Pháp đàm chiều 31-09-2013 tại Sài gòn
1/ Pháp đàm buổi chiều ngày 31.08.2013 tại Sài Gòn.
Achaan: Tôi rất hoan hỉ được gặp quý vị ở đây ngày hôm nay, bởi vì điều quý báu nhất trên đời là được hiểu giáo lý của Đức Phật. Khi chúng ta nói rằng: con xin quy y Phật, con xin quy y Pháp, con xin quy y Tăng, chúng ta có niềm tin vào đức Phật, xin nương nhờ vào bậc Giác ngộ. Nhưng chúng ta có thực sự biết về giáo lý của bậc giác ngộ ấy không, hay chúng ta chỉ tỏ lòng tôn kính của mình mà thôi? Nếu chúng ta muốn biết về giáo lý của bậc Giác ngộ, chúng ta cần phải biết về ơn đức của Ngài và biết Ngài đã biết về điều gì. Chúng ta cần trung thực để đánh giá mình biết được bao nhiêu về những gì Đức Phật đã dạy, không nên chỉ phỏng đoán.
Đức Phật dạy về sự thật tối hậu. Nếu chúng ta nhớ rằng Ngài đã trải qua rất nhiều A tăng kỳ kiếp là một vị đại Bồ tát, hoàn thành các ba la mật để trở thành một vị Phật, chúng ta sẽ thấy rằng hẳn là Giáo lý của Ngài phải vô cùng vi tế và thâm sâu, và không thể nào dễ dàng hiểu được. Chúng ta không thể tự nghĩ ra một số điều và cho rằng đó là Giáo lý của Đức Phật. Chúng ta phải nghiên cứu rất chi tiết. Nếu nghiên cứu Giáo lý của một bậc Giác ngộ như vậy thì ta cần phải nghiên cứu từng từ một. Chẳng hạn từ Phật, Đức Phật là gì? Đức Phật là một bậc Giác ngộ, Ngài có lòng từ bi vĩ đại để có thể giúp đỡ tất cả mọi người. Lòng từ bi của Ngài không chỉ trải đến một số người nhất định hay ai đó trong thân bằng quyến thuộc mà đến tất cả các chúng sinh.
Vì sao Đức Phật thuyết giảng ? Đức Phật thuyết giảng về cái gì? Đức Phật giảng về bây giờ, về hiện tại. Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, chỉ có hiện tại là cái duy nhất có thể được hiểu và tiếp cận. Như vậy, tôi nghĩ rằng chỉ có một con đường, đó là nghiên cứu Giáo lý mà đức Phật đã để lại, nghiên cứu từng từ một. Chẳng hạn, Đức Phật nói về cái thấy, tất cả chúng ta đều thấy, nhưng hiện giờ các bạn hiểu về cái thấy như thế nào? đó chỉ là tôi thấy, hay tôi thấy điều gì? Nếu không có đối tượng được thấy, và không có thức thấy thì có thể thấy hay không?
Quý vị có câu hỏi gì không? Vừa rồi, chúng ta mới chỉ nói về một từ thôi, đó là từ “pháp”. Chúng ta có thể nói, cái gì là thực là pháp không? Nếu không thì có lợi ích gì đây, khi chỉ nghe từ “pháp” thôi mà không hiểu gì cả.
Người phiên dịch: Đoạn trước Achaan có nói về từ pháp, thông thường mọi người khi nghe từ pháp vẫn nghĩ đó là chỉ giáo lý của Đức Phật, nhưng thực sự từ pháp là gì? Đó là lý do bây giờ Achaan đang giảng cho chúng ta về từ pháp.
Achaan: Chúng ta hãy học một từ ở một thời điểm. Người Phật tử đã ít nhiều nghe từ “pháp” trong cuộc đời của mình. Thế còn cái hiểu về từ Pháp-Dhamma, nếu chúng ta không dùng từ Pháp thì sao? Nếu không dùng từ “pháp”, chúng ta có thể nói về bất cứ cái gì là thực hiện giờ. Thay cho việc cố tìm hiểu định nghĩa về từ “pháp”, hiện giờ cái gì là thực? Tiếng Việt gọi là “pháp”, nhưng tiếng Pali là “dhamma”, chúng ta thấy rằng đây là một từ mà Đức Phật đã sử dụng. Nhưng chúng ta cần phải hiểu rằng bất cứ cái gì là thực, dù không cần đặt tên thì đã là Pháp rồi. Chẳng hạn, như cái thấy, chúng ta có cần gọi đó là “cái thấy” không? Nghe, chúng ta có cần đặt tên nó là “nghe” không? Âm thanh đã được nghe và nó đã qua rồi, chúng ta có cần đặt tên nó là “âm thanh” không? Tuy nhiên chúng ta vẫn cần dùng ngôn từ để giao tiếp và truyền đạt những gì chúng ta muốn nói tới. Chúng ta dùng từ “cái thấy” để biết là chúng ta đang không nói về cái nghe. Nhưng không ai có thể thay đổi đặc tính của cái thấy. Nếu cái nghe không sinh khởi, liệu ai có thế biết rằng có âm thanh? Ở khoảnh khắc của cái nghe, cái gì là thực? Không chỉ có âm thanh là thực mà cái nghe cũng là thực. Những gì là thực chính là điều mà Đức Phật đã giác ngộ, giác ngộ về bản chất thật của tất cả các thực tại. Nếu cái thấy không sinh khởi thì có thể thấy được không? Nếu cái nghe không sinh khởi thì liệu có ai có thể nghe và có thể nghĩ về cái nghe? Khi cái nghe sinh khởi, nó chỉ là cái nghe mà thôi, không phải “tôi” nghe. Nếu không có cái thấy, không có mắt, sẽ không thể có ý niệm “tôi thấy.”
Như vậy chúng ta sẽ học được rằng trong thế giới này hay trong một thế giới khác, cái tồn tại duy nhất chỉ là các thực tại mà thôi. Chúng ta có thể nói rằng, bây giờ chúng ta bắt đầu biết hơn về bất cứ cái gì là thực không? Bạn muốn nghe về điều này hay là bạn muốn nghe “pháp” nào? Có phải đó là hai thứ khác nhau không, hay chỉ là một? Đây chính là thời điểm để bắt đầu hiểu “ pháp” là gì, về tất cả thứ gì là thực, dù chúng ta có đặt tên nó là gì trong bất kỳ ngôn ngữ nào, thì nó vẫn là như vậy. Nó là chung cho toàn bộ vũ trụ này. Cái thấy có phải là Việt nam hay Thái lan không? Cái thấy chỉ là cái thấy không hề có quốc tịch. Như vậy các bạn có thể hiểu được nghĩa của từ “pháp” bây giờ. Cái là thực đối với tất cả mọi người. Đối với những người nào hiểu được điều ấy mà thôi. Như vậy thì các bạn sẽ có thêm lòng từ bi bởi vì cái mà chúng ta cho là “ta”, là “tự ngã”, thực chất chỉ là thực tại. Sân có thực không? Chúng ta có phải đặt tên nó là “pháp” không? Nhưng nó chính là pháp đấy, nó cũng là một thực tại, là pháp, như Đức Phật đã dạy về cái thấy và cái nghe. Bây giờ các bạn có hiểu không? Tương tự như vậy, nếu không có duyên, cái hiểu sẽ không thể sinh khởi. Bất cứ cái gì xuất hiện hiện giờ đều cần có nhiều duyên để cho nó sinh khởi. Có ai kiểm soát được điều ấy không? Có ai tạo ra được không? Có ai có thể ngừng việc diệt đi của những gì đã sinh khởi không? Có ai có thể làm được gì không? Hãy chỉ học để hiểu thực tại như nó là mà thôi. Và đó là cái hiểu đúng đắn về bất cứ thực tại nào xuất hiện, rằng nó hoàn toàn vô thường, nó không thuộc về ai cả. Cái gì được sinh ra? Bây giờ có thể có câu trả lời, cái gì được sinh ra? Có ai muốn trả lời không?
Ai đó trả lời: Đó là pháp.
Achaan: Đúng như vậy, cái gì chết, cái gì sống? vẫn là pháp. Cái gì thấy? Vẫn chỉ là “pháp” thấy. Cái gì thích và không thích? Vẫn chỉ là “pháp” thích và không thích. Như vậy tất cả các thực tại này đều sinh khởi khi có duyên cho chúng sinh khởi. Chúng sinh và diệt ngay tức thì, chúng ta hoàn toàn không hay biết gì về tất cả những thực tại đó, suốt cả ngày đều như vậy. Nhưng nếu được nghe Giáo lý thì có thể bắt đầu phát triển hiểu biết về thực tại . Có ai biết được khi nào thì mình sẽ chết không? Trước khi chết điều gì là tốt nhất? Là hiểu biết đúng về bất cứ cái gì xuất hiện. Liệu ai có thể có hiểu biết về những điều đó mà không có sự nghiên cứu giáo lý của Đức Phật hay không? Đó là ý nghĩa của câu “Con xin quy y Pháp”.
Sarah: Một người bạn có nói với tôi: nhiều người Việt nam, Thái lan hay những nơi khác đặt câu hỏi rằng, tại sao chúng ta lại mất thời gian tìm hiểu ý nghĩa của các từ trong giáo lý Đức Phật, về cái thấy, cái nghe, mà không đi thực hành đi.
Khi ở sân bay, tôi có nghe một bạn nói, trước đây, khi bạn tiếp xúc với Giáo lý của Theravada, ngay lập tức bạn ấy đi vào thực hành và bây giờ bạn ấy quan tâm đến việc nghiên cứu, học them về các loại pháp (thực tại) khác nhau. Và câu hỏi đặt ra là, liệu có thể có sự thực hành đúng đắn nếu trước đó không có hiểu biết về cái gì là pháp, về Giáo lý hay không?
Achaan giảng cho chúng ta rằng tất cả các pháp là vô ngã, nếu có hiểu biết đúng đắn về điều ấy, hiểu biết ấy sẽ bắt đầu phát triển. Như vậy, nếu không có hiểu biết đúng đắn ngay lúc ban đầu về những gì Đức Phật dạy, liệu nó có thể là nền tảng cho sự thực hành hay không? Liệu có thể có thực hành đúng không? Do đó tôi có câu hỏi cho bạn ấy: quan điểm của bạn về pháp học đúng là gì, và về pháp hành đúng là gì?, nếu bạn phân biệt pháp học và pháp hành thì liệu đó có phải pháp học đúng và pháp hành đúng hay không? Liệu đó có phải là hiểu biết đúng không? Có đưa đến chánh kiến hay không? Hay đó chỉ là quan điểm riêng của bạn thôi?
Học viên 1: Trong quá trình học, hiểu biết luôn luôn thay đổi, trước đây tôi hiểu về pháp khác, bây giờ lại hiểu khác. Tôi hiểu rằng không có ai đang thực hành cả, tất cả sự việc đều do duyên sinh, không có ai có thể thực hành được, vì nó là vô ngã, chỉ có hiểu biết đúng, và hiểu biết đúng đó được tích lũy thì nó dẫn tới sự trực nhận về giáo pháp, về những cái gì là thực, chứ không phải là các ý niệm.
Sarah: Lý do mà Achaan nói nhiều về cái thấy, cái nghe hiện giờ liên quan tới những gì bạn vừa nói. Thông thường mọi người vẫn nghĩ chúng ta thấy được sự sinh diệt trong cuộc sống hàng ngày. Achaan nói về cái nghe, cái thấy, những thứ rất thông thường. Nhưng trong một ngày, chúng ta luôn chỉ thấy tôi thấy, tôi nghe, chứ không hiểu rằng đó là “pháp”, nếu chưa có cải hiểu ban đầu rằng đó chỉ là pháp, sẽ không thể nào đi đến bước sau là thấy được sự sinh diệt của pháp. Thêm một lý do nữa, khiến Achaan nói với chúng ta về cái thấy và cái nghe hiện giờ là bởi vì, nếu không có hiểu biết đúng đắn về lý thuyết, về những gì đang xuất hiện hiện giờ, về cái thấy hiện giờ, để hiểu về cái thấy hiện giờ, biết cái hiểu đúng về nó là gì, và về cái nghe hiện giờ, biết cái hiểu đúng về nó là gì về mặt lý thuyết- pariyati, sẽ không thể có được khoảnh khắc của patipati- pháp hành. Nếu không có cái hiểu về lý thuyết một cách rành mạch, vững vàng, sẽ không có duyên cho pháp hành sinh khởi. Một số người cho rằng, trước đây tôi có pháp học và bây giờ tôi chuyển sang pháp hành. Nhưng chúng ta phải định nghĩa rất rõ về khái niệm này, Pháp học và gì? Pháp hành là gì?
Achaan: Trước khi nghiên cứu giáo lý, thông thường mọi người muốn quan tâm đến những gì mình chưa biết, nhưng khi tìm hiểu, họ cũng quan tâm đến những điều họ hiểu lờ mờ. Chẳng hạn, chỉ có một từ như từ “Pháp”, chúng ta vẫn nói “con xin quy y Pháp” nhưng vẫn chưa hiểu Pháp là gì? Nếu chúng ta nghiên cứu một cách kỹ lưỡng sâu sắc, chúng ta sẽ hiểu hơn giáo lý của Đức Phật và thấy rõ hơn ơn đức của Ngài. Nếu không chúng ta sẽ tưởng mình đã biết Đức Phật đã dạy những gì bằng việc đọc Giáo lý của Ngài. Nhưng thực chất không phải như vậy, Đức Phật đã phải tích lũy nhiều ba la mật trong thời gian rất dài.
Mục đích sự nghiên cứu giáo lý của Đức Phật là gì nào? Có ai muốn trả lời không? Đâu là mục đích của việc nghe và nghiên cứu Giáo lý của Đức Phật? Mục tiêu chỉ là để hiểu, bởi vì trước khi nghiên cứu giáo lý không ai có thể hiểu được cả. Vậy, muc tiêu của sự thực hành là gì?
Chúng ta cần phải rất trung thực, nếu không có sự nghiên cứu Giáo lý của Đức Phật, làm sao có thể hiểu được đặc tính của cái xuất hiện bây giờ mà Ngài đã giảng. Đó là nghĩa của từ Paṭipatti– pháp hành, là tiếp cận sự thật với hiểu biết đúng, chứ không phải nghĩa là ngồi và làm cái gì đấy. Nếu như chúng ta không hiểu về cái thấy hiện giờ, cái nghe hiện giờ, suy nghĩ thì sự thực hành có ích gì đây? Một sự thực hành mà không dẫn đến hiểu biết? Giáo lý của đức Phật không dẫn tới sự không hiểu biết. Vậy chúng ta có nên tạm gác sang một bên ý niệm về sự thực hành chừng nào ta chưa hiểu được về cái gì xuất hiện hiện giờ một cách đúng đắn. Điều ấy cũng giống như chúng ta muốn đi đến một nơi nào đó mà hoàn toàn không biết con đường. Làm thế nào các bạn có thể tới đó được?
Chẳng hạn, Tứ diệu đế là gì? Gồm những gì? Chúng ta có thể học thuộc lòng Tứ diệu đế, nhưng có thể hiểu về từng thứ ở trong đó không? Vậy chúng ta sẽ đọc Tứ diệu đế, đi thực hành, hay là hiểu về thực tại hiện giờ đây? Chúng ta chọn đường nào đây? Sẽ đi đâu thực hành hay hiểu chút xíu, từng bước một? Việc hiểu đúng là cái duy nhất dẫn tới sự giác ngộ, không có cái gì khác. Có ai có thể giác ngộ Tứ diệu đế mà không có hiểu biết không? Hay là chỉ nghe từ Tứ diệu đế là đủ rồi mà không có cái hiểu gì về khoảnh khắc hiện giờ? Chúng ta có thể nói khoảnh khắc hiện giờ đây chính là khoảnh khắc để những người có trí tuệ đã phát triển hiểu đúng về Tứ diệu đế. Còn những người không có cái hiểu đúng, mà chỉ cố nỗ lực để đạt tới một cái gì đó, thì là điều không thể. Đức Phật đã cho các Phật tử những gì nào? Điều đó là vô cùng quý báu, hơn tất cả các thứ khác ở trên đời này. Đó là hiểu biết đúng đắn về các thực tại sinh khởi, nó hoàn toàn khác trước đây. Nếu như không có sự nghiên cứu, không có sự suy xét thì sẽ không thể có cái hiểu đúng. Bạn có thể nói với ai đó mà không có sự trân quý về giá trị của những gì nghiên cứu, những gì là thực hiện giờ hay không?
Sarah: Nhắc lại câu hỏi trước rằng liệu có lãng phí thời gian không nếu chúng ta cứ nghiên cứu lý thuyết mà không đi vào thực hành? Nếu không có hiểu biết về lý thuyết mà chúng ta đã ngay lập tức đi đâu và ngồi thiền thì liệu đó có phải là sự lãng phí thời gian không? Liệu đó có là sự thực hành của Tứ niệm xứ như những gì đức Phật đã thuyết giảng nếu không có nền tàng của hiểu biết đúng đắn hay không?
Achaan: Một số người cho rằng sự nghiên cứu cái thấy cái nghe như chúng ta đang nghiên cứu giáo lý bây giờ là sự lãng phí thời gian. Nếu chúng ta nghiên cứu từng từ một, thay cho việc nghĩ rằng đó là sự lãng phí thời gian, chúng ta có thể thấy rõ rằng nếu không nghiên cứu cái gì cả thì đó là một cuộc đời hoàn toàn uổng phí, vì không có them chút hiểu biết nào.
Ai là người nói mọi người đi đến một ngôi chùa để thực hành? Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài có nói các đệ tử của Ngài đi đến ngôi chùa nào đó để thực hành hay không? Bây giờ các bạn hãy thử suy xét xem, một bên là người nói với bạn, hãy đi đến ngôi chùa nào đấy để thực hành, và một người nói khác với các bạn, hãy hiểu về những gì đang xuất hiện hiện giờ, các bạn sẽ chọn cái gì? Nghĩa của từ Đệ tử (savaka) là gì? Đệ tử đi theo ai? Nếu chúng ta không nghe Pháp của Đức Thế tôn thì chúng ta theo ai đây? Khi đó chúng ta sẽ đi theo những người khác chứ không phải Đức Phật.
Sarah: Có một số lời nhận xét, chúng ta nghiên cứu Vi diệu pháp làm gì, bởi vì đó là Tạng không được Đức Phật dạy trực tiếp, hoặc vi diệu pháp quá khó. Nếu ai đó nói như vậy là không thấy được rằng, bản thân cái thấy hiện giờ, cái nghe hiện giờ đã là pháp, là vi diệu pháp. Nếu ai đó thấy rằng, vi diệu pháp không giống như những ý niệm của họ về thực hành, điều ấy có nghĩa là có gì đó không ổn với ý niệm ấy, vì lý thuyết và thực hành cần phải thống nhất. Những cái gì là thực, là Vi diệu pháp không nằm trong một cuốn sách. Cho nên Vi diệu pháp không phải là một cuốn sách, đó là lời dạy về tất cả những gì có thực hiện giờ, rằng mọi cái đều là vô ngã.
Achaan: Các bạn có quan niệm như thế nào về Vi diệu pháp? Vi diệu pháp có khác với “pháp” hay không? Bởi vì pháp luôn là pháp, là cái gì có thực, không ai có thể thay đổi được đặc tính của cái có thực.
Học viên 2: Theo tôi Đức Phật có dạy nhiều cách tiếp cận khác nhau cho các đối tượng khác nhau. Vì vậy có lúc Ngài dạy thông qua các câu chuyện, qua các bài kinh và hướng dẫn cụ thể cần thực hành như thế nào. Chẳng hạn trong Tứ niệm xứ, phải đi đâu để thực hành, quán ra làm sao, những đề mục gì; có lúc Ngài dạy giữ giới, có lúc Ngài nói các hành giả cần nỗ lực.Tôi nghĩ vào thời Đức Phật với các ba la mật khác nhau, các hành giả đều có các điều kiện khác nhau để tìm đến con đường giải thoát. Hôm nay cũng vậy, chúng ta – các yogis, cũng cần nhiều công cụ, nhiều con đường khác nhau, và với duyên nào mà chúng ta thấy mang tới sự hiểu biết thì chúng ta nên cố gắng mở phương pháp của mình để không bị bám chấp và nắm bắt tốt nhất Giáo pháp của Đức Phật. Đây là dịp tôi cho rằng rất quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về Vi diệu pháp, về hiểu biết đúng của các hành giả Việt nam, cả về pháp học và pháp hành Mong nhờ Achaan từ từ điều chỉnh chúng con.
Achaan: Đức Phật đã dạy trong 45 năm, Đức Phật dạy để làm gì? Đức Phật dạy cho mọi người hiểu, hay Đức Phật để mọi người theo những ý niệm của mình mà thôi? Bạn có đề cập đến Hành giả-Yogi, vậy ý nghĩa của từ Yogi là gì? Đó là một thuật ngữ Pāli có nghĩa là sự bền bỉ. Nếu nghĩa của từ Yogi là sự bền bỉ một cách đúng đắn, vậy thì bây giờ bất cứ những ai đang ngồi đây, đang có sự cố gắng lắng nghe để hiểu thì có thể gọi người đó là Yogi hay không?
Chúng ta đề cập đến từ Yogi- những người có sự nỗ lực hay bền bỉ một cách đúng đắn. Khi tôi còn nhỏ, ở Thái lan mọi người gọi Yogi là những người ngồi mặc áo da hổ, đeo tràng hạt với những trang phục đặc biệt giống như các Yogi Ấn độ. Chính vì vậy đối với người Thái, họ hiểu Yogi theo một nghĩa khác. Tuy nhiên, đúng theo giáo lý của Đức Phật, Yogi có nghĩa là sự nỗ lực đúng đắn.
Vừa rồi, bạn có nói rằng Đức Phật dạy mọi người phải nỗ lực, tuy nhiên chúng ta phải hiểu điều này một cách đúng đắn bởi vì các pháp đều là vô ngã. Bản thân Viriya – sự tinh tấn cũng là một pháp sinh khởi do duyên. Không ai có thể tạo ra được điều đó, không phải cứ ai đi đâu đó thì được gọi là tinh tấn một cách đúng đắn. Vậy Tất cả những gì chúng ta đọc cần phải đọc dưới ánh sáng của hiểu biết về vô ngã.
Nếu không nghiên cứu một cách cẩn thận chúng ta rất dễ hiểu sai Giáo lý. Khi nói đến pháp thì hầu hết mọi người đều đồng ý, nhưng khi nói đến Vi diệu pháp thì một số người phủ nhận, cho rằng không cần phải học. Nhưng nếu chúng ta biết ý nghĩa của từ “pháp”, thì chúng ta sẽ thấy “pháp” cũng chính là Vi diệu pháp. Bởi vì một từ chưa thể làm rõ Giáo lý của đức Phật, chúng ta không thể nói một số từ để diễn tả hết giáo lý của Đức Phật, nhưng mỗi từ sẽ cần là đối tượng để suy xét một cách cẩn thận, để tìm ra sự thật của nó. Sẽ không đủ đâu nếu chúng ta cứ nói rằng mọi thứ đều là thực, đều là pháp. Bởi vì khi nói như vậy, vẫn chỉ là ngôn từ mà thôi, nhưng còn hiện giờ, còn khoảnh khắc này thì sao?
Trong mọi ngày, tất cả chúng ta đều có cái thấy, cái nghe, cái ngửi, sự xúc chạm, sự suy nghĩ và không ai có thể thoát khỏi những cái đó cả. Có thể thấy rằng hiểu biết của chúng ta về tất cả những thứ đó còn chưa có gì cả. Chúng ta có thể hiểu dần dần là bây giờ có cái thấy, không ai có thể thay đặc tính của cái thấy thành cái nghe, khi ta suy xét về điều ấy, chúng ta có thể thấy ý nghĩa của từ paramattha dhamma- pháp chân đế. Vậy Pháp chân đế có phải là pháp không? Có ai muốn trả lời không?
Học viên 3: Đúng, Pháp chân đế cũng là pháp
Achaan: Như vậy ta đã hiểu rõ hơn một chút rằng pháp cũng là pháp chân đế, pháp chân đế cũng là pháp. Có pháp nào không phải là pháp chân đế không?
HV 3: Có pháp không phải là pháp chân đế, đó là những pháp thuộc về chế định.
Achaan: Khi chúng ta nói đến từ “pháp” theo nghĩa pháp chân đế, nó có nghĩa rằng, đó là pháp – không phải do ai tạo ra , sinh khởi do duyên, bất cứ khi nào có duyên cho nó sinh khởi thì nó sẽ sinh khởi. Bất cứ cái gì sinh khởi sẽ phải diệt đi. Đó là pháp và cũng là pháp chân đế, và rất sâu sắc. Các pháp như cái thấy và cái nghe là những thực tại khác nhau, nó sinh và diệt, nhưng ai có thể kinh nghiệm được sự sinh và diệt của các pháp ấy? Chúng ta đang tập để nghe thêm và suy xét thêm về những thực tại ấy, hiện giờ, có nhiều khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe và như vậy những thực tại đó sinh và diệt vô cùng nhanh, vô cùng vi tế, và rất khó để kinh nghiệm trực tiếp sự sinh diệt của các pháp ấy, chính vì thế mà chúng ta có từ Vi diệu pháp- Abhidhamma, bởi sự vi tế của các pháp ấy. Hiện giờ chúng ta vẫn còn đang có hoài nghi về ý nghĩa của các từ dhamma- pháp, paramattha dhamma- chân đế pháp và vi diệu pháp – abhidhamma, vậy thì chưa thể nói đến từ Paṭipatti- pháp hành. Pháp hành sẽ tới về sau, khi có những khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp về thực tại. Tôi muốn hỏi bạn mục tiêu của thực hành là gì?
HV 3: Theo con thấy thì mục đích của thực hành là thấy các pháp như nó là, thấy sự sinh và diệt của thực tại.
Achaan: Ngay bây giờ ấy ư? Hiện giờ chưa phải thời điểm để có được Tuệ giác đó. Chúng ta nghe về các thực tại sinh diệt và chúng ta nỗ lực rất nhiều để kinh nghiệm trực tiếp. Nhưng điều đó không thể dễ dàng như vậy. Tuệ giác thấy được sự sinh diệt của các thực tại là một Tuệ giác rất sâu sắc, cần phải có tuệ giác phát triển thì mới có thể xuyên thấu được sự thật ấy, vì đó là về từng sát na tâm, vô cùng ngắn ngủi, nhưng đó là một Tuệ giác rất vĩ đại. Có ai đã từng đọc về sự thực hành sai chưa? Và về con đường tà đạo chưa – Cái là đối nghịch với Bát chánh đạo? Nếu chúng ta không có hiểu biết đúng đắn về con đường Bát chánh đạo, chắc chắn chúng ta sẽ đi theo con đường Bát tà đạo. Vậy tại sao chúng ta chỉ muốn thực hành thôi, mà không phát triển hiểu biết một cách dần dần?
Sarah: Tôi muốn làm rõ hơn một chút về nhận xét pháp chế định cũng là Pháp. Chẳng hạn, chúng ta thấy bông hoa và chạm vào bông hoa, đó là khoảnh khắc của cái thấy và sự xúc chạm. Từ khoảnh khắc đó mới hình thành nên ý niệm bông hoa, ý niệm đó là khái niệm. Trên thực tế, nếu không có cái thấy và sự xúc chạm là những thực tại chân đế, sẽ không có ý niệm bông hoa. Như vậy cái thấy, sự xúc chạm là chân đế pháp; còn bông hoa chỉ là chế định mà thôi.
HV 3: Con chưa đủ năng lực để thấy được sắc và danh, tức là từng cặp sắc và danh sinh diệt. Nhưng con cảm nhận được hơi thở vào ra nơi cửa mũi, hoặc tác ý tưởng sinh và diệt trong tâm, từ ý này đến ý khác. Vậy những nhận biết đó có thuộc về pháp chân đế hay không?
Sarah: Đó là những kinh nghiệm của suy nghĩ mà thôi.
Người phiên dịch: Bà có thể giải thích thêm không?
Achaan: Tại sao bạn lại gọi đó là hơi thở?
HV 3: Do có gió ra vào, có sự cảm nhận nơi mũi, con nhận biết xúc chạm khi đó, tưởng ghi nhận biết đó [là hơi thở, gió] thì được gọi là thực hành đúng hay là sai?
Achaan: Liệu việc biết rằng đó là hơi thở hay là gió có phải là trí tuệ hay không? Bởi vì trí tuệ thấy thực tại như nó là có thể biết rằng, thực tại đang được kinh nghiệm là vô ngã. Hiện giờ cái gì đang xuất hiện? Cái gì đã diệt đi?
HV 3: Cái gì đã xuất hiện và diệt đi thì không thể mô tả. Vì nếu con vừa cảm giác xong mà con lại mô tả thì nó đã thay đổi, vấn đề con đang mô tả nó đã thuộc về quá khứ.
Achaan: Làm sao bạn biết được đó là gió?
HV 3: Con cảm nhận sự lưu chuyển, rung động.
Achaan: Như vậy vẫn có ý niệm về tôi, đúng không?
HV 3: “Tôi” là một từ diễn tả để nói chuyện với bà. Khi ngồi và quan sát hơi thở thì chỉ là hơi thở vào ra ngay lúc đó. Sự thực hành như vậy có đúng không ?
Achaan: Bạn chỉ muốn câu trả lời hay là bạn muốn hiểu?
HV 3: Con muốn hiểu, bởi vì bà có đặt ra vấn đề Thế nào là thực hành đúng và thế nào là thực hành sai. Thế nào là sự hiểu đúng về pháp chân đế? Con chưa đủ năng lực để thấy các sắc pháp và danh pháp ở dạng vi tế. Nhưng con có thể quan sát ý nghĩ hay hơi thở gió ra vô cửa mũi là danh và sắc pháp dạng thô, vậy thì sự thực hành đó nên tiếp tục thực tập hay không?
Achaan: Có bao nhiêu loại tà kiến ở trong kinh điển? Có hai mươi loại tà kiến về thân kiến: có 5 uẩn, mỗi uẩn có 4 loại dính mắc khác nhau, nên có 20 loại Sakkāya- diṭṭhi (thân kiến) khác nhau. Thân kiến thật ra là chấp ngũ uẩn là ta. Diṭṭhi- tà kiến không thể hiểu được bản thân nó, tham không thể hiểu được bản thân nó, chỉ có trí tuệ mới có thể hiểu, thấy tà kiến là tà kiến, tham là tham. Chức năng của trí tuệ hoàn toàn đối nghịch với chức năng của tham. Chức năng của tham là dính mắc, chức năng của trí tuệ là xả ly. Khi có những kinh nghiệm lạ sinh khởi, tham chỉ muốn biết thôi, nếu không có trí tuệ sinh khởi ngay khi đó để đảm nhận chức năng hiểu. Như vậy, bây giờ chúng ta có nên bắt đầu với các pháp, để hiểu về các pháp đang xuất hiện, không phải chỉ bằng ngôn từ, mà bằng đặc tính của các pháp. Mỗi một pháp có đặc tính riêng, không giống nhau.
Chẳng hạn, hiện giờ cái cứng có đang xuất hiện không? Khi nói đến cái cứng là ta nói đến khoảnh khắc có sự xúc chạm, chứ không phải khoảnh khắc nghĩ về cái cứng. Nếu không, chúng ta sẽ vẫn tiếp tục nói về nó mà không biết được chính xác khoảnh khắc cái cứng xuất hiện. Thay cho việc nghiên cứu, suy xét về đặc tính của thực tại đó, lại có ý niệm liệu đây là danh hay sắc. Ở khoảnh khắc kinh nghiệm cái cứng, cái cứng có khác với cái kinh nghiệm nó hay không? Có khác nhau không? Cái cứng không kinh nghiệm gì cả nhưng ngay ở khoảnh khắc này đang có một thực tại kinh nghiệm cái cứng. Bất cứ thực tại hữu vi nào đều là một trong hai loại thực tại, thứ nhất là loại thực tại không kinh nghiệm gì cả, và thứ hai là loại thực tại mà khi sinh khởi, nó kinh nghiệm một cái gì đó. Dù chúng ta không dùng từ danh và sắc đi nữa, vẫn có một loại thực tại kinh nghiệm đối tượng và một loại thực tại không kinh nghiệm. Để giao tiếp với nhau, chúng ta dùng từ danh và sắc, nhưng về mặt thực chất, chúng chỉ là thực tại kinh nghiệm và thực tại không kinh nghiệm. Dù chúng ta không gọi nó là danh, nó vẫn là loại thực tại kinh nghiệm đối tượng, bất cứ khi nào nó sinh khởi. Tất cả đặc tính của thực tại xuất hiện trong ngày cần được nghiên cứu để loại bỏ ý niệm về ngã. Có ai có câu hỏi gì về danh và sắc hay không?
Như vậy đã đủ chưa, vì nó là VI diệu pháp mà. Có nhiều thứ đơn giản nhưng rất đáng để chúng ta suy xét, chẳng hạn như cái thấy hiện giờ. Nó có dễ không? Nếu như dễ thì nó không phải là Vi diệu pháp. Tất cả các pháp đều là Vi diệu pháp, chúng rất vi tế. Để biết cái gì được thấy, bạn hãy nhắm mắt xem nào, và rồi mở mắt ra. Cái gì được thấy khi bạn mở mắt ra, nó khác khi bạn nhắm mắt đúng không? Nếu không có nhãn căn làm duyên thì hiện giờ có thể có cái thấy không? Nếu chúng ta không có sự nghiên cứu về giáo pháp thì sẽ ngay lập tức có ý niệm rằng “tôi” thấy, nhưng nếu có sự nghiên cứu, chúng ta sẽ biết rằng đó chỉ là một thực tại, nó sinh khởi để thấy mà thôi. Nếu chúng ta không quên sự thực ấy, nó sẽ dẫn tới sự buông bỏ ý niệm về ngã. Cái thấy đã diệt rồi, vậy cái là tôi đi đâu? Nhưng tham thì không thể biết được điều ấy. Việc quý vị đi tới một trường thiền có mang tới hiểu biết rằng cái thấy hiện giờ là vô ngã, không có ai ở đó cả hay không?
Nếu hiện giờ chưa có hiểu biết và chúng ta đi đến một nơi nào đó khác với mong muốn có được hiểu biết, liệu điều đó có thể xảy ra không? Khi Đức Phật thuyết pháp cho mọi người, tùy thuộc vào sự tích lũy của mình, họ có thể có được cái hiểu đúng về những gi Đức Phật dạy hoặc không. Có ai đã thấy được sự vi tế của cái được thấy hay không? Nếu chúng ta không thấy được sự khác biệt giữa cái thấy và đối tượng thị giác – cái được thấy – mà chúng ta cho là con người hay đồ vật, thì sẽ thế nào đây? Hiện giờ chúng ta đang thấy mọi người, thấy như vậy là bình thường hay là vi diệu pháp? Khi có cái thấy, cả cái thấy và cái được thấy đều không phải là con người hay cảnh vật, và không phải là một giấc mơ, phải có một thực tại được thấy thì mới có cái thấy. Đức Phật đã dạy cho chúng ta cách thức để thấy được thực tại hiện giờ, phát triển được hiểu biết đúng về những gì đang xuất hiện hiện giờ. Nếu chúng ta không có sự nghiên cứu mà lại tự nghĩ ra lý thuyết riêng của mình, điều ấy sẽ không dẫn đến hiểu biết đúng đắn về những gì là thực tại. Như vậy, câu hỏi về cái gì được thấy và cái gì thấy hiện giờ có thể làm duyên cho hiểu biết đúng sinh khởi. Ai nghiên cứu vi diệu pháp có thể nói được, cái gì được thấy hiện giờ và nó ở đâu, đúng không?
Trong những ai ở đây đã từng nghiên cứu vi diệu pháp, các bạn có thể nói không? Cái được thấy hiện giờ là gì? Nó ở đâu? Nó không có gì là bí hiểm cả, nhưng mà chúng ta thậm chí không có thời gian để suy xét về nó kể cả khi chúng ta đã biết lý thuyết rồi. Nếu không có Tứ đại (đất, nước, lửa, gió) thì hiện giờ bạn có thể thấy cái này không? Bạn có thể “thấy” cái cứng không? Chúng ta có thể “thấy” cái cứng không?
Ai đó trả lời: Có.
Achaan: Chúng ta có thể “thấy” cái cứng hay sao? Bạn có thể “thấy” cái cứng ư? Có thể thấy nó mềm không? Cho rằng có thể “thấy” cứng hay mềm là sai. Khi tôi cất cái này đi, thì bạn có thể thấy được nó không? Như vậy, cái được thấy cũng sinh khởi cùng với cả cái cứng và cái mềm, tức là tứ đại. Dù chúng ta có đập vỡ cái kính này thành những mảnh rất nhỏ thì từng sắc trong đó vẫn có những yếu tố đó.
Chúng ta không thể nói được số lượng của cái thấy đã sinh khởi, bởi vì nó sinh khởi rất nhanh, có vô số cái thấy đã sinh khởi và diệt đi mà không hề có hiểu biết nào, nhưng chúng ta có thể bắt đầu phát triển hiểu biết về cái đã sinh và diệt đi, sau khi nó diệt đi thì còn lại tướng (nimitta) của cái đã diệt đi. Bây giờ các bạn đã hiểu về Vi diệu pháp đúng không? Và vi diệu pháp, pháp chân đế hay pháp cùng là một. Bây giờ tôi có thể hỏi cái gì đang được thấy đây?
Ai đó trả lời: Ý niệm
Achaan: Không, ý niệm thì không thể được thấy
Ai đó trả lời: Màu sắc
Achaan: Màu sắc? Nó là gì? Không phải đỏ hay xanh, mà là cái có thể được thấy. Không cần phải đặt tên cho cái được thấy, vì về bản chất nó là một thực tại được thấy.Cái cứng không để được thấy, mềm không thể được thấy. Đối tượng xúc chạm có thể được xúc chạm, nhưng không thể được thấy. Đó là Vi diệu pháp. Chúng ta có thể dùng các từ “đối tượng thị giác”, “màu”, hay “cái được thấy” nếu cần phải chỉ ra ta đang nói đến cái gì . Chúng ta có thể dùng ngôn từ nếu điều ấy giúp ta thấy được cái gì sinh khởi và đã diệt đi, và thấy được rõ hơn là không có ai cả. Trong tiếng Pali, từ “atta” không chỉ có nghĩa là “bản thân”, “tự ngã”, mà còn để chỉ những thứ ta coi là thường hằng như con người, bông hoa, bàn, ghế. Đó là những thứ không tồn tại kéo dài, được tạo bởi các thành phần vô cùng nhỏ bé, sinh và diệt liên tục. Những điều ấy luôn diễn ra như thế, kể cả từ trước khi đức Phật thành đạo.
Sarah: Bạn muốn biết về con đường đúng và con đường sai. Achaan có nói đến 20 loại tà kiến về ngã. Các Tà kiến về ngã- Sakkāya diṭṭhi chính là con đường sai. Bất cứ khi nào có ý niệm về tự ngã thì đã là con đường sai. Achaan nói đến những thực tại kinh nghiệm cái gì đó và những thực tại được kinh nghiệm nhưng không có khả năng kinh nghiệm gì cả. Khi nhắc tới những thực tại như vậy, đó là khởi đầu của con đường đúng, chứ không phải là việc đi theo kỹ thuật nào đó, chẳng hạn như tập trung vào một đối tượng nào đó, hay như chúng ta nói “Đức Phật dạy cho những người khác nhau những phương pháp, kỹ thuật khác nhau”.
Về thực chất, con đường phát triển Tuệ giác chỉ có một mà thôi, đó là cái hiểu đúng về thực tại, là hiểu đúng về thực tại hiện giờ, nếu không chúng ta lại sẽ nghĩ đến ngày mai hay hôm nào đó, hoặc đi đến nơi khác để làm cái gì đó, để kinh nghiệm cái gì đó. Nhưng hiểu biết đúng phải băt đầu từ chính khoảnh khắc này, hiểu những gì đang xuất hiện. Nếu không, sẽ có tham dẫn chúng ta đi đến một con đường khác, ra khỏi khoảnh khắc thực tại. Nếu chúng ta có suy nghĩ về việc thực hành vào ngày mai, vào hơi thở ngày mai, cái có thực ở thời điểm ấy chính là suy nghĩ, nó là một thực tại và thực tại ấy phải được hiểu ở ngay chính thời điểm này chứ không phải ở khoảnh khắc về sau. Con đường đúng là con đường hiểu thực tại hiện giờ.
Achaan: Hiện giờ chúng ta đang nghiên cứu Vi diệu pháp, có phải không? Học và nghiên cứu, cũng có nghĩa là hiểu, chứ không đơn thuần chỉ nghe mà thôi. Hiện giờ các bạn có đang nghiên cứu giáo lý của Đức Phật hay không? Đây không phải là giáo lý của ai khác mà là Giáo lý của Đức Phật.
Jonathan: Tôi có một câu hỏi cho các bạn suy xét, liệu có thể có sự thực hành hiện giờ hay không? Như chúng ta đang ngồi đây và đang đàm đạo về pháp. Hiện giờ có nên hiểu về pháp và về Vi diệu pháp hay không? Nếu hiện giờ có một khoảnh khắc của hiểu biết với chánh niệm về những gì đang sinh khởi, liệu ta có thể gọi đó là thực hành hay không?
Achaan: Ngay cả với từ chánh niệm, chúng ta cũng cần nghiên cứu rất kỹ, vì nó khác với cái chúng ta vẫn thường nói là “tôi có sự hay biết”, “tôi chánh niệm”. Đó là thực tại sinh khởi cùng tâm thiện với Trí tuệ, khi nó sinh khởi, nó hiểu đúng thực tại như nó là. Mỗi từ cần phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, nếu không, chúng ta cứ nghĩ là mình hiểu nhưng, thực chất, đó không phải là cái hiểu về thực tại.
Học viên 4: Thế nào là pháp chân đế, thế nào là danh, thế nào là sắc? Xin Achaan giải thích thêm vì đây là những khái niệm quan trọng cho hiểu biết.
Achaan: Việc tìm hiểu về danh và sắc không phải chỉ là nghĩ về danh và sắc, mà là hiểu về bất cứ cái gì đang xuất hiện hiện giờ, rằng đó là những thực tại và không có ai cả. Chẳng hạn khi tôi nói về cái thấy, có thể các bạn nghĩ về những thứ khác, chứ không phải về cái thấy, phải không? Ở thời Đức Phật, khi Ngài giảng về các thực tại như cái thấy chẳng hạn, thì khoảnh khắc mà Đức Phật nói về cái thấy, những người ngồi nghe có tích lũy suy xét để biết về cái thấy ở khoảnh khắc đó với chánh niệm và trí tuệ. Không dễ để khi nghe về cái thấy, có sự hướng về đặc tính của thực tại ấy với trí tuệ.
Thời nay chúng ta không có được trí tuệ như vậy, chúng ta không có được trí tuệ như những người ở thời đó. Chính vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu rất cẩn thận, cần nhiều thời gian, như nói về cái cứng: cái cứng là một thực tại, nó có đặc tính là cứng và có thể được kinh nghiệm bây giờ. Cái là cứng không thể thay đổi sang một đặc tính khác, chẳng hạn như vị ngọt, vị ngọt lại là một đặc tính khác. Tức là mỗi thực tại có một đặc tính riêng và hoàn toàn khác nhau. Âm thanh cũng vậy, âm thanh là một thực tại không thể xúc chạm mà chỉ có thể được nghe. Như vậy chúng ta đang dần dần biết được thêm về những thực tại là các sắc không kinh nghiệm gì cả. Sau đó chúng ta sẽ học thêm về danh là thực tại kinh nghiệm, và sự khác nhau giữa hai thực tại đó. Nếu không, chúng ta sẽ lãng quên mất. Trong một ngày, chúng ta luôn luôn nhìn thấy mọi người mà không thấy đó là những khoảnh khắc của thực tại chân đế.
HV 4: Thấy đúng theo vi diệu pháp là như thế nào và làm thế nào để thấy?
Achaan: Hiểu từng bước một rằng đây là cái được thấy, nếu không có cái được thấy thì không có cái thấy. Như vậy không phải bạn thấy hay là một ai đó hiểu, mà chỉ là pháp, là hành uẩn mà thôi, khi hành uẩn tích lũy cùng với hiểu biết, sẽ có khoảnh khắc của hiểu biết đúng, không có một ai ở trong đó cả, không ai có thể làm cái gì cả. Vậy, bây giờ chúng ta tạm bắt đầu với một sự thật rất nhỏ nhoi rằng: có gì đó được thấy. Nếu không có màu sắc của cái được thấy sẽ không thể có khái niệm về cái bàn, bông hoa. Nếu tất cả chỉ là đỏ hoặc trắng thì cũng không có cái bàn, cái ghế. Có ai có thể thay đổi cách tồn tại của thực tại không? Chẳng hạn, những cánh hoa, chiếc lá, mỗi thứ đều khác nhau, không ai có thể tạo ra những điều ấy. Do tứ đại được kết hợp theo những cách khác nhau nên tạo ra những đối tượng khác nhau. Tứ đại cùng với màu, sắc, hương, vị có thể tạo ra được những đối tượng khác nhau. Đây chỉ là một số bông hoa khác nhau trên cái lẵng này. Các bạn có thể thấy rằng sắc vô cùng đa dạng. Danh thì còn phong phú hơn nữa. Đó là các thực tại. Vậy chúng ta có thể nói rằng hiện giờ không có ai ở đây mà chỉ có các thực tại khác nhau hay không?. Chỉ là những khoảnh khắc các tâm khác nhau suy nghĩ. Các bạn có biết từ citta –tâm ? Citta nghĩa là thực tại, không phải là thứ gì trường tồn, sinh và diệt, không tồn tại kéo dài.
Học viên 5: Ở khoảnh khắc đầu tiên, sau khi mở mắt ra, chỉ là hình và màu, sau đó mới là cái bàn hay cái ghế. Vậy khoảnh khắc đầu tiên đó có phải là pháp chân đế?
Achaan: Nếu không có khoảnh khắc đầu tiên ấy, liệu có thể có khoảnh khắc tiếp theo hay không?
HV 5: Khoảnh khắc tiếp theo là khái niệm
Achaan: Nếu không có suy nghĩ thì cũng không có khái niệm, đúng không? Sau cái thấy và cái nghe, luôn luôn có suy nghĩ.
HV 5: Tại khoảnh khắc đầu tiên, đó là do thức chưa kịp hoạt động phân tích hay là bản chất của thực tại chỉ là hình và màu ở cái thấy đầu tiên?
Sarah: Theo tiến trình tự nhiên của các pháp, ở khoảnh khắc đầu tiên, ví dụ sẽ có thực tại là cái thấy. Cái thấy chỉ thấy màu – cái được thấy, sau đó thì mới có ý niệm về hình và dạng, rồi mới có ý niệm về đồ vật và con người. Tương tự như vậy đối với những thực tại khác, trước hết có kinh nghiệm về cái cứng, kinh nghiệm về nóng lạnh thì mới có ý niệm về cái bàn. Nếu không có khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp về thực tại, sẽ không có khoảnh khắc có ý niệm về thực tại đó là gì, tức là khoảnh khắc có các khái niệm hình thành. Đó là một tiến trình hoàn toàn tự nhiên. Khi chúng ta tìm hiểu thế này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn, cái gì là sắc và cái gì là danh. Những câu hỏi như vậy sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn bản chất của thực tại, là những cái gì đang xảy ra hiện giờ.
HV 5: Ở khoảnh khắc đầu tiên, nó xảy ra rất nhanh, không thể ghi nhận được. Con người đã sống quen với các khái niệm, quen với sự suy nghĩ. Vậy để cho sự thực hành tốt hơn, để hiểu về thực tại rõ hơn thì mình phải phát triển như thế nào, phải tu học như thế nào để kinh nghiệm thực tại được nhiều hơn?
Achaan: Không ai có thể phát triển hiểu biết mà chỉ có hiểu biết – trí tuệ được phát triển dần dần từng bước một do duyên. Hiện giờ chúng ta đang nói về các thực tại, từng chút một, nếu có cái hiểu, nó sẽ từ từ được tích lũy, chứ không có ai có thể làm cái gì cả.
HV 5: Mặc dù hiểu rằng không có ngã ở đây, nhưng khi trao đổi thì phải dùng cái tôi , nên đó là thói quen khó tách rời, cho nên tập như thế nào, hiểu như thế nào,để xa rời cái ngã, cái tôi đó?
Achaan: Tham- muốn là một thực tại có phải không?
HV 5: Dạ, con đang muốn hiểu.
Achaan: Đó đang là một thực tại hiện giờ, phải không?
HV 5: Dạ, con cảm ơn.
Sarah: Bất cứ khi nào có một ý niệm phải làm một cái gì đấy, rằng ai đó có thể làm một cái gì đấy, thì ở khoảnh khắc đó có ý niệm về ngã chứ không phải là tiến trình hiểu một cách tự nhiên.
Achaan: Chừng nào chưa có hiểu biết đúng thì vẫn còn duyên cho sự mong cầu. Khi hiểu được rằng cái thấy là do duyên, liệu ta có muốn tạo ra cái thấy để thấy không? Thay vào đó, có trí tuệ hiểu rằng không thể nào dùng lý trí để tạo ra cái thấy được. Dù là chúng ta có muốn “thấy” đến đâu đi nữa, sẽ không thể “thấy” nếu không đủ duyên cho cái thấy sinh khởi. Nếu hiểu được điều ấy, ta sẽ thấy rằng “muốn” chỉ là một sự lãng phí thời gian mà thôi. Tốt hơn chúng ta hãy học dần để hiểu các thực tại như nó là. Bởi vì Tứ diệu đế thứ hai – Tập đế có nói đến nguyên nhân của khổ, và đó là tham ái.
Học viên 6: Trong ngôn ngữ Việt nam có hai từ “nhìn” và “thấy”. Theo con hiểu thì từ “nhìn” chỉ là nhìn suông mà thôi, “thấy” là có đối tượng và ghi nhận đối tượng đó, hai cái này là hai khái niệm khác nhau. Vậy trong Vi diệu pháp có phân biệt hai cách này không?
Achaan: Dù là ‘thấy” hay là “nhìn” thì đều có nghĩa rằng có một cái gì đó được thấy.
HV 6: Vậy một người bị khuyết tật ở mắt, ví dụ bị lé, khi họ nhìn một bông hoa, nhưng họ không thấy bông hoa ấy, vậy có thực sự là họ thấy không?
Achaan: Về mặt chân đế, không có từ “lé”, chỉ có cái thấy và cái được thấy. Dù bất kể như thế nào chăng nữa, hễ có cái được thấy thì có cái thấy, cái thấy thấy cái được thấy chứ không thể thấy cái cứng. Nên về mặt bản chất có một thực tại kinh nghiệm cái được thấy và một thực tại không kinh nghiệm, đó là cái được thấy.
HV 6: Vậy là trong Vi diệu pháp không có sự phân biệt giữa hai cái đó.
Achaan: Đúng vậy.
HV 6: Cảm ơn Achaan về một buổi chiều rất bổ ích cho tất cả mọi người.
Mọi người: Sadhu, sadhu, sadhu!
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, bhavana, Chánh kiến, paramatha dhamma, quy y, Thực tại, trí tuệ, vi diệu pháp
Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 2: Niềm tin vào Giáo pháp
Chương 2
Niềm tin vào Giáo pháp
Buổi pháp đàm tại Battambang (Phần II)
Buth Sawong: Những người nghe có câu hỏi về nghiệp bất thiện. Tâm không thể nghĩ về những nghiệp bất thiện (akusala kamma) đã được tạo trong nhiều tiền kiếp. Chúng ta không biết mình đã tạo ra những bất thiện nghiệp nào trong các kiếp quá khứ nhưng xu hướng bất thiện đã được tích lũy thì ngày càng mạnh mẽ hơn. Chúng ta có thể làm gì để vượt qua xu hướng bất thiện đã được tích lũy ấy?
Khun Sujin: Khi Đức Phật thành đạo, Đức Phật đã nhận ra Chân lý bằng trí tuệ của Ngài, đó cũng chính là cái diệt trừ phiền não hoàn toàn. Giáo lý của Ngài hoàn toàn khác với tất cả các Giáo lý và phương pháp khác. Mức độ trí tuệ cao nhất được giảng dạy bởi các tôn giáo hay hệ thống triết lý khác chỉ đạt tới mức độ đè nén phiền não một cách tạm thời. Phiền não chỉ có thể bị tận diệt hoàn toàn bởi trí tuệ được phát triển thông qua tứ niệm xứ, mà thực chất là sự phát triển của chánh kiến, của hiểu biết đúng hay trí tuệ về con đường Bát chánh đạo. Chỉ có Đức Phật dạy con đường đạo này và không có con đường nào khác đi đến sự tận diệt phiền não.
Một vị tì kheo: Đôi khi tôi có thể phát triển con đường này, nhưng tôi muốn phát triển nó một cách kỹ càng và đạt được mục đích. Tôi không biết phải cần bao nhiêu kiếp sống để có thể đạt được mục đích. Tôi đã được nghe những bài giảng về vipassana, về sự phát triển của tuệ giác, và tôi đã được nghe rằng thông qua tuệ giác thì sự chấp thủ và các phiền não khác có thể được loại bỏ. Sự tận diệt phiền não là điều quan trọng nhất và cực kỳ khó khăn, không chỉ đối với người tại gia mà cũng đối với các vị xuất gia, các vị tì kheo nữa.
Khun Sujin: Đại đức có nói rằng sự tận diệt phiền não là khó khăn, dù là đối với một vị tì kheo hay với người cư sĩ. Chỉ có trí tuệ là cái có thể tận diệt được phiền não. Nếu như trí tuệ không sinh khởi thì sẽ không thể tận diệt được phiền não. Thông qua sự tích lũy của trí tuệ cùng tất cả các ba la mật khác, đức đại Bồ tát trong kiếp sống cuối cùng đã trở thành một vị Phật toàn giác tại giây phút giác ngộ. Vì vậy bất cứ ai quan tâm chân thành tới Giáo pháp và có mong muốn nghiên cứu Giáo pháp đều cần phải nhận ra rằng phát triển của tuệ giác là điều mang lại lợi ích lớn nhất. Nếu không có trí tuệ thì sẽ không thể nào tận diệt được phiền não. Nếu ai đó không phát triển trí tuệ mà cho rằng mình có thể tận diệt được phiền não thì người đó đang bị vô minh lôi kéo hoàn toàn. Mỗi người đã tích lũy rất nhiều phiền não qua vô lượng kiếp, những phiền não ấy đã được tích lũy từ quá khứ cho đến kiếp sống này và trong kiếp sống này, từ lúc sinh cho đến giờ. Tuy nhiên chúng ta không nên nản chí bởi điều ấy. Nếu chúng ta nghe Pháp và có thêm hiểu biết về nó thì chúng ta sẽ dần dần có thể học được cách thẩm sát về các đặc tính của thực tại đang sinh khởi. Đó chính là cách dẫn đến sự chứng ngộ chân lý rằng pháp chỉ là pháp, không phải là ta, tôi hay của tôi. Khi ai đó bắt đầu nghe Pháp và thấy rằng Giáo pháp là một chủ đề rất khó thì người ấy không nên nản lòng. Nếu mọi người bắt đầu phát triển trí tuệ thay cho việc cảm thấy nản chí, họ sẽ thấy rằng cái thoạt đầu có vẻ vô cùng phức tạp sẽ dần trở nên rõ ràng hơn. Sự phát triển của trí tuệ trong cuộc sống hàng ngày có thể trở thành thói quen và dần dần chúng ta sẽ có khả năng để phát triển trí tuệ một cách trọn vẹn.
Buth Sawong: Người nghe nói rằng khi họ nghe Pháp thì tâm của họ bận bịu với Giáo pháp và có sự hiểu biết về điều được nghe. Tuy nhiên khi họ không nghe nữa thì họ lại bị phân tán và trở nên hoàn toàn chìm đắm trong những thứ khác. Họ cần phải làm gì để khiến cho tâm bám rễ vững chắc vào thiện pháp và luôn luôn hướng tâm đến Giáo pháp vào mọi lúc?
Khun Sujin: Không thể nào luôn luôn được, tuy nhiên tâm dần dần có thể hướng đến Giáo pháp nhiều hơn, tùy thuộc vào mức độ hiểu biết của mỗi người và tín tâm của người ấy. Người có hiểu biết về Giáo pháp sẽ không quên những gì mình được nghe, người ấy sẽ suy ngẫm và suy xét về nó. Nếu người ấy có thời gian, người ấy sẽ muốn đọc kinh điển. Khi người ấy thức dậy vào buổi sáng, người ấy có thể tiếp tục suy nghĩ về Pháp mà người ấy đã được nghe. Chẳng hạn, người ấy có thể nhớ rằng đã được nghe về sắc trên thân. Khi chạm cảm giác cứng thì người ấy sẽ nhớ rằng đối tượng xúc chạm không phải là ta, không phải là một chúng sinh, không phải là một người. Bất kể dù chúng ta đang ngủ hay đang thức, đang ngồi, đang nằm, đứng hay đi thì luôn có thân. Sắc trên thân đang sinh khởi bất cứ khi nào chúng ta có sự xúc chạm với tính cứng hoặc mềm. Nếu ai đó có sự ghi nhớ vững vàng về Giáo pháp đã được nghe, và nếu người ấy đã tích lũy tín tâm cùng các “ngũ căn”- indriyas- khác (tấn, niệm, định, tuệ), sẽ có nhân duyên thích hợp để chánh niệm sinh khởi. Chánh niệm có thể hay biết một cách trực tiếp đặc tính của các thực tại đang sinh khởi tại giây phút hiện giờ. Khi đó người ấy hiểu rằng các thực tại đang sinh khởi không phải là những khái niệm trừu tượng. Tâm, tâm sở và sắc .., tất cả các thực tại đã được giải thích trong Tam tạng đang sinh khởi hiện giờ. Sự thật của Giáo pháp hiển lộ ở ngay giây phút này. Khi trí tuệ phát triển có thể có chánh niệm và sự thẩm sát các đặc tính của thực tại và bằng cách ấy, các thực tại ấy sẽ được thấy một cách rõ ràng hơn. Tuy nhiên nếu mọi người dính mắc vào trí tuệ thì nó không thể phát triển được. Khi chúng ta đã nghe Pháp và thu nhận được thêm hiểu biết về nó, với những gì chúng ta đã được học về thực tại thì chánh niệm có thể hay biết đặc tính của thực tại đang sinh khởi. Một số người đã có nhiều hiểu biết, trong khi ấy những người khác không có nhiều hiểu biết lắm, tùy thuộc vào mức độ họ đã được nghe Pháp và suy xét về nó. Nghe Pháp, hiểu về mặt lý thuyết và suy ngẫm về Pháp đã được nghe là những duyên hỗ trợ sự sinh khởi của chánh niệm, và bằng cách ấy, sự thực về thực tại có thể được hiểu một cách rõ ràng hơn. Tuy nhiên chúng ta đừng nên lơ là với sự phát triển hiểu biết. Chúng ta cần phải nhớ rằng Đức Phật đã phải tích lũy các ba la mật trong rất nhiều kiếp khi còn là một đại Bồ tát. Trong kiếp sống cuối cùng của Ngài trước khi đạt giác ngộ thì Ngài cũng là một con người, giống như tất cả chúng ta đang ngồi ở đây. Ngài cũng nhìn thấy các đối tượng thị giác qua mắt, nghe các âm thanh qua tai và suy nghĩ về những thứ khác nhau; không phải lúc nào Ngài cũng nghĩ về Giáo pháp. Tuy nhiên, Ngài cũng đã cần biết bản chất thực sự của cái thấy khi Ngài thấy, Ngài cũng cần biết đặc tính của cái nghe khi Ngài nghe. Ngài cũng đã cần phải biết về các hiện tượng này như chúng thực là, bởi vì chúng là các thực tại, các pháp chân đế. Sau cái thấy và cái nghe thì có thích và không thích về cái đã được thấy và được nghe, và cũng có cả những thực tại cần phải biết như chúng là.
Đức Phật hiểu rằng rất khó để có thể hiểu được đặc tính thực sự của các pháp như cái thấy và cái nghe, những thực tại ấy luôn luôn sinh khởi trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta có thể quy cuộc sống của chúng ta về chỉ một sát-na, bởi vì cuộc sống thực sự chỉ tồn tại trong khoảnh khắc mà tâm đang kinh nghiệm đối tượng và rồi biến mất hoàn toàn. Tuy nhiên nếu không phải là một đức Đại Bồ tát, chúng ta đắm chìm vào suy nghĩ trong một thời gian dài về cái đã xuất hiện chỉ trong một sát-na qua mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và ý. Đức Đại Bồ tát khác hẳn chúng ta, chúng ta luôn say đắm trong những gì chúng ta kinh nghiệm. Vì Ngài biết rằng con đường dẫn đến giác ngộ là cực kỳ khó khăn, Ngài đã tích lũy kham nhẫn, tinh tấn và các ba la mật khác, những ba la mật ấy là nhân duyên cần thiết để có thể đưa đến Phật quả. Ngài có một sức chịu đựng vô biên, và Ngài đã không nản chí trong khi tích lũy các ba la mật với mục đích xuyên thấu bản chất thật của các thực tại và có thể giảng điều đó cho những người khác, để họ cũng có thể thoát khỏi khổ đau như Ngài. Tất cả mọi người ở đây đã có cơ hội lắng nghe Giáo pháp mà Đức Phật đã chứng ngộ ở thời điểm đắc đạo quả và thuyết cho những người khác. Bạn không cần phải tích lũy các ba la mật ở mức độ Đức Phật đã tích lũy để đắc Phật quả, nhưng bạn có thể nghe Giáo pháp và thực hành theo cách mà Đức Phật đã chỉ cho chúng ta.
Nghe Pháp, lắng nghe chăm chú là một điều kiện cần thiết để trí tuệ sinh khởi, không có con đường nào khác để có thể phát triển trí tuệ. Nếu mọi người chỉ nghe một cách hời hợt thì họ không thực sự lắng nghe Giáo pháp. Họ có thể cho là họ nghe trong khi họ không thực sự lắng nghe, bởi họ nghe một tai và rồi lại ra tai kia, không có sự hiểu biết về cái mà họ đã nghe. Lắng nghe Giáo pháp là thực sự chú ý nghiêm túc vào cái mình được nghe và suy ngẫm về nó cùng với sự hiểu biết. Điều quan trọng nhất là phải nhớ rằng nghe cũng có nghĩa là áp dụng những gì đã được nghe. Chỉ có hiểu biết lý thuyết về những gì đã được nghe thì chưa đủ, mà chúng ta cũng nên thực hành những điều Đức Phật đã giảng.
Buth Sawong: Vị đại đức nói rằng vị ấy đã nghe nhiều nhưng bây giờ vị ấy cũng thực sự muốn thực hành Giáo pháp. Tuy nhiên, vị ấy có rất nhiều việc Phật sự khác nhau phải làm với tư cách của một chư tăng, và bởi những công việc ấy, tâm của vị ấy bị xao lãng. Vị ấy không có cơ hội để ngồi yên tĩnh một mình. Vị ấy đã nghe Pháp, hiểu những gì đã được nghe nhưng vị ấy không có thời gian rảnh rỗi. Vị ấy phân vân liệu chỉ có một cách thực hành hay có nhiều cách hơn tùy thuộc vào cuộc sống của mỗi người. Một vị chư tăng thì có cuộc sống khác với cuộc sống của các vị tại gia. Vị ấy hiểu rằng, người tại gia thì có thể thực hành Giáo pháp nhưng vị ấy – một vị tỳ kheo thì có nhiều việc phải làm và điều ấy khiến cho việc thực hành trở nên khó khăn. Vì bây giờ vị ấy vẫn còn trẻ, vị ấy có nhiều việc phải làm. Khi vị ấy già hơn, vị ấy sẽ có nhiều thời gian hơn cho việc thực hành.
Khun Sujin: Đại Đức có nói rằng vị ấy đã nghe Giáo pháp, nhưng chúng ta không bao giờ nghe đủ. Ngay cả các vị A la hán trong thời Đức Phật vẫn còn tiếp tục lắng nghe Giáo pháp. Đức Phật đã giảng Pháp trong suốt 45 năm với mục đích nhằm giúp mọi người hiểu về sự thực. Chúng ta có thể đã lắng nghe trong thời gian dài, nhưng nếu chúng ta không hiểu đặc tính của thực tại khi chúng xuất hiện, có nghĩa là chúng ta vẫn chưa nghe đủ. Thay cho việc muốn thực hành, tốt hơn là nên bắt đầu hiểu đặc tính của các thực tại đang xuất hiện tại chính thời điểm này. Chúng ta có thể mong muốn sẽ không còn có phiền não nữa nhưng liệu phiền não có thể bị tận diệt nếu chúng ta không nghe pháp và hiểu đặc tính của thực tại như chúng là tại thời điểm chúng xuất hiện hay không. Còn về lời nhận xét của vị tỳ kheo rằng ông ấy không có thời gian để thực hành thì thực ra, không chỉ có các sư mà người tại gia cũng có nhiều việc phải làm. Những người tại gia cũng thường phàn nàn rằng họ không có thời gian rảnh để thực hành. Tuy nhiên việc thực hành Pháp không tùy thuộc vào thời gian rảnh rỗi mà chúng ta có. Ngay bây giờ, khi chúng ta đang ngồi đây, vẫn có các thực tại đang sinh khởi. Có cái thấy và cái nghe, tất cả đều là thực. Cũng như vậy, khi chúng ta làm các công việc của chúng ta thì các thực tại đang sinh khởi. Chúng ta không thể lựa chọn một thời gian đặc biệt nào để hiểu thực tại này hay thực tại kia. Rất cần phát triển trí tuệ hiểu biết các thực tại xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày cho đến khi có sự hiểu biết trọn vẹn về chúng. Bằng cách ấy thì vô minh, hoài nghi và các tà kiến về ngã có thể được loại bỏ.
Buth Sawong: Một số người nghe muốn hỏi cần phải tu tập tâm như thế nào để họ có niềm tin thực sự vào Giáo lý của Đức Phật.
Khun Sujin: Nếu mọi người không hiểu Giáo lý thì họ sẽ không thể có tín tâm thực sự vào Phật Pháp. Mọi người có thể nhắc lại những từ mà họ đã nghe về Đức Phật, rằng Ngài là vị toàn giác, đấng tuyệt vời nhất đã tận diệt mọi phiền não. Tuy nhiên nếu họ không thực sự hiểu phiền não là gì, ở đâu và khi nào chúng sinh khởi, và làm thế nào để có thể tận diệt phiền não, họ sẽ không thể có niềm tin thực sự nơi Đấng Giác ngộ. Vậy làm thế nào để tín tâm có thể sinh khởi? Khi có tín thực sự, sẽ có niềm tin rất vững chắc rằng Đức Phật thực sự là bậc Chánh đẳng giác, người đã dạy Giáo lý trong 45 năm để giúp tất cả chúng sinh. Nếu một người có niềm tin thực sự ở trí tuệ của Đức Phật thì người ấy sẽ muốn nghe Pháp, nghiên cứu và suy nghĩ về nó. Người ấy sẽ phát triển tuệ giác dẫn đến sự chứng ngộ Tứ Thánh Đế mà Đức Phật đã dạy.
Buth Sawong: Một số người vẫn phân vân làm thế nào để tu tập tâm, tâm sở để họ có được niềm tin không thể lay chuyển ở Giáo lý của Đức Phật.
Khun Sujin: Điều ấy chỉ xảy ra khi tâm đạo siêu thế (magga tâm) và các tâm sở kèm theo sinh khởi đối với một vị Thánh Dự lưu (sotapanna), người đã đạt được bậc giác ngộ đầu tiên. Khi ấy sẽ có sự quy y Tam bảo với niềm tin không lay chuyển nhờ có sự chứng ngộ của vị ấy về sự thực của thực tại. Một người bình thường chưa đạt được giác ngộ không thể nào quy y Tam bảo với một niềm tin không lay chuyển, bởi vì người ấy chưa xuyên thấu sự thực của các thực tại. Người ấy vẫn chưa xuyên thấu được rằng pháp đang sinh khởi lúc này không phải là ta, rằng chúng đang sinh và diệt như lời Đức Phật đã dạy. Vậy chừng nào người ấy chưa xuyên thấu được Tứ Thánh Đế thì chừng ấy vẫn chưa thể chắc chắn rằng mình sẽ không thay đổi sang một tín ngưỡng khác
Buth Sawong: Tôi muốn hỏi một lần nữa, làm thế nào để phát triển tâm và tâm sở để không còn sự lẫn lộn, không còn khả năng thay đổi niềm tin của mình nữa. Tại thời điểm này có rất nhiều tín ngưỡng khác nhau đang được truyền bá ở Campuchia. Tôi không muốn bị lẫn lộn và đi khỏi Đạo Phật. Tôi muốn có một niềm tin chắc chắn vào Đạo phật.
Khun Sujin: Như tôi đã nói trước đó, sự quy y Tam bảo với niềm tin không lay chuyển chỉ xảy ra khi tâm đạo siêu thế sinh khởi và đó là điều kiện để ta không thay đổi sang tín ngưỡng nào khác nữa. Trước khi ai đó có thể quy y Tam bảo như vậy, thì người ấy cần phải có niềm tin vào trí tuệ của Đức Phật và để có được niềm tin ấy, người ấy không nên chỉ phụ thuộc vào tâm sở tín (tâm sở saddha), nhưng cũng cần có hiểu biết về các tâm sở khác, như tuệ giác – trí tuệ. Nếu chỉ có niềm tin mà không có một chút hiểu biết nào thì niềm tin của người ấy vào chân lý của Đạo phật không thể nào được coi là vững chãi. Người Phật tử cảm thấy mình đã có niềm tin vào Giáo lý của Đức Phật muốn thể hiện sự tôn kính Đức Phật, đọc kinh và làm công quả với tư cách người Phật tử. Tuy nhiên, họ cũng nên nghe Pháp và suy nghẫm về những gì họ đã được nghe. Càng nghe thì họ sẽ càng hiểu trí tuệ của Đức Phật. Đức Phật dạy Giáo lý thực sự mà tất cả mọi người đều có thể ngay lập tức kiểm chứng, không chậm trễ.
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, bhavana, chánh niệm, Nina Van Gorkom, trí tuệ, vi diệu pháp, vipassana
Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 6: Con đường Bát chánh đạo
Chương 6
Con đường Bát chánh đạo
Buổi pháp đàm với các Phật tử Campuchia tại Nakorm Nayok (Phần 3)
Khun Sujin: Khi Đức phật giảng về các thực tại như cái thấy và đối tượng thị giác được kinh nghiệm qua mắt, những người nghe đã hiểu đặc tính của chánh niệm, họ có thể biết có chánh niệm trong khi thấy hay không. Khi Đức Phật giảng về cái nghe và âm thanh, những người nghe biết được, khi chánh niệm sinh khởi, có sự hay biết về các đặc tính của âm thanh hay của cái nghe, tức là thực tại kinh nghiệm âm thanh. Pháp mà bây giờ tôi nói đến chính là Pháp mà Đức Phật đã thuyết giảng tại Kỳ viên Tịnh xá, Trúc Lâm viên và các nơi khác. Nếu chúng ta quay lại thời Đức Phật tại thế, hơn 2500 năm trước đây, Pháp mà tôi nói đến bây giờ cũng đúng với mọi người ở thời điểm đó. Nếu mọi người ở thời điểm đó không thất niệm về các thực tại, họ đã có thể xuyên thấu tính chất thực sự của chúng. Một số người, trong lúc Đức Phật giảng về các thực tại, đã có thể xuyên thấu được chân lý, một số khác có được điều ấy sau khi được nghe giảng giải về các thực tại kỹ lưỡng và chi tiết hơn. Nhưng thời nay không còn những người như vậy nữa. Kể cả sau khi nghe những lời giảng về cái thấy thì cũng không chắc rằng đã có chánh niệm hay biết cái thấy. Chúng ta cần phải phát triển hiểu biết chính xác về các thực tại sinh khởi qua sáu môn, và chúng ta cần phải biết liệu đã có chánh niệm về các thực tại đó hay chưa. Mọi người cần phải tự thẩm sát khoảnh khắc có sự thất niệm về các thực tại và khoảnh khắc có chánh niệm. Họ cần phải hiểu rằng khi chánh niệm không sinh khởi, không thể biết các thực tại đang xuất hiện như chúng thực là. Không thể khiên cưỡng tạo nên sự sinh khởi của chánh niệm, nhưng trí tuệ có thể được phát triển từng bước một nếu ta trung thực với quá trình vun bồi trí tuệ và tự biết liệu có chánh niệm hay không. Đó là cuộc sống hằng ngày, và mọi người cần hiểu cuộc sống hằng ngày của chính mình.
Đức Phật đã giảng về sự phát triển con đường Bát chánh đạo, con đường này bao gồm tám chi là các tâm sở như sau:
Chánh kiến – sammā-dithi
Chánh tư duy – sammā-sankappa
Chánh ngữ – sammā-vācā
Chánh nghiệp – sammā-kammanta
Chánh mạng – sammā-ājíva
Chánh tinh tấn – sammā-vāyāma
Chánh niệm – sammā-chánh niệm
Chánh định – sammā-samādhi
Chánh kiến và chánh tư duy là hai chi thuộc nhóm tuệ của con đường Bát chánh đạo. Chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng là các chi thuộc nhóm giới của con đường Bát chánh đạo. Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định là những chi thuộc về nhóm định của con đường Bát chánh đạo. Như vậy sẽ có giới, định và tuệ của con đường Bát chánh đạo.
Khi có chánh kiến về thực tại thì tại thời điểm đó sẽ có “tu tập” (sikkha) về tăng thượng giới (tăng thượng có nghĩa là cao hơn), tăng thượng định và tăng thượng tuệ. Ba loại “tu tập” (Tam học) này được gọi là “ Tăng thượng tu – sự tu tập ở mức độ cao” (adhi-sikkha), bởi vì chúng là sự tu tập ở mức độ cao hơn, vi tế hơn và sâu sắc hơn các loại tu tập khác. Vào thời điểm ai đó làm việc bất thiện thì có vô minh về tham, sân và si. Khi chánh niệm sinh khởi, nó có thể hay biết về bất thiện pháp, dù chỉ là một mức độ tham nhẹ mà thôi, chưa tới độ đậm đặc của nghiệp bất thiện. Chánh niệm vẫn có thể hay biết về đặc tính thực sự của thực tại ấy. Đó là mức độ tu tập cao hơn về giới, vì ngay cả một mức độ bất thiện rất nhẹ cũng có thể được hay biết.
Định (Samadhi) là tâm sở nhất tâm (ekaggatā tâm sở), đó là thực tại tập trung vào đối tượng mà nó kinh nghiệm; nó làm duyên cho tâm kinh nghiệm đối tượng. Có tà định (miccha samadhi) đi kèm với các tâm bất thiện và chánh định (samma samadhi) đi kèm với tâm thiện. Bất cứ khi nào chánh niệm sinh khởi và hay biết đặc tính của thực tại thì chánh định tập trung trên đối tượng của chánh niệm. Chính vào thời điểm đó, hiểu biết về đối tượng có thể được phát triển và dần dần đặc tính của thực tại có thể được biết như chúng là.
Phát triển tuệ minh sát là một loại phát triển tâm trí cần rất nhiều thời gian, bởi vì chánh niệm không sinh khởi thường xuyên trong ngày, nó sinh khởi kém thường xuyên hơn các tâm bất thiện. Chánh niệm sinh khởi rất hiếm hoi, nhưng khi sinh khởi thì nó hay biết về các thực tại và trí tuệ có thể dần dần có thêm hiểu biết về chúng. Khi thất niệm trở lại, lại có vô minh không rõ các thực tại như chúng là. Hằng ngày có nhiều khoảnh khắc vô minh và vì vậy có rất nhiều vô minh được tích lũy, trong khi chánh niệm và trí tuệ chỉ có thể được tích lũy một cách nhỏ giọt.
Tuệ giác có thể xuyên thấu đặc tính thực sự của tất cả các thực tại. Khi một người đã chứng ngộ sự sinh diệt của các thực tại thì dần dần sẽ loại bỏ tà kiến rằng các thực tại là ngã, và người ấy, tại thời điểm giác ngộ, có thể xuyên thấu được Tứ Thánh Đế. Người đã xuyên thấu được Tứ Thánh Đế tại thời điểm giác ngộ tầng thứ nhất được gọi là vị thánh Dự lưu (sotāpanna). Tại thời điểm đó, đặc tính của niết bàn được kinh nghiệm và hoài nghi cùng tà kiến về các thực tại được hoàn toàn loại bỏ.
Vị thánh Dự lưu biết rằng vị ấy không phải là Vị Thánh Nhất lai, người đã đạt được tầng giác ngộ thứ hai và cũng không phải là vị A na hàm, hay thánh Bất lai, người đã đạt được bậc thánh thứ ba và cũng không phải là vị A la hán, người đã đạt được sự giác ngộ hoàn hảo và loại bỏ hoàn toàn phiền não. Trí tuệ ở mức độ vị thánh Dự lưu không thể loại bỏ được tham, sân và si. Ngoài các kiết sử đã được tận diệt, vẫn còn nhân duyên tích lũy khiến các pháp bất thiện khác sinh khởi. Vì vậy một vị Thánh Dự lưu vẫn cần phải tiếp tục phát triển trí tuệ theo cách người ấy đã biết rõ, tức là hay biết về các thực tại đang xuất hiện một cách tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày của mình. Đó là cách duy nhất để đạt được mục đích, không có con đường nào khác.
Người phiên dịch: Như vậy ý nghĩa của cụm từ “chú ý để biết kịp thực tại” là như thế nào?
Khun Sujin: Đó là sự dính mắc vào ý niệm rằng thực tại là ta. Khi chánh niệm không sinh khởi và có sự thất niệm về thực tại, ta thường cho thực tại là cái gì đó thực sự tồn tại. Chẳng hạn, khi có cái thấy, mọi người tin rằng họ thấy một ngôi đền, con người và những thứ khác nhau, chúng dường như đang tồn tại. Trong khi ấy nếu có trí tuệ, nó sẽ nhận ra rằng cái được biết qua nhãn môn không phải là người hay những thứ khác con nhau, mà chỉ là đối tượng thị giác, là một yếu tố xuất hiện qua nhãn môn. Khi chúng ta nhắm mắt lại, cái được thấy không còn ở đó nữa nhưng chúng ta vẫn có thể nghĩ về những người đang ngồi, chúng ta có thể nhớ về họ, nhưng những giây phút đó khác với giây phút thấy đối tượng thị giác đang xuất hiện qua mắt. Nếu một người nhắm mắt và mặc dù mọi người đã rời khỏi ngôi đền, người ấy có thể cho rằng vẫn có người ở trong ngôi đền đó. Điều đó cho thấy rằng, giây phút suy nghĩ về các khái niệm thì hoàn toàn khác với giây phút của cái thấy thực sự. Thực tại sinh và diệt, nối tiếp nhau rất nhanh. Các thực tại sinh khởi tiếp nối nhau qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thì bị cho là một “khối” – một người hay một thứ gì đó cụ thể. Chúng ta không nên cố gắng chú tâm trên một thực tại ở một thời điểm để có thể biết nó “kịp”, điều đó là không thể. Chỉ có chánh niệm mới có thể hay biết đặc tính của thực tại đang xuất hiện, một đặc tính tại một thời điểm, cho đến khi đặc tính ấy được hiểu một cách rõ ràng và thể hiện tính chất vô ngã.
Người phiên dịch: Người nghe muốn được biết thêm về cuộc đời riêng của bà – Achaan Sujin, quá trình giáo dục của bà, công việc của bà cũng như những việc bà đã làm để giảng giải Giáo pháp của Đức phật. Họ muốn biết về những điều ấy, dù là ngắn gọn hay chi tiết. Tôi muốn đóng vai trò của người phỏng vấn. Bà có phải người gốc Bangkok hay không?
Khun Sujin: Tôi không biết tôi có thể nói là tôi gốc người Bangkok hay không. Bố tôi làm việc ở Sở Lâm nghiệp và các con của ông sinh ra ở tỉnh nơi ông ấy sống. Tôi được sinh ra tại Ubonrajadhani, nhưng tôi được giáo dục ở Trường Saint Mary ở Bangkok. Tôi đã sống toàn bộ tuổi thơ của mình ở Bangkok cho đến khi học hết lớp sáu tại trường trung học. Sau đó tôi đã thi vào trường dự bị đại học Chulalongkorm. Sau đó tôi đăng ký vào học tại trường Đại học và học ở đó cho đến năm thứ hai. Tuy nhiên tôi không hoàn tất việc học của mình. Vì tôi vẫn thường bỏ lỡ những môn học quan trọng và không đi học thường xuyên, tôi đã thi trượt hai lần và cuối cùng đã rời bỏ trường Đại học. Sau đó tôi đến ở với cha, lúc đó ông đang làm việc tại Sở Lâm nghiệp ở Chiang Mai. Các con của ông thường đi học ở Bangkok, nơi có người chăm lo cho họ, vì mẹ của tôi đã mất khi chúng tôi còn bé. Vào kỳ nghỉ, chúng tôi đi thăm cha ở tỉnh. Khi chị gái của tôi đã có bằng đại học, chị ấy bắt đầu dạy tại trường Hoàng gia tại Chiang Mai. Tôi cũng có được đặc cách dạy tại trường Dara, gần trường Hoàng gia đó. Khi cha tôi rời công việc nhà nước và quay trở về Bangkok, chúng tôi lại đi theo ông về Bangkok sinh sống.
Có người đã khuyến khích tôi dạy tiếng Thái cho người nước ngoài tại khoa Tiếng Thái của Trường Dòng và tôi đã dạy ở đó trong một thời gian dài. Sau đó tôi rời ngôi trường này, cùng một số người bạn chúng tôi đã lập ra trường riêng, gọi là Hiệp hội các trường dạy tiếng Thái. Sau này trường này được rời từ tòa nhà trụ sở đầu tiên đến một nơi khác gần nhà của tôi tại Sathorn. Cuối cùng cha tôi đã bán ngôi nhà mà chúng tôi đã sống hơn bốn mươi năm, và sau đó chúng tôi chuyển gần về nhà em gái chúng tôi ở Soy Patthanavet (phố Sukhumvit 91). Vì ở đây rất xa trường mà tôi dạy nên tôi đã ngừng dạy và giao lại việc giảng dạy cho những người bạn, để họ cùng nhau tiếp tục công việc này.
Người phiên dịch: Bà bắt đầu nghiên cứu Giáo pháp như thế nào?
Khun Sujin: Tôi bắt đầu với việc học Vi diệu pháp. Tôi đọc một thông báo trên báo “Thế giới Bangkok”, nói rằng Hiệp hội Phật tử có một lớp dạy về Đạo phật và từ đó tôi bắt đầu học với Achaan Naeb Mahaniranan (Achaan Naeb) và với những người khác là thành viên của Hiệp hội giáo thọ. Tôi chủ yếu học ở trong lớp của Achaan Naeb. Vào thời điểm đó tôi vẫn còn đang làm việc, nhưng chỉ một nửa ngày thôi và còn lại tôi dành thời gian để ôn lại những gì mà tôi đã được học từ các lớp Vi diệu pháp vào chủ nhật. Trước năm 1957 vẫn chưa có bản dịch Tam Tạng từ tiếng Pali sang tiếng Thái, mà chỉ có một vài cuốn sách về Đạo phật bằng tiếng Thái. Nhưng sau năm 1957, khi bắt đầu có bản dịch thì tôi bắt đầu nghiên cứu các bản dịch Tam tạng sang tiếng Thái và các cuốn sách khác như Thanh tịnh đạo (Visudhimagga). Tôi gặp Achaan Naeb vào hầu như tất cả các ngày thứ năm, và khi tôi có thắc mắc gì về một số chủ đề nhất định thì tôi hỏi ý kiến của bà. Bà đã giảng những chủ đề đó cho tôi với tâm từ rất lớn. Bất cứ khi nào bà muốn tôi đi cùng bà và giúp bà giảng Pháp thì tôi lại đi cùng , dù đó là một đám tang trong tỉnh hay việc khác. Khi tôi nghiên cứu Vi diệu pháp được hai hay ba năm, Achaan Naeb đã đề nghị tôi giảng Pháp ở Viện Văn hóa quốc gia và cả ở nhà tù của phụ nữ. Bất cứ khi nào Achaan Naeb muốn tôi làm việc gì để truyền bá Đạo Phật thì tôi làm hết khả năng của mình. Khi Achaan Naeb lập Trung tâm Nghiên cứu Đạo Phật và Tổ chức Hỗ trợ tâm linh vào năm 1963 thì tôi cũng giảng ở đó. Về sau tôi bắt đầu giảng ở Chùa Maha-Dhatu và sau đó ở trong các giảng đường của Trường Mahamarkut thuộc Chùa Bovornivet. Bây giờ tôi không còn giảng Pháp nữa nhưng tôi vẫn giúp các buổi pháp đàm, và tôi xem xét lại những bài giảng của tôi mà mọi người đã được nghe trên các chương trình phát thanh. Giáo sư Somporn bây giờ đang giảng về cuốn “Vi diệu pháp toát yếu” (Abhidhammattha Sangaha). Hiện nay, tôi đang sắp xếp và xem xét lại tất cả các cuốn băng, tổng cộng hơn hai nghìn cuốn, về các chương trình của tôi trên các đài phát thanh khác nhau. Tôi biên tập lại để có thể làm cho nội dung được cô đọng hơn và có ít sự lặp lại hơn.
Người phiên dịch: Bà đã đọc và nghiên cứu Tam Tạng . Bà đã làm thế nào để có được sự hiểu biết về phát triển Tứ niệm xứ từ sự nghiên cứu của mình?
Khun Sujin: Không có chút nghi ngờ nào rằng Giáo pháp mới chính là vị đạo sư của chúng ta và vì vậy mọi người không nên bị dính mắc vào những người thầy của mình. Rất khó có thể hiểu sâu sắc và hoàn toàn Tam tạng, dù theo nghĩa đen của câu chữ hay theo ý nghĩa, nhưng chúng ta có thể có thêm hiểu biết bằng việc nghe bất cứ ai giảng sự thực về Pháp. Tuy nhiên chúng ta không nên chấp nhận những gì không đúng với pháp. Chúng ta không nên dính mắc vào con người, chúng ta không nên tin vào con người hơn là vào Giáo pháp. Chúng ta cần thực sự có niềm tin vào Giáo pháp mà Đức Phật đã dạy, hãy coi đó là người thầy của chúng ta.
Mọi thứ xảy ra do nhân duyên tương ứng. Không có ai có thể biết được mình có những nhân duyên tích lũy nào cho khía cạnh này hay khía cạnh kia của Pháp, hay để làm những việc này hay việc kia trong lĩnh vực Đạo Phật. Mong tất cả những ai có mong muốn nghiên cứu Giáo pháp có thể giúp người khác biết được về Giáo pháp với đúng khả năng của mình. Nếu một ai đó đang cố gắng giảng Pháp thì không nhất thiết phải có nhiều người đến nghe. Những người có kiến thức và hiểu biết về Giáo pháp đều có thể, theo cách riêng của mình, giúp những người khác chưa biết về Giáo pháp có thêm hiểu biết. Không cần phải suy nghĩ “tôi hơn người này” hay “người kia hơn tôi”. Mỗi một người khác nhau đều có thể làm những việc riêng biệt trong lãnh địa Giáo pháp, phù hợp với sự hiểu biết và khả năng mà người ấy đã tích lũy.
Cách chia sẻ Giáo pháp là trước hết phải tự tìm hiểu để có hiểu biết đúng đắn. Sẽ sai lầm nếu mong chờ người khác tìm hiểu về Giáo pháp mà không tự mình nghiên cứu. Ai đó có thể nói rằng Đạo phật mang lại rất nhiều lợi lạc, rằng nó mang đến giải pháp cho những vấn đề của cuộc sống chúng ta và cho xã hội, nhưng liệu người ấy có thực sự tự mình tìm hiểu Giáo pháp hay không? Người muốn tìm hiểu Giáo pháp cần biết chắc khi nào mình sẽ làm điều ấy. Nếu không người ấy sẽ tiếp tục nghĩ về việc nghiên cứu sẽ làm trong tương lai, thay cho thực sự tìm hiểu. Khi một người chắc chắn rằng mình sẽ nghiên cứu Giáo pháp thì cũng cần biết cái mình chắc chắn sẽ nghiên cứu và khi nào, ở đâu mình sẽ nghiên cứu. Những điều này mọi người cần phải thẩm định một cách đúng đắn, họ không nên lơ là việc tự nghiên cứu và có được hiểu biết về Giáo pháp, họ không nên chỉ nhắc lại những gì đã được nghe từ người khác.
Chỉ có một cách duy nhất đúng đắn, mỗi người cần là nơi nương tựa của chính mình khi nghiên cứu Giáo pháp với mục đích hiểu Pháp rõ hơn. Tất cả những ai tìm hiểu và hiểu đúng Giáo pháp đều đang góp phần hoằng dương Phật Pháp, cho cả chính mình và mọi người. Khi người ta không tự mình có hiểu biết đúng về Pháp, họ không thể truyền bá được Phật Pháp.
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, bhavana, Chánh kiến, chánh niệm, Thực tại, trí tuệ, vipassana, đạo Phật
Nương nhờ Giáo Pháp của Đức Phật. Chương 7: Con đường đúng và con đường sai (Đạo và Phi đạo)
Chương 7
Con đường đúng và con đường sai (Đạo và Phi đạo)
Buổi pháp đàm tại Pnompenh (Phần 1)
Buth Sawong: Tất cả mọi người đang có mặt tại đây đều muốn nghe về sự phát triển tứ niệm xứ. Tôi muốn biết sự khác biệt giữa trí tuệ ở mức độ tư duy về danh và sắc, và trí tuệ xuyên thấu đặc tính của danh và sắc.
Khun Sujin: Trước hết, mọi người nên lắng nghe Giáo pháp để có hiểu biết đúng, để hiểu được sự thực rằng ngay tại thời điểm này chỉ có các thực tại vô ngã. Tuy nhiên không phải dễ dàng để hiểu rằng tại thời điểm này, trong lúc nghe Pháp thì không có ai đang nghe cả, chỉ có các thực tại mà thôi.
Tất cả mọi người đều biết là mình đang thấy và cái thấy là thực. Đức Phật đã giảng rằng cái thấy là một thực tại, là danh, là yếu tố kinh nghiệm cái gì đó. Tuy nhiên, mọi người không nhận ra sự thực, rằng cái thấy chỉ kinh nghiệm cái xuất hiện qua nhãn môn, tức đối tượng thị giác. Họ vẫn tưởng rằng cái được thấy là cái này hay cái kia, một “cái gì đó” cụ thể.
Chúng ta cần nghe Pháp để có được cái hiểu đúng đắn, chắc chắn và vững vàng về thực tại. Dường như ở thời điểm này chúng ta thấy con người, bông hoa hay cái bàn, nhưng chúng ta cần phải biết rằng một vị Phật toàn giác, tại thời điểm giác ngộ Phật quả, đã xuyên thấu bản chất của các thực tại. Vị ấy đã chứng ngộ rằng cái được thấy chỉ là một thực tại xuất hiện qua nhãn môm. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng Pháp mà Đức Phật đã xuyên thấu là sự thực đang sinh khởi lúc này.
Mặc dù mọi người đã được nghe Pháp một thời gian, nhưng dường như khi mắt họ mở ra và có cái thấy kinh nghiệm đối tượng thị giác thì họ vẫn thấy mọi người và đồ vật khác nhau như bình thường. Điều ấy chỉ ra rằng có rất nhiều sự vô minh. Vô minh (avijja) là thực tại không hay biết đặc tính của các pháp như chúng là.
Tất cả mọi người ở đây đều biết rằng họ cần tiếp tục phát triển trí tuệ, bởi trí tuệ ở mức độ lý thuyết, được duyên bởi cái nghe thì không có khả năng hiểu được một cách rõ ràng bản chất thực sự của thực tại. Để có sự phát triển của trí tuệ, rất quan trọng phải biết được sự khác biệt giữa các khoảnh khắc có chánh niệm và khoảnh khắc không có chánh niệm, hay thất niệm về thực tại. Khi chúng ta lắng nghe Giáo pháp, có thể nhờ có chánh niệm mà ta hiểu được cái đang nghe. Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là mức độ của chánh niệm trực tiếp hay biết đặc tính của thực tại đang sinh khởi. Nghe Pháp sẽ đạt được lợi ích lớn lao nếu ta cũng suy xét về những gì đã được nghe, như vậy dần dà sẽ có thêm hiểu biết về các thực tại đang xuất hiện trong hiện tại; có thể có thêm hiểu biết về cái thấy khi cái thấy xảy ra. Không nên có chút mong đợi nào về thời điểm có hiểu biết rõ ràng về thực tại xuất hiện. Chúng ta có thể bắt đầu hiểu rằng cái xuất hiện qua nhãn môn chỉ là một loại sắc, là đối tượng thị giác mà thôi. Màu sắc hay đối tượng thị giác được duyên bởi tứ đại, bao gồm các yếu tố địa đại (sự cứng mềm), thủy đại (sự kết dính), hỏa đại (sự nóng lạnh), phong đại (sự chuyển động, căng-trùng). Nếu không có tứ đại sinh khởi cùng đối tượng thị giác thì nó sẽ không thể xuất hiện. Màu sắc hay đối tượng thị giác không thể tự sinh khởi từ hư không. Nó cần có sự hỗ trợ của ba đại sinh cùng nó. Nhờ ba đại sinh khởi cùng với nó, chúng ta có thể nhận ra những hình dạng khác nhau. Tưởng (sanna) có thể nhận ra những thứ này là cái này hay cái kia. Sanna, sự ghi nhớ, không phải là tà kiến. Những người đã loại bỏ tà kiến, nhờ có sanna, vẫn có thể nhận ra được những gì mà họ đã thấy.
Khi chánh niệm đã được phát triển và trí tuệ có thể trở nên sắc bén hơn, hoài nghi về sự khác biệt giữa các đặc tính của danh – thực tại kinh nghiệm đối tượng và của sắc – chẳng hạn như đối tượng thị giác xuất hiện qua nhãn môn – có thể được loại bỏ hoàn toàn. Nhưng cần phải vô cùng kiên nhẫn để có thể lắng nghe Giáo pháp, suy xét và thẩm định về thực tại rằng tất cả những gì đang xuất hiện tại thời điểm này chỉ là pháp, là thực tại mà thôi. Nếu chánh niệm sinh khởi, nó có thể hay biết đặc tính của bất cứ thực tại nào đang xuất hiện. Khi bắt đầu, vẫn có ý niệm về ngã. Chánh niệm có thể sinh khởi, nhưng vẫn có ý muốn cố gắng hiểu thực tại. Rất quan trọng nhận ra sự khác biệt giữa giây phút của cái hiểu và giây phút của mong muốn hiểu thực tại. Chúng ta cần phải hay biết sự dính mắc của chúng ta đối với hiểu biết, nếu không sự dính mắc sẽ không thể bị diệt trừ. Dính mắc là nguồn gốc của khổ đau, đó chính là tập đế trong Tứ Thánh Đế. Dính mắc là nguyên nhân khiến ta không hay biết sự thực của các thực tại.
Chúng ta cần phải biết được mục đích của việc nghe Pháp. Mục đích không phải là để đạt được cái gì đó cho bản thân, không phải vì danh vọng hay tiếng thơm, không phải để được ngưỡng mộ là một người thông minh có đầy đủ trí tuệ. Mục đích là hiểu bản thân mình, nhận ra hiểu biết còn thiểu sót của mình về các đặc tính của thực tại, hiểu sự vô minh của chúng ta, chẳng hạn về đối tượng thị giác đang xuất hiện trước mắt. Chúng ta nên nhớ rằng, chừng nào chúng ta còn sống thì điều đáng quý nhất chính là trí tuệ hay biết thực tại như chúng là.
Nếu Đức Phật chưa dạy con đường phát triển tuệ giác, chúng ta sẽ không thể hay biết về đặc tính của thực tại. Suốt cả cuộc đời, chúng ta sẽ tiếp tục thấy mà không biết thực tại của cái thấy là gì. Nhưng nhờ có lời dạy của Đức Phật, mọi người có thể tự nhận ra khi nào có chánh niệm và khi nào có thất niệm về thực tại. Không ai có thể nói cho chúng ta biết mình có chánh niệm hay không, chúng ta chỉ có thể tự biết điều này cho bản thân mà thôi. Kể cả khi chánh niệm sinh khởi, đặc tính của các thực tại có thể vẫn chưa được thấy như chúng là. Tuy nhiên, chánh niệm lại có thể sinh khởi tiếp và bằng cách ấy dần dần sẽ có thêm một chút hiểu biết về thực tại. Chúng ta có thể hiểu rằng các thực tại đang sinh khởi một cách tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày khi có đủ duyên phù hợp cho chúng, và rằng kể cả đặc tính của chánh niệm cũng chỉ có thể xuất hiện khi có đủ nhân duyên, rằng sự sinh khởi của chánh niệm không thể được tạo ra bằng ý chí. Chúng ta nên nhớ, chỉ chánh niệm, chứ không phải ai đó, hay biết đặc tính của thực tại. Hiểu điều này là cách duy nhất để có thể loại bỏ được ý niệm về ngã, ý niệm rằng “tôi đang thực hành”.
Giáo pháp mà mọi người nghe hôm nay là Pháp mà Đức Phật đã thuyết giảng tại Kỳ viên tịnh xá (Jetavana), Trúc lâm tịnh xá (Veluvana) và các nơi khác. Những người nghe Pháp hiểu rằng thấy, nghe, suy nghĩ, hạnh phúc hay khổ đau đều là các thực tại, là pháp. Đó là các pháp thực, pháp đế (sacca pháp), đó là pháp thực trong mỗi một cuộc đời. Hiểu biết về pháp thực được tích lũy từ trước, nó phụ thuộc vào việc đã được nghe Pháp từ trong các tiền kiếp. Nếu ai đó trong cuộc đời của mình không có cơ hội nghe và hiểu Pháp, thì cuộc sống của người ấy đầy tham, sân, si và các loại phiền não khác, và người ấy luôn tích lũy ngày càng nhiều các bất thiện pháp. Vì vậy, khi có cơ hội được nghe Pháp thì chúng ta cần phải biết lắng nghe và suy xét, chúng ta cũng nên tự thẩm sát những đặc tính của thực tại đang xuất hiện tại giây phút này. Chúng ta cần nghe đi nghe lại và tiếp tục thẩm sát các thực tại nhằm phát triển hiểu biết, từng chút một. Nếu ai đó có ý định phát triển trí tuệ thì người ấy cần phải tích lũy từ bây giờ. Nếu người ấy không bắt đầu tại thời điểm này thì không thể có trí tuệ.
Tôi đánh giá cao thiện pháp của những người nghe đã tích lũy được trong quá khứ. Sự tích lũy này tạo duyên cho sự sinh khởi trí tuệ hiểu được lợi ích của Giáo pháp; và đó là nhân duyên để quan tâm nhiều hơn đến nghe và áp dụng Giáo pháp.
Buth Sawong: Tôi muốn hỏi lại sự khác biệt giữa trí tuệ ở mức độ lý thuyết và trí tuệ trực tiếp xuyên thấu sự thực về pháp.
Khun Sujin: Tại thời điểm này mọi người nghe Pháp và hiểu điều họ được nghe, nhưng đó vẫn chưa phải là cái hiểu trực tiếp, cái hiểu được bản chất thực sự của cái thấy khi thấy. Cái nghe xuất hiện tại thời điểm này và mọi người biết rằng đó là một loại danh, nhĩ thức, sinh khởi rồi diệt đi. Họ có cái hiểu lý thuyết về các thực tại này nhưng có thể họ vẫn chưa nhận ra đặc tính thực sự của thực tại đang nghe âm thanh sinh khởi và diệt đi. Mới chỉ có trí hiểu thực tại ở mức độ lý thuyết, tư duy. Nghe sinh khởi tại thời điểm này là thực, đó là pháp sinh và diệt. Chừng nào ta vẫn chưa trực tiếp hiểu được sự thực về thực tại sinh khởi tại giây phút này, thì vẫn chỉ là hiểu biết ở mức độ lý thuyết, được duyên bởi việc nghe. Trong khi đó, khi ai đó có cái hiểu trực tiếp và xuyên thấu được đặc tính của thực tại, người ấy biết rằng loại trí tuệ này khác với cái hiểu lý thuyết. Trước hết, mọi người cần phải biết đặc tính của chánh niệm.
Chánh niệm của Bát chánh đạo không phải là một “ai đó”, người đang hay biết. Samma-sati hay chánh niệm của Bát chánh đạo hay biết thực tại đang xuất hiện. Khi nó sinh khởi, sẽ không chỉ có cái hiểu lý thuyết. Chánh niệm hay biết trực tiếp đặc tính của thực tại xuất hiện, và nhờ vậy bản chất thực sự của nó có thể được hiểu vào thời điểm ấy. Vì vậy chúng ta có thể thấy được sự khác biệt giữa cái hiểu lý thuyết và trí tuệ – cái hiểu trực tiếp thực tại đang sinh khởi. Tất cả mọi người có thể tự biết rằng mình đang ở mức độ hiểu biết nào.
Trong quá khứ, khi Đức Phật thuyết Pháp và giảng về sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, thì người nghe, khi có chánh niệm sinh khởi, có thể tự hay biết được bản chất của các thực tại đang xuất hiện qua các căn đó. Khi chánh niệm không sinh khởi, họ biết rằng mới chỉ có cái hiểu lý thuyết được duyên bởi việc nghe Pháp. Chỉ trí tuệ mới có thể hiểu được đặc tính của thực tại, chúng ta không phải làm điều gì đặc biệt. Nếu tại thời điểm này trí tuệ có thể xuyên thấu được đặc tính của các thực tại, đó không phải bởi vì có một cái ngã nào đã cố gắng làm điều gì đó đặc biệt. Không có ai cả, không có người nào đang phát triển tứ niệm xứ. Khi chánh niệm sinh khởi và hay biết về các thực tại, chúng ta có thể biết được đặc tính của chánh niệm và trí tuệ, và bằng cách ấy thì tà kiến cho rằng các thực tại là ta hay là ngã có thể dần dần được loại bỏ. Cuối cùng, có thể có được hiểu biết rõ ràng về sự thực rằng tất cả những gì đang sinh khởi hiện giờ chỉ là pháp. Pháp xuất hiện hằng ngày qua các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Khi chánh niệm sinh khởi, nó hay biết thực tại, và nếu nó không sinh khởi, sẽ có vô minh không hiểu được thực tại. Chánh niệm có thể hay biết được đặc tính của thực tại đang xuất hiện một cách tự nhiên, chúng ta không phải làm điều gì đặc biệt. Trí tuệ phát triển rất từ từ, nhưng đó là cách thực hành đúng đắn.
Muốn biết cái gì đó khác ngoài cái xuất hiện hiện giờ là vô ích. Các thực tại đang xuất hiện tại thời điểm này và vì vậy bất kỳ cái gì đang xuất hiện bây giờ đều có thể được hiểu như nó là. Nếu chúng ta vẫn chưa hiểu được thực tại thì ta cần phải nghe, nghe đi nghe lại, suy ngẫm đi suy ngẫm lại, chúng ta nên học để hay biết đi hay biết lại và như vậy sẽ có thêm hiểu biết. Sự kham nhẫn và bền bỉ là không thể thiếu được.
Đạo hay con đường đúng cần phải được phát triển. Một người đi con đường sai khi người ấy muốn biết gì đó khác ngoài những thực tại đang xuất hiện hiện giờ. Như vậy sẽ không có trí tuệ. Nếu có trí tuệ thì nó phải hiểu được đặc tính của thực tại đang xuất hiện.
Những người đã chứng ngộ được chân lý có thể hiểu trí tuệ lớn lao của Đức Phật, người ấy có thể hiểu rằng, tại thời điểm giác ngộ, Đức Phật đã xuyên thấu sự thực về các thực tại vốn vô cùng khó để hiểu được. Thực tại luôn sinh khởi, nhưng dù chúng ta đã nghe Pháp trong một thời gian dài, trí tuệ vẫn có thể rất hiếm khi sinh khởi và phát triển rất chậm chạp. Tuy nhiên, cách đó vẫn còn tốt hơn là đi theo con đường sai, nơi không có chút trí tuệ nào.
Buth Sawong: Một số người nghe muốn hỏi làm thế nào để thực hành tứ niệm xứ. Tôi nhận ra rằng có rất nhiều sự thực hành sai lầm. Nhiều người thực hành quán niệm hơi thở theo cách sai và quán niệm hơi thở nằm trong tứ niệm xứ, phần niệm thân. Họ không biết đặc tính của các thực tại tạo nên thân.
Khun Sujin: Hãy hỏi đi, vì đây là một buổi pháp đàm. Chúng ta hãy thảo luận tại sao một người không thực hành theo con đường đúng.
Buth Sawong: Làm thế nào để mọi người có thể thực hành theo con đường đúng?
Khun Sujin: Có con đường đúng và con đường sai. Bây giờ tôi lại muốn hỏi các bạn: Bởi điều gì mà một người lại thực hành theo con đường sai?
Buth Sawong: Bà làm ơn giúp chúng tôi giải thích điều này không?
Khun Sujin: Người đặt câu hỏi cũng cần phải tự suy ngẫm và thẩm sát những câu hỏi này. Người ấy cũng cần phải tìm ra nguyên nhân nào mang đến kết quả nào. Nếu người ấy không tự suy nghĩ về câu hỏi của mình trước, người ấy sẽ không biết rõ nhân nào dẫn đến quả nào. Bởi vì có trí tuệ mà người ấy có thể tự trả lời những câu hỏi về sự thực hành. Nếu như người ấy không thể trả lời những câu hỏi ấy, người ấy sẽ không thể đi theo cách thực hành đúng được. Bạn có thể trả lời ngắn gọn câu hỏi của tôi được không: Lý do nào khiến một người thực hành theo con đường phi đạo?
Buth Sawong: Tôi lại muốn hỏi trong một vài câu ngắn ngủi: làm thế nào để ai đó có thể thực hành theo con đường đúng?
Khun Sujin: Liệu bạn có thể suy ngẫm lý do tại sao ai đó không thể thực hành theo con đường đúng không?
Buth Sawong: Bởi vì người ấy không biết sự thực.
Khun Sujin: Người ấy không biết thế nào là con đường sai. Người ấy vô minh, người ấy không hiểu gì cả. Nếu người ấy có được cái hiểu đúng, người ấy sẽ đi theo con đường đúng. Sự thực hành sai hay phi đạo là một dạng của tà kiến (miccha ditthi) và nó được duyên bởi vô minh. Nếu ai đó nói với người khác rằng ngồi là cần thiết cho sự thực hành đúng, thì những người đi theo lời khuyên này sẽ có thêm hiểu biết gì? Nếu những người ấy không có thêm hiểu biết gì trong khi ngồi thì lý do để ngồi là gì? Hiểu biết là điều không thể thiếu được đối với pháp hành đúng. Đức Phật dạy Giáo pháp với mục đích giúp mọi người hiểu đặc tính của thực tại đang xuất hiện tự nhiên tại giây phút này. Đức Phật không bảo mọi người ngồi mà bảo mọi người nghe Pháp để có thêm hiểu biết. Nếu mọi người không có được cái hiểu đúng về mặt lý thuyết về thực tại, cái được duyên bởi việc nghe Pháp thì họ đang thực hành theo cách nào? Nếu họ không có thêm hiểu biết nào thì có vô minh, và như vậy cũng có cả tà kiến đang làm duyên cho tất cả những loại thực hành sai. Một điều cơ bản phải hiểu là không có cái ta, cái ngã nào đang thực hành cả. Mọi thứ đều là pháp: chánh kiến (samma-ditthi) là pháp, tà kiến (micha-ditthi) là pháp, tham (lobha), sân (dosa), si (moha), trí tuệ, tất cả đều là pháp, là các thực tại vô ngã
Một người có tà kiến sẽ đi theo pháp hành sai, người ấy sẽ không thể đi theo pháp hành đúng được. Trong khi ấy người có cái hiểu đúng thì không thể đi theo pháp hành sai. Nếu một người khác nói với một người có cái hiểu đúng rằng ngồi là cần thiết cho pháp hành thì người ấy sẽ không ngồi bởi vì người ấy biết rằng, người ấy không phát triển được bất kỳ hiểu biết nào chỉ nhờ việc ngồi, và vì vậy không có lý do nào để cho người ấy ngồi.
Buth Sawong: Làm sao chúng ta có thể thực hành theo con đường đúng của Tứ niệm xứ và đặc biệt là của niệm thân?
Khun Sujin: Tại sao bạn lại chọn một đối tượng nhất định cho chánh niệm?
Buth Sawong: Bởi vì tôi đọc trong kinh điển về niệm thân, nhưng tôi không biết làm cách nào để thực hành nó.
Khun Sujin: Có sáu cửa giác quan, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Các đối tượng sinh khởi qua sáu căn tạo nên “thế giới” xuất hiện trước chúng ta; trên thực tế có sáu thế giới đang xuất hiện qua sáu môn. Nếu không có sáu thế giới đó thì chúng ta sẽ không kinh nghiệm gì cả. Vào thời điểm này, có cái thấy nhưng chúng ta có thể không biết được cái thấy như nó là. Đó chỉ là một thực tại, một loại kinh nghiệm khác với nghe hay suy nghĩ. Cái xuất hiện qua mắt là đối tượng thị giác, khác với âm thanh.
Những người chứng ngộ được sự thực tại thời điểm thấy, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm hay suy nghĩ sẽ không có một chút nghi ngờ nào về tứ niệm xứ: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp. Sẽ có thể có sự nghi ngờ về cái tên của tứ niệm xứ, về các khái niệm nhưng không có sự nghi ngờ về các thực tại. Người đã trực nhận được sự thực biết rằng có các thực tại trên thân là sắc luôn xuất hiện. Sắc xuất hiện ở khắp mọi nơi trên thân, từ đầu tới chân, đều là pháp, là các thực tại. Tâm có thể kinh nghiệm thực tại xuất hiện qua thân căn khi có sự xúc chạm với cơ thể. Hiện giờ răng, máu hay tim có đang xuất hiện lúc này không?
Buth Sawong: Những cái đó tồn tại theo nghĩa chế định.
Khun Sujin: Bạn có thể nhớ rằng chúng có tồn tại, nhưng hiện giờ chúng có xuất hiện không?
Buth Sawong: Chúng không xuất hiện hiện giờ
Khun Sujin: Chúng đã sinh và diệt rồi. Cái đã sinh và diệt không xuất hiện tại thời điểm bây giờ. Nhưng mọi người nhớ chúng theo một cách sai lệch và chính vì vậy, chúng có vẻ kéo dài, thường hằng. Họ cho rằng cái thân từ đầu tới chân là ta. Đó chính là nhớ tưởng sai lầm về ngã (atta sanna).
Đức Phật nói rằng tất cả các pháp đều vô ngã, anattā. Sắc pháp là sắc pháp và danh pháp là danh pháp. Mỗi thứ đều có đặc tính riêng của chúng và không ai có thể thay đổi những đặc tính ấy; chúng là những thực tại, không phải là ta. Sắc pháp sinh và diệt cực kỳ nhanh, nhưng danh pháp sinh và diệt còn nhanh hơn cả sắc pháp. Khi sự thực đã được chứng ngộ, không gì còn lại trong cuộc đời của chúng ta ngoài một khoảnh khắc của tâm kinh nghiệm sắc hay danh đang xuất hiện. Mọi người vướng mắc vào cái ta, và bởi tưởng mà họ biết mình có phổi, gan, tim hay tụy, chúng dường như tồn tại, nhưng khi có trí tuệ thì nó có thể nhận ra rằng đó chỉ là suy nghĩ mà thôi. Tứ niệm xứ không phải là suy nghĩ, nó là sự phát triển cái hiểu trực tiếp về đặc tính của các thực tại đang xuất hiện.
Khi chúng ta chạm vào bất kỳ phần nào trên thân thì đặc tính mềm hay cứng đang xuất hiện. Cứng và mềm là các sắc sinh và diệt ngay lập tức. Vì có tưởng mà chúng ta nghĩ về các phần khác nhau của thân, và tôi sẽ đưa ra ví dụ về điều này. Một người có một cái chân bị cụt vẫn có cảm giác rằng mình có chân. Đó chính là do tưởng đã làm duyên cho người ấy nghĩ rằng người ấy vẫn có chân, mặc dù cái chân ấy đã bị cụt. Có sự ghi nhớ về tất cả những sắc được gọi là chân. Trên thực tế thì sắc đang sinh khởi hiện giờ diệt ngay lập tức, và khi có duyên đầy đủ thì nó lại được thay thế bởi sắc khác lại sinh và diệt. Tuy nhiên, bởi vì có tưởng, mọi người nghĩ về toàn thân của họ từ đầu tới chân, cũng như trong trường hợp người có cái chân bị cắt vẫn có cảm giác người ấy có chân. Chỉ khi ngã tưởng, tức là sự ghi nhớ sai lầm về ngã (atta sanna), mà bởi nó chúng ta vẫn tiếp tục suy nghĩ rằng có cái thân tồn tại, đã được tận diệt, thì ta mới có thể hiểu rằng tất cả các pháp đều là vô ngã, rằng không có gì còn lại của thân như là một khối mà chỉ có đặc tính của sắc tại mỗi thời điểm đang sinh khởi. Đó là cách để hiểu ý nghĩa của anattā.
Rất khó để có thể loại bỏ sự ghi nhớ sai lầm về ngã. Khi sắc là tính lạnh tác động lên một phần nào đó trên thân, nó diệt ngay lập tức, nhưng thật khó mà nhận ra điều này. Sẽ luôn luôn có sự ghi nhớ “tôi là người đang ngồi” và sẽ có sự ghi nhớ về cái tay, cái chân, cái đầu và về toàn thân. Tà kiến về ngã vẫn chưa được tận diệt. Đức Phật giải thích rằng khi chánh niệm sinh khởi và hay biết về từng đặc tính một của thực tại đang xuất hiện qua thân căn, thì ở thời điểm ấy có niệm thân. Tứ niệm xứ không phải là cái gì đó khác ngoài chánh niệm về cái đang xuất hiện qua mắt, qua tai, qua mũi, qua thân và qua ý. Mọi người không nên lựa chọn đối tượng của Tứ niệm xứ bởi vì như thế là có sự dính mắc vào ý niệm về một cái ngã có thể lựa chọn một đối tượng. Không ai có thể ra lệnh cho chánh niệm hay một đối tượng cụ thể nào. Chỉ có chánh niệm mới có thể hay biết đối tượng này hay đối tượng kia. Chánh niệm có thể hay biết cái xuất hiện qua mắt hay đối tượng của cái thấy tại thời điểm này khi đang có cái thấy. Tại thời điểm ấy không có chánh niệm trên thân. Sẽ có thể có chánh niệm về pháp hay chánh niệm về tâm, tức là niệm pháp hay niệm tâm, tùy thuộc vào nhân duyên. Không có phương pháp nào quy định ai đó có thể làm gì đó cụ thể để có thể có chánh niệm trên thân, thọ, tâm hay pháp. Không có phương pháp nào để có thể đi theo. Cách duy nhất để phát triển Tứ niệm xứ là dần dần hiểu được các thực tại đang xuất hiện. Chánh niệm có thể biết được bất kỳ thực tại nào đang xuất hiện, chẳng hạn khi có cái thấy thì có thể có sự hay biết về thọ. Khi có sự hay biết về các đặc tính của thọ thì có thể tại giây phút đó không có chánh niệm về thân hay chánh niệm về tâm. Thuật ngữ pali được sử dụng trong trường hợp này là Vedananupassana Satipaṭṭhāna, nghĩa là: sự suy xét hay quán niệm về thọ. Điều này chỉ ra rằng trí tuệ được phát triển nhờ chánh niệm, qua sự suy xét về các đặc tính của thực tại. Nếu một người chưa từng hay biết về các đặc tính của thọ, thì người ấy vẫn tiếp tục coi thọ là ngã.
Achaan Sujin, Bát Chánh đạo, bhavana, Nina Van Gorkom, Thực tại, trí tuệ, vi diệu pháp, vipassana
Pháp đàm với Achaan Sujin tại Hà nội ngày 07/11/12, buổi sáng
Pháp đàm ngày 07/11/12, buổi sáng
Câu hỏi (dành cho một học viên): Bạn có thích các buổi thảo luận không? Bây giờ, bạn có thấy đã hiểu hơn về Giáo lý của Đức Phật chưa?
Trả lời: Bây giờ tôi hiểu hơn về bản thân mình.
Achaan: Nhưng bạn thấy đấy, không có Giáo lý của Đức Phật, bạn không thể hiểu hơn về bản thân mình.
Trả lời: Vâng, giờ thì tôi hiểu rằng, mọi vấn đề đều đến từ cái “tôi”. Không có cái “tôi”, chúng ta sẽ không có vấn đề nào cả. Nhưng con người sinh ra và tồn tại bởi đã có cái “tôi”, chỉ có Đức Phật mới có thể đến với thế giới mà không có cái “tôi”. Đó là vấn đề chung của tất cả mọi người. Chúng ta không thể từ bỏ cái “tôi” chừng nào chưa trở thành bậc a la hán…
Achaan: Không phải vậy, vị Thánh Dự Lưu đã không còn có ý niệm về “tôi”.
Trả lời: Vị thánh dự lưu là gì ạ?
Sarah: Đó là giai đoạn đầu tiên của sự giác ngộ.
Achaan: Ngay cả chính Đức Phật cũng phải đạt giác ngộ qua từng giai đoạn.
Trả lời: Tất cả mọi người đều có một cái “tôi” ở trong tâm
Achaan: Đó là lý do vì sao chúng ta nghe Giáo lý, để tận diệt cái “tôi” nhờ việc hiểu về nó. Nếu không, sẽ luôn có cái “tôi” mọi lúc.
Trả lời: Về cơ bản, tôi đồng ý với Achaan rằng tất cả mọi người đều đã có ý niệm về “tôi” khi chúng ta sinh ra. Rằng cái “Tôi” mới tạo ra những vấn đề cho chúng ta. Trong thực tại thuần túy, không hề có “tôi”. Nhưng…
Achaan: Khi không có ý niệm về “tôi”, sẽ không hề có vấn đề, có đúng không?
Người phiên dịch: Tôi đã hỏi anh ấy xem anh ấy có thể tìm thấy ý niệm về “tôi” ở đâu. Anh ấy trả lời rằng, nó đến khi chúng ta nói, chúng ta làm mọi việc, tất cả mọi thứ.
Achaan: Ai thấy hiện giờ?
Trả lời: Tôi thấy
Achaan: Vậy bất cứ khi nào không có hiểu biết, sẽ có ý niệm về “tôi”.
Người phiên dịch: Cũng tương tự với cái nghe, cái ngửi,… bất cứ cái gì đang xảy ra qua sáu môn, có đúng không ạ?
Achaan: Nếu không có “cái thấy”, liệu có thể có ý niệm “tôi thấy” không? Nếu cái thấy không sinh khởi hiện giờ, liệu có thể có ý niệm “tôi thấy” không? Khi không có cái thấy, làm sao có thể có ý niệm “tôi thấy”? Nhưng bất cứ khi nào có cái thấy mà không có cái hiểu về nó, chúng ta sẽ cho cái thấy là “tôi”, chúng ta cho mọi thứ đang xuất hiện là “tôi” và “của tôi”. Hiện giờ, có cái thấy và đó là “tôi thấy”, có đúng không? Và khi có “cái nghe”, đó lại là “tôi nghe”. Nếu không có cái thấy, cái nghe, sẽ không có “tôi thấy”, “tôi nghe”, không có “tôi nghĩ”, “tôi thích”, “tôi không thích”, không hề có ai cả, chỉ là các thực tại khác nhau sinh khởi hết lần này đến lần khác. Bạn có thể tìm thấy cái “tôi” nào đó khi không có tất cả các thực tại này không?
Cái gì không phải là “tôi” hiện giờ? (Không có trả lời) Có “tôi đang ngồi”, “tôi nghe”, “tôi nghĩ”…. Vậy cái gì không phải là “tôi”?
Trả lời: Đối tượng không phải là “tôi”.
Achaan: Được rồi, đối tượng của không phải là “tôi”, nhưng “tôi” có ý niệm rằng đó không phải là “tôi”. Vẫn là “tôi” có ý niệm rằng đó không phải là “tôi”. Ai nghĩ rằng đối tượng không phải là “tôi”? Bạn hay ai? Không có suy nghĩ, sẽ không có “tôi nghĩ”. Không có suy nghĩ, liệu có thể có “tôi” không?
Trả lời: Tôi hiểu rằng không có “tôi”, nhưng loại bỏ ý niệm về “tôi” này vô cùng khó khăn. Cũng giống như việc đi đến Paris, chúng ta có thể nghe nói về Paris, về tháp Eiffel, nhưng không giống như khi ta tới đó.
Achaan: Đó là lý do vì sao có những mức độ hiểu biết khác nhau: Hiểu biết về mặt lý thuyết; hiểu biết trực nhận; và sự chứng đắc đạo quả là thành tựu của sự phát triển tuệ giác.
Câu hỏi: Cái gì xảy ra với ý niệm về “tôi” khi chúng ta chết?
Achaan: Ta chết trong từng khoảnh khắc.
Người phiên dịch: Anh ấy nói rằng về mặt lý thuyết thì là vậy. Nhưng trên thực tế, hiện giờ chúng ta vẫn đang sống và đến lúc nào đó, chúng ta sẽ chết. Nhưng tôi nói không phải vậy, trên thực tế, chúng ta chết trong từng khoảnh khắc.
Về mặt lý thuyết, anh ấy có thể hiểu rằng có cái chết trong từng khoảnh khắc, cũng giống như tất cả mọi thứ khác trong vũ trụ. Anh ấy nói rằng mọi thứ trong vũ trụ đều có đặc tính riêng, chẳng hạn: lửa có đặc tính nóng. Khi chúng ta thắp ngọn nến, ánh lửa diệt đi trong một khoảnh khắc rồi lại sinh khởi lại, sinh và diệt liên tục. Nhưng anh ấy hiểu rằng, chừng nào nó vẫn còn đó thì vẫn còn có đặc tính nóng. Nhưng ngay khi không còn nhân duyên cho ngọn lửa tồn tại nữa, nó đã diệt mất thì đặc tính nóng cũng diệt theo. Anh ấy nghĩ rằng đối với cuộc sống cũng vậy, phải có một đặc tính tồn tại, khi chúng ta chết thì không thể tìm thấy đặc tính ấy ở đâu được nữa.
Achaan: Bạn muốn nói gì với từ “đặc tính tồn tại”?
Người phiên dịch: Anh ấy hiểu cuộc sống cũng giống như ngọn lửa, đều giống nhau. Anh ấy cho rằng ngọn lửa được tạo duyên bởi nhiều yếu tố như ô xi, cái nóng,… và tất cả các yếu tố ấy tạo duyên cho ngọn lửa tồn tại. Cũng giống như cuộc sống, phải có những nhân duyên cho cuộc sống tồn tại và để có một đặc trưng tồn tại của cuộc sống. Vậy tại khoảnh khắc không còn những nhân duyên này nữa sẽ không còn có cuộc sống nữa. Anh ấy cho rằng cuộc sống chấm dứt khi nó chấm dứt, không có gì còn lại.
Achaan: Cũng giống như Đức Phật ư?
Người phiên dịch: Anh ấy không ghĩ là sau kiếp sống này sẽ có các kiếp sống khác.
Achaan: Lúc đầu bạn đã nói đúng: mọi thứ sinh khởi nhờ có nhân duyên, phải vậy không? Chừng nào còn có nhân duyên, chừng đó phải có nhân duyên cho một thực tại sinh khởi. Như hiện giờ, cái thấy sinh khởi nhờ nhân duyên, không có mắt, không có đối tượng thị giác, sẽ không bao giờ có cái thấy. Chừng nào còn có nhân duyên, chừng đó phải có cái gì đó hay thực tại nào đó sinh khởi, cho dù bạn gọi nó là kiếp sống này hay kiếp sống sau. Chẳng hạn, ngày hôm qua và hôm nay, có nhân duyên cho thực tại sinh khởi từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, bạn không thể ngăn sự sinh khởi của bất cứ cái gì cả.
Người phiên dịch: Tôi nghĩ rằng đó là vì chúng ta bị dính mắc vào ý niệm về ai đó. Nếu chúng ta thực sự hiểu rằng cuộc sống chỉ là cái thấy, cái nghe,… một khoảnh khắc, khi đó kiếp sống sau hay kiếp sống này, tất cả đều như nhau, không hề khác biệt, có đúng không ạ?
Achaan: Có cái thấy ngày hôm qua, phải không? Bạn không tạo ra nó. Không ai có thể có nó bằng ý chí. Giống như hôm nay, có cái thấy hiện giờ, nhờ nhân duyên, bất kể chúng ta thích hay không thích. Vậy cứ từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, sau khi chết cũng vậy, phải có nhân duyên cho khoảnh khắc kế tiếp sinh khởi. Chúng ta có thể gọi nó là cái chết, nhưng trên thực tế, nó chỉ là sự tiếp nối của các thực tại, bởi nhân duyên mà thôi.
Jon: Có cuộc sống hiện giờ, phải vậy không? Tại sao lại có cuộc sống hiện giờ? Bởi vì có nhân duyên trong quá khứ để có cuộc sống hiện giờ. Đúng không ? Vậy những nhân duyên đó là gì? Những nhân duyên nào trong quá khứ là nguyên nhân cho cuộc sống hiện giờ? (Không có trả lời). Theo Đức Phật, chừng nào còn có vô minh và tham ái, chừng đó còn có nhân duyên cho cuộc sống. Vậy nếu chúng ta hiểu về nhân duyên tạo duyên cho cuộc hiện giờ, chúng ta cũng sẽ biết liệu còn có cuộc sống trong tương lai hay không.
Achaan: Và khoảnh khắc này là tương lai của khoảnh khắc đã qua. Bất kể là bạn nghĩ gì hay người khác nghĩ gì, thực tại là thực tại, nó sinh và diệt, từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, không thể ngăn cản được. Phải có cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, sự xúc chạm và suy nghĩ và sau đó thì ngủ. Vậy cuộc sống chỉ là ngủ, ăn, dính mắc và suy nghĩ… Liệu bạn có thể thay đổi những điều ấy không? và trước khi chìm vào giấc ngủ hay khi ăn, có cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, sự xúc chạm và suy nghĩ. Không có gì còn lại, nhưng không phải là “tôi”. Cái thấy chỉ thấy, cái nghe chỉ nghe, suy nghĩ chỉ là suy nghĩ, hiện giờ. Và rồi lại đến lúc phải ăn.
Câu hỏi: Tôi xin hỏi Achaan, không thể hiểu các thực tại bằng suy nghĩ, có đúng không ạ?
Achaan: Ở mức độ của cái hiểu lý thuyết thì có thể. Không có cái hiểu lý thuyết, không thể có cái hiểu trực tiếp.
Sarah: Chúng ta có thể thấy rằng chúng ta chỉ kinh nghiệm thông qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và suy nghĩ, và khi không phải là khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, sự kinh nghiệm thông qua thân căn, khi đó là suy nghĩ. Vậy khi có ý niệm về “tôi” hay “đặc tính tồn tại”, cái chết, các nguyên tử hay Việt Nam, đó chỉ là suy nghĩ về các ý niệm hay khái niệm khác nhau mà thôi. Cái thấy là thực, đối tượng thị giác là thực và suy nghĩ là thực. Ý niệm về bản ngã, đặc tính tồn tại và cái chết vĩnh viễn chỉ là các ý niệm tại khoảnh khắc đó. Tại khoảnh khắc đó, chỉ là suy nghĩ, suy nghĩ là thực, cho dù nó nghĩ về cái gì.
Achaan: Làm thế nào mà bạn biết rằng đây là Việt Nam? Một con ruồi có thể biết đây là Việt Nam không? Nó có biết không? Con rắn hay con chim có thể biết không?
Nó có thể thấy không? Mặc dù nó có thể thấy, nó vẫn không biết đây là Việt Nam. Nó thấy, nhưng nó không có chút ý niệm nào rằng đây là Việt Nam. Như vậy “Việt nam” chỉ là một suy nghĩ.
Câu hỏi: Chúng ta có thể kiểm soát tâm được không?
Achaan: Hãy thử kiểm soát đi!…. Hãy biết tâm là gì, và xem bạn có thể kiểm soát được nó không?
Người phiên dịch: Anh ấy nói rằng khi người ta hành thiền, dường như họ có thể ngăn chặn được suy nghĩ, điều đó có nghĩa là họ có thể kiểm soát được tâm.
Achaan: Ngăn chặn suy nghĩ để làm gì?
Trả lời: Những người đạt được trạng thái thiền định sâu có thể ngăn chặn suy nghĩ. Thông qua đó, họ có thể kiểm soát suy nghĩ. Chắc chắn là tôi không thể kiểm soát được suy nghĩ của mình nhưng có những người có thể làm được như vậy.
Achaan: Ngừng suy nghĩ có nghĩa là ngừng hiểu biết. Không có hiểu biết khi không còn có suy nghĩ.
Sarah: Mục đích của việc ngăn chặn suy nghĩ là gì?
Tả lời: Tối đồng ý, không phải là ngăn chặn suy nghĩ, nhưng chúng ta có thể định hướng được suy nghĩ, chẳng hạn, tại khoảnh khắc này tôi đột nhiên nghĩ về cánh đồng lúa nhưng muốn chuyển nó sang hướng khác, về biển chẳng hạn và tôi đưa suy nghĩ của mình tới biển hay cái gì đó tương tự. Đó là cách đơn giản để có thể điều chỉnh suy nghĩ.
Achaan: Tới cái gì? Đổi hướng suy nghĩ tới cái gì?
Trả lời: Tới đối tượng.
Achaan: Tới đối tượng nào?
Trả lời: Tôi muốn nói là đổi hướng suy nghĩ từ đối tượng này sang đối tượng khác.
Sarah: Đối tượng nào mà bạn muốn đổi hướng suy nghĩ tới?
Trả lời: Chẳng hạn như tôi đang suy nghĩ về cánh đồng, sau đó thấy chán, tôi lại hướng suy nghĩ về biển. Tôi chỉ định hướng suy nghĩ thôi.
Achaan: Như bây giờ… từ cái thấy đến cái nghe, bạn có đổi hướng được không? Bạn không cần phải định hướng, nó tự vận hành. Một khoảnh khắc của cái thấy, rồi lại một khoảnh khắc của cái nghe, và sau đó là một khoảnh khắc của suy nghĩ. Tại sao bạn lại muốn điều khiển chúng?
Sarah: Như hiện giờ, có khoảnh khắc của cái thấy thông qua mắt, rồi một khoảnh khắc của cái nghe, suy nghĩ về cái được thấy và cái được nghe. Nó luôn thay đổi cực kỳ nhanh. Vậy tại sao chúng ta lại cần thay đổi nó hay làm gì về nó ? Chẳng phải do sự dính mắc hay sao? Bởi vì có sự dính mắc rất mạnh vào ý niệm về bản ngã – người có thể kiểm soát và muốn thay đổi cái đang xảy ra. Chánh đạo của Đức Phật không phải để làm thay đổi hay điều khiển mà là hiểu và phát triển sự xả ly với những gì đang xuất hiện bây giờ. Khi có ý niệm cố gắng thay đổi hay điều khiển cái gì đó, đó là sự dính mắc với ý niệm về ngã – người có thể kiểm soát. Đó không phải là hiểu biết. Đó không phải là sự xả ly với những gì đang sinh khởi hiện giờ, bởi nhân duyên.
Trả lời: Vâng, đúng vậy.
Achaan: Và sự thực là vô ngã, anatta.
Sarah: Trong cuộc sống, chúng ta luôn tìm cách thay đổi mọi thứ, cho rằng chúng ta có thể điều khiển cuộc sống. Nhưng Đức Phật đã dạy điều đó là không thể, bởi vì bất cứ cái gì là thực trong cuộc sống, như cái thấy, cái nghe, suy nghĩ, thích, không thích… đều sinh khởi bởi nhân duyên, không có người nào cả, không có tôi, không có Achaan Sujin, không có ai có thể tạo ra cái thấy, cái nghe… hay thay đổi những thứ ấy theo ý muốn. Tất nhiên, mọi người đều muốn luôn có cảm thọ hỷ và mọi thứ dễ chịu, nhưng điều đó là không thể, bởi vì các thực tại luôn thay đổi: cái thấy, cái nghe, thích, không thích, cảm thọ khổ, cảm thọ lạc,… không thể làm cho thực tại sinh khởi theo như ta muốn. Vậy điều quan trọng không phải là cố gắng thay đổi thực tại mà là hiểu thực tại như nó là, bởi nó đã được sinh khởi bởi nhân duyên, không có cái ngã hay người nào có thể thay đổi hay làm cho khác đi. Thay vì cố gắng ngăn chặn suy nghĩ, cố gắng có cái thấy khác đi, hay cố gắng không thấy những cánh đồng lúa,… hãy chấp nhận thực tại như nó đang là và phát triển thêm hiểu biết. Khi đó chúng ta có thể sống rất dễ dàng mà không cần cố gắng thay đổi hay ép buộc điều gì, chỉ hiểu dhamma như chúng là ngay tại khoảnh khắc này. Chúng ta luôn sống với ý niệm về bản ngã – người có thể kiểm soát hay điều khiển thực tại, và cuộc sống như vậy vô cùng khó khăn, không chút dễ dàng. Bởi vì chúng ta luôn nghĩ những gì xảy ra tại khoảnh khắc này phải khác đi, nhưng cái xảy ra đã sinh khởi rồi, bởi nhân duyên. Có đúng không ?
Trả lời: Vâng
Achaan: Vậy bây giờ, cần phải hiểu rằng không hề có bản ngã hay cái “tôi”, hiểu điều ấy ngày một rõ hơn, ngày một sâu sắc hơn, cho đến khi có cái hiểu trực tiếp về từng thực tại hiện giờ hoàn toàn là vô ngã.
Câu hỏi: Khi chúng ta đọc sách để có cái hiểu lý thuyết, khi đó chúng ta cũng cần phải có tác ý suy xét những điều chúng ta đọc?
Achaan: Đó là thực tại tuyệt đối, hay là nama, không phải là bạn. Chỉ có citta, cetasika và rupa, phải không? Và ngay cả tại khoảnh khắc của cái hiểu, cái hiểu cũng không phải là ai cả. Những cetasika khác sinh khởi với chánh kiến thực hiện chức năng của chúng, kể cả ngay bây giờ.
Câu hỏi: Sự suy xét không sinh khởi bởi ý chí, có đúng không ạ?
Achaan: Không có gì có thể sinh khởi bởi ý chí.
Câu hỏi: Vậy khi được nghe Bà chia sẻ về Giáo pháp hay đọc lời giảng của Bà, sẽ tự động có citta suy xét ư?
Achaan: Có citta và các cetasika. Ngay cả tại khoảnh khắc của cái nghe cũng có thể có tác ý chân chánh và tác ý không chân chánh.
rả lời: Thật giải phóng !, vì không có gì để làm cả…
Câu hỏi: Nhưng nếu chỉ nghe hay đọc sách…
Achaan: Giống như được nghe Đức Phật giảng vậy, vì chính Ngài đã giảng cho các tì kheo. Trong khi bạn đọc Giáo lý, cũng giống như những người được nghe Đức Phật giảng. Sau cái thấy và cái nghe sẽ có suy nghĩ về âm thanh, về từ được nghe…
Bây giờ bạn có đang đọc không, tại khoảnh khắc này?
Trả lời: Có cái thấy, sự xúc chạm… hiện giờ.
Achaan: Cái thấy thì thấy, nó thấy hình khối, chính xác cũng giống như khi bạn đọc thì thấy các chữ, cũng chỉ là hình khối. Nhưng vì có suy nghĩ sau cái thấy, cho dù đó là đọc hay suy nghĩ về hình khối, khi đó không còn là cái thấy nữa, nó là những khoảnh khắc khác.
Sarah: Có suy nghĩ và ghi nhớ rồi diễn giải về cái vừa được thấy, điều ấy diễn ra hoàn toàn tự nhiên, không có gì phải làm thêm vào cả. Sau cái thấy. Có thể có sự suy xét chân chánh , hoặc không chân chánh , không ai có thể thay đổi hay khiến nó phải theo cách này hay cách kia. Không có gì để làm cả. Việc nghe và suy xét hơn về các thực tại sẽ tạo nhân duyên để có thêm sự suy xét chân chánh, thêm hiểu biết, chứ không phải bằng việc cố gắng tạo ra nó hay mong muốn có sự suy xét chân chánh hay hiểu biết hiện giờ. Nếu không, sẽ chỉ có thêm dính mắc, cố gắng tạo ra chúng, đó là một trở ngại.
Câu hỏi: Dính mắc được nhận biết bởi trí tuệ đúng không ạ?
Achaan: Ý bạn là ở mức độ tư duy ư?
Trả lời: Đôi khi, khi đối diện với nhiều tình huống, có thể thấy rằng có dính mắc và khi đó…
Achaan: Bạn đặt tên cho nó hay bạn suy nghĩ về nó, nhưng đó không phải là chính khoảnh khắc của cái biết hay cái hiểu về thực tại sinh và diệt đó.
Trả lời: Tôi muốn nói rằng vào lúc đó, một cách tự nhiên sẽ biết về sự dính mắc.
Achaan: Panna có thể biết sự khác biệt giữa việc chỉ có kinh nghiệm mà không có cái hiểu, không có chánh niệm về thực tại với việc kinh nghiệm có chánh niệm và cái hiểu về một đặc tính của thực tại, chứ không chỉ là từ ngữ hay suy nghĩ. Chẳng hạn về cái thấy hiện giờ, có cái thấy, nhưng chưa có đủ chánh kiến để hiểu về nó, chỉ về nó thôi. Không hình dạng, rất tối nhưng nó có thể thấy hiện giờ. Đến lúc ấy, bạn hiểu danh- thực tại kinh nghiệm một đối tượng là gì, một yếu tố, nó không phải là âm thanh, không phải là ánh sáng, nhưng bất cứ khi nào nó sinh khởi, nó kinh nghiệm và rồi diệt đi trong một khoảnh khắc cực kỳ ngắn ngủi.
Câu hỏi: Vậy dính mắc là một cetasika?
Achaan: Nó không phải là citta, nó là một cetasika. Bởi vì đôi khi có dính mắc, đôi khi không. Thay vì dính mắc lại có thể có sân đi kèm với citta. Tại khoảnh khắc đó không có sự dính mắc.
Câu hỏi: Các mức độ hiểu biết khác nhau sẽ nhận biết các mức độ dính mắc khác nhau, phải không ạ?
Achaan: Rất chậm chạp, rất ít ỏi so với tích lũy vô minh và dính mắc từ trước, từ kiếp này đến kiếp khác.
Câu hỏi: Để hiểu rõ ràng hơn, tôi xin hỏi, nếu tôi ngồi như thế này, có phải có rất nhiều tác ý liên tục để duy trì tư thế ngồi này hay chỉ cần một tác ý trong cả quá trình mà vẫn có thể ngồi cho đến khi chúng ta có tác ý khác để đứng lên hay nằm xuống?
Achaan: Tác ý sinh khởi với từng khoảnh khắc của citta. Citta sinh và diệt từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác. Vì vậy tác ý sinh khởi cùng với citta cũng khác nhau từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác. Tại khoảnh khắc này, bạn nghĩ rằng mình đang ngồi, nhưng còn tác ý sinh khởi cùng cái thấy thì sao? Đó không phải là tác ý ngồi. Tác ý ngồi có sinh khởi cùng với cái thấy không?
Trả lời: Đó là lý do vì sao tôi nghĩ chỉ có một tác ý ngồi, bởi vì sau đó, sẽ có các thực tại khác như cái nghe, cái thấy, sự xúc chạm hay bất kỳ cái gì đó…
Achaan: Những khoảnh khắc đó cũng cần có tác ý, tại khoảnh khắc của cái thấy chẳng hạn, nhưng đó không phải là tác ý để ngồi.
Sarah: Có 7 citesika sinh khởi với tất cả các citta. Một trong số đó là cetana – hay tâm sở tác ý. Mỗi một khoảnh khắc, với tất cả các citta, đều có cetana hay tác ý. Khoảnh khắc của cái thấy, khoảnh khắc của cái nghe, tất cả các khoảnh khắc suy nghĩ đều có cetana và nó tùy thuộc vào citta. Chẳng hạn, tại khoảnh khắc của suy nghĩ, suy nghĩ nghĩ về cái gì, loại tác ý nào sinh khởi tại khoảnh khắc đó?
Trả lời: Ý tôi là, tôi đang ngồi như thế này, trong tư thế này. Tôi không đứng lên để nghe hay là…
Sarah: Nhưng có tác ý nói, tác ý cử động tay, có tác ý trong từng khoảnh khắc.
Trả lời: Và kể cả như vậy, trong khi có tác ý nói hay tác ý cử động tay vẫn có tác ý giữ nguyên tư thế ngồi, đúng không ạ?
Sarah: Có các đối tượng khác nhau tại các khoảnh khắc các nhau, như khi bạn cử động tay hay…. Bạn không thể biết có bao nhiêu khoảnh khắc tác ý, bởi nó sinh khởi trong từng khoảnh khắc. Mỗi khi tôi cử động tay hay chớp mắt, có tác ý trong từng khoảnh khắc ấy. Ai có thể biết người khác có bao nhiêu khoảnh khắc suy nghĩ về việc ngồi…
Achaan: Việc ngồi đã được xảy ra, không cần có tác ý khác để tiếp tục giữ nó.
Trả lời: Tôi cũng hiểu như vậy, nhưng có người nói rằng trong khi chúng ta ngồi một giờ hay nửa giờ chẳng hạn, luôn có tác ý ngồi.
Achaan: Giờ bạn hãy tự mình chứng minh, liệu có tác ý ngồi bây giờ không?
Trả lời: Đó là lý do vì sao tôi không thấy có tác ý ngồi khi tôi…
Sarah: Khi bạn đang ngồi như hiện giờ, bạn không đang suy nghĩ về nó chút nào, bạn suy nghĩ về những thứ khác…
Trả lời: Đó cũng là cách tôi hiểu.
Câu hỏi: Để duy trì cơ thể trong một tư thế nhất định nào đó, cái gì giữ cho cơ thể ở tư thế đó mà không bị đổ xuống?
Sarah: Cũng giống như hôm qua trong buổi thảo luận, có người ngủ gật, sau đó họ nghĩ về việc ngồi dậy, như thế này, khi đó có những suy nghĩ đặc biệt về việc đó. Tôi cho rằng bạn có thể tự kiểm tra hay tìm ra xem liệu có suy nghĩ về việc đó không.
Tất nhiên, chính tác ý tạo duyên cho sự cử động.
Achaan: Hãy tìm hiểu xem đặc tính của tác ý và chức năng của tác ý là gì. Vì nó sinh khởi với tất cả các citta nên chúng ta phải hiểu các khía cạnh khác nhau của tác ý. Chẳng hạn, trong khi chúng ta ngủ sâu, có citta không? (Trả lời: Có ạ, có bhavanga citta – tâm hộ kiếp) Và, có tác ý khi đó không? (Trả lời: Có ạ). Vậy chúng ta không biết chức năng của citta, chúng ta chỉ biết citta ở khoảnh khắc của tác ý làm việc gì đó, nhưng trên thực tế không phải vậy.
Câu hỏi: Có nhiều khoảnh khắc chúng ta không hề có chánh niệm về tác ý, có đúng không ạ?
Achaan: Nếu nó không phải là đối tượng của chánh niệm, làm sao chúng ta có thể biết một cách chính xác? Nhưng hãy nghĩ xem: tại khoảnh khắc ngủ sâu, có citta không? Có tác ý hay cetana trong từng citta không? Nó làm cái gì vậy?
Trả lời: Nó điều phối các cetasika khác tại khoảnh khắc đó.
Achaan: Chức năng của nó là đốc thúc, như người lớp trưởng giúp các học sinh khác làm nhiệm vụ khi thầy giáo đến, hay cái gì đó tương tự. Vậy khi đó là tâm hộ kiếp (bhavanga), nó không có tác ý là thiện hay là ngồi hay làm cái gì cả, nhưng nó sinh khởi cùng với bhavanga, nó đốc thúc các cetasika khác sinh khởi cùng với citta để thực hiện chức năng riêng của chúng. Đó là chức năng của cetana. Nhưng ai biết các khía cạnh này của cetana? Không ai biết cả. Nhưng khi nó là tác ý thiện hay bất thiện, chúng ta có thể nhìn thấy tại lúc đó có tác ý sát sinh hay tác ý nói một cách sai trái hay đúng đắn. Tại khoảnh khắc này không có suy nghĩ về rupa ngồi chút nào. Tại khoảnh khắc của cái thấy, nó kinh nghiệm đối tượng thị giác. Tại khoảnh khắc của suy nghĩ,…. là đối tượng của suy nghĩ, như vậy đó! Không có lúc nào nghĩ về rupa đang ngồi. Có bao nhiêu citta có thể tạo duyên cho tư thế đó? Như ở trong tâm thiền (jhanna citta), tại khoảnh khắc đó không hề có cử động chút nào, nhưng có thể giữ cho cơ thể ngồi nguyên ở tư thế đó. Chức năng của nó là như vậy. Khi chúng ta nghiên cứu Giáo pháp,chúng ta cần có sự suy ngẫm. Khi tìm hiểu về citta hay cetasika, chúng ta phải suy xét thật kỹ lưỡng để thực sự hiểu mọi khía cạnh của từng thực tại, dù cho cái đang sinh khởi là gì, dù đó là tâm siêu thế kinh nghiệm Niết bàn, tâm thiền (jhanna), tâm bất thiện hay bất kỳ cái nào. Chức năng của nó là thực hiện việc kinh nghiệm, nó không thể thích hay không thích, nó không thể nghĩ, nó chỉ kinh nghiệm, như hiện giờ. Cái thấy – chúng ta bắt đầu hiểu về cái thấy nhưng không thực sự kinh nghiệm trực tiếp đặc tính của nó. Khi mới bắt đầu, đó chỉ là cái hiểu lý thuyết. Rồi dần dần sau đó, khi ngày càng có thêm hiểu biết về sự khác biệt giữa cái hiểu mang tính lý thuyết ấy, và sự tiếp cận trực tiếp đặc tính của cái thấy, trí tuệ được phát triển nhờ việc học, suy xét sẽ có thể bắt đầu hiểu bản chất của cái thấy là vô ngã, không có ai cả. Và đó là ý nghĩa của pháp hành (patipati) –tiếp cận thực tại với chánh niệm và chánh kiến về đặc tính của thực tại, không phải chỉ bằng suy nghĩ. Điều này sẽ đưa đến pháp thành (pativedha), sự chứng ngộ sự thực của thực tại như nó là tại khoảnh khắc đó, một đặc tính tại một thời điểm. Trí tuệ, sự phát triển trí tuệ là cốt lõi. Giáo lý của Đức Phật sẽ ngày càng mang đến trí tuệ, hay hiểu biết đúng. Đừng dính mắc vào… hay mong muốn có cái gì đó, mà không chịu phát triển chánh kiến. Chánh kiến hay minh thì rất khác với vô minh. Trong suốt 45 năm, Đức Phật đã giảng về điều ấy.
Câu hỏi: Vô minh (avija) thì còn vi tế hơn tà kiến rất nhiều, có đúng không ạ? Vậy ngay bây giờ, đối với chúng tôi, tà kiến có thể dễ dàng được nhận biết và thẩm sát hơn chăng?
Achaan: Vô minh (avija) sinh khởi với mọi loại bất thiện tâm. Các thực tại như sự dính mắc, sân hận khi xuất hiện đều có avija là gốc rễ, nó luôn có đó…
Câu hỏi: Tại khoảnh khắc không có avija, không hẳn đã có panna, đúng không ạ?
Sarah: Đúng vậy, bởi vì ngay cả khi citta là thiện tâm, hầu hết trong mọi trường hợp đều không có panna. Chỉ trong sự phát triển tâm trí (bhavana), panna mới sinh khởi. Còn tại khoảnh khắc của bố thí hay trì giới hay từ tâm, có thể có hay không hề có panna sinh khởi. Với tâm quả, panna cũng không sinh khởi. Vậy khi không phải là bất thiện tâm thì cũng không có nghĩa là có panna.
Achaan: Thuật ngữ “bhavana” có nghĩa là sự phát triển. Cũng có cả các thuật ngữ khác như “kusala bhavana”, điều đó không có nghĩa rằng phải có panna, chỉ là sự phát triển thiện pháp từ việc bố thí và trì giới. Đó là lý do vì sao mọi người có những cá tính khác nhau, người thích bố thí, người khác lại thích trì giới, là do sự tích lũy.
Câu hỏi: Và panna có thể có nhiều mức độ khác nhau: panna nhìn thấy sự khác biệt giữa thiện và bất thiện thì khác với panna hay biết thực tại như nó là, có đúng không ạ?
Achaan: Và cái hiểu trực tiếp ấy, với sự giác ngộ là những mức độ khác nhau.
Sarah: Lúc trước, khi chúng ta bàn về các tư thế hay oai nghi, bạn đã nói về trường hợp bạn đang ngồi khoanh chân chẳng hạn, khi đó có suy nghĩ về oai nghi và có người khác nói rằng cô ấy không suy nghĩ về điều đó. Trên thực tế, nếu bạn đang ngồi bắt chéo hai chân và bạn bị đau, có thể có nhiều suy nghĩ về việc ngồi cho ngay ngắn, điều đó tùy thuộc vào nhân duyên của mỗi thời điểm. Như hiện giờ, không có suy nghĩ về việc ngồi, nhưng có thể có vào lúc khác…
Achaan: Ngay khi nói đến việc ngồi là đã nghĩ đến việc ngồi rồi. Nếu không, bạn sẽ không nghĩ về nó.
Bạn đã học Vi diệu pháp chưa?
Trả lời: Rất ít ạ. Tôi đã đọc cuốn “Tổng quan Vi diệu pháp” của Boddhi Bikkhu
Sarah: Vi diệu pháp toát yếu (Abhidhammattha Sangaha) giống như một bản tóm lược khái quát về Vi diệu pháp, rất tốt.
Câu hỏi: Tác ý đến từ đâu ạ?
Achaan: Nó là thực tại hữu vi, không có nhân duyên, nó không thể sinh khởi.
Câu hỏi tôi đưa ra là: Có sự khác biệt nào giữa pháp (dhamma), vi diệu pháp (Abhidhamma) và pháp chân đế (paramattha dhamma) không? Không khác chút nào. Nhiều người nghĩ rằng họ không cần phải học Vi diệu pháp mà chỉ học về Pháp (dhamma) thôi.
Trả lời: Đó thật là một hiểu nhầm lớn. Nhưng tôi thấy rằng cách mà Achaan dạy hoàn toàn khác với cách của các vị thầy khác cũng giảng về Vi diệu pháp. Bởi vì điều họ dạy dường như chỉ toàn là các khái niệm, còn Bà dạy về cái gì đang là thực hiện giờ.
Sarah: Khi mọi người không thích nghe rằng thực tại là vô ngã, khi đó họ tìm lý do rằng Vi diệu pháp không phải là lời dạy của Đức Phật, họ không thích và từ chối Vi diệu pháp.
Achaan: Hãy nghĩ về Đức Phật. Một bậc Giác ngộ như ngày không thể chỉ dạy về dhamma mà không dậy Abhidhamma.
Câu hỏi: Tôi có đọc về một thiền sư, ngài S. Trước kia, Ngài chưa từng học Vi diệu pháp, nhưng sau khi đạt giác ngộ, điều Ngài dạy cũng giống như trong Vi diệu pháp.
Achaan: Không bao giờ như vậy…. Ngài ấy có dạy về sự giác ngộ của mình không?
Trả lời: Ngài ấy là một thiền sư đương đại rất nổi tiếng. Ngài đã quá cố.
Achaan: Ngài dạy về cái gì?
Trả lời: Người ta nói rằng sau khi Ngài giác ngộ, Ngài dạy về thiền và cũng cả về Vi diệu pháp nữa.
Achaan: Không bao giờ giống nhau cả. Vi diệu pháp mà Ngài dạy là gì?
Trả lời: Tôi không biết nhiều về điều đó. Tôi chỉ nghe nói như vậy thôi.
Achaan: Như vậy là không có sự giải thích. Làm sao ta có thể nói rằng đó chính xác là Abhidhamma? Hãy tìm hiểu lời dạy của Ngài, khi đó bạn sẽ biết.
Câu hỏi: Hiểu về Vi diệu pháp có phải là kết quả của việc hành thiền, của Tứ niệm xứ không?
Achaan: Nếu bạn nghiên cứu sai, sẽ có ý niệm về ngã – người có thể làm.
Câu hỏi: Nhưng giả sử là ai đó không thực hành sai…
Achaan: Đó là hành thiền sai, đó là hiểu sai.
Trả lời: Nhưng theo tôi hiểu, có một số người đã thực hành đúng và sau đó họ đã đạt được…
Người khác: Cái gì tạo duyên cho sự thực hành đúng? Thực hành là gì? Ai thực hành?
Achaan: Điều ấy rất quan trọng. Thực hành là gì?
Trả lời: Cách họ thực hành có thể không mâu thuẫn với những gì Bà đang giảng hiện nay…
Sarah: Ngay khi có ý niệm về sự thực hành là đã có ý niệm về ai đó làm việc gì đó. Đó không phải là cái hiểu về các thực tại. Đó là ý niệm về việc hành tứ niệm xứ, chú tâm vào các oai nghi hay chánh niệm trên hơi thở…
Trả lời: Trước tiên họ có thể bắt đầu với một số đối tượng, sau đó có thể đến với các thực tại.
Sarah: Nếu khi bắt đầu, họ thực hành với một số đối tượng, điều ấy có nghĩa là…
Trả lời: Có thể sau đó họ nhận ra có gì không đúng trong sự thực hành của mình và rồi sau đó…
Người khác: Nguyên nhân đúng sẽ mang đến kết quả đúng, nguyên nhân sai sẽ mang đến kết quả sai, có đúng không? (Trả lời: Tôi đồng ý). Vậy cái gì là nguyên nhân đúng cho kết quả đúng? Liệu tà kiến có thể là nguyên nhân đúng không?
Sarah: Liệu sự thực hành sai có thể dẫn đến sự thực hành đúng không? Liệu tà kiến có dẫn đến chánh kiến không?
Trả lời: Đầu tiên họ có thể thực hành với một số đối tượng, sau đó…
Người khác: Cái gì là nguyên nhân và cái gì là kết quả?
Trả lời: Nhưng sau đó, họ…
Người khác: Không phải là họ. Đức Phật đã dạy về nhân và quả. Chỉ có nguyên nhân và kết quả. Để có được kết quả đúng, phải có nguyên nhân đúng (Trả lời: Đúng vậy). Vậy nếu tà kiến là nguyên nhân, cố thể có chánh kiến là kết quả được không? (Trả lời: Không) Vậy nếu có ý niệm về sự thực hành, có ý niệm về bản ngã – người có thể làm cái gì đó, đó là tà kiến hay chánh kiến?
Trả lời: Nhưng trước tiên, bạn nên biết rằng, họ có thể thực hành với một số đối tượng như phồng-xẹp, các cảm thọ hay những gì sinh khởi trong tâm, nhưng sau đó họ có thể thấy như vậy là sai và họ có thể thay đổi…
Achaan: Có nghĩa là họ có thể làm được việc ấy? Đó là tà kiến ngay từ ban đầu. Cho rằng “anh ấy có thể làm” có phải là chánh kiến không?
Sarah: Hay “anh ấy có thể làm mà không có đối tượng hiện giờ”?
Nếu chúng ta đồng ý rằng hãy quên giai đoạn đầu đi, vì tất cả đều sai, và sau đó, giai đoạn tiếp theo, ý niệm về cái hiểu và sự thực hành khi đó là gì?
Trả lời: Cũng là việc kinh nghiệm những thứ sinh khởi tại giây phút hiện tại.
Achaan: Sau đó, người ấy có nói cái gì là khởi đầu sai và cái gì là khởi đầu đúng không?
Trả lời: Sau đó, tất cả mọi người đều nói về thực tại. Và cái hiểu có thể đến từ sự thực hành của họ.
Sarah: Với điều kiện sau đó họ có hiểu biết về các thực tại. Chúng ta trước kia đều có thể đã đi theo những phương pháp hành thiền nào đó, nhưng bây giờ có thể có chút hiểu biết về các thực tại, nhưng việc có được cái hiểu đúng về thực tại- mặc dầu đã tích lũy thực hành sai, không phải là kết quả của việc thực hành sai. Có nghĩa rằng mặc dù có tà kiến và thực hành sai, vẫn có những khoảnh khắc hiểu biết được tích lũy đủ để có cái hiểu về các thực tại hiện giờ. Việc thực hành sai không bao giờ có thể đưa đến việc thực hành đúng.
Trả lời: Tôi không nói rằng họ cứ thực hành sai ở mãi, sau đó họ có thể không thực hành sai nữa.
Người khác: Cái gì là nguyên nhân cho họ không còn thực hành sai nữa?
Trả lời: Họ cũng…. Đó là thực tế.
Người khác: Cần có một nguyên nhân cho một kết quả, có đúng không? Vậy nếu tại một khoảnh khắc, họ bắt đầu có cái hiểu đúng, vậy cái gì là nguyên nhân cho điều đó?
Trả lời: Tôi cho rằng không bao giờ có sự thực hành sai. Khi họ nhận ra đó là thực hành sai thì nó đã đúng.
Sarah: Nếu họ hiểu đó là sự thực hành sai, khi đó, đó là sự hiểu biết.
Trả lời: Cái hiểu đúng đến từ kinh nghiệm, không phải là từ việc đọc sách.
Achaan: Chánh kiến sẽ biết cái gì là thực hành đúng, cái gì là thực hành sai. Người ấy nên nói rõ cái gì là sự thực hành đúng, cái gì là thực hành sai.
Sarah: Ban nãy bạn nói rằng chánh kiến đến từ kinh nghiệm, không phải từ việc đọc sách, nhưng trên thực tế, nếu không được nghe lời giảng đúng, không có sự suy xét, sẽ không thể có hiểu biết. Chẳng hạn, nếu chúng ta không nghe về các thực tại như cái thấy, đối tượng thị giác, âm thanh… chúng ta có thể cho rằng có chánh niệm về hiện tại, nhưng như ai đó đã nói trong buổi thảo luận hôm qua, đó chỉ là những ý niệm mơ hồ về việc hay biết tình huống mà không phải là chánh kiến về thực tại, bởi vì chúng ta chưa từng được nghe về các thực tại, về cái kinh nghiệm, cái được kinh nghiệm, bởi vì có rất nhiều dính mắc, vô minh và tà kiến. Tất cả mọi người đều cần được nghe Giáo lý.
Trả lời: Những thứ sinh khởi trong giây phút hiện tại có nghĩa là thực tại, vậy đó là sự kinh nghiệm về các thực tại.
Sarah: Ngay cả những người chưa từng được nghe Giáo lý, như tôi đã trao đổi với T ngày hôm qua, họ vẫn kinh nghiệm các thực tại, vẫn thấy đối tượng thị giác nhưng…..
Trả lời: Họ đã từng đọc về Giáo lý, nhưng có thể không phải là Vi diệu pháp.
Achaan: Nếu không phải là Vi diệu pháp thì là gì?
Người khác: Tôi nhớ trong buổi pháp đàm của Bà tại Campuchia, ngay khi bắt đầu Bà đã nói rằng, khi chúng ta hiểu sâu sắc Giáo lý, khi đó chúng ta sẽ thấy toàn bộ Tam tạng phải hoàn toàn thống nhất với nhau, vậy cái được giảng trong Kinh cũng giống với trong Vi diệu pháp, có đúng không ạ? Không hề khác nhau.
Achaan: Như vậy người ấy không phải là đệ tử Phật, bởi vì người ấy nghĩ rằng người ấy có thể tự mình thành tựu.
Người phiên dịch: Cô ấy nói rằng trên thực tế, hiện giờ họ đã giác ngộ. Làm thế nào mà bạn biết họ đã giác ngộ?
Trả lời: Chúng ta có thể nói như vậy bằng niềm tin, chẳng hạn đó là Achaan M, Achaan B,…
Achaan: Họ đã dạy những gì? Achaan M đã dạy những gì?
(Không có trả lời)
Sarah: Chúng ta không cần gọi đó là Vi diệu pháp, chúng ta không phải dùng từ ngữ, nhưng càng hiểu hơn về các thực tại trong Giáo lý của Đức Phật sẽ càng đánh giá cao những gì chúng ta được dạy về bất kỳ phần nào thuộc Tam tạng, chúng hoàn toàn thống nhất với nhau, mà chúng ta không cần phải sử dụng ngôn từ cụ thể nào. Không hề nghi ngờ rằng, khi chúng ta đọc về các thực tại khác nhau, bất kể đó là gì, thì đó chính là Giáo lý của Đức Phật.
Achaan Sujin, Chánh kiến, Nina Van Gorkom, Thực tại, trí tuệ, vi diệu pháp, đạo Phật
