Pháp đàm chiều 04-09-2013 tại Sài gòn
12/ Pháp đàm buổi chiều ngày 04.09.2013 tại SG.
Vị sư 1: Khi nãy Achaan và cô Sarah nói về sự dính mắc, rằng tâm tham trong đời sống rất nhiều, phần lớn khoảnh khắc có vô minh và tâm tham. Chẳng hạn trong cái nhìn thì muốn thấy cái gì đó xem nó là màu xanh hay màu trắng, cái muốn đó có phải là tâm tham không?
Achaan: Tâm thấy sinh khởi và diệt đi ngay lập tức, tâm tiếp theo kinh nghiệm cùng đối tượng với nó nhưng đảm nhận một chức năng khác. Mỗi tâm có chức năng riêng của mình. Chẳng hạn, tâm đầu tiên của một kiếp sống sinh khởi và đảm nhận chức năng tiếp nối tử thức của kiếp trước và rồi diệt đi ngay lập tức. Sau khi thức tái tục này diệt đi, nó lại được tiếp nối bởi một tâm khác, tâm này không có chức năng nghe, thấy, nếm, ngửi, xúc chạm như bình thường, mà chỉ có chức năng tiếp tục duy trì mạng sống trong kiếp đó mà thôi. Ngay cả hiện giờ, giữa khoảnh khắc của cái thấy và cái nghe cũng có những tâm ấy xen kẽ và tiếp nối để duy trì được mạng sống trong kiếp này. Như vậy chúng ta có thể mô tả là có một dòng hữu phần (hay dòng hộ kiếp), và xen kẽ có cái thấy, cái nghe, suy nghĩ v.v sinh khởi. Từ không hề có một thực tại nào xuất hiện, sau đấy lại có một khoảnh khắc của cái thấy hay một cái nghe, rồi lại có những khoảnh khắc của các tâm hộ kiếp đó. Tâm sinh và diệt tiếp nối nhau rất nhanh. Một số tâm không kinh nghiệm đối tượng qua sáu căn. Một số tâm chỉ có thể có đối tượng thị giác là đối tượng mà thôi. Một số thì chỉ có thể có âm thanh là đối tượng. Những mô tả này chính là về hiện tại, nhưng tất cả trôi qua rất nhanh nên không ai có thể biết gì về nó. Chắc chắn cần phải có tâm trước khi có cái thấy, nhưng có ai biết được không? Phải có những tâm tiếp nối cái thấy, nhưng ai có thể biết được nào? Nhưng thường thì chỉ ở những khoảnh khắc bắt đầu có tham hay sân với đối tượng, chúng ta mới biết đến cái được kinh nghiệm.
Kể cả những mức độ phiền nào rất vi tế như lậu hoặc cũng có thể được tận diệt bởi trí tuệ. Nhưng trước khi trí tuệ có thể phát triển đến mức độ ấy, cần phải có hiểu biết ở mức độ tư duy nhờ nghe những lời dạy chân chánh về sự thực của tất cả những gì đang xuất hiện hiện giờ. Khi không được nghe Pháp, không có hiểu biết đúng, vô minh và dính mắc sẽ đi liền sau cái thấy. Nhưng nếu như có hiểu biết đúng, khi không có vô minh và dính mắc, trí tuệ có thể hiểu đúng về thực tại ở khoảnh khắc đó, và đó chính là sự phát triển của hiểu biết. Khi đó thay cho bất thiện sau cái thấy sẽ có thiện hợp trí. Ở khoảnh khắc của suy nghĩ, nếu ta chưa phải một vị A la hán thì hẳn sẽ phải là thiện hoặc bất thiện. Nếu không nghiên cứu Giáo lý thì ta sẽ không thể biết được loại tâm đang suy nghĩ đó là tâm gì. Kể cả bây giờ nếu như được hỏi là những suy nghĩ đó là gì, liệu ai đó có thể nói mình đang suy nghĩ như thế nào hiện giờ không? Bởi vì suy nghĩ sinh và diệt quá nhanh. Nhưng khi trí tuệ sinh khởi, nó có thể hiểu được đặc tính của cái xuất hiện trước đó. Còn bây giờ, mặc dù thực tại xuất hiện nhưng không có hiểu biết đúng về nó.
Tại sao chúng ta cứ nói đi nói lại mãi về cái thấy, cái nghe, hay cái cứng? Đó là bởi vì chúng đang xuất hiện hiện giờ. Nếu chúng ta nói về những thứ khác, sẽ không thể có duyên để hiểu về những gì đang xuất hiện, để có thể thấy được sự khác biệt giữa khoảnh khắc trước khi được nghe Pháp và sau khi nghe Pháp. Cái cứng xuất hiện nhiều hơn hay ít hơn trước đây, kể từ sau khi được nghe pháp? Dù là trước đó hay bây giờ, mặc dù đặc tính cứng được kinh nghiệm nhưng không có hiểu biết đúng. Bất cứ khi nào có sự xúc chạm, ví dụ cầm một cái gì đó lên, thì đã có ý niệm là tôi cầm một cuốn sách, chẳng hạn, chứ không phải là sự xuất hiện của đặc tính cứng. Vậy thì cái thực sự sinh khởi lại không xuất hiện (trở thành đối tượng nhận biết của tâm – ND). Bởi cái mà chúng ta xúc chạm luôn xuất hiện với tư cách là cái bàn, cái khăn v.v… Hay cái xuất hiện ở khoảnh khắc của cái thấy xuất hiện với tư cách là những bông hoa, hay cái bàn. Tuy nhiên, cái thực sự là đối tượng của cái thấy sinh và diệt trong thời gian vô cùng ngắn ngủi, được tiếp nối bởi rất nhiều suy nghĩ về nó, đó chính là lý do khiến đối tượng ấy không xuất hiện như nó là.
Cả cái cứng và cái kinh nghiệm đặc tính cứng đó là một phần của luân hồi, nếu không có những thứ đó thì có luân hồi hay không? Bất cứ cái gì xuất hiện trong ngày đều là một phần của luân hồi. Khi chúng ta nói về luân hồi, chúng ta dễ quên đi cái cứng, trong khi nó vẫn đang có ở đó, ngay bây giờ đây. Nó cần phải được biết đúng như nó là, rằng đó không phải là cái bàn, không phải là bông hoa hay bất cứ cái gì khác. Để bớt đi sự dính mắc về ý niệm về con người hay vạn vật, cần phải có hiểu biết về thực tại đúng như nó là. Cái cứng chỉ là cứng thôi, không có gì ở trong đó cả. Đối tượng thị giác chỉ là cái được thấy, không ai trong đó cả. Chỉ có âm thanh được nghe thôi, chứ không có ngôn từ trong đó. Nếu như không hiểu điều ấy, sẽ không thể có được khoảnh khắc hiểu được thực tại là vô ngã, vì vô minh đã có ở đó. Nó không thể hiểu được các thực tại như chúng là vì khi ấy, các thực tại xuất hiện cùng nhau theo khối, với hình và dạng. Chính vì thế nếu không có hiểu biết đúng về các thực tại chân đế, sẽ luôn luôn có ý niệm về một cái gì đó- đó chính là attanuditthi (tà kiến về ngã đối với những gì bên ngoài -ND).
Vì vậy nếu như không có Giáo lý của Đức Phật thì sẽ không ai biết tới, hoặc không ai hiểu được thực tại như nó là. Chỉ khi ấy mới hiểu được ơn đức của Đức Phật, ở khoảnh khắc đó mới có Buddhanusati. Buddhanusati không phải là khoảnh khắc tụng câu đó bằng tiếng Pali mà không hề biết Đức Phật đã giác ngộ về cái gì, khi ấy sẽ không có sự an tịnh và không có niệm ơn đức Phật. Nhưng nếu có hiểu biết đúng tại khoảnh khắc của cái thấy hiện giờ, thì cũng sẽ có cái hiểu về cội nguồn của hiểu biết ấy, là bậc Giác ngộ đã thuyết giảng cho chúng ta về thực tại. Khoảnh khắc có sự an tịnh cùng hiểu biết và sự ghi ơn đức Phật như vậy cũng là một loại samatha. Nếu sự an tịnh đó lớn mạnh dần, nó có thể đạt được mức độ của sự toàn định, khi tâm an trụ hoàn toàn, không rời khỏi đối tượng nữa. Khi ta nhận thức được đâu là con đường đúng và đâu là con đường sai, khi đấy có thể niệm ơn đức Pháp (Dhammanusati). Vì vậy từng từ trong Giáo lý cần phải được nghiên cứu. Nếu trí tuệ được phát triển, ngay sau khoảnh khắc của cái thấy có thể tâm thiện sinh khởi thay cho bất thiện, và nếu Tuệ giác được phát triển hơn nữa thì thay cho thiện và bất thiện có thể có tâm duy tác sinh khởi. Chỉ khi ấy thì mới hiểu được sự khác biệt giữa tâm thiện và tâm duy tác của một vị A la hán. Tâm thiện là tâm thiện đối với bất cứ ai vẫn còn phiền não. Do vẫn còn phiền não ngủ ngầm, tâm thiện đó vẫn còn năng lực tạo quả. Nhưng khi là tâm thiện mà không còn chút phiền não ngủ ngầm nào nữa, nó sẽ không còn năng lực để tạo quả. Đó là ý nghĩa của việc một vị A la hán sẽ không còn tái sinh.
Vị sư 1: Như Achaan nói khi có chánh niệm kinh nghiệm trực tiếp khoảnh khắc hiện tại, ngay khi đó thì phải phát sinh các chi trong Bát chánh đạo. Vậy trong khoảnh khắc kinh nghiệm thực tại đó, chức năng và biểu hiện của chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm là gì?
Achaan: Tất cả các chi của Bát chánh đạo đều là các tâm sở nhưng chúng khác nhau, chẳng hạn tâm sở chánh kiến thì đối nghịch với tà kiến. Khoảnh khắc thấy bông hoa, tà kiến sẽ cho rằng đó là một thứ thường hằng, tồn tại kéo dài, nhưng hiểu biết đúng thì biết rằng nó rất tạm bợ, rằng nếu không có cái thấy, nó sẽ không thể xuất hiện. Nhưng những gì diễn ra thực sự vi tế hơn nhiều, hiện giờ dường như là bông hoa đang xuất hiện với cái thấy, nhưng thật ra, có rất nhiều khoảnh khắc của cái thấy, khi ta biết đến bông hoa, cả cái thấy cũng như đối tượng của cái thấy đã diệt đi rồi. Nếu không có đối tượng thị giác (cảnh sắc) thì sẽ không thể có cái thấy. Nhưng khi cái thấy sinh khởi và thấy đối tượng thị giác thì đối tượng thị giác ấy vẫn chưa diệt đi bởi vì sắc có tuổi thọ dài hơn tâm. Chính vì vậy sắc đó vẫn là cảnh duyên cho những tâm khác sinh khởi kinh nghiệm nó vì nó vẫn chưa diệt đi. Vì những khoảnh khắc đó nó sinh và diệt và tiếp nối nhau rất nhanh cho nên ta hoàn toàn không hay biết gì về những tâm đó, cho đến khi bắt đầu thấy thích và không thích đối tượng đó, khi ấy mới bắt đầu nhận ra là có cái thích hay không thích đó sinh khởi. Đức Phật dạy chúng ta rất chi tiết về từng khoảnh khắc của tâm: tâm được tạo duyên như thế nào, có bao nhiêu tâm sở sinh khởi cùng với nó, chỉ để cho người nghe suy xét xem điều được nghe ấy có đúng không. Đó chính là hiểu biết đúng, là chánh kiến. Khi không có hiểu biết đúng sẽ có tà kiến. Khi hiểu biết đúng sinh khởi, nó biết cái gì là đúng và cái gì là sai. Sư có muốn hỏi thêm gì về chánh kiến không?
Vị sư 1: Achaan hãy chia sẻ thêm.
Achaan: Chánh kiến là một tâm sở, nó sinh và diệt, nhân gần để nó sinh khởi là được nghe chánh pháp và suy xét về những gì được nghe một cách chân chánh.
Về chi thứ hai của Bát chánh đạo, chánh tư duy, samma samkapa, nó cũng là một tâm sở, tâm sở này sinh khởi với hầu như tất cả các loại tâm, trừ những tâm được gọi là ngũ song thức. Ngũ song thức là năm cặp tâm quả, là quả của nghiệp: mỗi cặp bao gồm quả của nghiệp thiện và quả của nghiệp bất thiện. Khi nhãn thức diệt đi, ngay khoảnh khắc sau đó đã có tâm sở tầm sinh khởi. Trong một ngày, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt giữa cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, nó xảy ra rất nhanh như một tia chớp vậy. Bởi vì ngoài những thức đó ra, không có tâm nào khác có thể đảm nhận chức năng thấy hoặc chức năng nghe, một cái là quả thiện, một cái là quả bất thiện. Vì vậy chúng ta có thể hình dung rằng cái thấy hoàn toàn khác với những tâm khác. Đức Phật dùng thuật ngữ upatti để chỉ ngũ song thức. Ở khoảnh khắc của một trong ngũ song thức, tất cả các xứ đều phải có mặt cùng nhau ở thời điểm đó, chẳng hạn nhãn thức sinh khởi nương vào nhãn căn cùng đối tượng thị giác. Vậy, khoảnh khắc của cái thấy hoàn toàn khác với khoảnh khắc của những tâm khác, mặc dầu dường như bây giờ các tâm khác cũng đang thấy, như là tham hay sân cũng đang thấy. Nhưng trên thực tế đó là những tâm khác, chúng cũng kinh nghiệm đối tượng đó nhưng chúng không phải là cái thấy, chúng tiếp nhận đối tượng từ nhãn thức, bởi vì có tâm sở tầm ở đó. Rất khó để nói về các tâm sở, bất kể là tâm sở nào. Chúng ta đã nói rất nhiều về tâm, nhưng chừng nào đặc tính của thực tại đó chưa xuất hiện đối với hiểu biết đúng, ta vẫn chưa thể hiểu được nó một cách trọn vẹn. Chẳng hạn, nhãn thức sinh khởi cùng với bảy tâm sở khác nhau, không có thực tại nào trong đó là đối tượng được kinh nghiệm cho nên chúng không được biết. Nhưng tâm tiếp nối nhãn thức lại là một tâm sinh khởi cùng tâm sở tầm. Làm thế nào chúng ta có thể thực sự hiểu được điều ấy đây? Chúng ta mới chỉ hiểu được một khía cạnh của tâm sở, là khía cạnh mà chúng ta vẫn gọi là suy nghĩ. Tại sao mọi người lại suy nghĩ khác nhau? Đó là do bởi vitaka- tâm sở tầm. Tâm sở tầm đó sẽ chạm vào những đối tượng khác nhau, trong khi xúc chỉ làm nhiệm vụ xúc chạm mà thôi. Chức năng của phassa –xúc là chỉ xúc chạm, nếu không có vitaka thì đối tượng ấy sẽ không thể được biết sau khi có nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức v.v… sinh khởi . Chính vì vậy, các loại tâm sinh khởi sau mười tâm này phải có vitakka sinh khởi cùng. Ở khoảnh khắc của suy nghĩ thì có xúc không?
Ai đó trả lời: Có.
Achaan: Đúng là như vậy, nhưng nó có xuất hiện hay không? Nhưng ta vẫn biết được là mình đang suy nghĩ, sở dĩ như vậy bởi vì có đặc tính của tâm sở tầm xuất hiện, cái chỉ suy nghĩ về một đối tượng ở một thời điểm. Tất cả những tâm sở khác đều rất vi tế, rất khó nhận biết. Chẳng hạn thông thường, tâm sở tầm luôn sinh khởi cùng tâm sở tứ. Nói như vậy là để cho tất cả mọi người thấy rằng tất cả các thực tại đều là vô ngã, không ai có thể khiến một thực tại cụ thể trở thành đối tượng của chánh niệm – xúc không thể trở thành đối tượng của chánh niệm bằng ý chí. Vậy những gì chúng ta có thể biết được hiện giờ là gì nào? vẫn chưa có gì cả. Chỉ cần nghe và biết rằng hiện giờ đang có những thực tại ấy mà thôi, để tuệ giác có thể được phát triển đến mức độ bất cứ đối tượng nào cũng có thể trở thành đối tượng của nó, và mỗi một khoảnh khắc đều không thể mong đợi hay lên kế hoạch. Đó là ý nghĩa của từ vô ngã – không thể kiểm soát được.
Vừa rồi là lời mô tả về tâm sở tầm. Khi nó đi cùng với tâm sở chánh kiến, nó sẽ trở thành một chi của Bát chánh đạo mà chúng ta gọi là chánh tư duy. Chúng ta có thể nói rằng bất cứ khi nào có chánh kiến thì chánh tư duy cũng có ở đó. Nhưng vì chánh kiến vẫn chưa đủ mạnh nên tất cả những tâm sở sinh khởi cùng với tâm sở ấy đều chưa được nhận biết. Chúng ta có thể biết được tại sao tầm lại là một trong các chi của Bát chánh đạo, bởi vì chức năng của nó là nhấn vào đối tượng để chánh niệm có thể hay biết về đối tượng ấy, còn chánh kiến – trí tuệ có thể hiểu đúng đặc tính của đối tượng ấy. Có rất nhiều tâm sở khác nhau sinh khởi cùng với tâm và diệt đi cùng với tâm ngay bây giờ đây.
Sarah: Có một số người có thể thắc mắc là tại sao Achaan lại nhấn mạnh đến chánh kiến – Yếu tố đầu tiên của Bát chánh đạo nhiều đến như vậy. Bởi vì họ quen với những ý niệm như là: đầu tiên phải có tinh tấn trước hay chánh niệm trước rồi mới có hiểu biết, hay phải có chánh định trước rồi mới có trí tuệ sinh khởi. Nhưng chúng ta đã học từ mấy ngày hôm nay rằng, nếu không có chánh kiến sinh khởi để biết được rằng các thực tại đều là vô ngã thì các tâm sở đi cùng sẽ không thể là chánh được. Ở khoảnh khắc có chánh kiến sinh khởi, chánh tư duy – samma samkapa (vitakka –tầm) sẽ làm nhiệm vụ nhấn vào đối tượng và hỗ trợ cho trí tuệ hiểu rõ hơn về đối tượng ấy. Ở khoảnh khắc có chánh kiến thì chánh niệm cũng có ở đó, nó hay biết về đối tượng ấy một cách thiện. Nó hay biết về thực tại, về đối tượng mà không hề có ý niệm là đang phải cố gắng chánh niệm. Ở thời điểm có chánh kiến như vậy thì đồng thời cũng có mặt chánh tinh tấn, chánh tinh tấn khi ấy sẽ đảm nhận chức năng của mình là hỗ trợ chánh kiến hiểu đúng đối tượng. Khi ấy chánh định cũng sẽ có mặt, trụ trên đối tượng ấy một cách đúng đắn. Ở khoảnh khắc của sự giác ngộ, mức độ định của Chánh định (samadhi) tương ứng với các tầng thiền (jhana), vì đối tượng của tâm lúc đó là Niết bàn. Đó chính là lý do mà Achaan nhấn mạnh đến chánh kiến nhiều như vậy. Bởi vì bất cứ khi nào chánh kiến có mặt thì các tâm sở đồng sinh cũng sẽ thành chánh và nó hỗ trợ cho chánh kiến, nhưng trong tất cả các chi đó thì chánh kiến chính là yếu tố dẫn đầu. Đó chính là cái giúp chúng ta không đi lệch khỏi con đường đúng và cho rằng cần phải cố gắng theo một cách cụ thể đặc biệt nào đó, hay là cố gắng có chánh niệm.
Học viên 2: Mình nói rất nhiều về sự hiểu biết đúng đắn- trí tuệ, nó có những thang bậc khác nhau để chúng ta có thể đo được trí tuệ của chúng ta đến đâu không? vì rõ ràng chúng ta phải vun bồi nó từ từ, khi hành thiền minh sát thì các thiền sư hay nói về 16 tầng tuệ giác, cái đó có phải là bảng để chúng ta tham chiếu được hay không? Con được biết thì trong kinh điển thì chính Đức Phật không thuyết giảng về các tầng tuệ này mà nó chỉ xuất hiện trong Thanh tinh đạo.
Jonathan: Đúng như bạn vừa nói, tuệ giác phải phát triển một cách rất từ từ. Nó bắt đầu ở mức độ rất sơ khởi mà hiện giờ tất cả chúng ta đang ở đó. Nhưng kể cả ở giai đoạn đầu tiên đó. nó chỉ có thể sinh khởi khi có hiểu biết đúng về đối tượng của trí tuệ. Chính vì vậy chúng ta đã nói rất nhiều về những loại pháp khác nhau có thể sinh khởi trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Bước chuyển từ sự khởi đầu của phát triển tuệ giác đến các tuệ minh sát không thể diễn ra trong vòng một kiếp sống. Chúng ta đọc trong kinh điển Pali về các vị trưởng lão tăng, trưởng lão ni, về các kiếp quá khứ của họ thì thấy rằng phát triển trí tuệ cần đến nhiều đại kiếp. Rất nhiều người có thể có ý niệm rằng có thể đạt được tuệ giác vipassana bằng cách thực hành một số kỹ thuật nào đấy. Chúng ta rất dễ bị dụ vào những diễn giải đó bởi tâm tham cho rằng điều ấy là có thể. Với sự thực rằng Trí tuệ chỉ có thể phát triển một cách rất từ từ, chúng ta không nên có mong đợi rằng sẽ có sự chứng đắc nào đó chỉ trong một kiếp sống mà thôi. Khi có tham vọng đó nó sẽ trở thành một chướng ngại cho sự sinh khởi của chánh niệm và tỉnh giác.
Achaan: Thế bạn muốn nói đến tuệ giác vipassana nào để làm thước đo đây?
HV 2: Khi được nghe về các tầng tuệ giác thì chúng ta có thể dùng các thông tin ấy để làm thước đo hay không? Bởi vì con không hiểu nên con muốn hỏi Achaan, chứ con nghĩ mình cũng chưa có được cái Tuệ giác nào.
Achaan: Vậy thì trước hết chúng ta hãy tìm hiểu xem, thế nào là tuệ minh sát?
HV 2: Con cũng chưa được nghiên cứu nhiều, tầng tuệ đầu tiên là tầng tuệ phân biệt danh sắc, tầng tuệ thứ hai là Tuệ nhân quả, tuệ ba là tuệ diệt thì có cũng chỉ hiểu như vậy, khi hành thiền thì thỉnh thoảng con cũng có một vài trải nghiệm nhưng con không chắc đó có phải là Tuệ giác hay không?
Achaan: Trước hết hãy xác định thế nào là tuệ minh sát, chứ chưa cần phải nói đến từng tầng tuệ.
HV 2: Tuệ minh sát là một cái hiểu rõ pháp như nó là.
Achaan: Hiểu về cái mà chúng ta đang nói hiện giờ thì có phải là tuệ minh sát không?
HV 2: Chắc chắn đúng là như vậy.
Sarah: Chẳng hạn bây giờ ta đang nói về rất nhiều về cái thấy là một danh kinh nghiệm một đối tượng. Đối tượng thị giác là một đối tượng được thấy, nó không phải là con người, không phải là đồ vật hay bất cứ cái gì có hình dạng, mà chỉ là cái được thấy mà thôi. Như vậy thì có thể có một vài sự suy xét chân chánh về cái thấy và đối tượng thị giác. Nhưng đó vẫn chưa phải là hiểu biết trực tiếp về cái xuất hiện. Trí tuệ trực nhận khác hẳn với suy nghĩ về những thực tại ấy. Nếu không có hiểu biết trực tiếp về cái xuất hiện thì cũng không thể nào cố gắng để hay biết về chúng, và khi ấy vẫn chưa phải là sự bắt đầu của Tứ niệm xứ. Trừ phi ta có được hiểu biết về pariyati- pháp học một cách hoàn toàn đúng đắn và không còn ý niệm về một ai đấy có thể cố gắng chánh niệm, chúng ta chưa thể nói đến sự phát triển Tứ niệm xứ (sự hay biết trực tiếp về thực tại). Và nếu chưa có những căn bản ấy thì cũng chưa có gì để mà phấn khích vội. Vì cần phải có chánh niệm hay biết trực tiếp về tất cả các loại thực tại nhiều lần trước khi có thể có xuất hiện được tuệ thứ nhất là Tuệ phân biệt danh sắc. Khi đó sẽ có sự phân biệt một cách rõ ràng sự khác biệt giữa đặc tính của danh và đặc tính của sắc, chứ không phải chỉ là suy nghĩ về những thứ ấy như hiện giờ.
HV 2: Đây là câu hỏi cho Sarah và Jonathan, tôi rất ngưỡng mộ trí tuệ của hai vị và tôi được biết hai vị đã học theo Achaan hơn 40 năm. Tôi cũng muốn hiểu về Vi diệu pháp. Tôi muốn hỏi là hai vị chỉ học theo lời Achaan dạy hay hai vị có nghiên cứu chính xác cả 7 cuốn vi diệu pháp hay không?
Achaan: Có phải ý bạn muốn nói rằng những điều tôi nói không đúng theo Tam Tạng?
HV 2: Không phải thế, những lời Achaan giảng rất ngắn gọn và dễ hiểu cho những người mới như con, nhưng trong thời gian ngắn ngủi như thế này thì đương nhiên nó chỉ mang đến một phần kiến thức nhỏ thôi, còn nếu giả sử con muốn tập trung vào học vi diệu pháp một cách nghiêm túc thì con có cần học kỹ cả bảy cuốn vi diệu pháp hay không?
Jonathan: Tất cả những lời của Achaan luôn luôn chính xác theo Tam tạng kinh điển. Achaan luôn khuyến khích chúng ta khảo cứu những điều này ở trong Tam tạng kinh điển. Như bạn biết tôi và Sarah cũng có diễn đàn trên mạng và trao đổi về pháp với nhiều người với những nền tảng đa dạng. Những cuộc thảo luận trên mạng này không có sự có mặt của Achaan. Những gì chúng tôi đề cập cũng được phản biện và tính chính xác của chúng được tham chiếu tới Tam tạng kinh điển để kiểm chứng. Với bản thân tôi, tôi cũng muốn chia sẻ là tôi không dựa vào lời nói của người khác mà tôi phải tự kiểm chứng.
Sarah: Đối với tôi, tôi cũng giống như các bạn, đã hỏi rất nhiều, suy xét rất nhiều và luôn kiểm tra đối chiếu với kinh điển để có thể suy xét và tìm ra cái gì là đúng.
Achaan: Thực chất, đó không phải là những lời của tôi. Những lời chân lý về bản chất của thế giới là Phật ngôn. Chính Đức Phật đã nói rằng tất cả lời chân lý đều là những lời của Ngài. Nhưng ai có thể nói lại Phật ngôn về chân lý như vậy mà không có sự nghiên cứu đây? Vậy thì tất cả lời nói đúng đắn đều là lời nói của Đức Phật. Không phải là lời nói của riêng ai, không phải là lời nói của riêng tôi.
Sarah: Tất cả những gì chúng ta đã thảo luận trong vài ngày qua – về các thực tại, về vitakka, về các lậu hoặc, các ách, các chi của Bát chánh đạo hay nghiệp đạo, v. v. , tất cả các chi tiết ấy các bạn có thể tìm thấy trong Tam tạng kinh điển. Tất cả các thực tại ấy là vô ngã, và khi hiểu như vậy thì nơi chốn không phải là vấn đề. Sự phát triển hiểu biết phải rất tự nhiên. Mặc dù chúng tôi đã phải làm việc rất nhiều và sống xa nơi Achaan sống, nhưng tất cả những điều ấy không phải là sự cản trở cho việc nghiên cứu Giáo pháp, cản trở duy nhất chính là tà kiến không thể thấy được con đường đúng đắn.
Jonathan: Để trả lời câu hỏi của bạn là liệu có cần phải đọc một cuốn sách cụ thể nào không, thì điều quan trọng nhất là chúng ta được gần gũi một bậc thiện trí, là người có thể giúp chúng ta có cái hiểu đúng đắn về Giáo pháp. Bởi nếu chúng ta đọc sách mà không có nền tảng hiểu biết đúng ngay từ ban đầu, chúng ta có thể hiểu sai những ý đề cập trong cuốn sách đó, và như vậy sẽ không giúp cho chúng ta có được hiểu biết đúng và đi trên con đường đúng. Khi Đức Phật thuyết pháp, Ngài thường thuyết pháp cho những đối tượng là những người đã có mức độ tuệ giác rất cao, đủ chin muồi cho giác ngộ. Với những người như chúng ta, do mức độ tuệ giác còn rất ít ỏi, chúng ta cần được nghe những lý giải về những gì Đức Phật đã thuyết giảng cho các vị đệ tử khi ấy bởi người có hiểu biết đúng về những lời dạy ấy, những lý giải ấy không sẵn có trong Kinh.
Achaan: Tôi nghĩ rằng điều quan trọng không phải là ai nói mà là điều người ấy nói ra có đúng hay không.
Vị sư 1: Hôm qua Achaan có hỏi mọi người, cái cứng có phải là uẩn không? Đáp là nó là uẩn, Achaan lại hỏi tại sao nó là uẩn, vì nó sinh diệt. Achaan có hỏi cái cứng sinh diệt nó có khổ không? Mọi người đáp là khổ, Achaan lại hỏi vậy tại sao nó lại khổ? Nhưng chưa có câu trả lời, vậy nhân đây Achaan hãy trả lời cho mọi người được biết.
Achaan: Cái sinh khởi và lại diệt đi ngay lập tức thì để làm gì đây? Và lại lặp lại rồi lặp lại nữa thì để làm gì đây? Nó thật là một sự bất toại nguyện lớn lao, nó cứ sinh và diệt, và không ai có thể làm ngưng sự vận hành như vậy của các thực tại. Cái mà ta cho là ta, thân ta hay tự ngã có sinh và diệt ngay lập tức hay không? Không. Chính vì vậy (vẫn còn chìm đắm trong những ý niệm như vậy -ND) nên vẫn còn cảm thấy dễ chịu, vì rằng, khi ấy vẫn có suy nghĩ là dù điều gì xảy ra đi nữa thì cũng không làm sao cả, một ngày nào đó mọi sự sẽ tốt hơn.
Đó là lý do vì sao ở thời Đức Phật, các vị tỳ kheo thường được hỏi: tại sao vị này lại trở thành vị tỳ kheo và câu trả lời là để thấy dukkha. Điều ấy có nghĩa rằng dukkha không dễ thấy và hiểu. Bây giờ thì chẳng có cái gì là dukkha cả, bởi vì không có cái gì dường như đang sinh và diệt hiện giờ. Nhưng trên thực tế khi thực sự liễu ngộ rằng không có con người và mọi thứ, mà chỉ có những thực tại sinh và diệt mà thôi, khi ấy chẳng phải là dukkha hay sao? Để làm cái gì đây, cứ sinh rồi diệt , rồi biến mất hoàn toàn, như vậy không khổ hay sao? Chúng ta có thể nói đó là một sự đau khổ- dukkha vĩ đại bởi vì không có cách nào chữa lành nó cả.
Sarah: Và theo nghĩa tối hậu thì tất cả thực tại như chánh niệm, trí tuệ hay tâm thiền thì cũng đều là khổ, vì chúng đều sinh và diệt và không có gì đáng để bám víu vào.
Học viên 5: Người tu tập luôn luôn hiểu nhầm về sự tinh tấn. Mấy ngày học vừa qua Achaan nói về cái tinh tấn không giống lâu nay như chúng con vẫn nghĩ. Nếu tinh tấn cố gắng làm cái gì đó, cái đó hoàn toàn là ảo tưởng về bản ngã. Achaan hãy dạy cho chúng con tinh tấn như thế nào mới gọi là Chánh tinh tấn?
Achaan: Chánh tinh tấn là chánh khi nó sinh khởi cùng với tâm thiện, và đặc biệt khi nó đi kèm với chánh kiến.
HV 5: Làm thế nào để có chánh tinh tấn?
Achaan: Không ai có thể làm gì cả vì nó cũng là một pháp hữu vi do duyên tạo, nó là vô ngã. Chánh tinh tấn luôn sinh khởi cùng với chánh kiến, cho nên đừng lo lắng về việc làm thế nào để có chánh tinh tấn vì bất kỳ khoảnh khắc nào có chánh kiến thì chánh tinh tấn đã có ở đó rồi. Hiện giờ có tinh tấn hay không?
HV 5: Có ạ
Achaan: Tinh tấn có sinh khởi với cái thấy không?
HV 5: Dạ, có
Achaan: Không phải đâu. Không cần phải có tinh tấn thì vẫn thấy được. Bởi vì đó là khoảnh khắc của sự hội tụ giữa nhãn căn, nhãn thức và đối tượng thị giác, chừng ấy đã tạo duyên cho cái thấy sinh khởi rồi. Vì không thể có sự sinh khởi của tâm nếu không có các tâm sở cho nên cần phải có bảy tâm sở để cho cái thấy sinh khởi, trong đó không có tinh tấn. Hiện giờ có ai phải cố gắng để thấy không? Cái thấy đã sinh khởi do duyên rồi
HV 5: Ý con muốn nói là trên cái thấy đó có sự hiểu đúng trên cái thấy chứ không phải con nói là cố gắng trên cái thấy.
Achaan: Khoảnh khắc của nhãn thức sinh khởi không sinh khởi cùng với tinh tấn, đó là sự thực. Khi tâm là bất thiện nhưng không có tham và sân mà chỉ có si ở đó thôi thì có tinh tấn không?
HV 5: Không ạ.
Achaan: Có đấy. Bất cứ khi nào có tâm bất thiện, mặc dù không có tham, sân nhưng vẫn có tinh tấn ở đấy rồi. Có ai ở đây phải cố gắng để không hiểu không? Dường như chúng ta không cần phải cố gắng, nhưng thực ra để có vô minh sinh khởi ở khoảnh khắc không hiểu, vẫn cần phải có sinh khởi tâm sở viriya-tinh tấn. Ai có thể biết được điều này? Đó là trí tuệ từ sự giác ngộ của chính Đức Phật. Bởi vậy, nếu chúng ta không nghiên cứu kỹ, chúng ta sẽ theo các ý niệm riêng của mình mà thôi, vì chúng ta không biết rõ về tâm, về tinh tấn, hay các thực tại khác.
Jonathan: Điều mà Achaan vừa giải thích về viriya – tâm sở tinh tấn không phải là ý niệm thông thường hay chế định về cái mà chúng ta gọi là nỗ lực hay cố gắng, hay là cố làm một cái gì đó. Nó là một tâm sở, nó hoàn toàn vô ngã, không thuộc về ai.
HV 5: Trong lúc mình tu tập, không cần phải làm gì hết chỉ cần có sự hiểu đúng thôi ạ. Tại sao Đức Phật lại dạy Bát chánh đạo như trong Kinh Đức Phật có nói hãy tinh tấn ngăn ngừa ác pháp chưa sanh, tinh tấn trong tứ chánh cần thì sao ạ?
Sarah: Ở khoảnh khắc của thiện thì có sự ngăn ngừa bất thiện ở đấy rồi đúng không? Ở khoảnh khắc có chánh niệm về đặc tính cứng, khi ấy có thể có bất thiện nào tại khoảnh khắc đó không? Bởi vì ở khoảnh khắc của tâm thiện đó, cũng có chánh tinh tấn ở đó, nó ngăn ngừa bất thiện ngay khi ấy nên không phải làm gì đó thêm. Chính vì vậy khi Đức Phật nói đến chánh tinh tấn trong kinh, Đức Phật nói hãy nỗ lực, hãy cố gắng, nhưng đó chỉ là theo cách nói chế định mà thôi. Về bản chất, Ngài nói đến chánh tinh tấn đi kèm với chánh kiến, chúng là các pháp vô ngã. Ngay ở khoảnh khắc này, khi chúng ta đang nghe pháp và có hiểu biết đúng thêm một chút, dù ở mức độ tư duy, thì ở khoảnh khắc đó cũng có chánh tinh tấn ngăn ngừa những bất thiện ở chính khoảnh khắc đó. Ngay khi có ý niệm ta phải cố gắng nỗ lực, cố gắng chánh niệm thì đã có tà tinh tấn sinh khởi cùng với tâm bất thiện. Như vậy chúng ta cứ cần phải ghi nhớ rằng, tâm sở tinh tấn là chánh tinh tấn đã sinh khởi ở khoảnh khắc có hiểu biết đúng rồi, chứ không cần nỗ lực hay làm thêm cái gì đó đặc biệt. Vậy hãy quên đi ý niệm rằng có một cái ngã nào đó nỗ lực hoặc làm một cái gì đó.
HV 5: Dạ, con hiểu rồi, cảm ơn ạ.
Học viên 2: Nếu chánh kiến sinh khởi thì có tất cả chi của Bát chánh đạo đi kèm, thế thì Đức Phật phải dạy 8 chi làm gì? Tại sao không gọi là Nhất chánh đạo, học một thứ thôi cho đơn giản.
Achaan: Liệu chánh kiến có thể sinh khởi một mình không?
Jonathan: Nó được gọi là Bát chánh đạo bởi vì khi tâm đạo sinh khởi thì ở đó có tám chi, chứ không phải bởi vì ở đó có tám thứ phải làm. Khi chúng ta nói rằng bất cứ khi nào có chánh kiến thì đã có chánh tinh tấn ở đó rồi, thì ý ở đây là: không cần phải phát triển chánh tinh tấn như là một thứ riêng rẽ với chánh kiến. Khi ấy, chúng ta hiểu rằng con đường Bát chánh đạo về thực chất chỉ là một khoảnh khắc của tâm sinh khởi, trong đó có những tâm sở bao gồm trí tuệ, tinh tấn cùng những chi khác.
Sarah: Và vì chánh kiến không thể sinh khởi và đảm nhận chức năng của mình mà không có sự hỗ trợ của các chi kia.
Achaan: Khi có chánh kiến, nó hiểu về vô ngã. Các thực tại không thể sinh khởi một mình mà cần các thực tại khác trợ duyên cho nó sinh khởi. Có nhiều hơn là bảy tâm sở sinh khởi cùng với trí tuệ nhưng những tâm sở kia không được tính là các chi của Bát chánh đạo. Từ Đạo có nghĩa là gì?
HV 2: Là con đường
Achaan: Dẫn tới đâu?
HV 2: Đạo là con đường dẫn đến sự diệt khổ.
Achaan: Thế có thể đi trên con đường đó mà không hiểu gì cả không?
HV 2: Không thể.
Học viên 12: Phát triển con đường Bát chánh đạo là phát triển dần dần, Vậy có phải là bất cứ khi nào có duyên để phát triển một trong các yếu tố đó, thì mình sẽ phát triển cái yếu tố đó, có phải không?
Achaan: Đối tượng của Bát chánh đạo là gì?
HV 12: Niết bàn.
Achaan: Tứ diệu đế không chỉ có một mà thôi. Niết bàn là diệu đế thứ mấy? Trước đó thì là gì nào?
Học viên 2: Trước đó là nguyên nhân về khổ.
Học viên 12: Là sự thật về khổ.
Achaan: Thế nào là khổ?
HV 12: Theo con hiểu chấp thủ vào ngũ uẩn là khổ. Con muốn Bà giải thích về khổ theo nghĩa chấp thủ vào ngũ uẩn là khổ, như thế nào là sự hiểu biết đúng về những điều Đức Phật dạy trong kinh về 11 yếu tố mà Đức Phật dạy là khổ như sinh, già, bệnh, chết…
Sarah: Tôi nghĩ rằng cả hai bạn đều chưa trả lời vào câu hỏi của Achaan về đối tượng của con đường đạo là gì, khi con đường đạo đang được phát triển thì đâu là đối tượng của con đường đạo? Câu trả lời cho câu hỏi này là tất cả các thực tại hữu vi đều là đối tượng của con đường Bát chánh đạo trước khi diệu đế thứ ba được chứng ngộ (Diệt đế hay Niết bàn).
Achaan: Theo nghĩa tuyệt đối thì thế nào là dukkha?
HV 12: Do sự sinh và diệt của mọi pháp.
HV 2: Tôi không nghĩ vậy, tôi nghĩ bản thân sự sinh diệt của pháp không có vấn đề gì cả mà tà kiến về cái sinh và diệt đó mới dẫn đến khổ.
Achaan: Chúng tôi nghĩ rằng, điểm này cần phải được làm rõ, bây giờ bạn hãy nói đến từng cái khổ mà bạn vừa kể đến, từng cái một.
HV 12: Khi nói khổ là bởi vì mọi thứ đều sinh và diệt nên nó khổ. Với con, điều đó dường như chỉ là suy nghĩ về mặt logic thôi.
Achaan: Nếu như không có sự sinh khởi thì có thể có sự diệt đi của thực tại không?
HV 12: Nếu nó không sinh thì không có diệt và cũng không có khổ.
Achaan: Tại sao các vị tỳ kheo ở thời Đức Phật đã xuất gia chỉ để thấy Khổ?
HV 12: Bởi vì Đức Phật đã nói ngũ uẩn thủ là Khổ.
Achaan: Một thực tại sinh và rồi lại diệt đi hoàn toàn không bao giờ trở lại, cứ như vậy thì cái đó không phải là khổ hay sao?
HV 12: Có những khi rất chánh niệm và thấy mọi thứ nó sinh và diệt rất là nhiều thì khi đấy thấy rất mệt và lúc đó đúng là thấy rất là khổ.
Sarah: Có phải ý của bạn là nó chỉ khổ khi nó được hiểu là nó sinh và diệt thôi hay sao? Chẳng hạn như hiện giờ đang có cái cứng, nó đang sinh và diệt nhưng không có cái hiểu về điều đó thì có khổ không?
Achaan: Khi bạn nói như vậy là bạn khổ thôi, chứ không phải là cái hiểu của tuệ giác về khổ, đó không phải là cái hiểu của panna. Bạn cho cảm thọ khổ đó là diệu đế hay sao?
HV 12: Không ạ.
Achaan: Chỉ có tuệ giác khi hiểu được sự sinh diệt của thực tại thì nó hiểu về khổ, còn khi có ý niệm là mình khổ thì khi đó chỉ là thọ khổ thôi chứ không phải là cái hiểu trực tiếp về sự sinh diệt của thực tại.
Sarah: Liệu Tuệ giác có mệt khi nó hiểu thực tại hay nó hiểu về sự sinh diệt của thực tại hay không?
HV 12: Không.
Achaan: Vậy thì đó không phải là panna. Chỉ có tuệ giác mới có thể thấy được sự sinh và diệt, cho nên cái mà bạn gọi là sự sinh diệt đó không phải là sự sinh diệt của thực tại, cái chỉ xảy ra một cái ở một thời điểm. Nếu trí tuệ mệt thì chúng ta có nên có trí tuệ không?
HV 12: Con không nói là trí tuệ mệt ạ.
HV 12: Câu hỏi lúc nãy là phát triển con đường Bát chánh đạo, nếu có duyên để phát triển bất cứ một trong tám yếu tố trong Bát chánh đạo, thì sẽ phát triển yếu tố đấy. Đó có phải là phát triển dần dần không?
Achaan: Không có người nào phát triển Bát chánh đạo mà chỉ có Trí tuệ phát triển mà thôi.
Sarah: Phát triển dần dần có nghĩa là bắt đầu ngay bây giờ, ở khoảnh khắc hiểu về thực tại, hiểu đúng về con đường phát triển của hiểu biết, không có ai ở đó. Khi có ý niệm rằng ai đó hay tùy thuộc vào nhân duyên mà một trong các chi của Bát chánh đạo sẽ được phát triển, thứ nhất là ở đó có ý niệm về một ai đó phát triển Bát chánh đạo, thứ hai là không có hiểu biết đúng về sự phát triển Bát chánh đạo thực sự là gì,
HV 12: Ví dụ trường hợp nếu tiếp xúc với đối tượng nào đó mà có thể dẫn đến sân hoặc si. Ở cái khoảnh khắc đó với sự hiểu biết đúng thì sẽ là phát triển Tứ chánh cần tức là làm cho bất thiện pháp chưa sinh không sinh khởi, bất thiện pháp đã sinh không phát triển, thiện pháp chưa sinh thì sinh khởi, thiện pháp đã sinh thì tăng trưởng.
Jonathan: Chánh tinh tấn là một trong những chi của Bát chánh đạo, nó sinh khởi cùng các chi khác, chúng ta không chọn để làm chánh tinh tấn đó, bất cứ khi nào có tâm thiện thì đã có tinh tấn là thiện rồi. Bất cứ khi nào tâm là thiện thì tâm sở tinh tấn đó sẽ đảm nhận chức năng mà bạn vừa đề cập tới, hoặc một trong số các chức năng đó. Chẳng hạn như ở khoảnh khắc của giữ giới thì khi đó chánh tinh tấn sẽ làm nhiệm vụ ngăn ngừa bất thiện pháp sinh khởi, chứ không phải là việc cố gắng làm cái gì đó khi có tham hay sân.
HV 12: Tại khoảnh khắc ấy có thể có cái thực hành, cái phát triển về Tứ chánh cần, tức là không để cho bất thiện pháp sinh khởi, hoặc để cho thiện pháp sinh khởi và tăng trưởng. Ở khoảnh khắc đó chỉ có chánh tinh tấn thôi, chứ không có được chánh kiến là cái sự hiểu biết về Tứ đế.
Sarah: Khi đến thời điểm để cho cái thấy sinh khởi vì có cái duyên cho cái thấy sinh khởi thì nó sẽ sinh khởi. Khi đến thời điểm để cho sân sinh khởi bởi vì có duyên cho nó sinh khởi thì nó sẽ sinh khởi. Khi có những con người hay chúng sinh có duyên để cho tâm từ sinh khởi thì tâm từ sẽ sinh khởi. Ở khoảnh khắc đó, có thể không có hiểu biết nhưng mà tâm là tâm thiện. Ở khoảnh khắc đó có tinh tấn là thiện cùng với tâm đang là tâm từ, chứ không phải là một ai đấy cố gắng có tâm từ hay có sự thân thiện, không ai có thể khiến cho tinh tấn sinh khởi. Tinh tấn sinh khởi cùng tâm thiện là thiện, nhưng nó không phải là chánh tinh tấn của con đường Bát chánh đạo.
HV 12: Bây giờ chúng ta đang thảo luận, phát triển con đường Bát chánh đạo thì phải phát triển cả 8 yếu tố đó đồng thời cùng lúc thì là như thế nào? Bởi vì như thế kia là chỉ có 1 yếu tố, đâu có đủ hết các yếu tố khác.
Jonathan: Chúng ta đang không nói đến khoảnh khắc của Bát chánh đạo ở tâm đạo, tức là tâm siêu thế khi cả tám chi cùng có mặt, mà chúng ta đang nói đến những khoảnh khắc phát triển con đường Bát chánh đạo, có thể gọi là Bát chánh đạo hiệp thế, thì ở khoảnh khắc của Bát chánh đạo hiệp thế, có năm hoặc sáu chứ không phải cả tám chi đều sinh khởi một lúc.
HV 12: Dường như phát triển từng yếu tố thì còn dễ dàng một chút, chứ nếu bảo là phát triển đồng loạt thì không có dễ dàng, dù là không đủ cả tám yếu tố.
Jonathan: Khi có hiểu biết đúng về các pháp thì tự các chi đó sinh khởi cùng nhau, chứ không cần phải có chúng ta phát triển chúng một cách riêng biệt. Ở khoảnh khắc của Bát chánh đạo hiệp thế, có ít nhất các tâm sở như chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định sinh khởi cùng với nhau, và có thể với một trong ba tâm sở tiết chế: chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp, nếu như có cơ hội để cho một trong ba tâm sở này sinh khởi (vì cả ba không bao giờ sinh khởi cùng nhau trong Bát chánh đạo hiệp thế).
Achaan: Bạn nói là bạn muốn cố gắng phát triển chánh tinh tấn?
HV 12: Không phải là con mà đó là công việc của tâm.
Học viên 9: Con hiểu Khổ là sự vận hành của 12 nhân duyên, mà bắt đầu là do vô minh. Nếu như chấm dứt được nhân duyên thì sẽ không có khổ?
Achaan: Thế nào là dukhha- khổ? Chúng ta dùng từ này rất nhiều, nhưng nó là gì đây? Chúng ta đang nói đến dukhha là một trong tam tướng mà vẫn chưa thể được biết, được hiểu hiện giờ, hay là chúng ta nói về cái khổ trong cuộc sống hàng ngày của mình? Cái mà chúng ta đang nói đến ở đây, là dukkha trong Tứ diệu đế, là khổ đế. Bạn có mệt không? Cái mệt đó có phải là dukkha không? Chính xác hơn là, bất cứ cái gì, trong đó bao gồm cả cái mệt này, đều sinh và diệt, và đó là khổ. Bất cứ cái gì sinh và diệt là khổ, đó là ý nghĩa tuyệt đối của dukkha. Nếu như không có kinh nghiệm trực tiếp về sự sinh diệt của thực tại hiện giờ, thì liệu ta có thể gọi đó là thánh đế thứ nhất không? Chính vì vậy, chưa cần phải nói về mức độ dukkha mà hiện giờ chúng ta vẫn chưa thể thấy được, mà cần phải bắt đầu với việc hiểu về thực tại khi chúng xuất hiện. Bởi vì, ngay cả ở tuệ đầu tiên của minh sát tuệ –tuệ phân biệt danh sắc, vẫn chưa có cái hiểu về khổ – dukkha, vì lúc đó chưa có sự xuyên thấu sự sinh diệt của thực tại.
Sarah: Có ba loại khổ: thứ nhất là loại khổ sinh khởi cùng với thọ khổ khi chúng ta đau đớn hay buồn rầu, cái đó gọi là dukkha-dukkha (khổ khổ), rất dễ nhận biết ; thứ hai là loại khổ được biết đến với sự diệt đi của thọ lạc và thọ hỷ, kể cả những thứ dễ chịu cũng sinh và diệt, nó không kéo dài, vì vậy cũng là khổ và được gọi là viparinama dukkha (hoại khổ); thứ ba, là khổ do sự sinh diệt của tất cả các thực tại hữu vi, được gọi là hành khổ (sankkhara dukkha). Kể cả khi chưa có giáo lý của Đức Phật, mọi người vẫn biết rất rõ về khổ khổ, tức cái khổ của thọ khổ, người ta cũng biết hơn một chút về hoại khổ, cái khổ của trạng thái dễ chịu nhưng không kéo dài. Nhưng chỉ khi Đức Phật ra đời và giảng về thực tại, người ta mới biết được về Hành khổ, chính là loại dukkha nói đến trong Tứ Thánh đế, là một mức độ dukkha rất sâu sắc mà chỉ có trí tuệ ở mức độ chứng nghiệm về sự sinh diệt của thực tại mới hiểu được.
Học viên 1: Theo hiểu biết của con về khổ thì có hai cách hiểu về Khổ. Khổ theo cách nghĩ thông thường là không có nhà cửa, không có thứ đồ mà họ muốn có thì là khổ, đấy là do sự dính mắc với các đối tượng là các sắc. Thứ hai Khổ mà Đức Phật nói đến trong Tứ diệu đế, là cái khổ trong bản chất của các pháp, tại sao có cái khổ này, là do tính chất vô thường của tất cả các pháp. Hình thành rồi tan hoại thì dẫn đến cái khổ đó.
Sarah: Sẽ không thể hiểu được ý nghĩa thâm sâu của loại khổ thứ ba này nếu như không bắt đầu từ các thực tại hiện giờ như cái thấy, cái nghe, cái cứng v.v., và chỉ nhờ sự phát triển hiểu biết về các thực tại đang xuất hiện hiện giờ, đến một lúc nào đấy, có thể có được tuệ giác xuyên thấu sự sinh diệt của thực tại, khi ấy cái hiểu về dukkha- khổ đế mới thực sự được chứng nghiệm.
Ai đó hỏi: Hôm qua Bà nói sắc chẳng hạn như cái cứng, cái mềm đều sinh và diệt do vậy nó đều là khổ. Nhưng theo con thì sắc không biết cái gì cả. Vậy thì làm sao nó có thể là khổ? Chỉ có sự dính mắc vào cái sinh và diệt đó thì mới là khổ.
Achaan: Cái cứng là một thực tại là sắc và nó không biết gì cả, nhưng nó cũng sinh và diệt giống như các thực tại hữu vi khác, chúng vô thường, vậy nếu chúng ta dính mắc vào cái sinh và diệt đi và không bao giờ quay trở lại, đó là khôn ngoan hay xuẩn ngốc đây? Thánh đế thứ nhất hay sự thật về khổ không phải nói về thọ khổ đâu.
Sadhu sadhu sadhu!
Pháp đàm sáng ngày 01- 09 – 2013 tại Sài Gòn
2/ Pháp đàm buổi sáng ngày 01.09.2013 tại Sài Gòn.
Achaan Sujin: Xin hỏi các quý vị, hôm qua Đức Phật có phải là nơi nương tựa cho tất cả mọi người hay không? Thế hôm nay Đức Phật có phải là nơi nương tựa cho quý vị không? Đó chính là lý do khiến chúng ta cần phải biết Ngài đã dạy những gì, để hiểu những gì Ngài dạy một cách rõ ràng hơn. Ví dụ như, bây giờ có pháp hay không? Chúng ta có cần phải đi đến một nơi nào khác để có pháp hay không? Vì bây giờ cũng có pháp, nên bất kỳ ai cũng có thể hiểu về pháp giống như là Đức Phật đã giác ngộ về pháp. Như vậy, ngay cả một từ như “pháp” mà thôi, chúng ta cũng cần phải hiểu sâu hơn và sâu hơn nữa. Bởi vì nó rất thực, chẳng hạn như đang có cái thấy hiện giờ. Ở khoảnh khắc của cái thấy thì chỉ có cái thấy. Nếu không hiểu được như vậy, sẽ có ý niệm “tôi thấy”, trong khi giáo lý của Đức Phật là về vô thường, khổ và vô ngã. Cái thấy không hề thường hằng. Ai đã hiểu được điều ấy? Bây giờ chỉ mới là sự bắt đầu của hiểu biết, chứ chưa thể trực tiếp kinh nghiệm điều ấy. Điều ấy có thể được hiểu trên bề mặt lý thuyết trước đã. Nhưng cần phải có thời gian để thực sự hiểu rằng, không phải là một “con người” nào đấy hay “tôi” đang thấy hiện giờ, để có thể hiểu được cái gì là thực trên thế giới này.
Nếu không có duyên để cái thấy sinh khởi thì hiện giờ sẽ không thể có cái thấy; ai có thể ra lệnh cho cái thấy sinh khởi đây? Không có ai cả, và không ai có thể làm gì bởi vì nó đã sinh khởi do duyên rồi. Hãy chỉ cần học để hiểu thêm một cách sâu dần và sâu dần, chỉ vậy thôi, cho đến khi thực sự hiểu về vô ngã. Cho đến khi sẽ có duyên để không chỉ hiểu nghĩa của từ đó mà thôi. Thay cho việc nghĩ đến những thứ khác nhau, sẽ có được khoảnh khắc có thể bắt đầu hiểu được cái thấy đang thấy hiện giờ. Bởi vì hiện giờ ở khoảnh khắc của cái thấy, không có một ai cả, và không có thực tại nào khác. Ở khoảnh khắc của cái thấy, có ý niệm tôi đang ngồi hay không? Ở khoảnh khắc của cái thấy, tay của chúng ta ở đâu? Đó là cách để dẫn đến hiểu biết sâu sắc hơn và cao hơn rằng không phải tôi đang thấy hay đang ngồi. Và như vậy thì ta sẽ biết được ta đang ở đâu hiện giờ. Chúng ta sẽ thấy rằng trí tuệ của Đức Phật và Giáo lý của Đức Phật vô cùng vĩ đại và thâm sâu so với mức độ trí tuệ hiện giờ của chúng ta.
Hiện giờ chúng ta đang ở đâu? Liệu chúng ta có thể hiểu được những lời dạy của Ngài mà không nghiên cứu một cách cẩn trọng hay không? Khi có hiểu biết, sự tôn kính của chúng ta sẽ ở mức độ cao hơn, chứ không phải chỉ nghĩ về Giáo lý với ý niệm riêng và sự suy đoán của mình. Cần phải suy xét từng từ một trong Giáo lý của Đức Phật để thấy được các ơn đức, lòng từ bi, trí tuệ cùng với sự thanh cao của Ngài. Nếu không, sẽ không ai nghĩ đến việc cái thấy hiện giờ cần phải được hiểu một cách đúng đắn, rằng đó chỉ là một thực tại, chỉ là một khoảnh khắc của cái thấy mà thôi. Đây chính là cách thức để dần dần loai bỏ được ý niệm về ngã- qua việc hiểu dần dần các thực tại đang xuất hiện. Những thực tại của ngày hôm qua bây giờ đâu rồi? Cái thấy hôm qua đâu rồi? Cái nghe hôm qua đâu rồi? Tất cả các tình huống của ngày hôm qua không còn chút dư âm ở khoảnh khắc ngủ sâu, và đó chính là cuộc sống của chúng ta. Chúng ta ngủ, thức dậy, có rất nhiều thứ xảy ra, và rồi mọi thứ hoàn toàn qua đi. Đó có thể là sự chấm dứt của một cuộc đời, chứ không phải chỉ là sự trôi đi của ngày hôm qua, Nếu không có ngày hôm qua thì hôm nay có thể có hay không? Và cái gì xảy ra ở ngày hôm qua thì cũng có ở hôm nay. Cái hiểu của ngày hôm qua không bị mất đi, nó vẫn tiếp nối từng khoảnh khắc cho đến tận bây giờ, để được nghe tiếp, suy nghĩ tiếp và hiểu them một chút.
Hiện giờ liệu có ai có thể kinh nghiệm sự sinh diệt của cái nghe, cái thấy, hay của suy nghĩ? Ai biết được điều ấy? Nhưng điều đó là thực. Ai nghĩ rằng điều đó là không thực nào? Hãy lấy những cái từ ngày hôm qua để chỉ ra nó ở đâu? Chúng hoàn toàn đã trôi qua rồi. Và đây cũng chính là sự bắt đầu của một cuộc sống tiếp nối từ khoảnh khắc cuối cùng của kiếp sống trước. Thế còn kiếp sau thì sao? Nó cũng đang tới dù sớm hay muộn. Và chúng ta sẽ là gì? Bởi vì đến hết kiếp này sẽ không còn con người đó nữa. Cái còn lại sẽ là nghiệp tạo duyên cho khoảnh khắc đầu tiên của kiếp tiếp sau, mà không hề có sự chuẩn bị của chúng ta. Ai có thể chuẩn bị được kiếp sau của mình sẽ như thế nào không? Cũng như với kiếp này, không ai trong quá khứ biết được mình sẽ tái sinh là gì trong kiếp này. Ai mang chúng ta đến đây? Nếu ở khoảnh khắc đầu tiên của một kiếp sống không có một thực tại kinh nghiệm một cái gì đó thì hoàn toàn không có thế giới. Điều này phụ thuộc vào nghiệp đã được tạo trong quá khứ. Nếu nghiệp được tạo ra trong quá khứ không phải là nghiệp tốt, ta sẽ không thể được sinh ra trong cõi người và các cõi cao hơn, là cõi chư thiên. Chúng ta có thể thấy có nhiều loại tái sinh khác nhau, ví dụ như con người thì không giống các loài thú. Cái gì đã tạo duyên cho việc tái sinh thành một con người này hay một con thú kia? Cái gì khiến một chúng sinh trở thành như thế này trong kiếp này? Ngày hôm qua, chúng ta đã nghe về thực tại, về pháp, và việc đó có thể là một duyên để tạo cho sự sinh khởi của thức đầu tiên trong một kiếp nào đó. Nếu khoảnh khắc đầu tiên của một kiếp sống sinh khởi cùng với trí, sẽ tốt hơn rất nhiều nếu không có trí. Ngoài ra cũng còn rất nhiều nghiệp khác sẽ tạo duyên cho sự sinh khởi của một kiếp sống mới.
Như vậy chúng ta đừng chỉ tự hài lòng với việc dùng từ nhân và quả. Nếu chúng ta chỉ dùng từ ấy thôi, thì sẽ không đủ đâu. Nhưng nếu chúng ta tìm hiểu về thực tại, chúng ta sẽ biết rõ hơn tiến trình ấy thực sự diễn ra như thế nào? Rằng tái sinh cũng là quả của nghiệp. Và khoảnh khắc của tâm đã tạo ra sự tái sinh đó cũng có năng lực tập hợp các nghiệp và quả của nghiệp sẽ trổ trong kiếp sống tới này. Chính điều đấy khiến cho chúng ta đều rất khác nhau, theo nghĩa chế định. Nhưng về mặt tối hậu, dù nơi con người hay cầm thú, cái thấy vẫn chỉ thấy mà thôi. Nếu không có hình, dạng thì ai có thể thấy được gì đây? Cái thấy có phải là một con cá không? Một con mèo hay là một con chó hay một con rắn? Nếu chúng ta không nghiên cứu Giáo lý, chúng ta sẽ không thể biết được trong kiếp này có bao nhiều khoảnh khắc là kết quả của nghiệp quá khứ. Khoảnh khắc đầu tiên của một kiếp sống là một tâm quả, được gọi là thức tái tục, nó rất ngắn ngủi. Sau khoảnh khắc đó, nó được tiếp nối bởi các tâm hộ kiếp khác, là một loại tâm – citta. Citta là thực tại dẫn đầu trong việc nhận biết một đối tượng. Như hiện giờ, cái gì được thấy? Cái thấy sinh khởi nhưng cái thấy không thể sinh khởi một mình đơn lẻ. Có những tâm sở sẽ được tạo duyên để cùng sinh khởi với tâm. Chúng sinh khởi cùng nhau. Nhưng cái đảm nhiệm chức năng thấy chính là tâm. Tâm làm nhiệm vụ “thấy”, ngoài ra còn có những yếu tố khác, tức là các tâm sở -cetasika. Ít nhất có bảy tâm sở luôn sinh khởi cùng với tâm, kể cả khoảnh khắc đầu tiên của một kiếp sống. Mặc dù các tâm sở đồng sinh với tâm, nhưng cái dẫn đầu nhiệm vụ kinh nghiệm đối tượng vẫn là tâm. Ai có thể lên kế hoạch, ai có thể tạo ra những khoảnh khắc khác nhau ấy Và đây chính là giáo lý của Đức Phật. Đức Phật dạy mọi người về bản chất của những gì mà chúng ta vẫn cho là tôi, là cuộc sống, thế gian. Và ai có thể thực hành mà không hiểu về những gì đang sinh khởi hiện giờ? Bởi lẽ, hiểu biết phải được phát triển từ từ theo từng giai đoạn. Mọi người lại muốn biết mọi điều, nhưng họ không thực sự hiểu, chẳng hạn như, mục đich của Pháp hành (Paṭipatti) là gì? Nếu không phải là việc phát triển hiểu biết theo từng bước một, đó sẽ không phải là Paṭipatti, sự thực hành. Nếu như chỉ là việc làm cái này hay cái kia trong khi không có hiểu biết hoặc hiểu biết rất ít ỏi, đó sẽ không phải là Giáo lý của Đức Phật.
Cái thấy hiện giờ đã xuất hiện một cách rõ ràng, đúng như nó là hay chưa? Khi nó xuất hiện một cách rõ ràng, khi đó sẽ thấy rằng không có một ai cả, chỉ có một thực tại đang thấy mà thôi. Chúng ta không thể làm gì khác vì nó đã sinh khởi và diệt đi rồi. Chúng ta hãy học để hiểu rằng cuộc sống là như vậy, mỗi một khoảnh khắc sinh khởi và diệt đi tiếp nối nhau liên tục. Không có gì thuộc về ai cả. Chẳng hạn như cái thấy, cái thấy chỉ thấy, chỉ thế mà thôi. Nó đã qua rồi. Nó đã qua rồi, vô cùng đơn giản. Tuy nhiên hiểu biết đúng không dễ dàng phát triển như vậy, bởi vì chức năng của hiểu biết đúng (hay trí tuệ) là sự xả ly. Đối nghịch với trí tuệ là dính mắc, tham ái, và chức năng của nó là bám víu. Như vậy, những thực tại đó có chức năng khác nhau. Tuệ giác biết và chính vì vậy nó xả ly. Tham ái hay dính mắc sinh khởi là do bởi vô minh. Bởi vì nó không biết rõ cho nên nó dính mắc. Nếu không có hiểu biết về cái đang xuất hiện hiện giờ,ngay lập tức sẽ có tham muốn làm một cái gì đó để biết. Điều đó không phải là những lời dạy của Đức Phật, Đức Phật không dạy chúng ta dính mắc thêm nữa. Tuy nhiên việc xả ly đó chỉ có thể tới từ sự hiểu biết mà thôi. Nếu không có hiểu biết về cái được nghe thì việc nghe ấy hoàn toàn không có hữu ích gì. Đó là lý do đức Phật đã phải giáo hóa trong 45 năm. Bởi vì Ngài biết rất rõ căn cơ của những người khác nhau, và rằng rất là khó hiểu đúng về cái thấy hiện giờ. Bởi vì, ở khoảnh khắc của cái thấy, không hề có hiểu biết về cái thấy. Chính vì lẽ ấy mà đức Phật đã phải giáo hóa đến 45 năm, để mọi người có thể hiểu được về khoảnh khắc của cái thấy, hiểu được đúng về nó. Dù chúng ta có đọc bao nhiêu trong sách rằng, ở khoảnh khắc của cái thấy có nhãn căn, có nhãn thức, có đối tượng thị giác cùng các tâm sở đồng sinh, điều đó cũng chưa chắc đem lại hiểu biết về cái thấy thực sự như nó là, cho đến thời điểm có thể thực sự nhận ra điều ấy. Nếu không có hiểu biết một chút xíu về cái thấy hiện giờ, sẽ không thể có được khoảnh khắc trực nhận được sự thật về cái thấy. Bởi vì điều vừa nói đến chỉ là một phần rất nhỏ của những gì đang xảy ra, ngoài cái thấy còn có khoảnh khắc của cái nghe, của suy nghĩ, của rất nhiều thực tại diễn ra. Tất cả các thực tại đó đều bị che lấp và không hề được hay biết. Như hiện giờ, chúng ta chỉ đang nói về cái thấy, trong khi có rất nhiều thứ xảy ra, những khoảnh khắc có cái nghe và nhiều thứ khác nữa. Sự vô minh ấy đã được tích lũy từ vô lượng kiếp, chúng ta sống trong bóng tối, không hay biết gì về thực tại cho đến khi chúng ta được nghe lời đức Phật giảng. Vậy làm thế nào để bớt được sự vô minh ấy?
Jonathan: Hôm qua sau buổi pháp đàm, có bạn đã trao đổi rằng: Nếu chúng ta không từng đi đến một nơi nào đấy để thực hành trước đây, thì sẽ không thể nào có được cái hiểu bây giờ về những lời Achaan dạy.
Achaan: Cách suy nghĩ như vậy có phải là những gì Đức Phật dạy hay không? Bởi vì Đức Phật đã dạy về pháp học- pháp hành và pháp thành. Nếu không có việc tìm hiểu giáo lý của Đức Phật, không phải chỉ bằng việc nghe, mà bằng việc thực sự hiểu về những gì đang được nói đến, thì dù ta có đi đâu chăng nữa, liệu có thể có sự thực hành hay không? Cho dù chúng ta có đi đâu hay ở đây, thì thực tại cũng chỉ có từng đấy thứ, vẫn là cái thấy, cái nghe, v.v… Nếu chúng ta không có lời giảng của Đức Phật, sẽ chỉ có vô minh, không thể có trí tuệ. Chúng ta biết, có các lậu hoặc (āsava), những phiền não ngủ ngầm rất sâu dày trong chúng ta. Hiện giờ chúng ta đang không có lậu hoặc hay sao? Chúng ta bị ô nhiễm bởi vô minh. Cái thấy không có hiểu biết, cái nghe không có hiểu biết… cả ngày cả đêm đều như vậy. Chúng ta sinh ra trong thế giới này – thế giới của các kinh nghiệm qua ngũ quan, của cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm. Trong một ngày, chúng ta có các hoạt động khác nhau, ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, đi ngủ, tất cả các điều đó xảy ra qua ngũ quan. Chúng ta hoàn toàn không có hay biết gì về bản chất cùa những cái gì thực sự diễn ra, và đó gọi là vô minh lậu hoặc (avijjā āsava), và cũng là nghiệp lậu hoặc (Kamma āsava). Nếu chúng ta không hiểu về vô minh thì liệu chúng ta có thể bớt vô minh hay không?
Chính vì vậy chúng ta phải thấy được rằng, điều cốt lõi trong lời dạy của Đức Phật là về các thực tại sinh khởi bình thường trong một ngày, một cách rất tự nhiên. Trí tuệ hoàn toàn có thể hiểu các thực tại sinh khởi một cách tự nhiên trong ngày, nếu có đủ duyên. Nếu không thì đó sẽ không phải là trí tuệ, không phải là hiểu biết đúng. Nếu nó không hiểu được những gì đang xuất hiện hiện giờ thì làm sao có thể gọi đó là trí tuệ. Như vậy thì ta có thể thấy sự khác biết giữa Avijjā (Vô minh) và Paññā (Trí tuệ). Vô minh không thể hiểu các thực tại đang xuất hiện như nó là. Còn trí tuệ mới bắt đầu nghe, suy xét và hiểu một chút về cái đang xuất hiện. Vì vô minh của chúng ta nhiều vô kể, cũng như trong các kiếp trước, làm thế nào có thể bớt vô minh nếu không có sự nghiên cứu giáo lý của Đức Phật một cách cẩn thận. Nếu vẫn chưa hiểu được hiện tại đang diễn ra hiện giờ thì việc nghiên cứu giáo lý của Đức Phật có ích lợi gì đây? Vậy chúng ta đừng coi nhẹ khi nói câu: “con xin quy y Phật” hay “con xin quy y Pháp”. Sau khi Đức Phật nhập diệt, Ngài đã không chỉ định một ai làm người kế tục mình, Đức Phật đã nói Pháp sẽ là đạo sư của các con. Vậy, chúng ta hãy nghiên cứu những lời dạy của Đức Phật. Trong tiếng Pali đó là vāca sacca – những lời chân chánh. Vì đó là những điều chân lý cho nên nó có thể được hiểu bây giờ. Có ai muốn hỏi gì không?
Học viên 7: Achaan có nói lấy giáo pháp làm lời dạy, nhưng con thấy hiểu được giáo pháp, những gì Đức Phật dạy thì rất là khó. Nói về phần thực hành, Đức Phật có dạy Tứ niệm xứ, vậy nên hiểu về Tứ niệm xứ như thế nào cho đúng ạ?
Achaan : Bạn có nói về Tứ niệm xứ Satipaṭṭhāna. Nếu chúng ta muốn nói về Tứ niệm xứ thì trước hết chúng ta cần phải nghiên cứu ý nghĩa của những từ ấy đã. Chẳng hạn từ Chánh niệm- sati có nghĩa là gì? Cái thấy hiện giờ có phải là sati không? Cái nghe hiện giờ có phải là sati ko? Cái cứng hiện giờ có phải là sati không? Vậy sati- chánh niệm là gì?
HV 7: Chánh niệm là có sự hay biết về những gì đang xảy ra.
Achaan: Sự hay biết là gì?
HV 7: Là sự quan sát
Achaan : về cái gì?
HV 7: về những cái được kinh nghiệm bởi Tâm
Achaan: Ở đây có ai biết được sự khác biệt của những khoảnh khắc khi có sati và khoảnh khắc không có sati?
HV 7: Những khoảnh khắc có sati thì mình hay biết về mọi thứ nó đang diễn ra. Còn những khoảnh khắc không có sati thì thường có cảm giác là phóng tâm.
Achaan: Cái gì đang diễn ra?
HV 7: Khoảnh khắc hiện nay mà con đang kinh nghiệm là cảm giác cứng kinh nghiệm qua thân căn và cái nền nhà.
Achaan: Chúng ta cần phải biết rõ là ở khoảnh khắc này có sati hay không?
HV 7: Nếu hiện giờ có sự hay biết về những gì đang diễn ra, nếu như thế là sati, thì có nghĩa là có sati.
Achaan: Cuộc sống chỉ có ở từng khoảnh khắc một, ở mỗi một khoảnh khắc, chỉ có một đối tượng mà thôi. Nên nếu khi ta nói về một tình huống ví dụ như tôi đang ngồi trong phòng, thấy người này người kia, đó không phải là sati.
Cuộc sống không thường hằng, ai mà không biết được sự thực rằng cuộc sống là không thường hằng, nhưng ai biết được thế nào là cuộc sống? Chỉ đơn giản nói rằng cuộc sống không thường hằng thì đã đủ hay chưa? Như vậy thì đã có thể có Trí tuệ để tận diệt được cái hiểu sai về khoảnh khắc hiện tại hay chưa ? Chẳng phải Đức Phật đã dạy chúng ta rằng cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm đều là những khoảnh khắc mà chúng ta gọi là cuộc sống.
Như vậy khi nói rằng cuộc sống không thường hằng, điều đó không chỉ đơn giản có nghĩa rằng chúng ta sinh ra rồi phải chết đi. Mỗi khoảnh khắc của cái thấy cũng sinh và diệt, không thường hằng, khoảnh khắc của cái nghe cũng sinh diệt và không thường hằng, tất cả các khoảnh khắc đều sinh diệt và không có cái gì thường hằng. Điều đó khác với việc chỉ nói cuộc sống là không thường hằng. Đức phật không chỉ nói với chúng ta rằng, cuộc sống không thường hằng. Đức Phật dạy rất cụ thể về tất cả những gì thực sự không tồn tại lâu dài. Chúng ta đã quy y Phật, chúng ta cần phải hiểu thêm, có đúng không? Chính vì thế hôm nay tôi đã đặt câu hỏi, hôm qua các bạn có quy y Phật hay không? Nếu không có hiểu biết thì thực chất, không có ai đang nương tựa, đang quy y Phật cả. Làm sao Đức Phật có thể trở thành nơi nương tựa của các bạn nếu các bạn không thực sự hiểu giáo lý của Ngài? Nếu không có việc nghiên cứu, để tự suy xét và tự hiểu ra, mà chỉ theo một ai đấy nói những lời khác thì liệu đó có phải là nghiên cứu? Món quà vĩ đại nhất mà Đức Phật đã trao tặng chính là hiểu biết đúng, là trí tuệ. Nhưng còn tùy thuộc vào việc các bạn có muốn tiếp nhận trí tuệ ấy hay không? 45 năm giảng dạy chỉ về những gì đang xuất hiện hiện giờ. Các bạn có muốn tiếp nhận món quà đó hay không? Nhưng chỉ có thể có sự tiếp nhận khi có hiểu biết đúng mà thôi. Tôi thấy dường như mọi người đánh giá những gì Đức Phật dạy không sâu sắc bằng mức độ thực sự của nó, chúng ta cho rằng Đức Phật dạy những thứ mà chúng ta có thể dễ dàng hiểu được. Chính vì lẽ ấy, chúng ta đã bắt đầu với từ dhamma (pháp) mà Đức Phật đã dạy một cách rất kỹ lưỡng, là vô thường, khổ, vô ngã. Đó không phải là Tứ niệm xứ hay sao? Chúng ta phải đi vào chi tiết, chứ không phải chỉ nói là mọi thứ đều không thường hằng.
Người phiên dịch: Tôi xin giải thích rõ thêm một chút về lời của Achaan. Vừa nãy bạn có hỏi về Tứ niệm xứ và Achaan trả lời rằng phải biết về từ “pháp” một cách rất chi tiết, khi biết về từ “pháp” một cách chi tiết, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của từ vô thường, khổ, vô ngã. Và trong Tứ niệm xứ, lời dạy về Tứ niệm xứ là về vô thường khổ và vô ngã. Nếu không biết về pháp thì không thể biết về vô thường, khổ và vô ngã.
Sarah: Khi chúng ta nói đến việc hay biết một tình huống, chẳng hạn đang ngồi hay đang cầm một cái ly và chúng ta coi đó là chánh niêm thì sẽ dẫn đến việc là chúng ta sẽ cố gắng chú ý đến những việc làm như vậy và sẽ làm thật chậm, nhưng đó không phải là chánh niệm. Khi Achaan nói về chánh niệm là nói đến hay biết về thực tại, thực tại thì luôn luôn sinh diệt như vậy, cho nên dù chúng ta làm nhanh hay chậm thì thực tại vẫn như cũ. Nếu hay biết những gì đang xảy ra với ý niệm về ngã thì không phải là chánh niệm. Như vậy nếu chúng ta nói về sự hay biết tình huống thì hoàn toàn không phải là cái hiểu đúng về chánh niệm.
Jonathan: Tóm tắt về những điều Achaan nói về việc phát triển hiểu biết và về chánh niệm và trí tuệ, đó là vấn đề hiểu về thực tại hiện giờ chứ không phải là ở một nơi nào khác. Các bạn nếu như có câu hỏi hay ý kiến gì về chủ đề này thì bạn có thể nêu lên.
Học viên 8: Bà có thể chia sẻ quá trình nghiên cứu và tu tập của Bà cho đến khi thấu hiểu đầy đủ giáo lý của Đức Phật? Bởi vì việc học hỏi kinh nghiệm của Bà là một điều hết sức quý giá đối với chúng con.
Achaan: Như vậy có phải bạn muốn tôi nói về sự phát triển của Tứ niệm xứ mà không có cái hiểu về thực tại hiện giờ hay không? Cái thấy hiện giờ có thể là đối tượng của satipaṭṭhāna (tứ niệm xứ) hay không?
HV 8: Như Bà đã chia sẻ, để thấy đúng như thực thì chúng ta cần phải có chánh kiến, nhưng để có chánh kiến thì chúng ta cần phải có trí tuệ. Làm thế nào để có trí tuệ? Xin bà hãy chia sẻ quá trình nghiên cứu của mình, có phải đầu tiên chúng ta cần phải học Vi diệu pháp, chúng ta thực hành Tứ niệm xứ hay như thế nào?
Achaan: Chính vì lý do đó mà chúng ta đang nói về sự phát triển của hiểu biết hiện giờ, hiểu biết hiện giờ được phát triển như thế nào? Nếu chúng ta không hiểu được đối tượng của tứ niệm xứ, và cơ sở để cho chánh niệm sinh khởi thì chúng ta không thể nào biết được câu trả lời. Và câu hỏi bây giờ là: cái thấy có thể là đối tượng của chánh niệm hay không? Và như vậy, nếu một đối tượng có thể là đối tượng của chánh niệm thì sẽ có thể có hiểu biết đúng về đối tượng ấy. Nếu không có hiểu biết đúng, liệu cái thấy hiện giờ có thể là đối tượng của chánh niệm hay không? Hiện giờ có suy nghĩ hay không, nó có thể là đối tượng của chánh niệm hay không? Bất cứ cái gì có thực hiện giờ đều có thể trở thành đối tượng của chánh niệm nếu có hiểu biết đúng.
Và ta tìm hiểu câu hỏi về sự khác biệt giữa chánh niệm và không có chánh niệm, đó là cái sự khởi đầu. Cái cứng có thể làm đối tượng cho Tứ niệm xứ hay không? Tại sao mọi thứ đều có thể là đối tượng của tứ niệm xứ? Bởi vì mọi thứ đều có thực, sinh và diệt mà không có sự hiểu biết. Cái gì đã sinh ra thì cũng sẽ diệt đi, quá khứ đã qua, tương lai thì chưa tới, chỉ có cái bây giờ mới có thể được hiểu, nhưng nó vô cùng khó cho nên Đức Phật đã dạy rất nhiều về những cái đó để có thể phát triển hiểu biết. Và vậy thì tất cả cái gì là thực đều có thể trở thành đối tượng của chánh niệm và trí tuệ trực nhận.
Có thể chúng ta đọc rất nhiều những cuốn sách khác nhau viết về đạo Phật, người ta lấy ra một vài từ trong kinh điển Tam tạng và viết những cuốn sách rất dày theo cách riêng của họ, mà không đề cập đến việc rằng bất cứ đối tượng nào đang xuất hiện hiện giờ đều có thể là đối tượng của hiểu biết như đã được đề cập đến trong Tam tạng. Nếu chúng ta đọc những cuốn sách mà không nói đến hiểu biết về các thực tại hiện giờ, liệu đó có phải là tôi xin quy y Pháp hay không? Vậy thì câu đầu tiên là: cái xuất hiện hiện giờ có thể là đối tượng của chánh niệm và hiểu biết hay không? Câu trả lời là đúng vậy. Tuy nhiên cần phải có thêm hiểu biết mới có thể có được khoảnh khắc thực sự phát triển tứ niệm xứ về đối tượng đang xuất hiện hiện giờ. Bởi vì, bản thân hiểu biết về mặt lý thuyết thôi cũng dần dần loại bỏ ý niệm về ngã. Như vây, các bạn có đủ sự chân thành để có thể hiểu ngay bây giờ về những gì đang xuất hiện, và liệu chúng có thể trờ thành đối tượng của hiểu biết hay không? Thực tại hiện giờ có thể là đối tượng của chánh niệm về trí tuệ, nhưng khi nào? Bây giờ có thể chưa? Chân thật là một trong mười ba la mật, ngoài ra chúng ta cũng có những ba la mật khác như là khanti-kham nhẫn, viriya- tinh tấn.
Ngay từ đầu chúng ta đã nói rằng, tất cả các pháp đều vô ngã, nếu chúng ta cho rằng phải làm cái gì đó đặc biệt, như vậy sẽ hoàn toàn mâu thuẫn với sự thực rằng các pháp sinh khởi do duyên. Bởi lẽ, trí tuệ cũng là một pháp, và phải có duyên để cho nó sinh khởi. Hiểu biết đúng về lý thuyết là một trong những duyên quan trọng để cho trí tuệ trực nhận sinh khởi. Bởi vì kinh nghiệm trực nhận hay pháp hành là giai đoạn sau pháp học. Nếu ai đó nói với các bạn rằng, hãy thực hành đi thì sẽ có được hiểu biết như trong pháp học, các bạn thử kiểm chứng xem điều ấy có đúng với những gì Đức Phật nói trong Tam tạng về trật tự pháp học- pháp hành- pháp thành hay không? Như vậy vẫn có cái ý niệm về một ai đó, muốn làm một cái gì đó, để đạt được một cái gì đố, chứ không hề có sự buông bỏ ý niệm về ngã. Vậy hiện giờ chân thật ba la mật đâu rồi? Chúng ta nghiên cứu để có được cái hiểu biết cho “mình”, hay là nghiên cứu để hiểu rằng không có ai cả?
Người phiên dịch: Có một số người thắc mắc là có rất nhiều người đã thực hành trước khi nghiên cứu về pháp học, nhưng sau khi thực hành rồi thì họ có hiểu biết giống như là pháp học. Xin hỏi Achaan có bình luận gì không?
Achaan: Hãy xem Đức Phật nói gì? Đức Phật nói là cần phải có hiểu biết lý thuyết trước, pháp học (pariyati) rồi mới đến pháp hành (patipati) rồi mới đến pháp thành (pativeda). Khi chúng ta đọc Tam tạng, chúng ta có thấy phần nào nói rằng, pháp hành có trước rồi mới đến pháp học rồi pháp thành hay không? Hay trật tự duy nhất được đề cập đến trong Tam tạng là pháp học, pháp hành, rồi đến pháp thành?
Người phiên dịch: Thế còn những người tự xưng là đã giác ngộ, hoặc được cho là đã giác ngộ thì như thế nào?
Achaan: Thế nào là tự xưng? Thế nào là được cho? Chúng ta cần phải có hiểu biết. Sẽ không thể có sự giác ngộ mà không có con đường dẫn đến sự giác ngộ.
Jonathan: Như chúng ta đã biết, con đường dẫn tới giác ngộ là con đường của sự phát triển trí tuệ. Ở trong kinh, những người đạt được giác ngộ là những người hiểu được bản chất của tất cả thực tại rồi mới giác ngộ, chứ không có ai giác ngộ rồi mới hiểu bản chất của thực tại. Không thể như thế được.
Sarah: Nếu có ai đó nói với tôi, người đó đã giác ngộ hoặc ai đó đã giác ngộ thì tôi không đương nhiên chấp nhận điều ấy, vì Đức Phật có nói rằng chúng ta không nên vội tin, trừ khi ta đã phát triển hiểu biết một cách sâu sắc, thảo luận và tiếp xúc với người đó một thời gian dài, sẽ không có cách nào biết được mức độ tuệ giác của một người khác. Đó là tinh thần của bài Kinh Kalama. Chúng ta nên đặt câu hỏi và suy xét.
Khi chúng ta muốn đề cập đến kinh nghiệm riêng của bản thân và muốn biết xem kinh nghiệm ấy tương ứng với mức độ hiểu biết nào hay việc người đã thực chứng sẽ thấy cái gì, khi đó không có hiểu biết đúng. Vì hiểu biết đúng chỉ hiểu thôi, chứ không có “người” nào hiểu cả, nếu cho rằng có ai đó hiểu, sẽ có ý niệm ngầm về ngã và như vậy nó không thể đưa tới cách tiếp cận đúng đắn về vô ngã. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta thực sự chân thành quan tâm đến Pháp và phát triển hiểu biết về thực tại, cách duy nhất là tiếp tục nghe và thảo luận, suy xét nhiều về tất cả những gì đang xuất hiện để thấy một sự thật rằng không có một ai đằng sau những hiện tượng đó cả. Đó là cách duy nhất mà thôi.
Học viên 7: Vậy thì con muốn hỏi thế nào là pháp học, có phải mình cứ nghiên cứu và học trên sách vở là pháp học hay không?
Achaan: Bạn muốn đọc sách hay bạn muốn nghiên cứu về giáo lý?
HV 7: Đọc ạ
Achaan: Đọc với hiểu biết hay là không có hiểu biết? Nếu có người nói với bạn rằng bạn hãy đi đến một nơi nào đó để thực hành, còn một người khác nói với bạn hãy phát triển hiểu biết về tất cả những gì đang xuất hiện hiện giờ, bạn sẽ tin ai đây? Việc bạn tin ai cũng tùy thuộc vào tích lũy của mỗi người. Ngay ở thời Đức Phật, mặc dù Đức Phật thuyết giảng giáo pháp nhưng không phải ai cũng tin lời Đức Phật và đi theo Đức Phật.
Liệu tôi có cần phải nói về kinh nghiệm của bản thân hay không? Hay là tôi hãy nói từ những hiểu biết của mình? Nếu tôi không hiểu về những điều ấy thì liệu tôi có thể nói về những điều ấy hay không? Điều này cũng cho thấy rằng chúng ta nói như thế này, hành xử như thế kia, theo ai, cũng là do tích lũy của mỗi người và tất cả đều là vô ngã. Sở dĩ mọi người đều có những cách hành xử riêng biêt, có đặc tính riêng nhất quán là vì những thứ ấy đã có sự tích lũy rất lâu dài. Kể cả ngồi trong những tư thế khác nhau, điều ấy cũng là do tích lũy. Chúng ta có thể thấy rằng, tứ đại cùng với các sắc kết hợp với tứ đại có thể tạo ra sự đa dạng trong những vật chất khác nhau và thực tại nhận thức những vật chất đó thì còn đa dạng hơn nữa. Ngay cả cây cối, ví dụ như cây sầu riêng, cũng có những vị rất khác nhau, những người ăn sầu riêng cũng có những sở thích khác nhau, cái đó cho thấy sự đa dạng của tất cả các loại tâm cũng như các loại sắc. Những gì mà chúng ta đã đọc trong Tam tạng đều là về tất cả những sự kết hợp khác nhau của các thực tại. Ở thời của Đức Phật, các vị tỳ kheo có ngồi cùng một kiểu không? đi theo cùng một dáng không? Để có thể hiểu thực tại thì liệu họ có cần phải thay đổi cách họ đi hay không? Điều đấy sẽ rất nực cười đối với những người đã thấy được cái gì là gốc rễ của sự khác biệt trong cuộc sống. Cái gì tạo duyên cho điều đấy? Không phải là hiểu biết đúng mà là gì? Đó chính là vô minh và tham ái tạo duyên cho điều đó. Liệu paññā (trí tuệ) có cần phải thay đổi hay không? Và như vậy ta chỉ cần nghe mỗi từ Tuệ giác và rồi ta thực hành mà không cần biết thực hành là gì hay sao? Hiện giờ có ai đang thực hành hay không? Tại sao không? Nếu như có hiểu sai và vô minh [thì sẽ không có sự thực hành]. Nhưng nếu có hiểu biết đúng, nó có thể hiểu được bất cứ cái gì đang sinh và diệt. Chính vì vậy Đức Phật đã dạy về các thực tại khác nhau. Đức Phật không chỉ dạy về pháp học, pháp hành, pháp thành mà Đức Phật cũng dạy về ba mức độ trí tuệ về Tứ đế, gọi là sacca ñāṇa (Tri kiến về Tứ đế), kicca ñāṇa (Tri kiến về cơ năng của Tứ đế) và kata ñāṇ (Tri kiến về cơ năng của mỗi đế được thành tựu). Đó là ba mức độ hiểu biết khác nhau, để chúng ta không nhầm lẫn về mức độ tuệ giác của mình.
Có ai muốn nói về bài pháp đầu tiên của Đức Phật hay không? Bài Kinh đầu tiên của Đức Phật giảng là bài Kinh về Tứ diệu đế được giảng cho những người đã tích lũy rất nhiều hiểu biết để có thể hiểu được những điều Đức Phật nói ở tại thời điểm ấy. Trong bài kinh Chuyển pháp luân có phần giảng về tứ diệu đế. Kể cả bài Kinh đầu tiên này, từng mục một, chúng ta cần phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng.
Achaan: Đề nghị cô Sarah hãy nói về diệu đế thứ nhất – Khổ đế, chứ chưa nói về những diệu đế còn lại.
Sarah: Mọi người đều biết diệu đế thứ nhất là Khổ đế. Ta có thể cho rằng khổ đế nói về thọ khổ, ví dụ những chuyện đau buồn trong cuộc sống, hay cảm thọ đau đớn trên thân như khi bị đau đầu, đau bụng v.v… đó là một loại khổ, loại khổ này ai cũng biết, gọi là khổ khổ, dukkha-dukkha. Nhưng Khổ để mà Đức Phật nói trong diệu đế thứ nhất có ý nghĩa sâu sắc hơn rất nhiều. Chúng ta đã đề cập đến các thực tại và biết rằng mỗi thực tại đều sinh và diệt. Sự sinh diệt đó của các thực tại không mang đến sự thỏa mãn, toại nguyện, và chính vì thế chúng là dukkha. Đức Phật dạy về ngũ uẩn thủ, ngũ uẩn thủ là khổ. Ngũ uẩn thủ bao gồm: Sắc, Thọ Tưởng, Hành, Thức. Chẳng hạn như: sắc là cứng hiện giờ, đối tượng thị giác hiện giờ, v.v…là những đặc tính ta kinh nghiệm thường xuyên trong cuộc sống, và chúng có thể là đối tượng của dính mắc, sự dính mắc ấy thật là xuẩn ngốc, bởi tất cả các thực tại sinh và diệt, không đáng để bám víu vào
Achaan: Bây giờ để chúng ta có thể hiểu một cách chắc chắn hơn, hiện giờ có dukkha hay không? Nó ở đâu, chúng ta có cần phải đi đến một nơi khác để thấy nó hay không? Vô minh có biết được điều ấy hay không? Vậy cái gì biết? Hiểu biết đúng có được từ việc nghe và suy xét. Khi nào có dukkha đây? Ngay bây giờ. Mọi thứ đều sinh và diệt, khi cái sinh và diệt đã qua rồi thì còn có ai nữa hay không? Có cái gì toại nguyện ở trong đó hay không? Khoảnh khắc có chánh niệm là bước khởi đầu của việc hiểu dần về các thực tại, nhưng bản thân điều đó cũng là do duyên, bởi các thực tại đều là vô ngã. Nếu không thì ngay lập tức vô minh và tham ái sẽ che lấp sự thực ấy. Trong Tam tạng có nói rằng vô minh và tham ái ở khắp nơi cũng giống như các khoảng không tồn tại giữa các tổ hợp sắc. Ở trong này có các khoảng trống hay không? Có cả vô minh và tham ái trong đó khi không có hiểu biết đúng. Lời dạy của Đức Phật là dành cho những người mà không thể tự mình giác ngộ, nhưng nhờ việc nghe pháp thì bắt đầu có sự khởi đầu của việc hay biết rằng chỉ có các thực tại và không có gì khác cả, không có ai cả. Đây có phải là con đường để dẫn đến cái hiểu về các thực tại như nó là hay không? Không có cái ngã nào có thể hiểu được, có thể cố gắng, hay như chúng ta cho rằng có ai đấy, phải làm một cái gì đó, phải nỗ lực.
Trong Tam tạng có đề cập đến con đường Tà đạo và con đường Bát chánh đạo. Tại sao Đức Phật cần phải nói với chúng ta về hai con đường đó? Là để chúng ta không mắc phải sai lầm đi con đường sai. Khi không có hiểu biết đúng thì hiểu biết sai sẽ dẫn chúng ta ra khỏi con đường chánh đạo và sẽ cố gắng làm thế này thế kia, nỗ lực thế này thế kia mà không phải là hiểu về cái hiện giờ đang xuất hiện. Khi ý niệm về ngã đưa chúng ta ra khỏi khoảnh khắc hiện tại, sẽ không có được hiểu biết đúng và sẽ không bao giờ biết được khoảnh khắc hiện giờ là gì. Điều này là quý báu hay là vô ích đây? Bạn muốn những thứ khác ngoài việc hiểu thực tại hiện giờ hay không? Bạn có biết được khoảnh khắc tiếp theo sẽ là gì hay không? Như vậy, chúng ta sẽ tự suy nghĩ theo cái ý niệm riêng của mình mà thôi. Tất cả những gì xuất hiện đều là do duyên, bởi vì mọi thứ là Vô ngã.
Bây giờ chúng ta hãy nói một chút về con đường Bát chánh đạo, toàn bộ con đường Bát chánh đạo được dẫn đầu bởi Chánh kiến, bên cạnh các yếu tố chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định,… Thế bây giờ có Chánh tinh tấn hay không? Khi có chánh tinh tấn, thực chất nó đã sinh khởi do duyên, kể cả trước khi có ý niệm bây giờ tôi phải nỗ lực. Chúng ta không cần phải cố gắng gì nữa bởi vì nó đã có ở đó rồi. Có bao nhiêu tâm sinh khởi không có tinh tấn (cố gắng) đi kèm? Chúng ta được học trong Vi diệu pháp rằng chỉ có 16 tâm trong tổng số 89 tâm. Như vậy thông thường có rất nhiều tâm sinh khởi với tinh tấn, nhưng đi kèm với lobha, dosa và moha (tham –sân –si). Tại sao Đức Phật lại dạy một cách chi tiết như vậy? Là để cho chúng ta bớt đi cái hiểu sai rằng “tôi” có thể nỗ lực làm một cái gì đó.
Sarah: Quay trở về với câu hỏi vừa nãy về việc liệu chúng ta có nên đọc sách, bất cứ khi nào chúng ta có ý niệm rằng tôi nên đọc quyển sách đó, tôi nên nghĩ theo cách này hay cách kia thì lúc đó chúng ta cũng quên mất hiện tại hiện giờ cái gì đang diễn ra. Kể cả khi ta đã biết rằng việc đi đâu đó hoàn toàn không có lợi ích gì, nhưng nếu ta cho rằng, mình cần phải đọc cuốn sách này hay cuốn sách kia, điều ấy cũng không khác với việc nghĩ rằng chúng ta cần phải đi đâu đó, hay cần phải làm cái gì đó, hay tôi nên làm thế này hay nên làm thế kia, tất cả các ý nghĩ như vậy đều được thúc đẩy bởi ý niệm về ngã, và không có hiểu biết. Và tất cả các khoảnh khắc không có hiểu biết về cái đang sinh khởi sẽ không phải là khoảnh khắc của chánh niệm và trí tuệ.
Câu hỏi: Kính thưa Achan, con cũng đã cố gắng tu tập vì con biết sự tu tập rất có lợi ích, và khi càng tu tập, càng tìm hiểu thì con thấy hết vô minh này lại qua vô minh kia. Ví dụ như trước đây con vô minh bằng cách con sống theo người đời là hoạt động, thế rồi khi con tu tập thì con lại rút vào, con muốn tránh né hết mọi người, vì con thấy từng giây từng phút lời nói của mình trong vô minh đều tạo nghiệp, cho đến khi hiểu về chánh niệm thì con thấy chánh niệm là thấy trong hiện tại, rồi con suy nghĩ, tại sao con chánh niệm mà con vẫn có những cái sai đến, con lại suy nghĩ, nhìn là nhìn, thấy là thấy, không suy nghĩ gì nữa, thì con trở thành không nghĩ, không làm, không nói, không tiếp xúc với ai, rồi con bị phê phán như là si. Con thắc mắc không biết tìm hiểu ở đâu, làm thế nào để tu tập cho đúng, con chỉ đọc kinh sách, nhìn bàn thờ Phật. Xin Achaan dạy cho con biết, con nên tu tập như thế nào, để cho có sự hiểu biết đúng, để không còn vô minh nữa?
Achaan: Chúng ta không nên mong đợi một người khác nói mình làm gì cả, mà hãy suy xét về những gì được nghe ,để phát triển hiểu biết để cho sự hiểu biết phát sinh ở chính nơi mình, chứ không thể có một ai đó nói cho mình phải làm cái này hay cái kia. Một người thiện bạn hữu thực sự thì sẽ mong muốn người khác phát triển sự hiểu biết ở chính nơi mình chứ không mong muốn người khác đi theo những lời mình nói. Dù chúng ta sống theo cách này hay cách kia, mỗi người có một cuộc đời riêng và những hoàn cảnh riêng, thì việc quan trọng không phải là cuộc đời đó [như thế nào], mà là sự phát triển hiểu biết đúng, và cần phải tiếp tục nghiên cứu, đọc và tìm hiểu những gì Đức Phật dạy. Chẳng hạn như vừa đây, chúng ta nói về Khổ -dukkha, có đúng không? Như chúng ta đã đề cập, Tứ diệu đế thứ nhất là về dukkha- khổ đế , và bây giờ những gì đang xảy ra, như cái thấy, cái nghe, tất cả những cái đó đều vô thường, sinh và diệt, và cái sinh và diệt không thể mang lại hạnh phúc. Có ai có thể tìm thấy hạnh phúc từ cái sinh và diệt hay không? Cái sinh và diệt, không thể kiểm soát được có phải là tự ngã hay không? Không ai có thể làm thay đổi được điều ấy. Nếu ai đó có khả năng làm thay đổi khiến các thực tại không còn sinh diệt, ví dụ như sau cái thấy thì không có cái nghe, chẳng hạn, thì sẽ không có dukkha. Nhưng thực tế thì không phải như vậy, không ai có thể thay đổi sự thực.
Nếu chúng ta nói rằng cái thấy không thể kiểm soát được, điều đó không sai, nếu chúng ta nói rằng cái thấy không thường hằng, điều đó cũng không sai. Nhưng nếu chúng ta chỉ nói thôi thì không có nghĩa là chúng ta có cái hiểu trực tiếp về điều ấy. Nếu chúng ta có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, chúng ta sẽ biết được rất rõ hiểu biết của mình hiện giờ ở mức độ nào, nó có thấy được sự sinh diệt của thực tại hay chưa? Chúng ta sẽ thấy rằng nếu có hiểu biết đúng đắn một cách vững vàng, sẽ không còn nghĩ đến làm một việc gì khác ngoài hiểu các thực tại như nó ngay bây giờ. Hiểu biết đúng hiểu rằng, tất cả những gì đang sinh khởi hiện giờ là do duyên mà thôi. Chân lý mãi mãi sẽ là chân lý. Hiểu biết trực tiếp không dành cho những người mới nghe lần đầu, nó dành cho những người đã phát triển trí tuệ đến mức độ có thể đạt đến điều đó. Hiện giờ đã có pariyatti savakka – tức là người đệ tử có pháp học – hay chưa? Khi có khoảnh khắc của chánh niệm sinh khởi hay biết một thực tại, ở khoảnh khắc đó được gọi là paṭṭipati savakka tức là người đệ tử có pháp hành. Và ở khoảnh khắc có sự xuyên thấu giác ngộ, khoảnh khắc đó được gọi là pativeda savaka – người đệ tử có pháp thành. Khi đó không còn chỉ là người đệ tử có pháp học.
Sarah: Xin được nói thêm. Khi cố để hay biết, để chánh niệm bằng nhiều cách khác nhau, thực ra ở khoảnh khắc đó, hoàn toàn có ý niệm về ngã, về cái tôi, “tôi” muốn có chánh niệm, “tôi” muốn có cái này hay cái kia, và chính điều này càng làm tăng thêm ý niệm về ngã. Chính điều ấy làm chúng ta càng xa lánh mọi người, và lúc đó không có đệ tử pháp học, càng không có đệ tử pháp hành và đệ tử pháp thành. Con đường đúng đắn sẽ càng phải tăng phẩm chất thiện, càng phải có tâm từ, tâm bi, chứ không thể làm ta xa lánh mọi người.
Học viên 9: Ngoài việc hiểu và làm theo Bát chánh đạo , mình phải hiểu đúng giáo lý của đức Phật. [Theo con], ba điểm chính cần phải làm theo để có bước thực hành cho đúng là: Đầu tiên, con phải hiểu rõ về ngũ uẩn, những gì xảy ra trên thân và tâm của mình, kế tiếp, con phải tin tưởng hoàn toàn vào Tam bảo vào giáo lý của Đức Phật, cái thứ ba, con phải có mục đích, mục đích của con thiền để làm gì, kết hợp ba thứ đó, thì con sẽ có được một pháp hành đúng. Con muốn biết như vậy có đúng không?
Achaan: Vừa rồi bạn có chia sẻ cái hiểu của bạn về cách phát triển con đường Bát chánh đạo. Chúng ta cần phải hiểu từng từ một và hiểu rõ mục đích, chẳng hạn như hiểu về từ “dhamma”- pháp và phát triển hiểu biết về dhamma thì sẽ dẫn tới đâu? Nếu chúng ta không biết con đường dẫn tới đâu thì chúng ta phát triển cái gì đây? Nếu ở khoảnh khắc hiện giờ có cái hiểu thì chẳng phải con đường cũng đang được phát triển rồi, đúng không? Nếu không có cái hiểu đúng hiện giờ thì có sự phát triển nào hay không? Và bây giờ chúng ta đang chia sẻ về bản chất của con đường chánh đạo là gì. Việc chia sẻ cùng với việc nói đến các thực tại sẽ làm duyên cho khoảnh khắc của hiểu biết đúng về thực tại sinh khởi. Con đường sẽ phải dẫn đến hiểu biết về bất cứ cái gì xuất hiện. Nếu như chúng ta không hiểu về cái đang xuất hiện hiện giờ thì làm sao có Chánh Đạo đây? Như vậy thì con đường này không liên quan đến những chủ đề khác mà chỉ liên quan đến những gì đang xuất hiện hiện giờ mà thôi. Theo bạn có con đường nào khác không?
Người phiên dịch: Bây giờ đã hết giờ. Chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận vấn đề này vào chiều nay.
Sadhu sadhu sadhu!
Achaan Sujin, Chánh tinh tấn, sati, sự thực, Tứ niệm xứ, tuệ giác