thể có thêm tự tin để phát triển tất cả các “ba la mật”, các phẩm chất quý báu mà Đức Phật đã  vun bồi cùng với chánh kiến qua nhiều a-tăng-kỳ kiếp. Ngài Ananda và các vị đệ tử khác  cũng đã vun bồi ba la mật trong suốt các a-tăng-kỳ và khi họ gặp được Đức Phật, nghe lời giảng của Người, đó là thời điểm chín muồi để họ đạt được giác ngộ.

Những lời của Khun Sujin ở cuối đoạn băng của bạn là một lời nhắc thật hay:

Để đến được phút giác ngộ, các thực tại phải được hiểu một cách sâu và rộng. Khi đó, sẽ có khoảnh khắc chánh niệm là duyên cho giác ngộ. Nếu bạn vun bồi chưa đủ, thì hãy vun bồi tiếp đi!

 

Với tâm từ,

Nina Van Gorkom

 

(Chuyển ngữ: Trần Hải)

Bức thư vipassana 4

Bức thư vipassana 4

Thân gửi các đạo hữu toàn thế giới,

Chúng ta đọc trong Tương Ưng Bộ Kinh (I, Thiên có kệ – Sagatha Vagga, Chương IV, Tương ưng Ác ma, 2, phần 7, Xứ) rằng Đức Phật đã dạy các tì kheo về sáu xúc xứ. Ác Ma đã muốn làm rối trí các tì kheo, vì vậy Ác Ma đã hét lên một tiếng dễ sợ khiến các tì kheo tưởng rằng đất bị nứt vỡ. Đức Phật đã nói với các tì kheo rằng đó là Ác Ma. Ngài đã nói bài kệ cho Ác Ma:

Sắc, thanh, vị và hương,

Cùng toàn bộ xúc, pháp,

Là thế vật rùng rợn,

Làm mê loạn ở đời.

Ðệ tử bậc Chánh Giác,

Chánh niệm, vượt khỏi chúng,

Vượt thế lực Ác ma,

Như mặt trời sáng chói.

Sau đó chúng ta đọc thấy Ác Ma đã thất vọng và biến mất.

Xúc, tâm sở xúc, tiếp xúc đối tượng qua sáu căn. Không bao giờ vắng xúc cả, vì xúc đi kèm với mỗi tâm. Mỗi tâm sinh rồi diệt đều có tâm khác kế tiếp. Các ngũ căn là duyên để xúc tiếp xúc với đối tượng giác quan là ngũ trần để chúng được tâm kinh nghiệm. Chúng ta bị hút vào các đối tượng giác quan, nhưng thông qua phát triển hiểu biết đúng, chúng ta có thể vượt ra khỏi thế lực của Ác Ma. Theo Chú giải bộ kinh này – cuốn Saratthappakaisini (Bản tiếng Thái, trang 329), thế lực của Ác ma nằm trong tam giới mà chúng ta có thể tái sinh: dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Khi không còn tái sinh nữa, chúng ta thoát khỏi thế lực của Ác Ma.

Chúng ta sinh ra trong cõi người là cõi thuộc về dục giới. Việc sinh ra ở cõi người được tạo duyên bởi nghiệp thiện, do các tâm dục giới (kamavacara citta) tạo thành. Ở cảnh giới con người, luôn có cơ hội để kinh nghiệm các đối tượng giác quan. Chúng ta bị đắm chìm vào tất cả các đối tượng giác quan và chúng ta luôn suy nghĩ về chúng. Tất cả các đối tượng này chỉ có thể xuất hiện nhờ có tâm sinh khởi theo lộ trình tâm kinh nghiệm đối tượng qua sáu môn. Chúng ta đã học điều này qua nghiên cứu Vi Diệu Pháp, nhưng do chúng ta bị hút vào bản thân đối tượng quá mạnh mà quên đi việc hay biết các tâm – thực tại kinh nghiệm chúng. Vi diệu pháp dạy chúng ta về cuộc sống thường ngày, vì vậy việc nghiên cứu VDP có thể thúc đẩy chúng ta hiểu hơn mọi thực tại diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Vi diệu pháp có thể làm duyên hỗ trợ cho sự khởi sinh của chánh niệm, thứ có thể trực nhận các thực tại sinh khởi.

Khi đối tượng thị giác tác động lên nhãn căn, có duyên cho cái thấy, nhưng đối tượng thị giác chỉ xuất hiện trong một khoảnh khắc cực kỳ ngắn ngủi. Nó cũng giống như âm thanh và các đối tượng giác quan khác, tất cả chúng đều là pháp tạm bợ, chỉ xuất hiện trong một khoảnh khắc ngắn rồi diệt đi ngay. Các tâm sinh khởi trong các lộ trình ngũ căn khác kinh nghiệm đối tượng rồi cũng diệt rất nhanh. Tâm sinh và diệt nhưng mỗi tâm đều được tâm khác tiếp nối, vì vậy dường như là tâm vẫn ở đó. Sau khi kinh nghiệm đối tượng thị giác, âm thanh và các đối tượng giác quan khác, chúng ta hình thành nên các khái niệm từ các đối tượng này. Dường như thế giới của chúng ta toàn người và đồ vật, và chúng ta cứ nghĩ về chúng. Chúng ta bị dính vào suy nghĩ và chúng ta coi những thứ mình nghĩ tới rất quan trọng. Tuy nhiên, suy nghĩ chỉ xảy ra do tâm sinh khởi, suy nghĩ về điều gì đó rồi lại diệt đi ngay.

Mỗi tâm kinh nghiệm một đối tượng, và đối tượng có thể là một thực tại tuyệt đối, một danh hay một sắc, hay một khái niệm. Chúng ta không thể đoán trước đối tượng nào tiếp theo sẽ tác động đến căn môn nào. Đối tượng thị giác, âm thanh hay các đối tượng giác quan khác có thể là dễ chịu hay khó chịu. Kinh nghiệm đối tượng giác quan dễ chịu hay khó chịu là tâm quả (vipakacitta) do nghiệp thiện hay bất thiện đã làm trong quá khứ tạo duyên. Các tâm quả chỉ kinh nghiệm đối tượng dễ chịu hay khó chịu, chúng không thích hay ghét đối tượng. Khi có thích hay không thích là đã có tâm bất thiện sinh khởi. Sau khoảnh khắc có tâm quả, trong trường hợp những người không phải là A la hán, bảy tâm bất thiện hoặc tâm thiện sẽ kinh nghiệm đối tượng. Khi có tâm bất thiện là có tác ý không chân chánh (ayoniso manasikara) tới đối tượng và khi có tâm thiện, là có tác ý chân chánh tới đối tượng.

Chúng ta có thể thấy, chúng ta có những thiên hướng khác nhau và điều đó được tạo duyên bởi các tích lũy trong quá khứ. Tâm thiện và tâm bất thiện sinh khởi rồi diệt ngay, nhưng tâm tiếp theo mang theo xu hướng thiện hay bất thiện ấy và vì vậy tạo duyên cho tâm thiện hay tâm bất thiện sinh khởi sau đó. Tâm thiện và tâm bất thiện trong quá khứ tạo duyên cho tâm thiện và tâm bất thiện sinh khởi ở hiện tại, và tâm thiện và tâm bất thiện sinh khởi ở hiện tại lại tạo duyên cho các tâm sinh khởi trong tương lai.

Nếu những phản ứng của chúng ta ngày hôm này do tích lũy quá khứ tạo duyên, dường như số phận cuộc đời chúng ta đã được định đoạt. Ai đó đã băn khoăn, phải chăng không thể kiểm soát thiên hướng của mình, không thể nỗ lực phát triển thiện tâm. Những thiên hướng được tích lũy trong quá khứ tạo duyên cho các tâm sinh khởi ngày hôm nay, nhưng điều này không có nghĩa không thể thay đổi được các thiên hướng ấy. Nếu chúng ta được nghe giảng Pháp bởi các bậc thiện trí, nghiên cứu và suy ngẫm về Giáo Pháp một cách tường tận, điều ấy sẽ tạo duyên để sinh khởi chánh niệm. Chánh niệm có thể hay biết trực tiếp thực tại khi chúng sinh khởi trong cuộc sống hàng ngày và khi đó chánh kiến có thể được phát triển. Phải phát triển chánh kiến từ kiếp này đến kiếp khác, nhưng không có ngã – người phát triển chánh kiến. Sự vun bồi trí tuệ tùy thuộc vào nhân duyên. Nếu không có nhân duyên, làm sao trí tuệ có thể sinh khởi và phát triển? Chúng ta đã quen với ý niệm về ngã – người cố gắng nỗ lực nhưng [trên thực tế là] không có ai cả. Chúng ta đọc trong Thanh tịnh đạo – Visuddhimagga (Chương XVI, 90):

Có khổ song không có người khổ

Có sở tác song không có người tạo tác

Có tịch diệt song không người chứng diệt

Có đạo lộ song không thực có người đi.

Đó là đạo lộ và có thể được phát triển nhưng không có người phát triển nó. Nếu không phát triển hiểu biết đúng, chúng ta bị trói buộc trong vòng luân hồi sinh tử. Chúng ta đọc trong Tương ưng Bộ kinh (III, Thiên Uẩn, Phẩm Hoa, Chương V, phần 99, Dây buộc) rằng Đức Phật đã nói tại Savatthi (Xá vệ thành):

Này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu… quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức như là tự ngã… Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc, thọ, tưởng, hành, thức,… người ấy không giải thoát khỏi nơi đó, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: “Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau”.

Sau đó chúng ta đọc rằng bậc thánh đệ tử không coi thực tại là tự ngã, đã được giải thoát khỏi đau khổ. Trong đoạn kinh kế tiếp “Dây buộc II”, chúng ta lại đọc về sự so sánh với con chó bị trói buộc như sau:

Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc.

Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy.

Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.

Những người chấp thủ vào năm uẩn là ta và của ta cũng giống như con chó bị trói buộc. Người ấy luôn ở gần năm uẩn và bị trói buộc ở đó. Con chó bị buộc vào cái cột và cứ chạy vòng quanh đó, luôn phải ở gần đó và thật đáng thương. Chừng nào chúng ta còn coi năm thủ uẩn là ngã, chúng ta còn không được tự do. Qua phát triển tứ niệm xứ, ý niệm về ngã có thể bị loại trừ.

Đức Phật đã dạy về bốn “thực hành chánh niệm” (tứ niệm xứ): chánh niệm trên thân, thọ, tâm và pháp. Một số người nghĩ rằng họ nên lựa chọn một trong những đối tượng như thân hay thọ và chỉ phát triển nó. Tuy nhiên, nên có chánh niệm trên bất kỳ đối tượng nào sinh khởi. Nếu chúng ta cố gắng lựa chọn một đối tượng, đã có ý niệm về một tự ngã có thể kiểm soát sự hiện diện của đối tượng cụ thể nào đó. Việc đối tượng thị giác, âm thanh, tâm bất thiện hay đối tượng nào khác sinh khởi là tùy thuộc vào nhân duyên. Niệm có thể hay biết bất kỳ đối tượng nào khi nó sinh khởi một cách tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta không phải phân loại đối tượng chánh niệm theo một trong bốn niệm xứ trên. Tại một khoảnh khắc, có chánh niệm trên sắc, khoảnh khắc tiếp theo có chánh niệm trên tâm hay cảm thọ, không có ai có thể dự đoán trước đối tượng tiếp theo của chánh niệm là gì. Chúng ta nên biết rằng, mọi thực tại đều vô ngã, chúng không thể bị ngã chi phối.

Đức Phật dạy tứ niệm xứ nhằm nhắc nhở chúng ta hay biết các loại danh và sắc khác nhau khi chúng xuất hiện tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta đọc trong Tương ưng bộ kinh (V, Thiên đại phẩm, Chương III, Tương ưng niệm xứ, Phẩm V, phần 9, Các cảm thọ) rằng Đức Phật đã nói khi Ngài ngự ở Savatthi như sau:

Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây là ba thọ. Vì muốn liễu tri ba thọ này, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ cần phải tu tập.

Cảm thọ là danh, nó cảm nhận, vì vậy nó khác với sắc – cái không biết gì cả. Sự khác biệt giữa danh và sắc phải được hiểu tường tận trước khi trí tuệ có thể nhận biết các thực tại là vô thường, khổ và vô ngã. Để hiểu biết đầy đủ về cảm thọ, phải có chánh niệm về các đặc tính của các loại danh và sắc xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày. Khi đó hiểu biết đúng về các thực tại có thể tăng trưởng. Đó chính là sự phát triển Tứ niệm xứ hay Satipatthana, đó là cách phát triển Bát chánh đạo. Chúng ta không phải nghĩ đến phân loại khi phát triển Bát chánh đạo bằng cách hay biết bất kỳ đối tượng nào sinh khởi.

Chúng ta có biết cảm thọ như nó là không? Cảm thọ thay đổi liên tiếp do chúng sinh khởi và hoại diệt ngay cùng với tâm đi kèm. Chúng ta có thể hay biết cảm thọ lạc hay khổ, nhưng chúng ta nên biết cả đặc tính của cảm thọ trung tính. Khi có cái thấy, cảm thọ đi kèm là cảm thọ trung tính, không thể có cảm thọ lạc hay thọ khổ. Với chánh niệm, chúng ta không nên chờ đợi và trì hoãn nó, khi đó thì “đã đánh mất giây phút hiện tại” rồi, như lời Khun Sujin đã nói. Khi chúng ta cảm nhận cái đau, chúng ta có xu hướng nghĩ rằng cái đau vẫn ở đó. Chúng ta nghĩ như vậy vì chúng ta không nhận ra đặc tính khác nhau của các thực tại khi chúng sinh khởi. Khi có đối tượng xúc chạm tác động trên thân, như đặc tính cứng, sẽ tạo duyên cho cảm thọ đau sinh khởi. Cảm thọ khổ kèm theo thân thức – một tâm quả chỉ sinh khởi trong một khoảnh khắc và sau đó diệt ngay với tâm. Đối tượng xúc chạm tác động lên thân căn diệt đi ngay và sắc trên thân căn tiếp xúc đối tượng cũng diệt ngay. Chúng ta dễ quên rằng, thân căn – nơi tiếp xúc đối tượng chỉ là là một điểm vô cùng nhỏ trên cơ thể, một sắc sinh và diệt ngay tức thì. Chúng ta luôn suy nghĩ về “cơ thể nhạy cảm của tôi”. Hiểu biết đúng sẽ làm giảm tầm quan trọng của cái “cơ thể của tôi” hay cái “tôi”. Chúng ta nên “thu nhỏ bản thân mình từ đầu tới chân”. Khi chúng ta nhớ điều này, chúng ta có thể hiểu hơn những gì viết trong kinh liên quan đến sự kham nhẫn. Ví dụ, chúng ta đọc trong “Kinh đoạn trừ tất cả các lậu hoặc” (Trung Bộ Kinh I, số 2) rằng Đức Phật đã nói về những cách để diệt trừ phiền não. Chúng ta đọc về sự kham nhẫn như sau:

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn những cách nói mạ lị phỉ báng. Vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người….

Khi chúng ta suy ngẫm một cách khôn ngoan, chúng ta sẽ thấy kinh nghiệm khó chịu chỉ là danh do duyên sinh khởi. Pháp chân đế, danh và sắc, diệt ngay lập tức, chúng là pháp tạm bợ, hầu như không có nghĩa lý gì. Nếu chúng ta hiểu điều này thông qua chánh niệm về danh và sắc, sẽ bớt tham và sân. Chúng ta hình thành ngay các khái niệm từ các pháp chân đế được kinh nghiệm và chúng ta cứ suy nghĩ về các khái niệm trong thời gian dài. Nếu chúng ta hay biết khi suy nghĩ về các khái niệm, chúng ta sẽ không coi trọng chúng như trước nữa.

Khi chúng ta chú ý vào hình dạng của đồ vật, có suy nghĩ về khái niệm, nhưng không thể có suy nghĩ về hình dạng nếu không có cái thấy. Cái thấy thấy màu sắc hay đối tượng thị giác nhưng đa phần ta không hề hay biết gì về các thực tại ấy. Chúng sinh rồi diệt ngay mà không hề được biết đến. Khi chúng ta suy ngẫm về các thực tại thường xuyên hơn, sẽ tạo duyên cho chánh niệm về chúng. Ai đó đã nói rằng từ chỉ màu sắc có thể đánh lạc hướng, vì khi chúng ta nhận ra màu đỏ hay màu xanh là đã có suy nghĩ rồi. Tuy nhiên, màu đỏ hay màu xanh vẫn được thấy mà không cần dán nhãn chúng là đỏ hay xanh. Những màu này không giống nhau và chúng xuất hiện qua nhãn môn. Nếu không có nhãn căn, tất cả các màu khác nhau sẽ không xuất hiện. Bộ Pháp tụ – Dhammasangani (Quyển II, Chương II, 617) giải thích chi tiết về màu sắc. Màu sắc có thể là xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, tím, xanh lá mạ, xanh lá cây, xanh xoài sống, bóng, ánh nắng, sáng, tối, mây, sương, khói, bụi, ánh sắc mặt trăng, ánh sắc mặt trời, ánh sắc tinh tú, ánh sắc mắt mèo, ánh sắc ngọc ước, ngọc xà cừ, ngọc trai, ngọc bích, ánh sắc vàng hay bạc. Mục tiêu của việc liệt kê chi tiết này là để nhắc nhở chúng ta hay biết về màu sắc, dù cho nó là màu ánh mặt trăng, màu ngọc ước hay bất cứ màu gì. Tứ niệm xứ có thể phát triển một cách tự nhiên. Cả khi chúng ta nhìn vào mặt trăng hay viên ngọc, có màu sắc [xuất hiện] và nó có thể được nhận biết như một thực tại có thể thấy bằng mắt. Chúng ta không phải cố gắng tìm kiếm màu gì đặc biệt để chánh niệm về nó.

Trong cùng chương (621) của Bộ Pháp tụ có đưa ra ví dụ về các loại âm thanh khác nhau:

Thinh nào nương bốn đại hiển, không thể được thấy, có thể nghe bằng tai như là tiếng trống chầu, tiếng trống cơm, tiếng tù và, tiếng chập chỏa, tiếng hát, tiếng nhạc, tiếng chiêng, tiếng vỗ tay, tiếng kêu la của chúng sanh, tiếng va chạm của các chất, tiếng gió, tiếng nước, tiếng người, tiếng phi nhơn, hoặc là có tiếng nào khác…

Đoạn văn này nhắc chúng ta có chánh niệm về âm thanh, dù là âm thanh gì. Âm thanh không giống nhau, trầm hay bổng, to hay nhỏ, chúng có tính chất khác nhau. Chúng ta đã quen với tiếng bước chân, tiếng lật trang sách hay tiếng bút viết trên giấy. Chúng ta thường để những khoảnh khắc như vậy trôi qua mà không hề chánh niệm. Khun Sujin đã nói: “Đừng để âm thanh đi mất mà không hay biết về nó”. Chúng ta luôn bị cuốn vào ý nghĩa của âm thanh, do đó bị cuốn vào các khái niệm, nhưng chúng ta có thể bắt đầu chánh niệm về đặc tính của âm thanh. Đó là cách biết nó như thực tại được nghe thấy. Hiểu biết đúng sẽ làm giảm tầm quan trọng về ý nghĩa của cái gì đó, của các khái niệm. Cũng cần cả sự kham nhẫn và bền bỉ để phát triển hiểu biết đúng. Cuộc sống trôi qua rất nhanh, chúng ta già đi và chúng ta không biết kiếp sống sau sẽ ra sao. Chúng ta không biết liệu còn có cơ hội để phát triển trí tuệ và vì thế, phải chăng chúng ta nên tăng tốc sự thực hành của mình? Tất cả chúng ta đều có xu hướng nghĩ như vậy, nhưng bạn có chánh niệm về khoảnh khắc suy nghĩ đó không?. Nếu chúng ta  không hay biết nó như một thực tại do duyên khởi, chúng ta sẽ bỏ bê học Giáo Pháp, không thu được lợi ích quý báu từ những lời dạy một cách đầy đủ. Chúng ta bị cuốn vào các câu chuyện mà chúng ta suy nghĩ và quên đi thực tại là tâm suy nghĩ. Điều này xảy ra mọi lúc, khi chúng ta dự tính đi đâu đó để có thêm chánh niệm. Nó tùy thuộc vào duyên mà chúng ta đang có, bất cứ điều gì đều có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nếu chúng ta cố gắng kiểm soát cuộc đời mình, chúng ta sẽ không thể thấy mọi khoảnh khắc khác nhau đều vô ngã.

Tâm siêu thế (Lokittara citta) không thể đột nhiên sinh khởi, trí tuệ phải được phát triển từng bước, từng bước một. Nó phải được phát triển ngay bây giờ, không phải lúc nào khác. Phiền não là vô ngã, không thể nhanh chóng thoát khỏi chúng, chúng sinh khởi do đã được tích lũy từ nhiều kiếp, chúng do duyên khởi. Chúng có thể được nhận biết là danh khi chúng xuất hiện. Nếu chúng ta biết về chúng như chúng là, đã bắt đầu  chuyển hóa, trí tuệ sẽ tự vận hành. Trí tuệ là yếu tố quan trọng nhất vì chính trí tuệ là cái có thể diệt trừ vô minh và tà kiến. Không cần nghĩ nhiều đến nỗ lực, mong muốn và chú tâm. Không phải bạn luôn nghĩ đến nỗ lực, mong muốn và chú tâm với ý niệm về ngã, người muốn kiểm soát hay sao? Chúng ta nên xem xét bản thân một cách cẩn thận về điểm này, vì ý niệm này cản trở sự phát triển hiểu biết đúng. Chúng ta có thể chưa được giác ngộ trong kiếp sống này, nhưng những gì đã được học không bao giờ mất đi. Nó được tích lũy và có thể xuất hiện trong kiếp sống khác. Một khoảnh khắc hiểu biết đúng bây giờ, về cuộc sống tự nhiên, là một khoảnh khắc quý báu. Điều này giá trị hơn việc suy nghĩ về tương lai.

Chúng ta đọc trong đoạn kinh “Tương ưng Xứ”  (Tương ưng bộ kinh I) theo nguồn trích dẫn nêu trên, rằng Đức Phật đã “thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về sáu xúc xứ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ”. Những lời này cũng được dẫn trong đoạn kinh “Bình bát” trước đó, và cuốn chú giải cho Tương ưng bộ kinh (Saratthapakisini, bản tiếng Thái, trang 328) đã giải thích rõ. Đức phật đã khích lệ các tì kheo thực hành Giáo pháp. Từ Pali “samadana” được sử dụng trong câu có nghĩa là thực hiện những gì mà người ta coi là có giá trị. Đức Phật đã thuyết giảng cho các tì kheo, nhờ đó họ sẽ suy ngẫm về Giáo Pháp và có hiểu biết đúng. Ngài đã hướng dẫn họ để họ có nghị lực (ussaha) và kiên trì thực hành Giáo pháp. Đức Phật đã dạy về tất cả các thực tại của cuộc sống hàng ngày và những điều này có thể được kiểm chứng. Chú giải giải thích rằng các tì kheo đã được khích lệ, hoan hỉ và thanh tịnh hóa nhờ lợi ích mà họ đã thu được từ Giáo pháp. Khun Sujin đã viết trong cuốn “Khảo cứu pháp chân đế” (Tâm, Chương 16) về đoạn viết trong Chú giải này như sau:

Chúng ta có thể đau khổ và lo lắng rằng chúng ta đang già đi và niệm rất hiếm khi sinh khởi. Khi chúng ta lo lắng, đó là tâm bất thiện. Chúng ta không nên vì Giáo Pháp mà có tâm bất thiện, chúng ta không nên lo lắng. Đức Phật dạy Giáo pháp để khuyến khích mọi người áp dụng, phát triển nó với sự kiên trì và hứng thú. Tất cả bất thiện tâm sinh khởi do duyên, không có ngã – người có thể ngăn cản nó sinh khởi. Khi bất thiện tâm đã sinh khởi, chúng ta không nên nản lòng, mà nên can đảm hay biết về đặc tính của tâm bất thiện khi chúng sinh khởi. Chúng ta không nên bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để chánh niệm. Khi đó chúng ta sẽ hiểu rằng, kể cả pháp bất thiện xuất hiện tại khoảnh khắc đó cũng chẳng phải là ai cả, không phải là một người hay bản ngã. Chúng ta sẽ nhìn thấy rõ tại khoảnh khắc chánh niệm, không có bất thiện tâm, không có sự nản lòng. Chúng ta sẽ không buồn phiền vì tâm bất thiện nếu chúng ta không coi nó là ngã…

Các vị tì kheo đã được khích lệ, hoan hỉ nhờ lợi ích mà họ đã thu được từ những lời dạy. Chú giải bổ sung:

“Tất cả chúng ta đều có thể thu được lợi ích này”

Chúng ta có thể thực sự được lợi từ những lời dạy khi phát triển tứ niệm xứ. Phát triển tứ niệm xứ sẽ không làm chúng ta thối chí. Những thực tại xuất hiện đều có thể được hiểu rõ và nhận biết như chúng là. Chúng sinh rồi diệt ngay, chúng không phải là ngã, không có ai hay người nào cả. Khi chúng ta suy ngẫm giá trị lớn lao của sự thật và biết rằng một ngày nào đó chúng ta có thể nhận ra nó, dù cho không phải là hôm nay, chúng ta sẽ không nản lòng. Chúng ta không nên lo lắng rằng chúng ta không thể biết các thực tại như chúng là hiện giờ. Niệm có thể sinh khởi và bắt đầu hay biết, và rồi một ngày chắc chắn đặc tính của các thực tại sẽ được xuyên thấu hoàn toàn và hay biết như chân như thật..

Khi chúng ta thấy rằng sự thực của Giáo Pháp mang đến lợi lạc cho chúng ta và nó có thể được chứng ngộ, chúng ta sẽ không nản lòng. Chúng ta sẽ tiếp tục nghe, nghiên cứu những thực tại mà Đức Phật đã giảng giải chi tiết, khi đó sẽ không còn sao nhãng thực tại, sẽ có duyên để niệm sinh khởi.

Với tâm từ

Nina Van Gorkom

 

(Chuyển ngữ: Thanh Mai)


Bức thư vipassana 3

Bức thư vipassana 3

Thân gửi các bạn đạo,

Thông qua việc tìm hiểu Giáo Pháp, chúng ta biết rằng mình bị nhầm lẫn vì vẻ bề ngoài của các hiện tượng. Ngay khi chúng ta mở mắt ra thì dường như đã liên tục có cái thấy. Thậm chí ngay khi có sự suy nghĩ hay lắng nghe thì có vẻ như vẫn có cái thấy. Dường như có nhiều hơn một kinh nghiệm vào một thời điểm, nhưng trên thực tế tại mỗi thời điểm chỉ có duy nhất một tâm sinh khởi và kinh nghiệm đối tượng thông qua giác quan tương ứng, rồi sau đó lại diệt đi. Chúng ta tin rằng thân thể mình có thể cảm thụ những điều dễ chịu và khó chịu, nhưng trên thực tế thân thể bao gồm các sắc pháp – những hiện tượng vật chất, lại không thể kinh nghiệm bất kỳ điều gì. Càng nghiên cứu về Giáo Pháp, chúng ta càng nhận ra rằng mình đã tích lũy những quan điểm sai lầm về sự vật hiện tượng ở bên trong cũng như ở bên ngoài bản thân mình. Liệu chúng ta có nên  tìm hiểu nhiều hơn về  các thực tại trong cuộc sống của chúng ta?

Trên lý thuyết, chúng ta biết rằng không có cái tôi hay bản ngã, nhưng hiểu biết đó chưa được phát triển tới giai đoạn có hiểu biết trực nhận về sự thật vô ngã. Vào lúc này, chúng ta toàn có ý niệm về ngã  và sự dính mắc của chúng ta vào ngã  này chắc chắn cản trở sự phát triển của Chánh Kiến. Chúng ta dính mắc vào “tâm thiện của tôi” và sân với “tâm bất thiện của tôi”, chúng ta không nhìn thấy những thực tại ấy như chúng là, tức là vô ngã. Chẳng phải bạn khó chịu khi tâm trí rối loạn, thất niệm và xao lãng trong ngày hay sao ? Khi đó ta sân với “tâm bất thiện của tôi”. Chúng ta mong muốn cải thiện tình trạng và trở nên bình tĩnh, không bị quấy rầy và có chánh niệm, nhằm tích lũy thêm nhiều thiện nghiệp, “những thiện nghiệp của tôi”. Thay vì có hiểu biết đúng đắn (Chánh Kiến) về các thực tại sinh khởi do những điều kiện (duyên) của chúng, mục đích của chúng ta trở thành sự tích lũy  thiện nghiệp. Khi đó chúng ta lạc ra khỏi mục tiêu thực sự của mình: giải thoát khỏi [ý niệm về] ngã  thông qua Chánh Kiến. Alan Driver, một người bạn đạo đã quá cố, hiểu rõ rằng chúng ta có thể dễ dàng lạc ra khỏi mục tiêu thực sự của mình. Tôi sẽ trích dẫn lời nói của anh ấy (trích từ Bây giờ và ở đây, Adelaide):

Thông thường, mục đích của chúng ta không thực sự là để hiểu biết bất kỳ những gì sinh khởi hiện giờ .Chúng ta muốn thoát khỏi sự xáo động, tĩnh lặng hơn, bền bỉ hơn, quy củ hơn, tức là khác với những gì chúng ta đang là. Điều đó là gì nếu không phải là sự dính mắc?

Tại sao chúng ta không thể chánh niệm trên sự xáo động? Ồ không, nhưng chúng ta không thích sự xáo động và kết quả là, chúng ta hoàn toàn xa rời chánh niệm, bởi vì có sự dính mắc vào một cái ngã không muốn bị xáo động. Trên thực tế, đây là  dính mắc vào sự bình an chứ không phải hiểu biết. Hãy tự hỏi mình, bạn có thực sự muốn chánh niệm hay chỉ muốn sự bình an? Chúng ta chỉ tiếp tục duy trì ảo tưởng về một cái ngã, người có một việc để làm và người muốn làm nó và không muốn sự xáo động cản trở việc thực hiện công việc đó. Đó không phải là Chánh kiến. Đó là một nguyên nhân gây ra nhiều thất vọng hơn khi sự xáo động sinh khởi. Khi có chánh niệm bạn sẽ không mất quân bình bởi sự xáo động. Bạn chỉ hay biết  và sau đó có thể có chánh niệm về những gì xuất hiện tiếp theo. Có thể có chánh niệm và hiểu biết đúng đắn về cái đã xuất hiện do duyên, rằng đó là vô ngã. Tuy thế nó chỉ có trong giây lát mà thôi. Và sau đó có thể là có rất nhiều sự xao lãng. Chúng ta không thể làm gì về điều ấy, đó là vô ngã. Nếu có chánh niệm vào khoảnh khắc ấy, nó đã xảy ra rồi. Đó là vô ngã.

Phát triển chánh niệm. Tôi không nghĩ rằng đó là điều chúng ta thực sự muốn làm. Chúng ta không có khuynh hướng ấy, sâu thẳm bên trong, chúng ta không thực sự quan tâm. Chỉ trong thời điểm chánh kiến có mặt thì mới có sự quan tâm, quan tâm đúng đắn đối với các đối tượng sinh khởi, nhằm thấy chúng như chúng thực sự là. Chúng ta luôn luôn tìm kiếm một đối tượng nào khác, cố gắng thay đổi nó hay duy trì nó. Đó là sự dính mắc, không phải sự buông xả.

Nếu trung thực với bản thân mình,  chúng ta sẽ nhận thấy chúng ta bị chệch khỏi Chánh đạo khi lựa chọn một mục tiêu khác, ví dụ như là tích lũy phước thiện cho bản thân mình. Tôi rất biết ơn vì đã được nhắc nhở về mục đích thực sự. Cần có sự buông xả ngay từ điểm khởi đầu. Khi có khoảnh khắc hay biết về các thực tại như đặc tính cứng hay âm thanh, chúng ta có hài lòng không? Chúng ta có bị dính mắc vào “chánh niệm của tôi” không? Chúng ta không nên lo lắng về việc có chánh niệm hay không, mục tiêu tối hậu của chúng ta là phát triển hiểu biết. Khi đặc tính nóng xuất hiện, nó có thể được nhận biết là một sắc pháp (vốn là một thực tại không kinh nghiệm bất kỳ điều gì). Đó không phải là một phần của “thân thể tôi”, nó không phải là “của tôi”. Chúng ta không bao giờ biết thực tại nào sẽ sinh khởi kế tiếp, nó sẽ là khả ái hay bất khả ái, thiện hay bất thiện. Nếu chúng ta cố gắng hướng sự hay biết  tới đối tượng này trước rồi mới tới đối tượng kia , ví dụ như sắc xuất hiện trên thân thể hay cảm thọ, thì một lần nữa lại có ý niệm về ngã và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu chánh niệm là vô ngã.

Ai đó đã viết rằng một thiền sư tại một thiền viện nói với mọi người hãy loại bỏ các bất thiện tâm càng sớm càng tốt . Khi điều này (bất thiện tâm) sinh khởi ta nên chú tâm sâu vào những thực tại cụ thể, ví dụ như cảm thọ. Ông cũng nói rằng hành giả tiêu trừ các nghiệp cũ bằng cách tích lũy các tâm thiện trong khi hành thiền vipassana.

Nghiệp bất thiện đã xảy ra trong quá khứ và chúng ta không thể ngăn chặn việc trổ quả của nó. Bậc thánh nhân không còn duyên để tái sinh vào cảnh khổ, nhưng ngài vẫn đón nhận những quả bất thiện qua ngũ quan trong kiếp sống hiện tại. Chúng ta không thể biết nghiệp nào sẽ trổ quả gì vào một thời điểm cụ thể, mà chỉ có đức Phật mới có thể biết được điều đó. Có vô số kiếp sống trong quá khứ với vô số bất thiện nghiệp. Ai có thể chắc rằng anh ta có thể tích lũy một số lượng rất lớn các phước thiện và có thể tiêu trừ các nghiệp cũ? Khi chúng ta có những tư tưởng như vậy, chúng ta đang dính mắc vào việc tích lũy phước thiện, và một lần nữa chúng ta lại lệch khỏi con đường Đạo. Khi bất thiện tâm sinh khởi  và trí tuệ có thể nhận thấy nó là một một danh do duyên khởi thì vào thời điểm đó thiện tâm đã thay thế bất thiện tâm. Tuy nhiên, điều này sẽ không thể đạt được bằng cách cố gắng chú tâm mạnh mẽ vào những đối tượng cụ thể mà ta lựa chọn. Sẽ bớt dính mắc vào các sắc pháp hơn nếu như ta không lên kế hoạch có chánh niệm. Việc có chánh niệm và trí tuệ hay không tùy thuộc vào nhân duyên, việc cái gì sẽ là đối tượng của tuệ giác cũng tùy thuộc vào nhân duyên, nó có thể là tâm bất thiện hay bất kỳ đối tượng nào khác. Nếu chúng ta tưởng rằng nhờ  việc thực hành tứ niệm xứ, ta đã tích lũy nhiều thiện tâm tới mức độ  các nghiệp bất thiện có thể bị tiêu trừ, chúng ta không biết rõ bản thân mình. Chúng ta có nhận ra vô số giây phút bám víu vi tế hay vô minh, sinh khởi hết lần này đến lần khác ngay sau cái thấy, nghe, ngửi, nếm hay sự xúc chạm? Chúng ta có biết có tâm thiện hay tâm bất thiện sau cái thấy tại khoảnh khắc này không?.

Những người đã thực hành ở trung tâm thiền thấy thật khó để phát triển tứ niệm xứ trong đời sống hàng ngày, họ thấy đời sống hàng ngày thật xáo động. Chúng ta nên kiểm tra lại mục đích của mình là hiểu biết về các thực tại hay là bình an và thoát khỏi mọi sự quấy rầy? Đời sống hàng ngày có thể là thước đo sự hiểu biết của chúng ta. Khi trí tuệ là trí tuệ thực sự thì nó có thể hiểu cái thấy đang diễn ra bây giờ, cái nghe đang diễn ra bây giờ, nó có thể hiểu chúng một cách tự nhiên trong đời sống hàng ngày. Trí tuệ không phát triển nhanh chóng và tức thì được. Chúng ta không thể xác định rằng từ giờ trở đi trí tuệ nên hiểu rõ thực tại. Trí tuệ sẽ phát triển khi nó thấy rõ pháp nào đang sinh khởi một cách tự nhiên, dù trong hoàn cảnh cảnh nào và ở nơi đâu. Chúng ta có thể cho rằng thật khó có chánh niệm về các thực tại trong khi mình đang làm việc, nhưng làm việc lại chính là đời sống hàng ngày và bất kỳ thực tại nào xuất hiện cũng có thể là đối tượng của chánh niệm. Alan Weller viết:

Tôi không tách rời Giáo Pháp khỏi công việc. Tôi nghĩ một câu liên quan đến Giáo pháp mà Alan Driver đã nói có thể được áp dụng và rất hữu ích trong môi trường làm việc “Chúng ta học được từ đời sống  của mình rằng không phải lúc nào ta cũng biết giúp đỡ khi người khác cần sự giúp đỡ.” Câu này nhắc nhở chúng ta đừng lơ là các thiện tâm trong môi trường làm việc. Một điều khác cần nhớ là: “Không nên đánh mất khoảnh khắc [hiện tại] này.” Điều này có thể là lời nhắc nhở không nên bị cuốn vào trong công việc với bất thiện tâm. Khi chúng ta hiểu rằng không nên đánh mất khoảnh khắc này, chúng ta không phải nghĩ hay suy ngẫm nhằm có chánh niệm Do đó, hiểu biết (chánh kiến) có thể được ứng dụng trong bất cứ trường hợp nào, cũng như ở các mức độ khác nhau: mức độ của giới, của định và của tuệ.

Không có ai, không có cái ngã nào có thể tạo ra sự sinh khởi của bất kỳ thực tại nào. Chúng ta phải rất kiên nhẫn để hiểu biết sinh khởi khi đủ nhân duyên và quên đi sự cố gắng và lòng mong chờ kết quả.

Không nên đánh mất khoảnh khắc hiện tại này. Chúng ta thấy trong kinh điển có nhiều lời khuyên có giá trị để phát triển hiểu biết về danh và sắc. Điều quan trọng là hiểu biết đúng, chứ không phải sự tập trung hay cố gắng. Khi hiểu biết phát triển một cách tự nhiên trong đời sống hàng ngày, thì cũng sẽ có định và tinh tấn kèm với trí tuệ – chúng là những tâm sở thực hiện chức năng riêng của mình. Nếu chúng ta nghĩ về định và tinh tấn, sẽ dễ có sự dính mắc, hay khi chúng ta lo lắng về sự thiếu thốn định lực, sẽ  có tâm sân.

Một người hỏi Khun Sujin (Achaan Sujin Boriharnwanaket) liệu anh ta có nên ngừng đọc sách để có được nhận thức về các thực tại khác nhau. Anh ta băn khoăn liệu trí tuệ có thể biết được các thực tại khác nhau trong khi anh ta đang đọc hay không. Khun Sujin hỏi lại anh ta liệu trong khi anh ta đang lễ Phật, Pháp, Tăng và tụng kinh Pali, thì anh ta cũng có thể nghĩ về những điều khác hay không. Trong thời gian đó, có thể có nhiều giây phút mà vô minh xuất hiện, bởi vì vô minh xuất hiện cực kỳ nhanh. Mặc dù vậy, khi trí tuệ đã được phát triển, nó cũng cực nhanh. Chúng ta đánh giá thấp năng lực của trí tuệ. Trí tuệ khác với những gì mà chúng ta nghĩ về nó. Chúng ta có đầy những ý niệm về ngã và do đó chúng ta tưởng tượng rằng trí tuệ chỉ có thể biết cái gì đó nếu trước hết chúng ta tập trung vào nó và cố gắng nỗ lực. Chúng ta có thể nghĩ rằng trí tuệ không thể biết sự khác nhau giữa lộ trình của ngũ môn và lộ trình của ý môn, bởi vì các lộ trình khác nhau của tâm diễn ra cực kỳ nhanh. Tuy nhiên, trí tuệ có thể biết điều đó. Trí tuệ có thể biết điều ấy ở giai đoạn đầu tiên của “tuệ sơ cơ” hay tuệ minh sát đầu tiên. Hoặc chúng ta có thể suy nghĩ sai lầm rằng không thể có niệm và tuệ trong lộ trình ngũ môn. Ngay trong lộ trình ngũ môn cũng có nhân duyên cho thiện tâm và bất thiện tâm. Khi có các thiện tâm, chúng có thể đi kèm với trí tuệ hoặc không, tùy theo duyên. Không ai có thể bảo trí tuệ sinh khởi hay không sinh khởi, không ai có thể tiên đoán được đối tượng của trí tuệ. Khi nó sinh khởi thì nó thực hiện chức năng hiểu biết của mình.

Tuệ minh sát đầu tiên biết rõ sắc là sắc và danh là danh, và nó phải biết điều này qua ý môn. Sẽ hữu dụng khi biết nhiều hơn về giai đoạn này của tuệ giác, bởi vì sau đó chúng ta sẽ nhận ra điều gì nên biết và điều gì chúng ta chưa biết. Các sắc là những đối tượng khác nhau được kinh nghiệm qua các giác quan tương ứng của chúng và sau đó là qua ý môn. Chúng ta có thể nghi ngờ điều này. Chúng ta có thể tin rằng qua ý môn chỉ có thể có suy nghĩ về các khái niệm chứ không có kinh nghiệm về sắc pháp. Chúng ta đọc trong Chú giải Bộ Pháp tụ “Atthasalini” (I, Phần II, Phân tích thuật ngữ, 72) rằng các đối tượng ngũ quan được kinh nghiệm qua một trong các ngũ môn và sau đó qua ý môn. Chúng ta đọc về các tốc hành tâm (có thể là tâm thiện hoặc bất thiện) sinh khởi trong lộ trình ngũ môn và sau đó trong lộ trình ý môn:

…. Nên hiểu rằng các tốc hành tâm lấy ngũ trần làm đối tượng sinh khởi trong cả hai lộ trình ngũ môn và ý môn theo cách đã mô tả. Như vậy, các tốc hành tâm kinh nghiệm đối tượng thị giác sinh khởi tại nhãn môn cũng như tại ý môn. Điều tương tự cũng diễn ra đối với các tốc hành tâm kinh nghiệm âm thanh và những đối tượng ngũ quan khác …

Chú giải Bộ pháp tụ ghi trong phần về sắc pháp (II, Quyển II, Những đặc tính sắc pháp, Sắc tứ đại hiển, 304) rằng  thức qua ý môn “rơi vào dòng thức của ngũ môn và trôi theo với nó.” Lộ trình ý môn tiếp nối lộ trình ngũ môn sẽ rơi vào dòng tâm bởi vì các tâm tiếp nối nhau một cách nhanh chóng. Sắc được kinh nghiệm qua ngũ môn và sau đó là qua ý môn. Khi được kinh nghiệm qua ý môn, nó vừa mới diệt tức thì. Trong các lộ trình ý môn khác, các tâm có thể có đối tượng là khái niệm, như là hình dạng của một thứ gì đó.

Lộ trình nhãn môn, nhĩ môn và các lộ trình ngũ môn khác đều có lộ trình ý môn tiếp nối, nhưng có các tâm hộ kiếp ở giữa những lộ trình này. Bây giờ, tại thời điểm này, các giác quan khác nhau bị trộn lẫn, dường như chúng không bị phân cách bởi các lộ trình ý môn. Dường như cái thấy không biến mất và có thể nghe hoặc kinh nghiệm đối tượng xúc chạm cùng một lúc. Điều này cho chúng ta thấy những lộ trình tâm nối tiếp nhau một cách cực kỳ nhanh chóng. Ý môn bị che lấp trong thời điểm này, nó bị che lấp bởi ngũ môn. Nhằm nhắc nhở chúng ta về điều mà chúng ta chưa biết, Khun Sujin nói: “Một cánh cửa giác quan là sáng, những cánh cửa khác là tối.” Chỉ khi có cái thấy thì thế giới này mới sáng. Nhưng giờ đây dường như thế giới vẫn tiếp tục sáng. Dường như cái thấy là liên tục.

Tại thời điểm này, chúng ta biết trên lý thuyết rằng danh là yếu tố kinh nghiệm đối tượng và sắc là yếu tố không kinh nghiệm gì cả. Tuy nhiên, ví dụ như khi có kinh nghiệm về đặc tính nóng qua thân căn, rất khó để phân biệt danh với sắc. Chánh niệm chỉ có thể  hay biết một đối tượng tại một thời điểm, là danh hoặc sắc, và tại thời điểm đó không có “thân thể của tôi”. Khi nghĩ về “cảm giác trên thân”, chúng ta nghĩ về một “khối” và chúng ta đang trộn lẫn danh và sắc. Khi đó sẽ tiếp tục dính mắc vào ngã.

Ban đầu, việc hiểu danh và sắc chắc chắn sẽ mơ hồ và có thể chỉ có chánh niệm trên một vài loại danh và sắc mà thôi. Việc chánh niệm sinh khởi ở căn môn nào phụ thuộc vào tích lũy của từng cá nhân. Kể cả khi đã đạt được tuệ vipassana đầu tiên, vẫn có thể chưa có hiểu biết rõ ràng về nhiều loại thực tại Tuy nhiên, khi giai đoạn này sinh khởi sẽ không có sự nghi ngờ về các đặc tính của danh và về các đặc tính của sắc, cả hai đều xuất hiện qua ý môn. Khi đó có một hiểu biết trực nhận về danh và sắc. Sau khi đạt tới giai đoạn này chúng ta phải tiếp tục chánh niệm và phát triển hiểu biết về tất cả các loại thực tại xuất hiện qua sáu môn. Khun Sujin nói: Đặc tính của danh chỉ có thể xuất hiện rõ ràng khi ý môn xuất hiện. Vào khoảnh khắc của tuệ minh sát đầu tiên, trí tuệ biết các đặc tính của danh và các đặc tính của sắc. Sắc không khác với sắc thường xuất hiện qua các giác quan. Đối tượng thị giác xuất hiện qua ý môn chỉ tự nhiên như khi chúng ta thấy bây giờ, nhưng vào thời điểm đó nó không được kinh nghiệm qua nhãn môn mà thông qua ý môn.

Trong một chuyến đi tại miền Bắc Thái Lan, Alan Driver hỏi Khun Sujin một số câu hỏi về tuệ minh sát thứ nhất và tôi trích dẫn cuộc đối thoại ở đây:

Alan: “Liệu đối tượng thị giác xuất hiện qua ý môn có giống như qua nhãn môn hay không, hay nó xuất hiện khác hẳn vào thời điểm của tuệ thứ nhất?

Khun Sujin: Nó giống nhau, hoàn toàn giống nhau.

Alan: Nếu như vậy, làm sao ta có thể biết sự khác nhau giữa cái thấy và kinh nghiệm qua ý môn?

Khun Sujin: Chúng ta biết sự khác nhau giữa các đặc tính của ngũ môn và ý môn.

Alan: Khác nhau thế nào?

Khun Sujin: Khi ý môn xuất hiệndường như không có môn nào trong ngũ môn đang xuất hiện. Đó là thời điểm của tuệ minh sát. Chúng ta biết đối tượng của ngũ môn từng cái một vào mỗi thời điểm, nhưng khi đó dường như không có cái gì xuất hiện qua ngũ môn, mà đối tượng chỉ xuất hiện qua ý môn. Nhưng cũng phải có lộ trình ngũ môn, ví dụ, nếu không âm thanh không thể xuất hiện. Âm thanh sinh khởi rất nhanh qua lộ trình nhĩ môn và sau đó sinh khởi lộ trình ý môn, do đó nó có thể được kinh nghiệm qua ý môn.

Khi có ai đó hỏi bạn: “Có cái nghe hay không?”, bạn tự động nghĩ tới tai và cái nghe. Điều này là bình thường. Vào thời điểm đó, lộ trình ngũ môn che phủ chức năng của lộ trình ý môn – thứ cũng “nghe” âm thanh. Tuy nhiên, khi có tuệ vipassana, luôn luôn có lộ trình ý môn. Một sắc tại một thời điểm và một danh tại một thời điểm xuất hiện và được hiểu. Thế giới không xuất hiện, không có ai, không có bất kỳ cái gì cả.

Alan: Khi ngũ môn không xuất hiện thì sẽ như thế nào?

Khun Sujin: Bây giờ có lộ trình ngũ môn, ngũ môn xuất hiện còn ý môn thì không. Khi ý môn xuất hiện nó khác với bây giờ.

Alan: Khác như thế nào?

Khun Sujin: Không như bây giờ, có âm thanh, mùi vị, mọi thứ. Khi ý môn xuất hiện, ta biết nó như thế nào và không có nghi ngờ về ý môn.

Khi chúng ta nghe âm thanh vào thời điểm này, chúng ta có một nhận thức mơ hồ về đặc tính của âm thanh, nhưng danh và sắc và tất cả các cánh cửa giác quan  phối hợp với nhau. Trong khi đó,  khi có tuệ minh sát thứ nhất, có một sự hiểu biết trực tiếp về sự khác nhau giữa danh và sắc. Trí tuệ biết rõ ràng điều này, nó không phải suy nghĩ hay cân nhắc.

Liệu có còn nghi ngờ về ý môn? Liệu danh có xuất hiện rõ ràng như một yếu tố kinh nghiệm sự vật hiện tượng? Khi nhận ra rằng mình vẫn không biết, chúng ta sẽ không tin tưởng sai lầm rằng mình có thể có hiểu biết trực nhận về sự sinh diệt của danh và sắc. Điều này chỉ có thể được nhận thức vào các giai đoạn (tuệ minh sát) sau. Ban đầu trí tuệ phải được phát triển đến mức độ nó có thể phân biệt được rõ ràng các đặc tính khác nhau này.

Chúng ta nên biết ơn đức Phật đã dạy chúng ta về tất cả các thực tại đã xuất hiện tự nhiên trong đời sống hàng ngày. Nhờ đó chúng ta có thể kiểm chứng sự thực của những gì ngài dạy. Ngài dạy rằng mỗi thực tại sinh khởi bởi những nhân duyên riêng của nó. Ví dụ như, nếu không có nhãn căn và đối tượng thị giác (sắc), thì nhãn thức không thể sinh khởi. Nhãn căn và sắc là những điều kiện cần thiết cho cái thấy. Nhãn căn là sắc, là nền tảng vật chất hay nơi khởi đầu cho nhãn thức. Cái thấy sinh khởi từ nền tảng (cơ sở) này. Nhĩ thức sinh khởi từ nhĩ căn và mỗi thức đều có căn tương ứng. Các sắc là ngũ căn là những nền tảng chịu sinh diệt, chúng không tồn tại kéo dài. Các nền tảng cho thân thức có thể là bất kỳ điểm nào trên cơ thể, ở bên trong hay bên ngoài. Khi chúng ta nghĩ về “thân căn”, chúng ta vẫn có ý niệm rằng bản thân thân thể có thể kinh nghiệm được đối tượng. Thân căn là nền tảng cho thân thức và cũng cho các cảm thọ thân thể đi kèm, có thể là lạc thọ hoặc khổ thọ. Chúng ta không thích đau đớn và gắn tầm quan trọng lớn lao cho sự thoải mái của thân thể. Khi biết chính xác thân căn là gì, chúng ta sẽ đỡ hiểu lầm hơn về danh và sắc.

Cụm từ “thân căn” có thể làm chúng ta hiểu nhầm. Thân căn không thể kinh nghiệm được đối tượng. Nó có thể là một duyên cho sự kinh nghiệm các đối tượng xúc chạm,  cứng hay mềm, nóng hay lạnh, căng hay trùng. Có thể có sự xúc chạm bởi chỉ một trong những sắc này trên một phần rất nhỏ của thân tại một thời điểm, và sau đó thân thức kinh nghiệm đối tượng này chỉ trong một khoảnh khắc. Khi đó, điểm xúc chạm trên cơ thể là thân căn và thân môn, nhưng nó diệt đi ngay tức thì. Khi có kinh nghiệm về một đặc tính của sắc như nóng, lúc đó sự xúc chạm trên sắc là thân căn, không có gì khác có thể xuất hiện tại nơi khác trên cơ thể vào khoảnh khắc đó. Những phần này còn lại trên cơ thể như hoàn toàn bị tê liệt. Chúng không thể là cơ sở cho thân thức và thân thọ. Vào cùng lúc đó, không thể nhìn thấy hay nghe thấy được gì, bởi vì chỉ có thể có một tâm tại một thời điểm kinh nghiệm một đối tượng.

Chồng tôi nhấn một tay lên vai mình và một tay lên thắt lưng mình, và anh ấy nghĩ rằng có thể kinh nghiệm đặc tính cứng ở cả hai điểm đó cùng một lúc. Khi chỉ có sự suy nghĩ về thân thể như một khối và không có chánh niệm về một đối tượng tại một thời điểm, chúng ta sẽ không biết sự thực. Chúng ta bị đánh lừa bởi sanna, tâm sở tưởng, tâm sở có chức năng ghi nhớ. Khi có tưởng – sự nhớ lại – sai lầm, không dựa trên sự thực, thì dường như có ‘toàn thể thân thể tôi”. Tất cả sắc của thân thể sinh và diệt ngay lập tức không bao giờ quay trở lại. Do nắm giữ ký ức về cái đã được kinh nghiệm đã diệt đi rồi, chúng ta không biết được sự thực. Có attasanna, ngã tưởng: nhớ nghĩ sai lầm về ngã, có nicca sanna, nhớ tưởng sai lầm về sự vật như chúng là thường còn. Chúng ta vẫn còn nghĩ rằng toàn thể cánh tay có thể cảm nhận được có phải không? Khi đó sẽ là điên đảo tưởng. Do sự kết hợp của những kinh nghiệm khác nhau trong quá khứ, cũng như trong quá khứ gần, mà chúng ta xây dựng nên ý tưởng về một cái tay cảm thọ được đối tượng.

Trong Chú giải Bộ Phân tích của Tạng Vi Diệu Pháp (Vibhanga), cuốn “Xua tan si ám” (Sammohavinodana, phần Phân tích các uẩn), tưởng được giải thích như một ảo giác lừa dối chúng ta:

Tưởng cũng giống như một ảo giác, với  nghĩa không có thực và không thể nắm giữ được. Vì chúng ta không thể cầm lấy được, không thể uống, không thể rửa hay tắm trong đó, cũng như không thể đổ nó đầy vào bình được.  Hơn nữa, chính vì tưởng giống như một ảo giác lung linh và giống như chuyển động của những ngọn sóng, chính vì thế tưởng được chia thành: tưởng màu xanh,..v..v… nhằm cảm nghiệm được màu xanh, v.v. . . giao động và lung linh. Và giống như ảo giác có thể lừa dối nhiều người và khiến cho họ nói rằng: “Đây là màu xanh, đẹp, hấp dẫn và trường cửu”. Cũng như vậy trong trường hợp màu vàng v.v… Vì thế, tưởng giống như ảo giác cũng do đặc tính lừa đảo, ảo thuật.

Chúng ta có thể không để ý tới tầm mức mà tưởng sai lầm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của mình. Chúng ta bị mê mờ bởi bề ngoài của các sự vật . Khi bọn trẻ con chơi với các con thú đồ chơi và búp bê, chúng sống trong giấc mơ riêng của chúng nơi chúng có tầm quan trọng thực sự. Khi đồ chơi bị hỏng hay bị mất, chúng khóc. Liệu không phải đáng thương sao khi chúng ta không thực sự lớn lên, mà vẫn đang chơi đùa trong thế giới mộng mơ của mình? Bởi vì tưởng ghi nhớ một cách sai lầm nên chúng ta nắm giữ tất cả các đối tượng đã được kinh nghiệm. Chúng ta có một khoảng thời gian hạnh phúc ngắn ngủi với năm uẩn sinh khởi, hiện diện trong một thời gian cực kỳ ngắn ngủi và sau đó diệt mất. Chúng ta khóc trước những mất mát của mình.

Chúng ta có thể bắt đầu chánh niệm về những đặc tính khác nhau của danh và sắc, không nên đánh mất khoảnh khắc này. Việc nghiên cứu Vi diệu Pháp giúp chúng ta loại bỏ nhiều hiểu biết sai lầm về các danh và sắc khác nhau. Ví dụ khi có cái cứng xuất hiện thì đặc tính này có thể được biết là một sắc, chứ không phải cái tôi. Chúng ta không nên cố gắng nắm bắt đó là nơi nào trên thân căn tại thời điểm đó. Sắc là thân căn không thể được kinh nghiệm qua xúc chạm, nó chỉ có thể được kinh nghiệm qua ý môn. Sắc này sẽ diệt đi ngay lập tức. Chúng ta đọc trong kinh điển rằng các thực tại là vô ngã, nhưng vô ngã có thể chỉ là một từ ngữ đối với chúng ta. Có phải thực tại vô ngã đã  xuất hiện qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý môn? Nếu chúng ta vẫn còn xao động, nhầm lẫn giữa các cánh cửa giác quan này thì dường như con người nhà, cây cối vẫn xuất hiện và chúng dường như là thực. Cái thấy là một kinh nghiệm và nó chỉ kinh nghiệm mầu sắc, chứ nó không lien quan gì tới cái nghe hay kinh nghiệm đối tượng xúc chạm. Chỉ có khi trí tuệ được phát triển tới mức độ tuệ thứ nhất thì mới không có thế giới, không có con người, không có cái tôi nào xuất hiện mà chỉ có danh và sắc.

Khi các đối tượng khác nhau được kinh nghiệm qua sáu  cửa giác quan không được phân biệt rõ ràng, chúng ta có xu hướng nghĩ những câu chuyện dài về những điều không có thật. Khi đó, đối tượng chỉ là một khái niệm. Chúng ta bị ám ảnh bởi những suy nghĩ của mình và dính mắc vào chúng, và do đó vẫn có nhữngnhân duyên cho tái sinh. Bậc A la hán cũng suy nghĩ nhưng ngài không có phiền não, ngài không còn duyên để tái sinh. Chúng ta đọc trong Tương ưng bộ kinh (II, Thiên nhân duyên, Chương IV, phần.40, Tư tâm sở), rằng đức Phật, khi đang ở Xá vệ, nói với chư Tăng:

Này các Tỷ-kheo, cái gì chúng ta tư niệm, cái gì chúng ta tư lường, cái gì chúng ta có thầm ý, cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức an trú. Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng về. Do có thiên về, hướng về nên có sự đi đến tái sanh. Do có sự đi đến tái sanh nên có từ bỏ và sanh khởi. Do có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Đoạn kinh này nói về cuộc sống hàng ngày. Liên tục và lại nữa, chúng ta mê mải trong suy nghĩ và dự tính của mình mà quên đi các thực tại. Chúng ta lập kế hoạch sẽ làm gì hôm nay hay ngày mai. Tuy nhiên, nếu không có tâm suy nghĩ, chúng ta không thể hoạch định bất kỳ điều gì. Nếu chúng ta nhớ đến điều này thì có thể có nhân duyên cho chánh niệm về tâm suy nghĩ và nó có thể được nhận biết là một danh do duyên khởi. Tại khoảnh khắc đó, chúng ta không bị suy nghĩ ám ảnh. Sẽ lại có suy nghĩ vì có nhân duyên cho nó, nhưng bằng chánh niệm và hiểu biết đúng, có thể nhận biết nó là vô ngã.

 

Với tâm từ,

Nina Van Gorkom

 

(Chuyển ngữ : Thanh Mai – Trịnh Đức Vinh)

 

Bức thư vipassana 2

Bức thư vipassana 2

Các đạo hữu thân mến,

Khi Khun Sujin (Achaan Sujin Boriharnwanaket) ghé thăm Anh, Alan Weller đã ghi âm lại các buổi đàm đạo giữa anh ấy và bà. Các cuốn băng này chứa đựng nhiều lời nhắc nhở quý báu về [sự phát triển] tứ niệm xứ trong cuộc sống đời thường và vì vậy, tôi muốn chia sẻ với tất cả các bạn. Họ đã thảo luận về tâm (citta), tâm sở (cetasika) và sắc (rupa). Họ đã nói về tâm kinh nghiệm các đối tượng qua sáu môn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

Có nhiều loại tâm sinh khởi trong cuộc sống thường ngày. Có đối tượng thị giác và có sự diễn giải về cái đã được thấy và khi đó không còn là cái thấy (nhãn thức) nữa mà là suy nghĩ. Khi có nhân duyên cho chánh niệm sinh khởi, nó sẽ ghi nhận bất cứ đối tượng nào xuất hiện, đó có thể là đối tượng thị giác, nhãn thức, cảm thọ hay suy nghĩ. Khi chánh niệm sinh khởi, ta không cần đặt tên dán nhãn cho bất cứ thực tại nào, mà sẽ có kinh nghiệm trực tiếp về đặc tính của thực tại. Cái thấy chỉ là kinh nghiệm về đối tượng thị giác, nó có đặc tính riêng của nó, ta không cần phải đặt tên cho nó. Suy nghĩ cũng chỉ là suy nghĩ, nó có đặc tính riêng và không cần phải đặt tên.

Cái thấy thấy đối tượng thị giác nhưng chỉ trong một khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi và rồi diệt đi. Đối tượng thị giác cũng vậy, nó không tồn tại lâu mà diệt đi ngay. Cái thấy chỉ có thể thấy, nó không thể suy nghĩ về đối tượng thị giác. Nếu ta muốn chú tâm vào cái thấy hay đối tượng thị giác, nếu có bất cứ ý muốn tập trung vào để biết chúng, điều ấy sẽ ngăn trở sự sinh khởi của tuệ giác về thực tại. Ta không thể nhìn chằm chằm vào đối tượng thị giác, vì thực tế là nó chỉ được thấy trong một sát na, rồi lại diệt đi. Chúng ta có thể nghĩ về nó, nhưng đó không phải là sự trực nhận bằng chánh niệm về đặc tính của nó.

Tôi xin viết lại dưới đây cuộc đối thoại giữa Khun Sujin (K.S) và Alan (A) về chủ đề này:

K.S: Khi ta càng hiểu rõ tính chất của suy nghĩ, ta sẽ càng thấy rõ hơn rằng đối tượng thị giác chỉ là đối tượng thị giác. Việc có suy nghĩ hoàn toàn không phải là một vấn đề, bởi hầu như lúc nào cũng có nhân duyên cho suy nghĩ khởi sinh. Khi có kinh nghiệm về một đối tượng qua một trong ngũ môn, lập tức có suy nghĩ sinh khởi.

A: Chúng ta cần phải nhận biết bằng kinh nghiệm trực tiếp chứ không nên thông qua suy nghĩ.

K.S: Chính vì vậy cần phải có chánh niệm trên suy nghĩ và hiểu biết rằng đó chỉ là một thực tại.

A: Chính vậy đấy, đối tượng thị giác cần phải được tách khỏi suy nghĩ [về nó].

K.S: Đó là lý do vì sao ta cần hay biết về suy nghĩ, để có thể hiểu được thực tại. Nhiều người không muốn có suy nghĩ, họ cố gắng ngăn chặn suy nghĩ. Họ cho rằng bằng cách ấy họ có thể hiểu được thực tại

A: Suy nghĩ xảy ra rất nhanh. Mắt vừa thấy một đối tượng thị giác là lập tức có ngay suy nghĩ.

K.S: Sự phát triển chánh niệm là cần thiết để có thể hiểu được suy nghĩ. Đối tượng thị giác xuất hiện chớp nhoáng và rồi có suy nghĩ. Suy nghĩ về một cái gì đó.

A: Suy nghĩ ấy chỉ lấy ra một thứ trong đối tượng thị giác kia. Chỉ một ý tưởng [về nó] thôi.

K.S: Và lập tức [ý niệm về] “cái gì đó” đã ở đó, ngay cả khi chúng ta không gọi tên nó. Khi chúng ta tập trung vào cái gì đó thì chỉ có suy nghĩ chứ không có cái thấy. Để có kinh nghiệm về cái thấy, bạn không cần tập trung vào một điểm.

A: Khi tôi nhìn vào một cái ri-đô nhưng không nhận ra những họa tiết hình quả dứa, bởi khi đó tôi chưa nghĩ về chúng. Chỉ khi ai đó nói rằng có hình quả dứa, tôi mới nhận ra chúng.

K.S: Bởi vì khi đó bạn nghĩ về chúng. Cái ta thấy bây giờ chỉ là một thực tại và rồi tưởng suy nghĩ rất nhiều. Điều này luôn luôn diễn ra, khi bạn đọc sách, xem T.V, ngắm tranh hay nhìn ngó khi đi bộ trên phố. Có thể có hiểu biết về bản chất của thực tại vào những thời điểm đó.

A: Khi ta lựa ra một vài thứ từ đối tượng thị giác, đó  chỉ là các loại suy nghĩ khác nhau.

K.S: Ta bắt đầu hiểu ra rằng không có ai cả, suy nghĩ chỉ là suy nghĩ mà thôi.

A: Suy nghĩ chỉ là hoạt động của tưởng uẩn. Không có người nào trong đó cả, mà chỉ có các thực tại. Đó là nghĩa thực của “một mình”

K.S: Đó chính là cách thức để bớt dính chấp vào ý niệm về một cái “tôi” mà chúng ta gán cho thực tại. Luôn luôn có ý niệm “tôi nghĩ”; “tôi thấy”; luôn luôn là “Tôi, tôi, tôi”. Tại thời điểm chưa có sự chú ý tới hình dạng, chánh niệm trên thực tại chân đế có thể được vun bồi. Không chỉ với đối tượng thị giác, mà với đối tượng âm thanh nữa. Chánh niệm có thể hay biết bất cứ thực tại nào mà không cần tới suy nghĩ. Có âm thanh sinh khởi, rồi đối tượng thị giác, rồi lại âm thanh, những sát na ấy vô cùng ngắn ngủi. Chánh niệm có thể theo sát mọi loại thực tại chân đế.

A: Khi ta chú ý đến hình dạng [của một đối tượng], thường có tham sinh khởi có phải không?

K.S: Khi cảm thọ không phải là khổ, tức là  là lạc hay trung tính (xả), thì thường có tham. Tham sinh khởi khi ta đọc báo hay xem tranh ảnh, tuy nhiên, chánh niệm có thể hay biết được các thực tại chân đế trong đời sống hàng ngày. Chánh niệm cần phải rất “thường nhật”.

A: Tôi nghĩ rằng không có sự khác biệt giữa các bối cảnh khác nhau.

KS: Không có chút khác biệt nào cả. Sáu căn luôn là vậy dù ở bất kỳ nơi đâu. Chúng ta cần bớt dính mắc. Điều ấy không thể được đạt tới bằng cái ngã, mà bằng trí tuệ. Thông qua [sự phát triển] tứ niệm xứ, ta thấy rõ hơn căn cơ của mình, tứ niệm xứ cần được phát triển một cách tự nhiên. Dù chúng ta đi lại hay nhìn ngó cái gì đó, chánh niệm đều có thể ghi nhận và trí tuệ có thể hiểu. Mỗi thực tại sinh và diệt nhanh chóng, nhưng chánh niệm có thể theo sát các thực tại khác nhau đang xuất hiện. Thay cho việc suy nghĩ quá nhiều về những người khác, chánh niệm có thể ghi nhận các thực tại. Chúng ta có thể nghĩ về những người khác và băn khoăn tại sao họ lại cư xử như vậy, thế còn tâm của ta thì sao? Chánh niệm đưa ta trở lại với “thực tại của chính mình”.

Quả là, đôi khi chúng ta sân với cách cư xử của một ai đó. Thay cho việc suy nghĩ mãi về điều ấy, ta có thể có chánh niệm ghi nhận bất cứ danh và sắc nào đang xuất hiện. Chúng ta không bám vào bất cứ cái gì khi chánh niệm sinh khởi, lại có các thực tại khác xuất hiện và chánh niệm có thể theo sát chúng.

Một số người khi nghe về tâm, tâm sở và sắc, nói rằng họ không thích tạng Vi diệu pháp mà thích tạng Kinh hơn. Họ cho rằng VDP mang nặng tính lý thuyết. Tùy vào căn cơ mà mỗi người sẽ tìm hiểu VDP đến mức nào, tuy nhiên, nếu không có chút kiến thức nào về danh, về thực tại hay biết đối tượng, và về sắc, thực tại không hay biết gì cả, ta không thể phát triển con đường Bát Chánh Đạo. Ta không biết cái gì là đối tượng của chánh niệm. Ta không biết rằng các khái niệm như là toàn thân hay con người không thể là đối tượng của chánh niệm, mà chỉ có thể là đối tượng của suy nghĩ. Một danh hoặc sắc tại thời điểm xuất hiện qua một trong sáu môn có thể là đối tượng của chánh niệm. Nếu ta bắt đầu ghi nhận được đặc tính của cái thấy đang xuất hiện, hay đặc tính của đối tượng thị giác, hay đặc tính của bất cứ thực tại nào khác đang sinh khởi, ta sẽ hiểu rằng VDP giải thích bản chất của thực tại của cuộc sống đời thường của chúng ta. Trong tạng Kinh cũng ngập tràn Vi diệu pháp, chúng ta không thể thực sự nắm bắt ý nghĩa của các bài kinh mà không có kiến thức về thực tại chân đế (paramatha dhammas). Trong kinh, chúng ta đọc rất nhiều những đoạn nói về các đối tượng sinh khởi qua sáu căn, ta đọc về thấy, nghe, ngửi, xúc chạm, về sự nhận biết sự xúc chạm và về sự nhận biết các đối tượng qua ý môn. Nếu ta không biết rằng, sự nhận biết, kinh nghiệm các đối tượng qua sáu môn là các tâm khác nhau, chúng ta sẽ chấp các kinh nghiệm là ta và của ta.

Chúng ta học qua VDP và cũng qua các bài kinh rằng tâm luôn đi kèm với các tâm sở khác nhau. Không phải ai cũng có thiên hướng nghiên cứu kỹ lưỡng các tâm sở, nhưng nếu ta không biết chút gì về chúng, ta sẽ không thấy được rằng tâm bất thiện khác với tâm thiện đến thế vì chúng đi kèm với các loại tâm sở khác nhau. Các phiền não cũng như các thiện tâm thực chất là các tâm sở đi kèm với tâm. Các chi của Bát Chánh Đạo, như chánh kiến và chánh niệm đều là các tâm sở. Khi các tâm sở này sinh kèm với các tâm thiện thì con đường Bát Chánh Đạo đang được bồi đắp, chỉ trong một khoảnh khắc, và rồi tâm và các tâm sở đồng sinh diệt đi. Chánh niệm (sati) và trí tuệ (panna) có thể được tích lũy và rồi tạo duyên cho các khoảnh khắc vun đắp con đường Bát Chánh Đạo về sau. Trí tuệ được vun bồi trong từng khoảnh khắc. Nếu chúng ta hiểu được rằng, cuộc sống chỉ tồn tại trong một sát-na, chúng ta sẽ bớt dễ dàng tin rằng có một cái ngã, một ai đó có thể vun đắp con đường Bát Chánh Đạo một cách liên tục. Điều ấy là không đúng, bởi khoảnh khắc tiếp theo có thể lại là bất thiện. Nếu ta biết rằng chánh tinh tấn là một tâm sở sinh khởi chỉ trong một sát-na, chúng ta sẽ bớt bám chấp vào ý niệm một cái tôi đang cố gắng phát triển con đường Bát Chánh Đạo.

Chúng ta nghĩ rằng chúng ta phải phát triển trí tuệ, nhưng thực chất là chính trí tuệ là chủ thể phát triển. Không có người nào vun bồi trí tuệ cả. Khun Sujin  nhận xét:

Thoạt đầu có vẻ như là “tôi” đang vun bồi, nhưng dần dà, ta nhận ra rằng đó chính là chánh kiến, là tuệ giác đang làm công việc ấy. Ta đi tới kết luận rằng không ai có thể làm được gì cả. Alan nói:

Vì mỗi một sát na đều do duyên khởi, ta không thể làm gì, hay kiểm soát cái gì, ngay cả việc vun bồi trí tuệ. Việc ấy được tạo duyên bởi những gì đã được học và suy ngẫm. Khun Sujin nhận xét:

Ngay cả khi ta tự coi mình là một Phật tử, điều ấy còn tùy thuộc vào việc ta có đọc và suy ngẫm một cách sáng suốt  hay không. Hay ta chỉ muốn làm một “ai đó” thay cho việc phát triển chánh kiến?

Khá khó khăn để phát triển hiểu biết về đối tượng thị giác trong khoảnh khắc hiện tại, để nhận ra không có bất kỳ người nào trong đối tượng thị giác được thấy. Phải mất thời gian nghe đi nghe lại, hay biết đi hay biết lại. Nếu thiếu chánh niệm và hiểu biết về giây phút hiện tại, sẽ không có cách nào loại bỏ được tham ái. Luôn có tham ái khi chúng ta muốn có một kinh nghiệm đặc biệt thay vì phát triển hiểu biết. Tôi không bảo mọi người trước tiên cần làm thế này hay thế kia để có chánh niệm, vì không có kỹ thuật nào để áp dụng. Chúng ta nghĩ quá nhiều và cố gắng quá nhiều. Khi nào có thể có tứ niệm xứ? Khi có đủ hiểu biết để tạo duyên cho nó

Chúng ta có thể rất mong đạt được các tầng tuệ khác nhau, nhưng nếu có mong ước như vậy, liệu có ý niệm về ngã không? Chúng ta không nên ép bản thân đạt được cái gì đó mà chúng ta chưa thực sự sẵn sàng. Khun Sujin nói:

Giây phút này đang có một chút hiểu biết đã là đủ cho hiện giờ, như vậy sự phát triển sẽ có thể tiếp tục một cách tự nhiên. Nên biết chấp nhận năng lực của bản thân. Chúng ta nên biết ơn Đức Phật về những hiểu biết mà chúng ta đã có được, dù còn chưa sâu sắc. Nếu bây giờ chưa có nhiều trí tuệ đó là vì nó chưa được phát triển nhiều trong quá khứ. Phải mất vô lượng kiếp để phát triển trí tuệ. Chúng ta nên nhớ rằng chánh kiến, trí tuệ là một thực tại do duyên khởi, chúng ta không thể thúc nó phát triển. Nếu chúng ta cố tình làm vậy, chúng ta đang bị dính mắc vào ý niệm về ngã. Tuy nhiên, phát triển hiểu biết sẽ loại bỏ ý niệm về ngã.

Một người bạn đã viết thư cho tôi nói về kỹ thuật hành thiền mà anh ta áp dụng nhằm kinh nghiệm đặc tính vô thường của các sắc trên thân. Thông qua tập trung vào các sắc trên thân, anh ta nghĩ rằng anh ta có thể kinh nghiệm sự thay đổi của các sắc, chẳng hạn như cái nóng trên thân. Anh ta thấy rằng, thật là một thách thức trí óc để nắm bắt được sự thật về vô ngã và thông qua kinh nghiệm đặc tính vô thường, anh ta tin rằng anh ta có thể nhận biết sự thật về vô ngã dễ dàng hơn. Anh ta nghĩ rằng bằng phương pháp này, có thể đạt được tất cả các tầng tuệ vipassana.

Khi sắc pháp là cái nóng xuất hiện, chắc chắn phải có danh kinh nghiệm đặc tính nóng. Để biết sự thật, không nên chỉ có chánh niệm về sắc mà còn cả về danh nữa- cái nhận biết đối tượng. Nếu không có chánh niệm và chánh kiến để nhận biết danh là danh và sắc là sắc, sẽ có ý niệm về ngã, người cảm thấy nóng hay “cơ thể của tôi” bị nóng. Có “ai đó” hay “cái gì đó” ở đó, vì vậy, có sự dính mắc vào ngã. Ý niệm về ngã bám rễ rất sâu, ngay cả khi chúng ta không nghĩ “tôi cảm thấy” hay “đây là cơ thể của tôi”.

Không dễ gì hiểu được ý nghĩa của vô ngã, như tác giả của bức thư đã nhấn mạnh. Chúng ta nên suy ngẫm những điều Đức Phật dạy về vô ngã. Ngài đã chỉ rõ các duyên tố cho từng thực tại sinh khởi. Vì danh và sắc sinh khởi do duyên nên chúng ta không thể kiểm soát sự sinh khởi của chúng. “Ngoài tầm kiểm soát” là một cách để miêu tả bản chất của vô ngã. Khi có đủ duyên, một sắc như đặc tính nóng có thể tác động lên thân. Thân căn là một loại sắc do nghiệp sinh. Không có ai có thể tạo ra thân căn của mình. Thân căn nằm trải khắp cơ thể, có thể ở bên trong hay bên ngoài. Khi đặc tính nóng tác động lên thân căn, nó tạo duyên để sinh khởi thân thức kinh nghiệm nóng trong một khoảnh khắc rất ngắn rồi diệt ngay. Nó chỉ hoàn toàn kinh nghiệm cái nóng và không biết bất cứ cái gì khác. Có cả cảm thọ đi cùng với thân thức, nó là một tâm sở cảm nhận do kinh nghiệm đối tượng xúc chạm. Khi đối tượng xúc chạm khả ái, có thọ lạc đi kèm với thân thức, và khi đối tượng xúc chạm bất khả ái, có thọ khổ đi kèm với thân thức. Ngay sau đó dễ có các tâm bất thiện – có thể là các tâm tham căn đi kèm với thọ lạc hay thọ trung tính, hoặc tâm bất thiện căn sân đi kèm với thọ khổ, hoặc tâm bất thiện căn si đi kèm với thọ trung tính. Đôi khi có thể có tâm thiện đi kèm với thọ lạc hay thọ trung tính. Thông qua chánh niệm, chúng ta có thể học được rằng khi không phải là thọ khổ, thường có sự dính mắc vào đối tượng.

Thoạt đầu, dường như  chỉ chánh niệm về các sắc pháp trên thân có vẻ dễ dàng. Khi chúng ta học thêm về các loại danh và sắc khác nhau, chúng ta có thể thấy không dễ chút nào để có hiểu biết chính xác về bất kỳ loại danh hay sắc nào.

Khi có chánh niệm về danh hay sắc, hiểu biết đúng về các đặc tính của chúng có thể phát triển . Khi cái nóng xuất hiện, có thể biết đặc tính của nó chỉ là một sắc. Chúng ta không phải nghĩ liệu đó là cái nóng bên ngoài hay bên trong, hay cái nóng xuất hiện ở điểm nào trên thân. Nó chỉ là một sắc xuất hiện tại một thời điểm, nó không thuộc về “thân của tôi”, nó nằm ngoài sự kiểm soát. Hiểu biết về các loại danh sắc sinh khởi qua các căn tương ứng sẽ được phát triển rất từ từ. Chỉ sau đó, trí tuệ có thể nhận ra ba đặc tính chung của danh và sắc, đó là vô thường, khổ và vô ngã.

Chúng ta có thể tin rằng mình có thể lựa chọn đối tượng cho chánh niệm, nhưng thực ra chánh niệm tự chọn đối tượng của nó. Chánh niệm là một tâm sở, và hiểu biết, trí tuệ là một tâm sở khác. Khi có đủ duyên, thiện tâm đi kèm với chánh niệm và trí tuệ có thể sinh khởi. Chúng ta không thể lựa chọn đối tượng cho chánh niệm như đối tượng thị giác, vì có cả các thực tại khác đang sinh khởi. Đối tượng thị giác, cái thấy, âm thanh hay cái nghe xuất hiện mọi lúc trong cuộc sống hàng ngày. Phải chăng không nên phát triển hiểu biết đúng về các thực tại này? Tất cả các thực tại xuất hiện đều nằm ngoài tầm kiểm soát. Đức Phật đã nói về sáu môn nhằm nhắc nhở mọi người rằng, nên hay biết tất cả các thực tại trong cuộc sống hàng ngày như chúng là.

Không dễ chút nào để biết một cách chính xác, thông qua trực nhận, cái gì là danh và cái gì là sắc. Khi trí tuệ còn yếu, chúng ta không chắc chắn liệu đây là đặc tính của danh hay của sắc đang xuất hiện. Trí tuệ phải được phát triển dần dần. Khi có kinh nghiệm trực tiếp về đặc tính cứng hay đặc tính nóng, chúng ta có thể phân vân liệu đó có phải là chánh niệm hay không. Việc có thể kinh nghiệm trực tiếp về tính cứng hay tính nóng mà không cần nghĩ về chúng cũng không đảm bảo rằng có chánh niệm. Chúng được kinh nghiệm trực tiếp bằng thân thức – một loại tâm quả, và tâm này không đi kèm với chánh niệm. Sau đó có thể có tâm bất thiện với sự dính mắc vi tế với tính cứng hay tính nóng, mà chúng ta lại tưởng là chánh niệm. Khi chúng ta cố gắng tập trung vào thực tại để nhận biết chúng thì có tâm bất thiện với sự dính mắc, khi đó có mong muốn được biết, không phải là chánh niệm.

Không có vấn đề gì nếu chánh niệm chưa sinh khởi. Nó được tạo duyên nhờ việc nghe Pháp, đọc và suy ngẫm, tức là, nhờ chánh kiến. Mục tiêu của chúng ta không nên là có chánh niệm để có chánh niệm. Có niệm mà không phát triển hiểu biết về danh và sắc đang xuất hiện thì sẽ không thể dẫn đến xóa bỏ ý niệm về “ngã”. Bài kinh sau có thể nhắc nhở chúng ta nên phát triển tuệ giác phân biệt danh và sắc, hiểu chúng là những pháp vô ngã. Chúng ta đọc trong “Tương Ưng Bộ kinh” (II, Thiên nhân duyên, Chương XIV, Tương ứng Giới, phần I) rằng Đức Phật khi ngự ở Savatthi đã nói với các tì kheo rằng:

Này các tì kheo, thế nào là giới sai biệt? Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới. Này các tì kheo, đây gọi là giới sai biệt.

Chúng ta nên suy ngẫm nhiều hơn về bài kinh này. Cái thấy chỉ có thể sinh khởi khi có đối tượng thị giác và nhãn căn, vì vậy, nó chỉ có thể sinh khởi khi có đủ duyên. Các danh pháp và sắc pháp trong cuộc sống của chúng ta sinh khởi do duyên, chúng không phải là ngã, ngoài sự kiểm soát. Khi cái nóng xuất hiện, có thể có sự phát triển [hiểu biết về] đặc tính của nó là một sắc pháp trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó. Đó là sắc, không phải là phần thuộc “cơ thể tôi”, không phải là ngã. Nó không biết bất cứ điều gì, nó khác với danh. Khi cảm thọ xuất hiện, có thể có sự phát triển hiểu biết về đặc tính của nó là một danh pháp. Nó là danh, nó kinh nghiệm đối tượng, khác với sắc. Không có ngã – người kinh nghiệm.

Khi có hiểu biết được phát triển trong khoảnh khắc chánh niệm, sẽ bớt hoài nghi liệu đã có chánh niệm hay chưa. Chánh niệm có thể sinh khởi tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày, trong khi thấy, nghe hay kinh nghiệm đối tượng qua các căn khác. Chắc chắn hoài nghi về chánh niệm có thể sinh khởi, nhưng khi đó chúng ta có thể nhận biết hoài nghi chỉ là một loại danh do duyên khởi. Khun Sujin đã nhắc nhở chúng ta: “Bắt đầu lại, chánh niệm lại”. Chánh niệm có thể theo sát tất cả các loại thực tại nào xuất hiện qua sáu căn. Chúng ta không nên cố nắm bắt bất kỳ thực tại nào, khi đó chúng ta sẽ quên những gì đang sinh khởi trong giây phút hiện tại. Chúng ta không nên cố gắng lựa chọn bất kỳ đối tượng nào để chánh niệm. Vì chánh niệm và trí tuệ là vô ngã, không thể có nguyên tắc nên chánh niệm về sắc trên thân trước, rồi mới đến thọ, tâm và pháp. Tầng tuệ đầu tiên là tuệ phân biệt danh sắc dường như còn xa vời, nhưng rất hữu ích biết được rằng đó là tầng tuệ đầu tiên. Khi chúng ta kinh nghiệm những thay đổi về thân nhiệt hay ghi nhận sự  xuất hiện và biến mất của âm thanh, chúng ta có thể tin rằng chúng ta đang kinh nghiệm tính vô thường của sắc. Tuy nhiên, thấy sự sinh diệt liên tục của danh và sắc là tầng tuệ thứ tư hay tầng tuệ thứ nhất của “tám tầng đại minh sát tuệ” – maha-vipassana, chỉ có thể đạt được khi đã đạt tầng tuệ thứ nhất của “các tuệ sơ cơ” (taruna vipassana).

Chúng ta có xu hướng đặt tên hay dán nhãn cho những đối tượng xuất hiện và nghĩ về chúng suốt thay vì chánh niệm về chúng nhằm nhận biết chúng là danh hay là sắc. Khun Sujin đã nhắc nhở Alan rằng:

Cuộc sống chỉ là dòng chảy của các thực tại. Không nghiên cứu tường tận về các thực tại, sẽ rất khó bớt dính chấp vào các đối tượng được kinh nghiệm. Xả ly là điều hữu ích nhất. Không dán nhãn đối tượng là một bước ngoặt khác cần phải đạt đến và khó khăn. Cuộc sống chỉ tồn tại trong một khoảnh khắc. Khi chúng ta suy xét điều này kỹ hơn, chúng ta sẽ bớt xu hướng dính mắc vào khái niệm về con người. Khi chúng ta dính mắc hay ghét ai đó, đó chỉ là suy nghĩ. Chúng ta luôn nghĩ về mọi người, nhưng khi có chánh niệm, chúng ta biết chúng ta nghĩ với tâm thiện hay tâm bất thiện, với tình yêu thương hay sân hận. Khun Sujin nói:

Khi chúng ta sân, chúng ta nên tìm hiểu xem đối tượng của tâm sân là một cái tên hay là một thực tại. Một cái tên đại diện cho một con người. Khi bạn nghĩ về một cái tên, bạn nghĩ đến ai đó. Chánh kiến có thể nhận ra đó cũng lại là suy nghĩ. Chúng ta sống với suy nghĩ của chính mình. Hãy phát triển tình yêu thương thay vì sân hận đối với cái chỉ là một cái tên.

Khi chúng ta hiểu rằng một người, theo nghĩa tuyệt đối, chỉ tồn tại trong suy nghĩ của chúng ta, chúng ta có thể đánh giá cao lời nhắc nhở sau:

Cái chúng ta coi là một người bạn trong thực tại chế định thực chất chỉ là một ý niệm. Khi bạn có một người bạn, điều đó có nghĩa gì? Bạn nói về cái gì? “Chúng ta nên làm gì vào ngày mai, chúng ta sẽ đi đâu và ăn gì?”. Điều này có nghĩa rằng bạn giao du với một quan điểm mà bạn gọi là một người bạn. Đó là những giây phút của suy nghĩ. Bạn có thế giao du với những quan điểm sai hay đúng và điều này ảnh hưởng tới hướng đi của cuộc đời bạn.

Khun Sujin cũng nói với Alan về cuộc sống hôn nhân:

Chúng ta bị dính mắc vào nhiều thứ trong cuộc sống nhưng chúng ta biết rằng nó rất ngắn ngủi. Bạn có thể thay đổi suy nghĩ của mình. Chúng ta sẽ lập gia đình hay sống độc thân  tùy thuộc vào sự tích lũy của mỗi người. Nhưng đừng quên phát triển trí tuệ. Bạn không nên nghĩ rằng sự dính mắc của bạn với một người sẽ kéo dài cả cuộc đời. Mọi khoảnh khắc đều do duyên sinh khởi. Mối quan hệ có thể thay đổi vì những tích lũy riêng của bạn hay tích lũy của người kia. Dính mắc tạo ra đau khổ, dù cho nó kéo dài hay ngắn ngủi. Nếu chúng ta thực sự nghiên cứu tâm của mình, chúng ta có thể hiểu rằng có nhiều mức độ dính mắc. Đôi khi chúng ta rất muốn điều gì đó cho bản thân, kể cả khi ta thích người kia. Bạn bị dính mắc vào người đó nhưng bạn lại vẫn muốn điều gì đó cho bản thân. Nếu chúng ta suy ngẫm thấu đáo về cuộc đời mình, sẽ thấy rằng chúng ta chỉ yêu bản thân mình. Tất cả mọi thứ đều chỉ nhằm thỏa mãn cảm giác, sự yêu thích của riêng bạn. Không có gì là thường hằng. Điều này giúp chúng ta nhìn thấy bản chất thật của thực tại. Chúng ta học được từ mọi thứ trong từng khoảnh khắc, ngay cả khi có sự mất mát. Dù cho sự mất mát không đem lại nhiều khổ đau cho tôi, tôi vẫn học được từ nó. Thật tốt nếu chúng ta được chuẩn bị, sẵn sàng để đối mặt với bất kỳ hoàn cảnh đau khổ nào. Hiểu biết về Giáo pháp có thể giúp chúng ta trong nhiều hoàn cảnh  mà nếu không có những hiểu biết ấy, ta sẽ cảm thấy bất hạnh.

Alan đã hỏi Khun Sujin:

Trong cuộc sống hàng ngày, có phải chúng ta nên cẩn trọng để không bị vướng vào những thú vui, những thứ phi Pháp (adhamma)?

Khun Sujin đã trả lời:

Tôi nghĩ chúng ta không thể sống mà không có vui thú, và chúng ta không thể sống thiếu Giáo pháp. Chúng ta không thể sống với vô minh, chỉ có vui thú. Người khôn ngoan không thể sống chỉ để vui thú. Người ấy sẽ sống với vui thú và với sự hiểu biết.

Đó là Trung đạo. Nếu chúng ta thành thật, chúng ta biết rằng chúng ta có những tích lũy cho vui thú, tại sao lại phủ nhận nó? Nhưng hiểu biết có thể phát triển một cách tự nhiên, về tất cả các thực tại sinh khởi, kể cả vui thú. Chúng ta không phải đợi hay thay đổi hoàn cảnh. Trung đạo là con đường đúng, nhưng rất khó. Chắc chắn tiến bộ sẽ chậm chạp, và bởi mong muốn [tiến bộ nhanh] chúng ta có thể cố chạy trốn khỏi cuộc sống hàng ngày, cố gắng nỗ lực và tập trung vào các thực tại. Khun Sujn đã nói đi nói lại về chánh niệm tự nhiên. Bà nói: “Khi chúng ta rất say mê cái gì đó, chúng ta không thể ngừng điều đó được, nhưng bằng chánh niệm, có thể có hiểu biết đúng.” Đó là Bát chánh đạo. Chúng ta nên hiểu biết mọi thực tại do duyên khởi diễn ra trong cuộc sống của chúng ta. Cái thấy là do duyên khởi, cảm thọ lạc và cảm thọ khổ là do duyên khởi. Chúng có nhân duyên riêng của chúng. Chúng ta không nên “tạo” ra các nhân duyên cho bất kỳ điều gì để sinh khởi. Khi chúng ta vun đắp Bát chánh đạo nhiều hơn, chúng ta có thể thấy sự phát triển của nó phức tạp và tinh tế đến thế nào. Chánh niệm và trí tuệ có thể theo sát các thực tại sinh khởi qua bất kỳ căn nào, cho đến khi không còn nghi ngờ gì về các thực tại là do duyên khởi. Không ai có thể tạo duyên cho bất kỳ thực tại nào. Khi có chánh niệm với mức độ hiểu biết thấp, hãy bắt đầu lại, bắt đầu lại. Khi chúng ta có hiểu biết sâu sắc về Trung đạo, chúng ta sẽ không đi lệch khỏi nó. Chúng ta dễ dàng đi lệch do tâm tham. Khi chúng ta nghe về chánh niệm tự nhiên giữa lúc đang hưởng thụ, chúng ta có thể băn khoăn chánh tinh tấn trong Bát chánh đạo nằm ở đâu? Nó nằm chính tại thời điểm khi chúng ta bắt đầu lại, bắt đầu lại. Khi chúng ta không chán nản về mức độ tuệ giác ít ỏi của mình, sẽ có sự can đảm cho chánh niệm và trí tuệ bây giờ, sẽ có chánh tinh tấn đi cùng với chánh kiến, mặc dù chúng ta còn trong giai đoạn sơ cơ của sự vun đắp Bát chánh đạo. Chúng ta không phải nghĩ đến việc nỗ lực, khi đó sẽ có ý niệm về môt cái ngã nỗ lực. Chúng ta sẽ không quên rằng, có chánh  niệm mà không có hiểu biết thì không ích lợi là bao. Hiểu biết về các thực tại – cuộc sống của chúng ta- chính là mục đích.

 

Với tâm từ,

Nina Van Gorkom

 

(Chuyển ngữ: Thanh Mai)

Translate »