Tag Archive Bát Chánh đạo

Pháp đàm chiều 08-09-2013 tại Vũng tàu

18/      Pháp đàm buổi chiều ngày 08.09.2013 tại Vũng tàu.

 

Học viên 26: Thưa Achaan, xin Bà giải thích cho chúng con cách phân biệt tâm từ và dính mắc, ví dụ tình yêu thương giữa người mẹ và con mình, làm thế nào để phân biệt giữa tâm từ và dính mắc trong đó

Achaan:         Tâm từ không bao giờ tạo ra buồn đau, chỉ có dính mắc mới làm duyên cho đau khổ. Khi ta không có được cái mình muốn do dính mắc thì có duyên cho khổ đau. Tại sao ta lại khóc khi có chuyện không hay xảy ra với con cái? Thế khi chuyện tương tự xảy ra với con cái của những người khác, liệu bạn có khóc không? Có từ tâm với con cái sẽ tốt hơn hay dính mắc với chúng? Khi dính mắc với con cái, sẽ có sân sinh khởi khi mọi chuyện xảy ra không như mình mong muốn. Tâm từ thì hoàn toàn khác.

Sarah: Vâng, và trong câu hỏi của bạn cũng có đề cập đến việc làm thế nào để  biết được tình thương yêu mà người mẹ biểu lộ với con trong sự chăm sóc của mình với con cái là tâm từ hay dính mắc, về vấn đề này, thực tế là ta chỉ có thể biết được tâm chính mình mà thôi. Thông thường ta hay tốn nhiều thời gian vào việc để ý đến người khác, băn khoăn liệu người ta nghĩ gì, thay cho hiểu hơn về tâm hiện giờ đang có những suy nghĩ như vậy. Vậy thì vào khoảnh khắc bận tâm về việc một ai đó liệu đang có tâm từ hay dính mắc, ta quên mất tâm bất thiện khi đó. Khi có tâm từ với người khác, ta không bận tâm đến việc tâm của người đó là loại gì, mà chỉ đơn thuần có sự thân thiện, sẵn sàng giúp đỡ người kia.

Achaan:         Metta- Tâm từ có nghĩa là sự thân thiện, bất cứ khoảnh khắc nào chúng ta có sự thân thiện, muốn giúp đỡ mọi người thì ở khoảnh khắc đó có tâm từ. Chẳng hạn như bây giờ thì có thể có sự thân thiện với những người khác. Ở khoảnh khắc có sự thân thiện như vậy thì không phải là thực tại nào khác mà chính là metta –tâm từ, là thực tại khi ấy. Ở khoảnh khắc của sân thì không phải tâm từ. Ở khoảnh khắc của dính mắc- tham thì cũng không có tâm từ. Kẻ thù gần của tâm từ chính là lobha- tham. Chính vì lẽ ấy mà chúng ta cần phải nghiên cứu các thực tại một cách kỹ lưỡng. Người mẹ có tâm từ với các con của mình hay không hay đó là dính mắc, là tham đây?

Ngay cả bây giờ có thể có cái hiểu rằng tâm từ và tham là những khoảnh khắc khác nhau. Chúng ta có tâm từ đối với bao nhiêu người? Tất cả hay là chỉ với một ít người thôi? Kể cả khi có tất cả mọi người ở trong một ngôi nhà, có lúc thì có tâm sân có lúc thì có tâm từ. Mỗi khoảnh khắc đều có những duyên riêng cho chúng sinh khởi. Như vậy thì có thể có hiểu biết ở ngay khoảnh khắc này, liệu nó là tâm từ hay tâm tham. Và khi tâm từ được hướng tới không phải chỉ một số người  mà là cho tất cả thì nó có thể phát triển thêm, do duyên. Khi có thêm hiểu biết đúng đắn thì tâm từ tăng trưởng. Nhưng ở bất cứ khoảnh khắc nào có tâm sân với những người khác thì hiểu biết đúng ở khoảnh khắc kế đó biết rằng khi ấy không có tâm từ. Và ở khoảnh khắc ấy, nếu Trí tuệ có mặt thì nó có thể hiểu rằng sân cũng là một thực tại và tâm từ cũng là một thực tại, không phải là ai cả. Dù chúng ta có nói về những gì đi nữa thì tất cả đều là những thực tại khác nhau.

HV 26:           Thường thì sau buổi pháp đàm thường đọc hồi hướng chia phước, hôm qua Bà có nói rằng đó là nhớ đến những ân đức, công lao dưỡng dục của cha mẹ đã làm cho chúng ta. Nhưng như thế con cảm giác nó giống như một phương pháp nào đấy?

Achaan:         Câu trả lời tùy thuộc vào việc có nghĩ rằng bố mẹ thực sự tồn tại hay là có cái hiểu rằng đó chỉ là các pháp mà thôi.

HV 26:           Về mặt chân đế thì không có cha mẹ, nhưng thực tế thì con cảm thấy là vẫn có một cái ngã cho rằng tôi làm thế để nhớ đến ân đức cha mẹ.

Achaan:         Chính vì vậy, hiểu biết về vô ngã phải được phát triển một cách từ từ.

Sarah:            Khi bạn đặt những câu hỏi như vậy và được Achaan đưa ra câu trả lời , điều ấy có lợi ích cho tất cả mọi người. Cũng như vậy, chúng ta chia phước để cho những người khác có cơ hội tùy hỷ với phước thiện mình đã làm. Thế nhưng tất cả đều tùy thuộc vào cái hiểu, chẳng hạn cần phải hiểu rằng không có người nào nhận phước cũng không có người nào chia phước, tùy thuộc vào mức độ hiểu biết sinh khởi vào lúc đó. Tương tự, khi chúng ta đọc những lời hồi hướng chia phước đó thì cũng có thể có hiểu biết sai lầm cho rằng có một ai đấy có thể nhận được phước và mình có thể chia phước cho người khác, đấy là một hiểu biết sai lầm, về thực chất thì không phải như vậy.

HV 26:           Con hiểu điều cô nói về mặt lý thuyết, nhưng mỗi khi hồi hướng chia phước thì luôn luôn có câu hỏi như vậy.

Achaan:         Thế bây giờ thì sao?

HV 26:           Để thỏa mãn cho tâm tham của mình mà con có câu hỏi đấy.

Achaan:         Có phải ý bạn rằng khi chúng ta chia phước cho những người khác mà nghĩ đến con người và mọi thứ thì cũng hệt như bây giờ, chúng ta thấy mọi người ngồi ở xung quanh, có đúng không?

HV 26:           Achaan có dạy về bốn yếu tố để phát triển Trí tuệ: Gần gũi bậc thiện trí thức, được nghe chánh pháp, suy xét chân chánh về điều được nghe và thực hành tùy pháp. Con không hiểu rõ về yếu tố cuối cùng. Xin Achaan giải thích thêm.

Achaan:         Nếu như không có cái hiểu hiện giờ về các thực tại thì nó có thể dẫn tới hiểu thêm và hiểu thêm nữa về các thực tại hay không?

HV 26:           Không thể.

Sarah:            Như vậy, nghĩa của thực hành tùy pháp chỉ có nghĩa là cái hiểu biết đúng và đúng tương ứng với pháp mà thôi.

Học viên 27: Xin Achaan giải thích rõ hơn sự phân biệt giữa tâm từ và dính mắc vì nó liên quan tới áp dụng trong cuộc sống hàng ngày. Ai cũng có mỗi quan hệ gia đình,cụ thể Achaan có ví dụ về sự yêu thương của mẹ và con cái thì có thể là tâm từ hoặc là sự dính mắc. Nhưng nếu mình là đối tượng thụ hưởng của sự yêu thương đó thì mình phải hiểu như thế nào? Đó là sự yêu thương hay dính mắc, mình phải làm như thế nào?

Achaan:         Một số người mẹ thì không thích con mình xăm người chẳng hạn, nhưng con thì lại rất muốn, vậy khi ấy thì là tham hay tâm từ đây? Khi có tâm từ thì ta nghĩ đến người khác chứ không nghĩ đến bản thân mình, muốn con mình phải theo cách này hay cách kia. Khi con của chúng ta muốn mặc quần áo theo cách này hay cách kia và chúng ta lại không thích cách ăn mặc như vây, khi đó có tâm từ hay không, hay là có sự dính mắc muốn theo ý của mình? Với Trí tuệ, ta sẽ trở thành một người đồng cảm hơn. Hiểu biết đúng sẽ tạo duyên nhiều thêm cho tâm từ thực sự sinh khởi cùng với Trí tuệ và khi ấy con cái sẽ cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều.

Học viên 2:    Xin Achaan chỉ dẫn thêm về cơ cấu sinh và diệt của sắc. Bởi vì con đọc sách Vi diệu pháp thấy rất phức tạp, có quá nhiều loại sắc pháp và còn cả thông tin rằng một số citta cũng sinh ra được sắc. Cái này nó quá khó hiểu đối với con.

Achaan:         Bạn muốn nói gì về cơ cấu?

HV 2:             Đó là làm thế nào mà sắc có thể sinh và diệt?

Achaan:         Nếu như không có những cái duyên để sắc sinh khởi thì sắc sẽ không thể sinh khởi. Chẳng hạn về những sắc do nhiệt sinh, chỉ có nhiệt độ tương ứng mới có thể tạo duyên cho những sắc như thế, ta thấy có nhiều loại trái cây khác nhau và loại cây khác nhau, đó là những loại sắc chỉ được tạo duyên do nhiệt độ mà thôi. Kể cả núi, mưa hay sấm sét, nước v.v… tất cả những cái đó đều được tạo duyên bởi nhiệt độ. Chúng ta thấy cỏ ở khắp mọi nơi. Nhiệt độ tạo duyên cho sự sinh khởi của những loại sắc ấy thì khác với nhiệt độ tạo duyên cho những bông hoa hồng hay hoa lan. Vì vậy ta học về những loại nhiệt độ nào có thể tạo duyên cho những sắc như thế. Nếu ta đi ra ngoài trời nắng, phơi nắng trong hai tuần thì điều gì xảy ra đây? Khi ấy sẽ bị rám nắng, cháy người, hoặc có thể có những bệnh sẽ sinh khởi.

Sarah:            Có bốn duyên làm cho sắc sinh khởi: nhiệt độ, nghiệp, tâm, dưỡng chất. Thứ nhất về nhiệt độ, tất cả những sắc ở ngoài thân thì đều được tạo duyên bởi nhiệt độ. Đối với con người thì còn thêm ba nguyên nhân nữa tạo ra sắc, ngoài nhiệt độ: nghiệp, tâm và dưỡng chất. Về Nghiệp-kamma, ở khoảnh khắc đầu tiên của một kiếp sống, sắc được tạo ra là do nghiệp. Nghiệp không chỉ tạo ra quả là khoảnh khắc của cái thấy cái nghe mà cả các loại sắc như tâm cơ hay sắc tính nam, sắc tính nữ, hay nhãn căn, nhĩ căn… Nhiệt độ thì cũng tạo duyên cho sắc trên thân, chẳng hạn khi nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh có thể khiến cho người bị run.

Một nguyên nhân sinh sắc nữa là tâm -citta, chẳng hạn khi ta nói một điều gì đó sai thì ta thấy ngại và đỏ mặt, những cái sắc như vậy được tạo duyên tâm. Dưỡng chất cũng tạo duyên cho sắc trên thân. Nếu chúng ta không ăn gì cả thì sẽ không có dưỡng chất nào để có thể hỗ trợ cho sắc trên thân. Mỗi khi sắc được tạo duyên để sinh khởi, nó tồn tại trong thời gian bằng 17 satna tâm và diệt đi ngay lập tức.

HV 2:             Tâm cũng là một duyên để sinh ra sắc. Rõ ràng trong các ví dụ khi tâm vận hành thì sắc nó vận hành theo nhưng con lại vẫn nghĩ rằng các sắc tương tác với nhau để tạo thành sắc khác nhau do cái duyên của tâm, chứ không thể tự nhiên tâm lại tự sinh ra sắc được, nghe có vẻ rất khó hiểu.

Jonathan:     Thực chất thì sắc không hề có sự tương tác lẫn nhau, nhưng sắc thì có nhiều nguyên nhân để được tạo ra, chứ không phải chỉ một nguyên nhân. Những sắc ở trên thân có thể được tạo duyên bởi nghiệp hoặc nhiệt độ hoặc tâm hoặc dưỡng chất ở những thời điểm khác nhau, chứ không phải một số sắc tương tác với nhau tạo thành sắc khác do tâm tạo duyên như là bạn đã nói.

Sarah:            Không có một sắc nào có thể sinh khởi một mình, chúng sinh khởi nhờ sự hỗ trợ của những sắc khác, ít nhất luôn luôn có 8 sắc sinh khởi cùng nhau, tạo thành tổ hợp sắc gọi là kalapa. Đó là lý do mà trước đó Achaan có nói rằng nếu như không có tứ đại thì đối tượng thị giác sẽ không thể sinh khởi để được thấy. Mặc dù có ít nhất là 8 loại sắc sinh khởi trong một tổ hợp sắc như vậy, nhưng chỉ có một đặc tính của một sắc xuất hiện (được kinh nghiệm) tại một thời điểm mà thôi. Chẳng hạn đối tượng thị giác được hỗ trợ bởi những loại sắc khác như địa, thủy, phong đại, mùi hay vị, nhưng duy nhất chỉ có đặc tính được thấy xuất hiện ở thời điểm có cái thấy. Như vậy cho thấy những duyên cho các sắc sinh khởi rất phức hợp.

HV 2:             Khi đọc sẽ thấy những câu như là tâm sinh sắc thì mình không nên hiểu một cách hẹp rằng là tâm nó tạo ra một sắc, mà phải hiểu rằng tâm nó tạo duyên cho sắc sinh khởi và sắc sinh khởi đó còn nhiều yếu tố khác nữa đúng không?

Sarah:            Khi một sắc sinh khởi thì nó không sinh khởi một mình. Cho nên mặc dù sắc ấy được tạo duyên chính bởi tâm nhưng nó cũng cần những sắc khác để hỗ trợ cho nó sinh khởi. Trong ví dụ về trường hợp sắc được sinh bởi tâm, nếu ta không nghĩ đến lỗi lầm mà ta đã làm thì ta sẽ không đỏ mặt, sẽ không có sắc mà thể hiện ra là sự đỏ mặt ấy, vì như vậy nó được duyên bởi tâm nhưng cũng cần có những yếu tố khác nhau cho nó sinh khởi.

Mục đích của việc thảo luận về những chủ đề như thế này, chẳng hạn như sáng nay ta nói về đối tượng thị giác và cái cứng, là để chỉ ra rằng tất cả thực tại ấy không sinh khởi do một ý muốn của ai đó, mà chỉ sinh khởi do duyên mà thôi. Nếu như ta nói về đối tượng thị giác, dù đó là đối tượng thị giác ở bên ngoài thân và được tạo duyên bởi nhiệt độ, hay những đối tượng thị giác mà được cho là thân và do duyên của nghiệp tạo thì chúng chỉ là những thực tại hữu vi do duyên tạo mà thôi. Nếu như có một nghiệp khiến cho nhãn thức có thể sinh khởi cùng sắc ấy, thì cái thấy đó cũng lại là một thực tại được tạo duyên khác chứ không phải là ai đó đang thấy.

Khi sắc sinh khởi, mặc dù tuổi thọ của sắc cũng rất ngắn, nó sinh và diệt ngay lập tức, nhưng tuổi thọ của nó vẫn dài hơn tuổi thọ của tâm, thời gian tồn tại của nó kéo dài 17 lần so với tuổi thọ của tâm. Đây chính là lý do mà ta nói rằng, khi một sắc sinh khởi, nó không chỉ được kinh nghiệm bởi nhãn thức mà nó cũng được kinh nghiệm bởi các cái thức khác sinh khởi trong cùng lộ trình đó, bởi vì khi đối tượng thị giác được kinh nghiệm bởi nhãn thức, nó vẫn chưa diệt đi, cho nên lại có những tâm khác sinh khởi để kinh nghiệm cũng vẫn sắc đó cho đến khi nó diệt đi hoàn toàn.

Cũng vì vậy mà hôm qua Achaan có đưa ra ví dụ về một đứa trẻ sơ sinh, hay khi ta nghe âm thanh như tiếng sấm, thì kể cả khi ta chưa biết âm thanh đó là gì thì đã có sân sinh khởi với âm thanh là tiếng sấm ấy, còn khi nghe được âm thanh du dương, kể cả khi ta vẫn chưa biết âm thanh đó là gì thì đã có sự dính mắc vào âm thanh ấy. Lý do là bởi vì sắc vẫn chưa diệt, cho nên vẫn có cái tâm khác đang kinh nghiệm sắc đó sau khi nó diệt di.

HV 2:             Nếu một khoảnh khắc sinh và diệt của sắc dài bằng 17 lần khoảnh khắc sinh và diệt của tâm, liệu có thể hiểu máy móc là chỉ có cao nhất 17 tâm sinh khởi khi sắc sinh và diệt hay không? Tại sao nó không phải là 24 hay 30, rất có thể có khả năng đó.

Jonathan:     Những tâm sinh khởi trong cõi này sinh khởi theo từng chuỗi. Những tâm kinh nghiệm sắc là những tâm sinh khởi liên tiếp trong một chuỗi tâm kinh nghiệm sắc ấy. Lộ trình ấy sẽ chấm dứt khi sắc đó diệt đi. Theo kinh điển, chúng ta được biết rằng tuổi thọ của sắc làcố định, nó không thay đổi, nên nó chỉ được kinh nghiệm bởi 17 tâm chứ không thể hơn thế. Nếu như sắc đó đã sinh khởi trước khi các tâm lộ sinh khởi kinh nghiệm sắc đó, thì số lượng tâm kinh nghiệm sắc đó sẽ ít hơn là 17.

HV 2:             Vừa rồi chúng ta nói đến vấn đề là danh hay sắc sinh khởi nhanh như vậy, khi mình luyện tập một hiểu biết đúng thì tâm của mình có đủ sắc bén để nhận ra, để hiểu biết khoảnh khắc nhanh như vậy hay không? Hiểu biết đúng dường như chưa đủ vì tâm của ta phải giống như một máy vi tính phi thường thì may ra nó mới có thể kinh nghiệm những khoảnh khắc đó, có phải như vậy không?

Jonathan:     Trong sự phát triển của trí tuệ thì khi khởi đầu, trí tuệ còn rất yếu ớt. Trong khi những chi tiết về tâm và sắc mà chúng ta nói đến thì chỉ có thể được biết bởi trí tuệ của một Vị Phật mà thôi. Như vậy sự thực ấy không nhất thiết phải được chứng ngộ bởi một ai đấy trước khi thời điểm có trí tuệ phát triển đến mức độ giác ngộ. Tuy nhiên trí tuệ ở mức độ cao sẽ mạnh mẽ hùng hậu hơn rất nhiều bất cứ loại siêu máy tính nào mà ta có thể nghĩ đến trong tương lai.

HV 2:             Câu hỏi cuối cùng trong chuỗi này là, vậy có lời lý giải khoa học nào về nghiên cứu não bộ cũng như là các cơ quan thần kinh có thể liên quan đến vấn đề này hay không?

Sarah:          Nhưng não bộ hay hệ thống thần kinh chỉ là những khái niệm.

HV 2:             Bạn nói não bộ chỉ là khái niệm, nhưng trên thực tế các chức năng của não bộ quan sát và ghi nhận tất cả các hoạt động của thực tại.

Sarah:            Nếu là thực tại thì nó có thể được kinh nghiệm qua căn nào? Nhãn thức có thể thấy não bộ và hệ thống thần kinh không? Não bộ và hệ thống thần kinh là thực tại hay khái niệm?

HV 2:             Nó là cả hai

Sarah:          Nếu nó là thực tại thì nó được kinh nghiệm qua căn nào? Qua mắt, tai, mũi, lưỡi hay thân.

HV 2:             Thông qua thân căn cũng như cơ quan khác như trái tim chẳng hạn, khi chúng ta để tâm lắng nghe thì chúng ta có thể thấy được sự rung động của trái tim.

Sarah:           Sáng nay chúng ta có nói rằng, chúng ta cứ tưởng là chúng ta chạm vào cái bàn, nhưng về mặt thực tại thì cái được kinh nghiệm chỉ là đặc tính cứng, nhiệt độ nóng lạnh hay tính căng trùng. Khi chúng ta nói rằng chúng ta chạm vào cái bàn hay cái cốc thì thực ra đó chỉ là những ý niệm mà thôi, chứ không phải là bản chất của thực tại khi ấy. Khi ta nói về cái được kinh nghiệm qua thân căn, ví dụ phổi hay gì đó, thì có thực sự  phổi là cái được xúc chạm hay không? Như vậy cái được chạm thì không phải là phổi mà chỉ có cứng mềm nóng lạnh được xúc chạm và sau đó có suy nghĩ rằng đó là phổi đang được chạm. Giống hệt như bây giờ đang có sự xúc chạm, thực chất cái được kinh nghiệm là cái cứng, nhưng sau đó có ý niệm là cái được chạm là cái bàn.

Cũng vậy, dường như chúng ta có thể nghĩ rằng có sự xúc chạm với cả bộ não hay hệ thống thần kinh nhưng về mặt thực tại thì chúng chỉ được biết qua suy nghĩ mà thôi. Bởi vì cái thấy chỉ thấy đối tượng thị giác, cái nghe thì chỉ nghe âm thanh, sự xúc chạm thì chỉ chạm vào cái cứng, mềm nóng lạnh hay sự chuyển động. Như vậy, phải có suy nghĩ tiếp theo nghĩ đến não bộ hay hệ thống thần kinh. Giáo lý của Đức Phật vẫn luôn phải quay về với khoảnh khắc hiện tại. Khi chúng ta nghĩ đến bộ não và hệ thống thần kinh thì thực tại lúc đó là suy nghĩ. Não bộ hay hệ thống thần kinh chỉ là những khái niệm mà thôi, cũng giống như khái niệm cái bàn.

Achaan:         Vậy bạn có muốn biết về não bộ hay không? Hay là chúng ta chỉ nói mà không biết não bộ thực sự là gì? Vậy não bộ là gì trong suy nghĩ của bạn?

HV 2:             Não bộ là trung tâm của các quá trình xử lý thông tin.

Achaan:         Nhưng thực tại của cái mà ta cho là não bộ là gì? Não bộ có khả năng kinh nghiệm cái gì không?

HV 2:             Nó có thể kinh nghiệm đối tượng qua thân căn.

Achaan:         Nếu nó có thể kinh nghiệm thì hẳn nó phải là tâm hoặc tâm sở

HV 2:             Nó là sắc.

Achaan:         Vậy thì nó không thể kinh nghiệm cái gì cả, nó không có khả năng kinh nghiệm. Ở khoảnh khắc đầu tiên của kiếp sống thì có não bộ hay không?

HV 2:             Không. Nó là một tế bào.

Achaan:         Một tế bào là gì?

HV 2:             Rupa (sắc).

Achaan:         Tại sao?

HV 2:             Vì nó gồm những yếu tố như phong đại, địa đại v.v

Achaan:        Bởi vì nó là một thực tại không kinh nghiệm gì cả nên nó là sắc. Phân loại của các thực tại là như vậy, những đặc tính ấy không bao giờ thay đổi. Có một loại thực tại không bao giờ có khả năng kinh nghiệm gì cả, dù ta có thấy nó hay không. Và một loại thực tại khác kinh nghiệm một cái gì đó, nhưng ta không thể nhìn thấy nó bằng mắt được, nó không phải là sắc. Vậy ở khoảnh khắc đầu tiên của kiếp sống, thực tại kinh nghiệm có thể kinh nghiệm mà không có não bộ, phải không? Bởi vì khi ấy chưa có não bộ, đúng không? Ở khoảnh khắc đầu tiên của một kiếp sống chỉ có mặt ba loại sắc được tạo duyên bởi nghiệp mà thôi. Bạn có muốn biết thêm về điều đó không? Mời cô Sarah nói tiếp.

Sarah:            Thức tái tục mà ta đang nói tới là khoảnh khắc đầu tiên của một kiếp sống, mà về thực chất là khoảnh khắc của sự thụ thai. Nghiệp tạo duyên cho thức đó sinh khởi cũng tạo duyên cho sự sinh khởi của các nhóm sắc khác nhau. Loại sắc thứ nhất là tâm cơ, thứ hai là sắc tính nam hoặc sắc tính nữ xác định giới tính của đứa trẻ, và loại sắc thứ ba là thân căn.

Achaan:         Những sắc đó nhỏ vô cùng và không thể được thấy. Nhưng có những  duyên để làm cho các sắc đó tăng trưởng, lớn mạnh. Dù chúng ta có nghĩ đến những thứ như não bộ hay hệ thống thần kinh, chúng vẫn chỉ là sắc mà thôi. Kể cả khi không có sắc thì ở một số cõi khác, vẫn có sự sinh khởi của tâm và tâm sở.

Học viên 13: Câu hỏi về vai trò của não bộ trong thực tại vừa rồi, con bổ sung thêm vài ý là não bộ là một cơ sở để cho tâm sinh khởi. Nó là khái niệm nhưng nó là cơ sở cho tâm sinh khởi. Sắc làm cơ sở cho nó sinh khởi là tâm cơ.

Achaan:         Tâm cơ thì là sắc hay là danh? Nó có thể kinh nghiệm gì không?

HV 13:           Nó là sắc.

Achaan:         Chỉ vậy thôi sao? Dù chúng ta có đặt tên những cái đó là não bộ hay cái gì khác thì cần phải hiểu đó chỉ là sắc mà thôi, và rằng những sắc đó phải luôn sinh khởi cùng tứ đại và cùng với những sắc khác không thể tách rời bao gồm màu, mùi, vị, dưỡng chất. Đó là những thực tại không kinh nghiệm gì cả, chỉ có tâm mới có thể kinh nghiệm mà thôi. Tại khoảnh khắc của cái thấy thì não bộ ở đâu?

HV 13:           Xét về thực tại thì chúng ta không thể thấy não bộ.

Achaan:         Chính vì vậy trong các sắc có 5 loại sắc thần kinh và được gọi là nội sắc, đó là những sắc có thể tiếp xúc được vào những đối tượng như đối tượng thị giác, âm thanh mùi vị và xúc chạm.

Sarah:           Có phải bạn nói đến tâm cơ theo ý tâm cơ nghĩa là não phải không?

HV 13:            Tôi không biết tâm cơ có phải là não hay không, hay là não là một phần của tâm cơ, hệ thống thần kinh. Tóm lại nó ở trong cơ thể.

Học viên 2:     Khi não mất chức năng không hoạt động, thì lúc đó tâm như thế nào, chuyện gì sẽ xảy ra?

Jonathan:       Theo quan điểm của chế định, của khoa học thì người ta cho rằng tâm phụ thuộc vào não bộ và hệ thống thần kinh để có thể hoạt động. Nhưng theo Giáo lý của Đức Phật thì trên thực tế sự thực hoàn toàn khác như vậy. Cuộc sống của tâm phụ thuộc vào nghiệp. Những khoảnh khắc kinh nghiệm các đối tượng qua ngũ quan là khoảnh khắc của tâm quả. Ở khoảnh khắc của cái thấy chẳng hạn, nhãn căn được tạo duyên bởi nghiệp và là một trong năm nội sắc mà Achaan nói tới, và nghiệp cũng tạo duyên cho thức sinh khởi. Một duyên cần thiết nữa là phải có đối tượng thị giác sinh khởi để có thể được kinh nghiệm. Trong sự mô tả về thực tại, không hề có vai trò của não bộ hay hệ thống thần kinh. Chừng nào có các duyên để những yếu tố như vậy sinh khởi cùng một lúc thì sẽ có khoảnh khắc kinh nghiệm cái thấy. Nhưng theo chế định, ta nói não bộ thì có sự tham gia vào đó. Có thể có nghiệp sinh khởi ngăn chặn việc có kinh nghiệm một số đối tượng qua một số căn cụ thể nào đó, chứ không phải do có vấn đề của não bộ. Nguyên nhân sâu xa chính yếu của việc không có chức năng hoạt động bình thường là nghiệp quá khứ.

HV 2:               Theo ông nói thì nếu một người bị hỏng não và tâm nó không hoạt động, nguyên nhân sâu xa là do nghiệp, chứ không phải là nguyên nhân do sự hỏng não đó. Tôi chưa hiểu rõ lắm.

Jonathan:        Cái mà chúng ta gọi là tổn thương não bộ thì về mặt thực chất là có một số kinh nghiệm qua một số giác quan cụ thể không thể sinh khởi.

Người phiên dịch:    Chẳng hạn khi bị liệt, tức là khi không có kinh nghiệm về sự xúc chạm thì có nghĩa là khi ấy nghiệp tạo duyên cho sắc là thân căn không sinh khởi hoặc là không có sự trổ quả của nghiệp tạo duyên cho thân thức sinh khởi khi ấy.

Sarah:            Chẳng hạn một người bị hôn mê thì khi đó tâm không dừng lại, tâm vẫn tiếp tục hoạt động. Tùy thuộc vào nhiều yếu tố như nghiệp, nhiệt độ v.v… mà loại tâm nào sinh khởi và kinh nghiệm đối tượng gì. Chúng ta có thể nghĩ đến não bộ bị tổn thương hay thần kinh như thế này thế kia, nhưng trên thực tế, Đức Phật chỉ dạy chúng ta về 28 loại sắc. Những cái mà chúng ta gọi là não bộ, phổi, hệ thống thần kinh…chỉ là những ý niệm được hình thành từ những thực tại ấy. Như vậy một người không còn thấy được nữa sâu xa là kết quả của nghiệp chứ không phải do não bộ có vấn đề.

Achaan:          Hiện giờ tâm có sinh khởi hay không? Nó sinh khởi ở đâu? Nó sinh khởi bên ngoài hay bên trong của thân đây?

HV 13:            Bên trong

Achaan:          Ở cõi có ngũ uẩn, nếu không có thân (sắc) thì liệu tâm có thể sinh khởi hay không? Vậy thì nó phải ở đâu đó trong thân, tùy thuộc vào loại tâm đó là tâm gì. Vì vậy mới nói rằng có sáu cơ sở hay gọi là căn cho sự sinh khởi của tâm. Liệu suy nghĩ có thể sinh khởi ở nhãn căn không?

HV 13:            Không

Achaan:           Vậy sáu căn cho tâm nương vào để sinh khởi đó là gì? Nhãn thức sinh khởi ở nhãn căn. Nhãn căn nằm ở đâu? Nó nằm ở giữa con mắt, chúng ta không thể thấy nó được. Cái có thể được thấy thì chỉ là màu, tức là một phần của cái mà chúng ta gọi là tổ hợp sắc. Nó có sinh và diệt hay không? Ở khoảnh khắc của cái thấy, nhãn căn đã diệt đi chưa hay vẫn còn? Nếu không có nhãn căn thì có thể có cái thấy không? Như vậy nhãn căn sinh khởi trước đó, và ở khoảnh khắc thấy, nó vẫn còn chưa diệt đi. Còn đối tượng thị giác thì sao?  Nó có sinh khởi tại khi đó không? Đối tượng thị giác đã sinh khởi ở khoảnh khắc trước khi có cái thấy, để có thể tạo duyên cho cái thấy sinh khởi. Ở khoảnh khắc thấy, cái thấy (nhãn thức) sinh khởi nơi nhãn căn. Ngoài ngũ song thức – bao gồm mỗi thứ hai cái là nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức – thì tất cả những tâm khác đều sinh khởi nơi ý căn- hay tâm cơ. Tâm cơ có là thực không? Tâm cơ có cứng không?

Achaan:          Đúng vậy. Đặc tính cứng thì không phải là tâm cơ, nó là địa đại, nhưng nếu không có địa đại thì không thể có tâm cơ sinh khởi. Cũng như vậy với tất cả những căn khác, chúng đều phải sinh khởi với sự hỗ trợ của tứ đại. Tứ đại thì làm duyên cho bốn sắc phụ khác. Trong một tổ hợp sắc vô cùng nhỏ cũng có thể có một sắc thần kinh tương ứng, ví dụ như là tâm cơ và nhãn căn – nhưng chỉ một trong các sắc thần kinh mà thôi. Chẳng hạn nếu có nhãn căn trong một tổ hợp sắc thì sẽ không có nhĩ căn ở đó. Nhĩ căn có nóng không?

Ai đó trả lời:  Có

Achaan:          Không thể nào. Nhĩ căn và đặc tính nóng là những sắc khác nhau. Mặc dù nhĩ căn sinh khởi cùng tứ đại, và tứ đại có đặc tính nóng lạnh…, nhưng bản thân nhĩ căn thì có đặc tính khác, nó không nóng nhưng nó sinh khởi cùng với đặc tính nóng. Đặc tính nóng hoàn toàn không phải là nhãn căn hay nhĩ căn. Đó là một loại thực tại khác, nó không thể tạo duyên cho cái thấy, cái nghe sinh khởi. Nó có ở đó – nóng ở đó, lạnh ở đó, sự căng, trùng ở đó, sự kết dính ở đó, nhưng bản thân chúng thì không phải là nhãn căn hay ý căn. Bên cạnh các sắc trong một tổ hợp sắc gồm 8 sắc bất ly có thể có một sắc là sắc nhãn căn hoặc nhĩ căn, và còn một loại sắc khác, đó là sắc mạng căn.

Ta có thể thấy được tại sao có sự khác biệt giữa con mắt có thể thấy và con mắt trong bức tranh, chúng không giống nhau. Có rất nhiều điều cần phải được học và biết ở trong cái thân này. Cái mà chúng ta coi là bộ não hay phổi hay máu thực chất là sự tổng hợp của rất nhiều loại sắc khác nhau. Nhưng về mặt chân đế chỉ có bốn loại sắc gọi là tứ đại mà thôi. Nếu không có tứ đại thì tất cả sắc khác không thể sinh khởi. Chính vì vậy, có lúc Đức Phật nói về sáu giới (dhatu), bao gồm tứ đại, sắc không gian và thức giới. Chúng là những thực tại căn bản. Mặc dù có các tâm sở sinh khởi cùng với tâm nhưng tâm vẫn là yếu tố dẫn đầu. Kể cả khi có nhiều sắc khác cùng sinh khởi thì vẫn cần phải có tứ đại làm cơ sở để cho chúng sinh khởi. Sắc sinh diệt rất nhanh, tuổi thọ nó chỉ lâu hơn tâm và tâm sở mà thôi. Có sáu cửa giác quan kinh nghiệm đối tượng. Liệu cái thấy thì có thể suy nghĩ không? Liệu suy nghĩ có thể thấy không? Cần phải có cả sáu giác quan thì mới có thể tạo ra được các kinh nghiệm khác nhau đó. Nếu chúng ta nói ngắn gọn thì có cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và rồi suy nghĩ. Nếu như không có suy nghĩ thì liệu có thể có ý niệm về bộ não, máu hay phổi hay không? Không thể có được. Những ý niệm đó chỉ là đối tượng của suy nghĩ mà thôi, chúng có phải là tự ngã không? Chúng là những thực tại sinh khởi do duyên và rồi diệt đi. Liệu một vị Phật hay ai đó có thể thay đổi tuổi thọ của sắc để khiến nó dài hơn hoặc ngắn hơn 17 satna tâm sinh và diệt hay không? Đây chính là sự giác ngộ của Đức Phật. Không phải là Đức Phật thay đổi thực tại mà là Đức Phật đã giác ngộ bản chất tối hậu của tất cả các thực tại.

Học viên 27:   Con muốn hỏi Achaan kinh nghiệm về danh và sắc khi chúng ta nói, giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày. Với con dường như tâm thay đổi nhanh hơn khi giao tiếp với mọi người so với khi ở nơi vắng lặng.

Achaan:           Rupa –sắc có thể nói được không? Nếu không có suy nghĩ liệu có thể nói được không? Có những khoảnh khắc có suy nghĩ nhưng không nói ra thành lời. Nếu như không có tâm thì sắc không thể tự cử động, miệng không thể tự mở ra được. Như vậy mỗi một cử động của thân đều được tạo duyên bởi tâm. Nếu không có ý định nói thì không thể có việc nói xảy ra, nếu chỉ có suy nghĩ mà thôi thì sẽ không có việc nói. Nhưng do bởi có một tâm có ý định nói nên tạo duyên cho khoảnh khắc phát ra lời nói thông qua thân, vì nếu không có thân thì tâm sẽ không thể nói ra được. Mọi người có thể hiểu được người khác nhờ việc nói ấy, bởi vì tâm tạo duyên cho điều ấy. Người ấy đang nói với tâm từ hay tâm sân, với hiểu biết đúng hay tà kiến.

HV 27:             Khi Achaan giải thích là khi nói thì phải có ý định nói, cái tâm suy nghĩ về việc nói đó phải được thể hiện qua thân. Như Đức Phật dạy phải có chánh ngữ, không nói những lời vô nghĩa, vì thế một số bạn đã hạn chế giao tiếp xã hội đi và cho rằng mình đã bớt cái khẩu nghiệp là nói những lời không cần thiết.

Achaan:           Liệu các đệ tử của Phật có nói chuyện với Đức Phật không? Liệu họ có thăm hỏi những người đến thăm hay không hay họ không chào hỏi gì nhau? Tuy nhiên sau khi nghe Pháp thì mỗi người có những tích lũy khác nhau, không phải tất cả đệ tử của Đức Phật đều thành tỳ kheo. Lấy trường hợp của vị đại cư sỹ Visakha, bà đã giác ngộ khi bảy tuổi nhưng đã không xuất gia. Bất cứ ai hiểu được đúng Giáo lý của Đức Phật thì cũng tự biết được những tích lũy riêng của bản thân – liệu nên tiếp tục tích lũy của mình để sống đời cư sỹ hay tích lũy ấy thích hợp với cuộc sống của người xuất gia. Giáo lý của Đức Phật không chỉ dành riêng cho các vị tỳ kheo mà dành cho tất cả mọi người, cho bất cứ ai có thể hiểu đúng.

Trước khi bạn được nghe Giáo lý thì tích lũy của bạn là gì? Nói nhiều hay ít nói? Trí tuệ biết điều ấy. Nếu không chúng ta sẽ không thể biết được những tích lũy mà mình có từ rất lâu rồi và vẫn còn thể hiện ở bây giờ.

Jonathan:       Quay trở lại câu hỏi đầu của bạn rằng trong hoàn cảnh có nhiều giao tiếp xã hội thì dường như tâm thay đổi nhanh hơn so với khi ta ở nơi vắng lặng một mình. Nhưng trên thực tế chúng ta biết rằng tâm luôn sinh diệt như nhau dù là ta đang ở đâu và làm gì, chứ không phải lúc này thì nó chậm và lúc kia thì nhanh. Vậy cái gì là cái khiến cho chúng ta có cảm giác là trong một số trường hợp thì tâm thay đổi nhanh hơn trong một số trường hợp khác?

HV 27:             Khi sáu căn đều mở ra và phải bắt nhiều đối tượng khác nhau cùng một lúc.

Jonathan:       Dù chúng ta ở đâu đi nữa, ở một mình hay với nhiều người thì về thực chất, lúc nào sáu căn cũng mở ra và hoạt động như vậy thôi. Câu này tương tự như câu hỏi về chánh niệm ở nơi làm việc. Dù ở nơi làm việc hay ở đâu thì sáu căn vẫn luôn hoạt động. Dù ở đâu chăng nữa thì luôn có ngũ căn và ý căn hoạt động. Đương nhiên khi ở trong những hoàn cảnh như thế này (đàm luận về Pháp –ND) thì dễ có thêm duyên để suy xét về thực tại? Nếu như Trí tuệ vẫn còn yếu ớt thì khi ở trong những hoàn cảnh khác sẽ không đủ duyên để cho những suy xét về thực tại như vậy sinh khởi. Ở một nơi riêng biệt một mình không nhất thiết là một duyên cho những kinh nghiệm về thực tại sinh khởi. Bởi vì khi ấy có thể có tà kiến hoặc có mong đợi tâm thiện sinh khởi trong thời điểm đó. Vậy thì điều chính yếu tùy thuộc vào sự phát triển của hiểu biết đúng.

Học viên 19:    Con có vài câu hỏi không liên quan đến thực tại, nhưng con nghĩ nó cũng quan trọng. Con người đã sống rất nhiều kiếp, hàng a tăng kỳ kiếp. Có những vị Phật quá khứ trước Đức Phật Thích-ca, có nghĩa là loài người đã sống trên quả đất này rất lâu rồi. Tuy nhiên khảo cổ học ngày nay chưa thể phát hiện được bằng chứng nào chứng tỏ loài người hiện tại sống cách đây khoảng vài chục ngàn năm về trước, nhưng người ta có tìm thấy bằng chứng động vật thân mềm, thân cứng đã tồn tại hàng trăm triệu năm. Bên cạnh đó người ta lại tìm thấy bằng chứng về loài người chưa phát triển. Vậy thì có sự mâu thuẫn gì trong Giáo lý hoặc có việc gì đấy chưa ổn trong nền khoa học?

Sarah:              Cái mà ta biết là dù ở thời đó hay là bây giờ thì vẫn chỉ có danh và sắc mà thôi. Chúng ta cũng biết rằng Đức Phật có nói về những điều bất khả tư nghì, trong đó có sự khởi đầu của thế giới. Chẳng hạn chúng ta có thể biết được về cuộc sống ở trong cõi này, những liệu chúng ta có biết được những kiếp sống ở những cõi khác trong vô lượng kiếp trước không? Liệu các nhà khoa học có thể biết gì về những cõi như chư thiên hay cõi khác không? Đối với tôi thì chúng ta có thể phỏng đoán không bao giờ ngừng về tất cả những câu hỏi này, nhưng điều ấy không giúp cho chúng ta phát triển hiểu biết một chút nào cả.

Achaan:            Cái thấy có phải là con người, chư thiên hay động vật hay không?

HV 19:               Không phải

Achaan:            Tại sao?

HV 19:               Cái thấy là pháp sinh khởi, các chư thiên và loài người là khái niệm.

Achaan:             Thế còn từ “cái thấy”, nó không phải là khái niệm hay sao?

HV 19:               Ngôn từ thì là khái niệm.

Achaan:            Vậy thì từ “cái thấy” đó cũng là khái niệm giống như chư thiên, nhưng thực tại là cái thấy thì nó có thể là chư thiên hay động vật hay không? Nếu như không có hình, dạng thì liệu ai có thể nói rằng đây là một chư thiên đang thấy, một con vật đang thấy hay một con người đang thấy hay không? Thực tại là cái thấy không phải là sắc, nó là một thực tại mà khi sinh khởi thì kinh nghiệm đối tượng và rồi diệt đi, nó không có hình dạng. Nếu như không có cái hiểu về những gì đang xuất hiện hiện giờ thì liệu có thể có cái hiểu về những thứ khác hay không? Bởi vì những thứ mà bạn mong muốn hiểu biết thì chưa tới. Cái đã qua đi rồi thì cũng không thể là đối tượng của hiểu biết.

Câu hỏi online: Trong cuộc sống hàng ngày nên luôn có ý thức là có vô minh che lấp cái thấy cái nghe, cộng với ghi nhận trên thân và tâm diễn ra liên tục trong các khoảnh khắc. Sự thực hành như vậy sẽ làm duyên cho các thiện pháp sinh khởi như chánh niệm hay tinh tấn, phải không ạ?

Achaan:              Nếu như ta nói đến chánh niệm của Bát Chánh Đạo, cũng phải nói đến hiểu biết đúng ở cùng khoảnh khắc đó, bởi vì nếu không có hiểu biết đúng, sẽ có ý niệm là tôi chánh niệm hay tôi đang biết. Khi nói tôi đang có cử  động và hay biết cử động ấy v.v, đó hoàn toàn không phải là chánh niệm của Bát chánh đạo. Chẳng hạn ai đó nói rằng tôi đang chánh niệm, thì phải hỏi xem đối tượng của chánh niệm ở khoảnh khắc đó là gì. Chỉ có một thực tại ở một thời điểm, và chính vì vậy mà không thể nào nói một người có chánh niệm suốt cả ngày. Nếu như không có hiểu biết vững chãi về các thực tại hiện giờ đang xuất hiện, sẽ không thể nào có duyên cho chánh niệm sinh khởi cùng hiểu biết đúng về thực tại là vô ngã. Chẳng hạn có chánh niệm về đối tượng thị giác ở khoảnh khắc này hay không? Nếu ai đó thấy rằng ta đang có chánh niệm thì phải hỏi đối tượng của chánh niệm khi ấy là gì?

Học viên 2:         Đối tượng thị giác, âm thanh, cái cứng, cái mềm..

Achaan:               Đúng đó là những thực tại có thể là đối tượng của chánh niệm, nhưng có thực sự có chánh niệm sinh khởi về các thực tại đó hay không? Cái thấy có thể sinh khởi mà không có duyên tạo ra nó hay không? Cũng như vậy Trí tuệ không thể sinh khởi nếu như không có duyên cho nó sinh khởi.

Vị sư 1:               Những khoảnh khắc thông thường ta luôn có ý niệm là đang xảy ra cái biết, cái thấy, cái nghe nhưng có những khoảnh khắc ở đó không có thấy, không có nghe gì nữa. Lúc đó dường như có một chút sợ hãi, nó muốn níu lại để được thấy và nghe. Đó có phải là những ý tưởng về ngã?

Sarah:                Câu hỏi này liên quan đến việc dính mắc vào kết quả, vì ta rất muốn có chánh niệm, thì ta có thể tưởng tượng rằng mình có thể chánh niệm một cách liên tục, nhưng thực ra vẫn luôn luôn có ý niệm tôi đang biết hay tôi đang chánh niệm, hoặc tôi có chánh niệm về một số thực tại nào đó, và tôi thấy buồn khi không có chánh niệm.  Đây chính là con đường của sự dính mắc và của ý niệm về ngã muốn làm cho chánh niệm sinh khởi, chứ không phải là cái hiểu cùng với sự xả ly. Hiểu biết không nghĩ hay không bận tâm đến cái việc liệu ta đã có bao nhiêu chánh niệm rồi. Nó không hề có ý niệm về chánh niệm liên tục, và không bận tâm về việc vẫn chưa có hiểu biết hay vẫn chưa có chánh niệm. Chúng ta quay về với việc là thực tại nào đang ở đó hiện giờ, dù đó là tham, sân hay bất cứ cái gì đang xuất hiện. Mong muốn hay cố gắng để có chánh niệm cũng có thể được biết là chỉ là một thực tại mà thôi. Đó cũng là những thực tại sinh và diệt, không đáng để bám víu vào, dù chỉ là một khoảnh khắc mà thôi. Kể cả chánh niệm và Trí tuệ cũng là khổ và không đáng bám víu vào. Như vậy thì không nên suy nghĩ về việc có nhiều hay ít chánh niệm, bởi vì ở khoảnh khắc như vậy, luôn có mong muốn đạt được kết quả cho bản thân.

Vị sư 1:               Những khoảnh khắc hiện tại này về những phiền não xảy ra che lấp những sự thật và nó tạo những suy nghĩ mà ta nghĩ là nó là đúng đắn nhưng kỳ thực nó lại không đúng đắn.

Sarah:                 Phiền não lớn nhất và nguy hiểm nhất là tà kiến. Chẳng hạn ở khoảnh khắc cố gắng có chánh niệm liên tục với ý niệm về ngã hay cố gắng nắm bắt thực tại. Ở khoảnh khắc đó là sự thực hành sai lầm đi kèm với tà kiến. Chính cái đó là bước cản, nó che lấp con đường phát triển hiểu biết đúng đắn, cái phải xảy ra một cách tự nhiên. Cũng như những gì Achaan đã nói với bạn trẻ kia, rằng, nếu trước đây khi chưa biết Giáo pháp một người vốn hay nói, và bây giờ khi biết tới Giáo pháp cho rằng cần phải nói ít hơn để phát triển chánh niệm thì đó là một cái hiểu sai lầm, bởi vì đã không có hiểu biết về những gì tích lũy vốn rất bình thường trong cuộc sống hàng ngày. Trong suy nghĩ ấy vẫn có ý niệm về một nơi chốn đặc biệt, một thời điểm đặc biệt,  chính ý niệm như vậy sẽ cản trở hiểu biết đúng sinh khởi ngay hiện giờ.

Jonathan:          Chúng ta vẫn có xu hướng cho rằng sự dính mắc vào ngũ dục là một cản trở cho chánh niệm. Tất nhiên là chánh niệm thì nó không thể sinh khởi cùng một lúc ở những khoảnh khắc mà có những phiền não như vậy. Nhưng nếu chúng ta hiểu rằng sự phát triển của Trí tuệ là sự phát triển hiểu biết về bất cứ loại danh và sắc nào thì không có lý do nào để những thực tại ấy không trở thành đối tượng của chánh niệm và Trí tuệ. Nếu như ta có một ý niệm sai lầm về một sự thực hành sai trái thì khi ấy chúng ta sẽ có suy nghĩ sai lầm tưởng rằng cái mình đang làm đây là đúng. Khi ấy thì rất là khó để cho cái thực tại khi đó là tà kiến có thể được hiểu đúng như nó là.

Học viên 20:     Xin Achaan giải thích nghĩa của từ Trung Đạo.

Achaan:            Cái gì là Trung và cái gì là Đạo, và Đạo đó thì dẫn tới đâu?

HV 20:               Là con đường dẫn tới sự giải thoát.

Achaan:            Con đường ấy có bao nhiêu chi

HV 20:             Tám chi

Achaan:            Chi đầu tiên và quan trọng nhất là gì?

HV 20:               Chánh kiến.

Achaan:            Nó bắt đầu vào khoảnh khắc hiểu về pháp. Bất cứ cái gì đang xuất hiện hiện giờ đều rất thực, nếu chúng ta không được nghe Pháp, liệu ai biết được rằng không phải là ta đang kinh nghiệm đây? Chánh kiến sẽ tạo duyên cho việc hiểu hơn nữa rằng các thực tại là vô ngã. Khi có ý niệm về một cái ngã thì khi đó không có hiểu biết đúng, và không phải là con đường Trung đạo, chỉ đơn giản là như vậy. Khi không có cái hiểu, không có Trí tuệ thì không thể là con đường Trung đạo. Nếu như không có chánh niệm thì có thể có cái hiểu đúng về những gì đang xuất hiện hiện giờ hay không?

Chánh niệm của Bát chánh đạo là gì đây? Hiện giờ có tham hay không?

HV 20:            Có.

Achaan:           Khi trả lời “tham”, thì nó là thực tại xuất hiện với chánh niệm hay là chỉ là suy nghĩ về nó?

HV 20:             Chỉ là suy nghĩ

Achaan:           Vậy thì khi đó không phải chánh niệm về thực tại ấy mà là suy nghĩ về nó mà thôi. Cũng giống khi ta nói về thiền, nếu như không có cái hiểu thì thực ra vẫn chỉ là vô minh. Khi ta nói rằng hiện giờ đang có tham thì như vậy vẫn chưa đủ chi tiết, cần phải biết được tham ấy có đối tượng là gì và thời điểm nào. Tham ái và vô minh không thể hiểu được thực tại hiện giờ. Thế còn chánh niệm, và về cái chúng ta nói nhiều lần – về tham. Chúng ta thường xuyên nói “tham, tham, tham” hay “chánh niệm chánh niệm” mà không có cái hiểu về nó khi nó đang sinh và diệt. Mấu chốt không phải là vấn đề biết được ngôn từ để chỉ các khái niệm trong Giáo lý, mà cần phải có cái hiểu chi tiết hơn về những thực tại ấy. Chẳng hạn hiện giờ đặc tính cứng đang xuất hiện, rất bình thường đúng không? Có ai mà không biết đặc tính cứng, nhưng ai hiểu được tính cứng ấy là vô ngã? Ở khoảnh khắc chánh niệm thực sự, không có cái gì khác xuất hiện mà chỉ có thực tại đó xuất hiện mà thôi. Khi chánh niệm chưa sinh khởi, sẽ không thể hiểu cái mà chánh niệm hay biết. Nếu chỉ nghĩ “nó là đặc tính cứng”, “nó không phải là ngã” thì không đủ, vì vẫn chưa phải là khoảnh khắc hiểu một cách trực tiếp đó là một thực tại, và khác với các thực tại khác.

Trong tứ niệm xứ có nói đến chánh niệm, nhưng chừng nào không có duyên để cho chánh niệm sinh khởi thì nó không thể sinh khởi, trong khi chúng ta cứ nghĩ rằng chúng ta có chánh niệm nhưng thực chất là không phải. Ở khoảnh khắc đặc tính cứng được kinh nghiệm và chánh niệm hay biết về thực tại ấy, nó không biết về bất cứ thực tại nào khác, không hề suy nghĩ về những cái khác. Đó chính là khoảnh khắc để biết được chánh niệm là gì, vì thông thường thì không hề có chánh niệm về đặc tính cứng trong cả ngày. Mặc dù đặc tính cứng luôn sinh khởi rất nhiều lần trong ngày, nhưng do không có đủ hiểu biết, và vì chánh niệm là vô ngã, nó chỉ có thể sinh khởi khi có duyên cho nó sinh khởi mà thôi (và vì thế, đặc tính cứng mặc dù được kinh nghiệm nhưng không được chánh niệm trực tiếp hay biết về nó cùng hiểu biết đúng -ND). Khi đến thời điểm để cho chánh niệm sinh khởi, khi ấy nó sinh khởi và trí tuệ sẽ hiểu được chánh niệm chỉ là một thực tại, và rằng chánh niệm không phải là ai cả, không phải là tự ngã. Sẽ không thể có ý niệm “tôi chuẩn bị cho chánh niệm sinh khởi”, hay “cái gì sẽ làm đối tượng cho chánh niệm”. Nếu cố gắng để chánh niệm về một cái gì cụ thể thì đó không phải là chánh niệm. Bởi vì khi có hiểu biết về cái xuất hiện thì bản thân hiểu biết ấy cũng sinh khởi do duyên, không phải do sự chuẩn bị mà là do duyên. Đây là lúc để hiểu rằng tất cả thực tại đều là vô ngã. Có cái thấy, cái nghe, có suy nghĩ, có sự dính mắc, có rất nhiều thực tại hiện giờ, nhưng không hề có chánh niệm về những thực tại ấy, và chúng ta cần rất trung thực để thấy rằng thực sự là đang không có chánh niệm về các thực tại ấy. Khi nào chánh niệm thực sự sinh khởi thì trí tuệ sinh khởi cùng với nó sẽ hiểu được đặc tính của chánh niệm. Nó hoàn toàn khác biệt với khoảnh khắc không có chánh niệm. Có chánh niệm ở đó, có chánh kiến ở đó, có chánh tư duy ở đó, đó là những chi của Bát chánh đạo. Không có một tự ngã nào, không có ai ở đấy cả. Khi ấy cũng có cả chánh định nữa. Chúng ta không cần cố đạt một loại định nào khác để hiểu được điều ấy, và cũng như vậy đối với chánh tinh tấn. Con đường Bát chánh đạo sinh khởi do duyên.

Liệu sợ hãi có thể là đối tượng của chánh niệm hay không? Chỉ khi có đủ duyên cho điều ấy xảy ra mà thôi. Nhưng thông thường khi hiểu biết vẫn chưa đủ, thì điều gì xảy ra khi sợ hãi sinh khởi? Khi ấy sẽ có ý niệm “tôi sợ”, muốn không sợ, và không có cái hiểu rằng sợ hãi chỉ là một thực tại mà thôi. Vậy bản chất của con đường Bát chánh đạo là những khoảnh khắc của cái hiểu đúng về bất cứ cái thực tại nào sinh khởi. Khi không có cái hiểu về đối tượng xuất hiện rằng đó chỉ là một thực tại thì khi đó không có Bát chánh đạo. Con đường phát triển Trí tuệ phải bắt đầu từ cái hiểu đúng về mặt lý thuyết, suy xét cho đến khi khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp thực tại sinh khởi. Nếu không có hiểu biết đúng thì liệu có thể có chánh niệm đơn thuần vì ai đó bảo chúng ta làm một cái gì đó để có chánh niệm không? Khi đó có ý niệm về ngã cho rằng “tôi” có thể làm, không hề có cái hiểu về cái đang xuất hiện hiện giờ chỉ là một thực tại do duyên mà thôi. Các chi của Bát chánh đạo đều phải là Chánh: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Chánh niệm phải hay biết về đặc tính của một thực tại cùng với cái hiểu rằng đặc tính của nó là vô ngã. Ngay tại khoảnh khắc ấy, cùng một lúc có các chi chánh kiến, chánh tư duy, chánh niệm và chánh định. Trí tuệ bắt đầu phát triển để sang một giai đoạn khác của sự hiểu biết, không còn là việc suy nghĩ: hiện giờ đang có tham, hiện giờ đang có cái thấy, cái đó chỉ là suy nghĩ mà thôi.

HV 20:           Con phân vân tại sao Đức Phật dùng từ Trung đạo thay cho đơn thuần chỉ là Bát chánh đạo mà thôi?

Achaan:         Bởi khoảnh khắc đó không có tham, không có sân, và khi có hiểu biết đúng thì không có si. Khi sân sinh khởi, lúc đó sẽ có ý niệm là tôi không muốn có sân, cố gắng để không có sân thì không phải là con đường chánh đạo, bởi vì khi ấy không có cái hiểu rằng cái thực tại đó không phải là ta. Hiểu biết ở mức độ trực tiếp sẽ chi tiết hơn hiểu biết về mặt lý thuyết rất nhiều.

Học viên 21:  Xin Achaan giải thích về ngã mạn –mana?

Achaan:         Ai quan trọng hơn Tôi lúc này đây?

Kể cả khi không có tà kiến về ngã thì vẫn có sự dính mắc vào cái thuộc về “mình”

Ngã mạn chưa thể nào được tận diệt trước khi tà kiến được tận diệt, và tà kiến được tận diệt từ từ khi trí tuệ ngày càng phát triển hiểu rằng mọi thứ không phải là ngã, cho đến mức sự xả ly đủ mạnh để có thể kinh nghiệm Niết bàn. Và chỉ khi đó tà kiến về ngã mới được tận diệt.

Jonathan:       Kể cả khi đã tận diệt tà kiến về ngã thì vẫn còn ngã mạn, ngã mạn chỉ có thể tận diệt khi đạt giác ngộ trở thành vị A-la-hán mà thôi,

Achaan:          Đặc tính của ngã mạn vi tế hơn rất nhiều cái mà chúng ta vẫn thường nghĩ về.

Học viên 13:   Ngã mạn chỉ là một khái niệm thôi, chứ không phải là thực tại

Achaan:           Chẳng hạn có suy nghĩ là tôi quan trọng hơn người khác thì khi ấy có ngã mạn ở đó

HV 13:             Không. Nó là đối tượng của suy nghĩ, do đó nó là khái niệm, suy nghĩ mới là thực tại.

Achaan:           Không phải như vậy, mà là thực tại mana tạo duyên cho suy nghĩ thành lời như vậy sinh khởi,

Sarah:             Thực tại này sinh khởi cùng với tham. Ngoài việc dính mắc vào đối tượng, khi ấy cũng có cả ý niệm về sự quan trọng của bản thân. Không nhất thiết là cần phải có suy nghĩ bằng lời về điều ấy, chỉ đơn thuần là ý niệm về sự quan trọng của bản thân mà thôi.

Người phiên dịch:    Có lần Achaan có nói rằng khi ta đến một nơi và thốt lên “nơi này đẹp quá” với ý niệm “tôi đang ở một nơi đẹp” thì khi đó cũng có ngã mạn.

Achaan:          Tùy thuộc vào thực tại khi đó.

Sarah:             Chẳng hạn bây giờ có ý niệm là trang trí ở đây không đẹp như đáng nhẽ cần phải, đằng sau đã có ý niệm “tôi đã có thể làm tốt hơn thế”.

HV 13:             Ngã mạn là thực tại?

Achaan:          Tham cũng là một thực tại, nhưng tham thì không phải là ngã mạn. Tà kiến cũng là một thực tại sinh khởi cùng tham

Người phiên dịch: Tôi nghĩ có thể do cách dịch của từ mana sang tiếng Việt là ngã mạn có thể gây hiểu lầm vì có từ “ngã” trong đó.

Jonathan:       Tương tự như vậy trong tiếng anh có cụm từ “tự tôn”- self esteem, tự thấy quan trọng – nó cũng khiến chúng ta tưởng rằng có ý niệm về ngã ở trong đấy, nhưng kể cả khi ý niệm về ngã đã được tận diệt thì ngã mạn vẫn còn ở đó.

HV 13:             Ngã mạn vẫn có tà kiến ở trong đó?

Sarah:             Chúng ta có thể suy nghĩ về bản thân với các loại thực tại khác nhau, chẳng hạn nghĩ về bản thân với tà kiến cho rằng mình là cái gì đó thực sự tồn tại, hay có thể có suy nghĩ với sự dính mắc, hay suy nghĩ với ngã mạn. Kể cả khi không còn ý niệm về tà kiến nữa thì không nhất thiết là không còn ngã mạn, bởi vì ngã mạn không có nghĩa cho rằng có một cái tôi trường tồn, mặc dù không còn tà kiến đó, nhưng vẫn có ý niệm nào đấy về tầm quan trọng của bản thân mình, hay so sánh mình với người khác. Một vị Thánh Dự lưu đã tận diệt tà kiến nhưng vẫn còn ngã mạn, vẫn còn sự so sánh giữa mình và người khác. Bản thân Đức Phật mặc dù tận diệt hoàn toàn phiền não bao gồm cả ngã mạn, nhưng vẫn có khái niệm đây là Đức Phật, hay đây là những người khác. Khi sử dụng ngôn từ như vậy không có nghĩa là cho rằng có ai đó trường tồn. Tà kiến và ngã mạn là hai loại thực tại khác nhau.

Học viên 27:    Cô giải thích rõ lại, có phải mana là tâm sở dẫn đến suy nghĩ thông thường của mọi người như không ai hiểu tôi, tôi làm thế để giúp cho người này, hay là có tâm sở khác nữa.

Sarah:             Những suy nghĩ như bạn vừa nói thì rất thông thường, ở bất cứ lúc nào cũng có thể có suy nghĩ như vậy, như “không ai hiểu tôi”, “không biết từ mình dùng có ổn không”, “nếu đặt câu hỏi tôi sẽ làm rối tất cả lên”, hay “không biết mọi người nghĩ về mình như thế nào”, v.v… Tất cả những khoảnh khắc như vậy đều có thể có ngã mạn xen vào rồi.

Sadhu sadhu sadhu!

, , ,

Pháp đàm chiều 04-09-2013 tại Sài gòn

12/ Pháp đàm buổi chiều ngày 04.09.2013 tại SG.

 

Vị sư 1:          Khi nãy Achaan và cô Sarah nói về sự dính mắc, rằng tâm tham trong đời sống rất nhiều, phần lớn khoảnh khắc có vô minh và tâm tham. Chẳng hạn trong cái nhìn thì muốn thấy cái gì đó xem nó là màu xanh hay màu trắng, cái muốn đó có phải là tâm tham không?

Achaan:         Tâm thấy sinh khởi và diệt đi ngay lập tức, tâm tiếp theo kinh nghiệm cùng đối tượng với nó nhưng đảm nhận một chức năng khác. Mỗi tâm có chức năng riêng của mình. Chẳng hạn, tâm đầu tiên của một kiếp sống sinh khởi và đảm nhận chức năng tiếp nối tử thức của kiếp trước và rồi diệt đi ngay lập tức. Sau khi thức tái tục này diệt đi, nó lại được tiếp nối bởi một tâm khác, tâm này không có chức năng nghe, thấy, nếm, ngửi, xúc chạm như bình thường, mà chỉ có chức năng tiếp tục duy trì mạng sống trong kiếp đó mà thôi. Ngay cả hiện giờ, giữa khoảnh khắc của cái thấy và cái nghe cũng có những tâm ấy xen kẽ và tiếp nối để duy trì được mạng sống trong kiếp này. Như vậy chúng ta có thể mô tả là có một dòng hữu phần (hay dòng hộ kiếp), và xen kẽ có cái thấy, cái nghe, suy nghĩ v.v sinh khởi. Từ không hề có một thực tại nào xuất hiện, sau đấy lại có một khoảnh khắc của cái thấy hay một cái nghe, rồi lại có những khoảnh khắc của các tâm hộ kiếp đó. Tâm sinh và diệt tiếp nối nhau rất nhanh. Một số tâm không kinh nghiệm đối tượng qua sáu căn. Một số tâm chỉ có thể có đối tượng thị giác là đối tượng mà thôi. Một số thì chỉ có thể có âm thanh là đối tượng. Những mô tả này chính là về hiện tại, nhưng tất cả trôi qua rất nhanh nên không ai có thể biết gì về nó. Chắc chắn cần phải có tâm trước khi có cái thấy, nhưng có ai biết được không? Phải có những tâm tiếp nối cái thấy, nhưng ai có thể biết được nào? Nhưng thường thì chỉ ở những khoảnh khắc bắt đầu có tham hay sân với đối tượng, chúng ta mới biết đến cái được kinh nghiệm.

Kể cả những mức độ phiền nào rất vi tế như lậu hoặc cũng có thể được tận diệt bởi trí tuệ. Nhưng trước khi trí tuệ có thể phát triển đến mức độ ấy, cần phải có hiểu biết ở mức độ tư duy nhờ nghe những lời dạy chân chánh về sự thực của tất cả những gì đang xuất hiện hiện giờ. Khi không được nghe Pháp, không có hiểu biết đúng, vô minh và dính mắc sẽ đi liền sau cái thấy. Nhưng nếu như có hiểu biết đúng, khi không có vô minh và dính mắc, trí tuệ có thể hiểu đúng về thực tại ở khoảnh khắc đó, và đó chính là sự phát triển của hiểu biết. Khi đó thay cho bất thiện sau cái thấy sẽ có thiện hợp trí. Ở khoảnh khắc của suy nghĩ, nếu ta chưa phải một vị A la hán thì hẳn sẽ phải là thiện hoặc bất thiện. Nếu không nghiên cứu Giáo lý thì ta sẽ không thể biết được loại tâm đang suy nghĩ đó là tâm gì. Kể cả bây giờ nếu như được hỏi là những suy nghĩ đó là gì, liệu ai đó có thể nói mình đang suy nghĩ như thế nào hiện giờ không? Bởi vì suy nghĩ sinh và diệt quá nhanh. Nhưng khi trí tuệ sinh khởi, nó có thể hiểu được đặc tính của cái xuất hiện trước đó. Còn bây giờ, mặc dù thực tại xuất hiện nhưng không có hiểu biết đúng về nó.

Tại sao chúng ta cứ nói đi nói lại mãi về cái thấy, cái nghe, hay cái cứng? Đó là bởi vì chúng đang xuất hiện hiện giờ. Nếu chúng ta nói về những thứ khác, sẽ không thể có duyên để hiểu về những gì đang xuất hiện, để có thể thấy được sự khác biệt giữa khoảnh khắc trước khi được nghe Pháp và sau khi nghe Pháp. Cái cứng xuất hiện nhiều hơn hay ít hơn trước đây, kể từ sau khi được nghe pháp? Dù là trước đó hay bây giờ, mặc dù đặc tính cứng được kinh nghiệm nhưng không có hiểu biết đúng. Bất cứ khi nào có sự xúc chạm, ví dụ cầm một cái gì đó lên, thì đã có ý niệm là tôi cầm một cuốn sách, chẳng hạn, chứ không phải là sự xuất hiện của đặc tính cứng. Vậy thì cái thực sự sinh khởi lại không xuất hiện (trở thành đối tượng nhận biết của tâm – ND). Bởi cái mà chúng ta xúc chạm luôn xuất hiện với tư cách là cái bàn, cái khăn v.v… Hay cái xuất hiện ở khoảnh khắc của cái thấy xuất hiện với tư cách là những bông hoa, hay cái bàn. Tuy nhiên, cái thực sự là đối tượng của cái thấy sinh và diệt trong thời gian vô cùng ngắn ngủi, được tiếp nối bởi rất nhiều suy nghĩ về nó, đó chính là lý do khiến đối tượng ấy không xuất hiện như nó là.

Cả cái cứng và cái kinh nghiệm đặc tính cứng đó là một phần của luân hồi, nếu không có những thứ đó thì có luân hồi hay không? Bất cứ cái gì xuất hiện trong ngày đều là một phần của luân hồi. Khi chúng ta nói về luân hồi, chúng ta dễ quên đi cái cứng, trong khi nó vẫn đang có ở đó, ngay bây giờ đây. Nó cần phải được biết đúng như nó là, rằng đó không phải là cái bàn, không phải là bông hoa hay bất cứ cái gì khác. Để bớt đi sự dính mắc về ý niệm về con người hay vạn vật, cần phải có hiểu biết về thực tại đúng như nó là. Cái cứng chỉ là cứng thôi, không có gì ở trong đó cả. Đối tượng thị giác chỉ là cái được thấy, không ai trong đó cả. Chỉ có âm thanh được nghe thôi, chứ không có ngôn từ trong đó. Nếu như không hiểu điều ấy, sẽ không thể có được khoảnh khắc hiểu được thực tại là vô ngã, vì vô minh đã có ở đó. Nó không thể hiểu được các thực tại như chúng là vì khi ấy, các thực tại xuất hiện cùng nhau theo khối, với hình và dạng. Chính vì thế nếu không có hiểu biết đúng về các thực tại chân đế, sẽ luôn luôn có ý niệm về một cái gì đó- đó chính là attanuditthi (tà kiến về ngã đối với những gì bên ngoài -ND).

Vì vậy nếu như không có Giáo lý của Đức Phật thì sẽ không ai biết tới, hoặc không ai hiểu được thực tại như nó là. Chỉ khi ấy mới hiểu được ơn đức của Đức Phật, ở khoảnh khắc đó mới có Buddhanusati. Buddhanusati không phải là khoảnh khắc tụng câu đó bằng tiếng Pali mà không hề biết Đức Phật đã giác ngộ về cái gì, khi ấy sẽ không có sự an tịnh và không có niệm ơn đức Phật. Nhưng nếu có hiểu biết đúng tại khoảnh khắc của cái thấy hiện giờ, thì cũng sẽ có cái hiểu về cội nguồn của hiểu biết ấy, là bậc Giác ngộ đã thuyết giảng cho chúng ta về thực tại. Khoảnh khắc có sự an tịnh cùng hiểu biết và sự ghi ơn đức Phật như vậy cũng là một loại samatha. Nếu sự an tịnh đó lớn mạnh dần, nó có thể đạt được mức độ của sự toàn định, khi tâm an trụ hoàn toàn, không rời khỏi đối tượng nữa. Khi ta nhận thức được đâu là con đường đúng và đâu là con đường sai, khi đấy có thể niệm ơn đức Pháp (Dhammanusati). Vì vậy từng từ trong Giáo lý cần phải được nghiên cứu. Nếu trí tuệ được phát triển, ngay sau khoảnh khắc của cái thấy có thể tâm thiện sinh khởi thay cho bất thiện, và nếu Tuệ giác được phát triển hơn nữa thì thay cho thiện và bất thiện có thể có tâm duy tác sinh khởi. Chỉ khi ấy thì mới hiểu được sự khác biệt giữa tâm thiện và tâm duy tác của một vị A la hán. Tâm thiện là tâm thiện đối với bất cứ ai vẫn còn phiền não. Do vẫn còn phiền não ngủ ngầm, tâm thiện đó vẫn còn năng lực tạo quả. Nhưng khi là tâm thiện mà không còn chút phiền não ngủ ngầm nào nữa, nó sẽ không còn năng lực để tạo quả. Đó là ý nghĩa của việc một vị A la hán sẽ không còn tái sinh.

Vị sư 1:          Như Achaan nói khi có chánh niệm kinh nghiệm trực tiếp khoảnh khắc hiện tại, ngay khi đó thì phải phát sinh các chi trong Bát chánh đạo. Vậy trong khoảnh khắc kinh nghiệm thực tại đó, chức năng và biểu hiện của chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm là gì?

Achaan:         Tất cả các chi của Bát chánh đạo đều là các tâm sở nhưng chúng khác nhau, chẳng hạn tâm sở chánh kiến thì đối nghịch với tà kiến. Khoảnh khắc thấy bông hoa, tà kiến sẽ cho rằng đó là một thứ thường hằng, tồn tại kéo dài, nhưng hiểu biết đúng thì biết rằng nó rất tạm bợ, rằng nếu không có cái thấy, nó sẽ không thể xuất hiện. Nhưng những gì diễn ra thực sự vi tế hơn nhiều, hiện giờ dường như là bông hoa đang xuất hiện với cái thấy, nhưng thật ra, có rất nhiều khoảnh khắc của cái thấy, khi ta biết đến bông hoa, cả cái thấy cũng như đối tượng của cái thấy đã diệt đi rồi. Nếu không có đối tượng thị giác (cảnh sắc) thì sẽ không thể có cái thấy. Nhưng khi cái thấy sinh khởi và thấy đối tượng thị giác thì đối tượng thị giác ấy vẫn chưa diệt đi bởi vì sắc có tuổi thọ dài hơn tâm. Chính vì vậy sắc đó vẫn là cảnh duyên cho những tâm khác sinh khởi kinh nghiệm nó vì nó vẫn chưa diệt đi. Vì những khoảnh khắc đó nó sinh và diệt và tiếp nối nhau rất nhanh cho nên ta hoàn toàn không hay biết gì về những tâm đó, cho đến khi bắt đầu thấy thích và không thích đối tượng đó, khi ấy mới bắt đầu nhận ra là có cái thích hay không thích đó sinh khởi. Đức Phật dạy chúng ta rất chi tiết về từng khoảnh khắc của tâm: tâm được tạo duyên như thế nào, có bao nhiêu tâm sở sinh khởi cùng với nó, chỉ để cho người nghe suy xét xem điều được nghe ấy có đúng không. Đó chính là hiểu biết đúng, là chánh kiến. Khi không có hiểu biết đúng sẽ có tà kiến. Khi hiểu biết đúng sinh khởi, nó biết cái gì là đúng và cái gì là sai. Sư có muốn hỏi thêm gì về chánh kiến không?

Vị sư 1:          Achaan hãy chia sẻ thêm.

Achaan:         Chánh kiến là một tâm sở, nó sinh và diệt, nhân gần để nó sinh khởi là được nghe chánh pháp và suy xét về những gì được nghe một cách chân chánh. 

Về chi thứ hai của Bát chánh đạo, chánh tư duy, samma samkapa, nó cũng là một tâm sở, tâm sở này sinh khởi với hầu như tất cả các loại tâm, trừ những tâm được gọi là ngũ song thức. Ngũ song thức là năm cặp tâm quả, là quả của nghiệp: mỗi cặp bao gồm quả của nghiệp thiện và quả của nghiệp bất thiện. Khi nhãn thức diệt đi, ngay khoảnh khắc sau đó đã có tâm sở tầm sinh khởi. Trong một ngày, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt giữa cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, nó xảy ra rất nhanh như một tia chớp vậy. Bởi vì ngoài những thức đó ra, không có tâm nào khác có thể đảm nhận chức năng thấy hoặc chức năng nghe, một cái là quả thiện, một cái là quả bất thiện. Vì vậy chúng ta có thể hình dung rằng cái thấy hoàn toàn khác với những tâm khác. Đức Phật dùng thuật ngữ upatti để chỉ ngũ song thức. Ở khoảnh khắc của một trong ngũ song thức, tất cả các xứ đều phải có mặt cùng nhau ở thời điểm đó, chẳng hạn nhãn thức sinh khởi nương vào nhãn căn cùng đối tượng thị giác. Vậy, khoảnh khắc của cái thấy hoàn toàn khác với khoảnh khắc của những tâm khác, mặc dầu dường như bây giờ các tâm khác cũng đang thấy, như là tham hay sân cũng đang thấy. Nhưng trên thực tế đó là những tâm khác, chúng cũng kinh nghiệm đối tượng đó nhưng chúng không phải là cái thấy, chúng tiếp nhận đối tượng từ nhãn thức, bởi vì có tâm sở tầm ở đó. Rất khó để nói về các tâm sở, bất kể là tâm sở nào. Chúng ta đã nói rất nhiều về tâm, nhưng chừng nào đặc tính của thực tại đó chưa xuất hiện đối với hiểu biết đúng, ta vẫn chưa thể hiểu được nó một cách trọn vẹn. Chẳng hạn, nhãn thức sinh khởi cùng với bảy tâm sở khác nhau, không có thực tại nào trong đó là đối tượng được kinh nghiệm cho nên chúng không được biết. Nhưng tâm tiếp nối nhãn thức lại là một tâm sinh khởi cùng tâm sở tầm. Làm thế nào chúng ta có thể thực sự hiểu được điều ấy đây? Chúng ta mới chỉ hiểu được một khía cạnh của tâm sở, là khía cạnh mà chúng ta vẫn gọi là suy nghĩ. Tại sao mọi người lại suy nghĩ khác nhau? Đó là do bởi vitaka- tâm sở tầm. Tâm sở tầm đó sẽ chạm vào những đối tượng khác nhau, trong khi xúc chỉ làm nhiệm vụ xúc chạm mà thôi. Chức năng của phassa –xúc là chỉ xúc chạm, nếu không có vitaka thì đối tượng ấy sẽ không thể được biết sau khi có nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức v.v… sinh khởi . Chính vì vậy, các loại tâm sinh khởi sau mười tâm này phải có vitakka sinh khởi cùng. Ở khoảnh khắc của suy nghĩ thì có xúc không?

Ai đó trả lời: Có.

Achaan:         Đúng là như vậy, nhưng nó có xuất hiện hay không? Nhưng ta vẫn biết được là mình đang suy nghĩ, sở dĩ như vậy bởi vì có  đặc tính của tâm sở tầm xuất hiện, cái chỉ suy nghĩ về một đối tượng ở một thời điểm. Tất cả những tâm sở khác đều rất vi tế, rất khó nhận biết. Chẳng hạn thông thường, tâm sở tầm luôn sinh khởi cùng tâm sở tứ. Nói như vậy là để cho tất cả mọi người thấy rằng tất cả các thực tại đều là vô ngã, không ai có thể khiến một thực tại cụ thể trở thành đối tượng của chánh niệm – xúc không thể trở thành đối tượng của chánh niệm bằng ý chí. Vậy những gì chúng ta có thể biết được hiện giờ là gì nào? vẫn chưa có gì cả. Chỉ cần nghe và biết rằng hiện giờ đang có những thực tại ấy mà thôi, để tuệ giác có thể được phát triển đến mức độ bất cứ đối tượng nào cũng có thể trở thành đối tượng của nó, và mỗi một khoảnh khắc đều không thể mong đợi hay lên kế hoạch. Đó là ý nghĩa của từ vô ngã – không thể kiểm soát được.

Vừa rồi là lời mô tả về tâm sở tầm. Khi nó đi cùng với tâm sở chánh kiến, nó sẽ trở thành một chi của Bát chánh đạo mà chúng ta gọi là chánh tư duy. Chúng ta có thể nói rằng bất cứ khi nào có chánh kiến thì chánh tư duy cũng có ở đó. Nhưng vì chánh kiến vẫn chưa đủ mạnh nên tất cả những tâm sở sinh khởi cùng với tâm sở ấy đều chưa được nhận biết. Chúng ta có thể biết được tại sao tầm lại là một trong các chi của Bát chánh đạo, bởi vì chức năng của nó là nhấn vào đối tượng để chánh niệm có thể hay biết về đối tượng ấy, còn chánh kiến – trí tuệ có thể hiểu đúng đặc tính của đối tượng ấy. Có rất nhiều tâm sở khác nhau sinh khởi cùng với tâm và diệt đi cùng với tâm ngay bây giờ đây.

Sarah:            Có một số người có thể thắc mắc là tại sao Achaan lại nhấn mạnh đến chánh kiến – Yếu tố đầu tiên của Bát chánh đạo nhiều đến như vậy. Bởi vì họ quen với những ý niệm như là: đầu tiên phải có tinh tấn trước hay chánh niệm trước rồi mới có hiểu biết, hay phải có chánh định trước rồi mới có trí tuệ sinh khởi. Nhưng chúng ta đã học từ mấy ngày hôm nay rằng, nếu không có chánh kiến sinh khởi để biết được rằng các thực tại đều là vô ngã thì các tâm sở đi cùng sẽ không thể là chánh được. Ở khoảnh khắc có chánh kiến sinh khởi, chánh tư duy – samma samkapa (vitakka –tầm) sẽ làm nhiệm vụ nhấn vào đối tượng và hỗ trợ cho trí tuệ hiểu rõ hơn về đối tượng ấy. Ở khoảnh khắc có chánh kiến thì chánh niệm cũng có ở đó, nó hay biết về đối tượng ấy một cách thiện. Nó hay biết về thực tại, về đối tượng mà không hề có ý niệm là đang phải cố gắng chánh niệm. Ở thời điểm có chánh kiến như vậy thì đồng thời cũng có mặt chánh tinh tấn, chánh tinh tấn khi ấy sẽ đảm nhận chức năng của mình là hỗ trợ chánh kiến hiểu đúng đối tượng. Khi ấy chánh định cũng sẽ có mặt, trụ trên đối tượng ấy một cách đúng đắn. Ở khoảnh khắc của sự giác ngộ, mức độ định của Chánh định (samadhi) tương ứng với các tầng thiền (jhana), vì đối tượng của tâm lúc đó là Niết bàn. Đó chính là lý do mà Achaan nhấn mạnh đến chánh kiến nhiều như vậy. Bởi vì bất cứ khi nào chánh kiến có mặt thì các tâm sở đồng sinh cũng sẽ thành chánh và nó hỗ trợ cho chánh kiến, nhưng trong tất cả các chi đó thì chánh kiến chính là yếu tố dẫn đầu. Đó chính là cái giúp chúng ta không đi lệch khỏi con đường đúng và cho rằng cần phải cố gắng theo một cách cụ thể đặc biệt nào đó, hay là cố gắng có chánh niệm.

Học viên 2:   Mình nói rất nhiều về sự hiểu biết đúng đắn- trí tuệ, nó có những thang bậc khác nhau để chúng ta có thể đo được trí tuệ của chúng ta đến đâu không? vì rõ ràng chúng ta phải vun bồi nó từ từ, khi hành thiền minh sát thì các thiền sư hay nói về 16 tầng tuệ giác, cái đó có phải là bảng để chúng ta tham chiếu được hay không? Con được biết thì trong kinh điển thì chính Đức Phật không thuyết giảng về các tầng tuệ này mà nó chỉ xuất hiện trong Thanh tinh đạo.

Jonathan:     Đúng như bạn vừa nói, tuệ giác phải phát triển một cách rất từ từ. Nó bắt đầu ở mức độ rất sơ khởi mà hiện giờ tất cả chúng ta đang ở đó. Nhưng kể cả ở giai đoạn đầu tiên đó. nó chỉ có thể sinh khởi khi có hiểu biết đúng về đối tượng của trí tuệ. Chính vì vậy chúng ta đã nói rất nhiều về những loại pháp khác nhau có thể sinh khởi trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Bước chuyển từ sự khởi đầu của phát triển tuệ giác đến các tuệ minh sát không  thể diễn ra trong vòng một kiếp sống. Chúng ta đọc trong kinh điển Pali về các vị trưởng lão tăng, trưởng lão ni, về các kiếp quá khứ của họ thì thấy rằng phát triển trí tuệ cần đến nhiều đại kiếp. Rất nhiều người có thể có ý niệm rằng có thể đạt được tuệ giác vipassana bằng cách thực hành một số kỹ thuật nào đấy. Chúng ta rất dễ bị dụ vào những diễn giải đó bởi tâm tham cho rằng điều ấy là có thể. Với sự thực rằng Trí tuệ chỉ có thể phát triển một cách rất từ từ, chúng ta không nên có mong đợi rằng sẽ có sự chứng đắc nào đó chỉ trong một kiếp sống mà thôi. Khi có tham vọng đó nó sẽ trở thành một chướng ngại cho sự sinh khởi của chánh niệm và tỉnh giác.

Achaan:         Thế bạn muốn nói đến tuệ giác vipassana nào để làm thước đo đây?

HV 2:             Khi được nghe về các tầng tuệ giác thì chúng ta có thể dùng các thông tin ấy để làm thước đo hay không? Bởi vì con không hiểu nên con muốn hỏi Achaan, chứ con nghĩ mình cũng chưa có được cái Tuệ giác nào.

Achaan:         Vậy thì trước hết chúng ta hãy tìm hiểu xem, thế nào là tuệ minh sát?

HV 2:             Con cũng chưa được nghiên cứu nhiều, tầng tuệ đầu tiên là tầng tuệ phân biệt danh sắc, tầng tuệ thứ hai là Tuệ nhân quả, tuệ ba là tuệ diệt thì có cũng chỉ hiểu như vậy, khi hành thiền thì thỉnh thoảng con cũng có một vài trải nghiệm nhưng con không chắc đó có phải là Tuệ giác hay không?

Achaan:         Trước hết hãy xác định thế nào là tuệ minh sát, chứ chưa cần phải nói đến từng tầng tuệ.

HV 2:             Tuệ minh sát là một cái hiểu rõ pháp như nó là.

Achaan:         Hiểu về cái mà chúng ta đang nói hiện giờ thì có phải là tuệ minh sát không?

HV 2:             Chắc chắn đúng là như vậy.

Sarah:            Chẳng hạn bây giờ ta đang nói về rất nhiều về cái thấy là một danh kinh nghiệm một đối tượng. Đối tượng thị giác là một đối tượng được thấy, nó không phải là con người, không phải là đồ vật hay bất cứ cái gì có hình dạng, mà chỉ là cái được thấy mà thôi. Như vậy thì có thể có một vài sự suy xét chân chánh về cái thấy và đối tượng thị giác. Nhưng đó vẫn chưa phải là hiểu biết trực tiếp về cái xuất hiện. Trí tuệ trực nhận khác hẳn với suy nghĩ về những thực tại ấy. Nếu không có hiểu biết trực tiếp về cái xuất hiện thì cũng không thể nào cố gắng để hay biết về chúng, và khi ấy vẫn chưa phải là sự bắt đầu của Tứ niệm xứ. Trừ phi ta có được hiểu biết về pariyati- pháp học một cách hoàn toàn đúng đắn và không còn ý niệm về một ai đấy có thể cố gắng chánh niệm,  chúng ta chưa thể nói đến sự phát triển Tứ niệm xứ (sự hay biết trực tiếp về thực tại). Và nếu chưa có những căn bản ấy thì cũng chưa có gì để mà phấn khích vội. Vì cần phải có chánh niệm hay biết trực tiếp về tất cả các loại thực tại nhiều lần trước khi có thể có xuất hiện được tuệ thứ nhất là Tuệ phân biệt danh sắc. Khi đó sẽ có sự phân biệt một cách rõ ràng sự khác biệt giữa đặc tính của danh và đặc tính của sắc, chứ không phải chỉ là suy nghĩ về những thứ ấy như hiện giờ.

HV 2:              Đây là câu hỏi cho Sarah và Jonathan, tôi rất ngưỡng mộ trí tuệ của hai vị và tôi được biết hai vị đã học theo Achaan hơn 40 năm. Tôi cũng muốn hiểu về Vi diệu pháp. Tôi muốn hỏi là hai vị chỉ học theo lời Achaan dạy hay hai vị có nghiên cứu chính xác cả 7 cuốn vi diệu pháp hay không?

Achaan:         Có phải ý bạn muốn nói rằng những điều tôi nói không đúng theo Tam Tạng?

HV 2:             Không phải thế, những lời Achaan giảng rất ngắn gọn và dễ hiểu cho những người mới như con, nhưng trong thời gian ngắn ngủi như thế này thì đương nhiên nó chỉ mang đến một phần kiến thức nhỏ thôi, còn nếu giả sử con muốn tập trung vào học vi diệu pháp một cách nghiêm túc thì con có cần học kỹ cả bảy cuốn vi diệu pháp hay không?

Jonathan:      Tất cả những lời của Achaan luôn luôn chính xác theo Tam tạng kinh điển. Achaan luôn khuyến khích chúng ta khảo cứu những điều này ở trong Tam tạng kinh điển. Như bạn biết tôi và Sarah cũng có diễn đàn trên mạng và trao đổi về pháp với nhiều người với những nền tảng đa dạng. Những cuộc thảo luận trên mạng này không có sự có mặt của Achaan. Những gì chúng tôi đề cập cũng được phản biện và tính chính xác của chúng được tham chiếu tới Tam tạng kinh điển để kiểm chứng. Với bản thân tôi, tôi cũng muốn chia sẻ là tôi không dựa vào lời nói của người khác mà tôi phải tự kiểm chứng.

Sarah:            Đối với tôi, tôi cũng giống như các bạn, đã hỏi rất nhiều, suy xét rất nhiều và luôn kiểm tra đối chiếu với kinh điển để có thể suy xét và tìm ra cái gì là đúng.

Achaan:         Thực chất, đó không phải là những lời của tôi. Những lời chân lý về bản chất của thế giới là Phật ngôn. Chính Đức Phật đã nói rằng tất cả lời chân lý đều là những lời của Ngài. Nhưng ai có thể nói lại Phật ngôn về chân lý như vậy mà không có sự nghiên cứu đây? Vậy thì tất cả lời nói đúng đắn đều là lời nói của Đức Phật. Không phải là lời nói của riêng ai, không phải là lời nói của riêng tôi.

Sarah:            Tất cả những gì chúng ta đã thảo luận trong vài ngày qua – về các thực tại, về vitakka, về các lậu hoặc,  các ách, các chi của Bát chánh đạo hay nghiệp đạo, v. v. , tất cả các chi tiết ấy các bạn có thể tìm thấy trong Tam tạng kinh điển. Tất cả các thực tại ấy là vô ngã, và khi hiểu như vậy thì nơi chốn không phải là vấn đề. Sự phát triển hiểu biết phải rất tự nhiên. Mặc dù chúng tôi đã phải làm việc rất nhiều và sống xa nơi Achaan sống, nhưng tất cả những điều ấy không phải là sự cản trở cho việc nghiên cứu Giáo pháp, cản trở duy nhất chính là tà kiến không thể thấy được con đường đúng đắn.

Jonathan:     Để trả lời câu hỏi của bạn là liệu có cần phải đọc một cuốn sách cụ thể nào không, thì điều quan trọng nhất là chúng ta được gần gũi một bậc thiện trí, là người có thể giúp chúng ta có cái hiểu đúng đắn về Giáo pháp. Bởi nếu chúng ta đọc sách mà không có nền tảng hiểu biết đúng ngay từ ban đầu, chúng ta có thể hiểu sai những ý đề cập trong cuốn sách đó, và như vậy sẽ không giúp cho chúng ta có được hiểu biết đúng và đi trên con đường đúng. Khi Đức Phật thuyết pháp, Ngài thường thuyết pháp cho những đối tượng là những người đã có mức độ tuệ giác rất cao, đủ chin muồi cho giác ngộ. Với những người như chúng ta, do mức độ tuệ giác còn rất ít ỏi, chúng ta cần được nghe những lý giải về những gì Đức Phật đã thuyết giảng cho các vị đệ tử khi ấy bởi người có hiểu biết đúng về những lời dạy ấy, những lý giải ấy không sẵn có trong Kinh.

Achaan:         Tôi nghĩ rằng điều quan trọng không phải là ai nói mà là điều người ấy nói ra có đúng hay không.

Vị sư 1:          Hôm qua Achaan có hỏi mọi người, cái cứng có phải là uẩn không? Đáp là nó là uẩn, Achaan lại hỏi tại sao nó là uẩn, vì nó sinh diệt. Achaan có hỏi cái cứng sinh diệt nó có khổ không? Mọi người đáp là khổ, Achaan lại hỏi vậy tại sao nó lại khổ? Nhưng chưa có câu trả lời, vậy nhân đây Achaan hãy trả lời cho mọi người được biết.

Achaan:         Cái sinh khởi và lại diệt đi ngay lập tức thì để làm gì đây? Và lại lặp lại rồi lặp lại nữa thì để làm gì đây?  Nó thật là một sự bất toại nguyện lớn lao, nó cứ sinh và diệt, và không ai có thể làm ngưng sự vận hành như vậy của các thực tại. Cái mà ta cho là ta, thân ta hay tự ngã có sinh và diệt ngay lập tức hay không? Không. Chính vì vậy (vẫn còn chìm đắm trong những ý niệm như vậy -ND) nên vẫn còn cảm thấy dễ chịu, vì rằng, khi ấy vẫn có suy nghĩ là dù điều gì xảy ra đi nữa thì cũng không làm sao cả, một ngày nào đó mọi sự sẽ tốt hơn.

Đó là lý do vì sao ở thời Đức Phật, các vị tỳ kheo thường được hỏi: tại sao vị này lại trở thành vị tỳ kheo và câu trả lời là để thấy dukkha. Điều ấy có nghĩa rằng dukkha không dễ thấy và hiểu. Bây giờ thì chẳng có cái gì là dukkha cả, bởi vì không có cái gì dường như đang sinh và diệt hiện giờ. Nhưng trên thực tế khi thực sự liễu ngộ rằng không có con người và mọi thứ, mà chỉ có những thực tại sinh và diệt mà thôi, khi ấy chẳng phải là dukkha hay sao? Để làm cái gì đây, cứ sinh rồi diệt , rồi biến mất hoàn toàn, như vậy không khổ hay sao? Chúng ta có thể nói đó là một sự đau khổ- dukkha vĩ đại bởi vì không có cách nào chữa lành nó cả.

Sarah:            Và theo nghĩa tối hậu thì tất cả thực tại như chánh niệm, trí tuệ hay tâm thiền thì cũng đều là khổ, vì chúng đều sinh và diệt và không có gì đáng để bám víu vào.

Học viên 5:   Người tu tập luôn luôn hiểu nhầm về sự tinh tấn. Mấy ngày học vừa qua Achaan nói về cái tinh tấn không giống lâu nay như chúng con vẫn nghĩ. Nếu tinh tấn cố gắng làm cái gì đó, cái đó hoàn toàn là ảo tưởng về bản ngã. Achaan hãy dạy cho chúng con tinh tấn như thế nào mới gọi là Chánh tinh tấn?

Achaan:         Chánh tinh tấn là chánh khi nó sinh khởi cùng với tâm thiện, và đặc biệt khi nó đi kèm với chánh kiến.

HV 5:             Làm thế nào để có chánh tinh tấn?

Achaan:         Không ai có thể làm gì cả vì nó cũng là một pháp hữu vi do duyên tạo, nó là vô ngã. Chánh tinh tấn luôn sinh khởi cùng với chánh kiến, cho nên đừng lo lắng về việc làm thế nào để có chánh tinh tấn vì bất kỳ khoảnh khắc nào có chánh kiến thì chánh tinh tấn đã có ở đó rồi. Hiện giờ có tinh tấn hay không?

HV 5:             Có ạ

Achaan:         Tinh tấn có sinh khởi với cái thấy không?

HV 5:             Dạ, có

Achaan:         Không phải đâu. Không cần phải có tinh tấn thì vẫn thấy được. Bởi vì đó là khoảnh khắc của sự hội tụ giữa nhãn căn, nhãn thức và đối tượng thị giác, chừng ấy đã tạo duyên cho cái thấy sinh khởi rồi. Vì không thể có sự sinh khởi của tâm nếu không có các tâm sở cho nên cần phải có bảy tâm sở để cho cái thấy sinh khởi, trong đó không có tinh tấn. Hiện giờ có ai phải cố gắng để thấy không? Cái thấy đã sinh khởi do duyên rồi

HV 5:             Ý con muốn nói là trên cái thấy đó có sự hiểu đúng trên cái thấy chứ không phải con nói là cố gắng trên cái thấy.

Achaan:         Khoảnh khắc của nhãn thức sinh khởi không sinh khởi cùng với tinh tấn, đó là sự thực. Khi tâm là bất thiện nhưng không có tham và sân mà chỉ có si ở đó thôi thì có tinh tấn không?

HV 5:             Không ạ.

Achaan:         Có đấy. Bất cứ khi nào có tâm bất thiện, mặc dù không có tham, sân nhưng vẫn có tinh tấn ở đấy rồi. Có ai ở đây phải cố gắng để không hiểu không? Dường như chúng ta không cần phải cố gắng, nhưng thực ra để có vô minh sinh khởi ở khoảnh khắc không hiểu, vẫn cần phải có sinh khởi tâm sở viriya-tinh tấn. Ai có thể biết được điều này? Đó là trí tuệ từ sự giác ngộ của chính Đức Phật. Bởi vậy, nếu chúng ta không nghiên cứu kỹ, chúng ta sẽ theo các ý niệm riêng của mình mà thôi, vì chúng ta không biết rõ về tâm, về tinh tấn, hay các thực tại khác.

Jonathan:     Điều mà Achaan vừa giải thích về viriya – tâm sở tinh tấn không phải là ý niệm thông thường hay chế định về cái mà chúng ta gọi là nỗ lực hay cố gắng, hay là cố làm một cái gì đó. Nó là một tâm sở, nó hoàn toàn vô ngã, không thuộc về ai.

HV 5:             Trong lúc mình tu tập, không cần phải làm gì hết chỉ cần có sự hiểu đúng thôi ạ. Tại sao Đức Phật lại dạy Bát chánh đạo như trong Kinh Đức Phật có nói hãy tinh tấn ngăn ngừa ác pháp chưa sanh, tinh tấn trong tứ chánh cần thì sao ạ?

Sarah:            Ở khoảnh khắc của thiện thì có sự ngăn ngừa bất thiện ở đấy rồi đúng không? Ở khoảnh khắc có chánh niệm về đặc tính cứng, khi ấy có thể có bất thiện nào tại khoảnh khắc đó không? Bởi vì ở khoảnh khắc của tâm thiện đó, cũng có chánh tinh tấn ở đó, nó ngăn ngừa bất thiện ngay khi ấy nên không phải làm gì đó thêm. Chính vì vậy khi Đức Phật nói đến chánh tinh tấn trong kinh, Đức Phật nói hãy nỗ lực, hãy cố gắng, nhưng đó chỉ là theo cách nói chế định mà thôi. Về bản chất, Ngài nói đến chánh tinh tấn đi kèm với chánh kiến, chúng là các pháp vô ngã. Ngay ở khoảnh khắc này, khi chúng ta đang nghe pháp và có hiểu biết đúng thêm một chút, dù ở mức độ tư duy, thì ở khoảnh khắc đó cũng có chánh tinh tấn ngăn ngừa những bất thiện ở chính khoảnh khắc đó. Ngay khi có ý niệm ta phải cố gắng nỗ lực, cố gắng chánh niệm thì đã có tà tinh tấn sinh khởi cùng với tâm bất thiện. Như vậy chúng ta cứ cần phải ghi nhớ rằng, tâm sở tinh tấn là chánh tinh tấn đã sinh khởi ở khoảnh khắc có hiểu biết đúng rồi, chứ không cần nỗ lực hay làm thêm cái gì đó đặc biệt. Vậy hãy quên đi ý niệm rằng có một cái ngã nào đó nỗ lực hoặc làm một cái gì đó.

HV 5:             Dạ, con hiểu rồi, cảm ơn ạ.

Học viên 2:    Nếu chánh kiến sinh khởi thì có tất cả chi của Bát chánh đạo đi kèm, thế thì Đức Phật phải dạy 8 chi làm gì? Tại sao không gọi là Nhất chánh đạo, học một thứ thôi cho đơn giản.

Achaan:         Liệu chánh kiến có thể sinh khởi một mình không?

Jonathan:     Nó được gọi là Bát chánh đạo bởi vì khi tâm đạo sinh khởi thì ở đó có tám chi, chứ không phải bởi vì ở đó có tám thứ phải làm. Khi chúng ta nói rằng bất cứ khi nào có chánh kiến thì đã có chánh tinh tấn ở đó rồi, thì ý ở đây là: không cần phải phát triển chánh tinh tấn như là một thứ riêng rẽ với chánh kiến. Khi ấy, chúng ta hiểu rằng con đường Bát chánh đạo về thực chất chỉ là một khoảnh khắc của tâm sinh khởi, trong đó có những tâm sở bao gồm trí tuệ, tinh tấn cùng những chi khác.

Sarah:            Và vì chánh kiến không thể sinh khởi và đảm nhận chức năng của mình mà không có sự hỗ trợ của các chi kia.

Achaan:         Khi có chánh kiến, nó hiểu về vô ngã. Các thực tại không thể sinh khởi một mình mà cần các thực tại khác trợ duyên cho nó sinh khởi. Có nhiều hơn là bảy tâm sở sinh khởi cùng với trí tuệ nhưng những tâm sở kia không được tính là các chi của Bát chánh đạo. Từ  Đạo có nghĩa là gì?

HV 2:             Là con đường

Achaan:         Dẫn tới đâu?

HV 2:             Đạo là con đường dẫn đến sự diệt khổ.

Achaan:         Thế có thể đi trên con đường đó mà không hiểu gì cả không?

HV 2:             Không thể.

Học viên 12: Phát triển con đường Bát chánh đạo là phát triển dần dần, Vậy có phải là bất cứ khi nào có duyên để phát triển một trong các yếu tố đó, thì mình sẽ phát triển cái yếu tố đó, có phải không?

Achaan:         Đối tượng của Bát chánh đạo là gì?

HV 12:           Niết bàn.

Achaan:         Tứ diệu đế không chỉ có một mà thôi. Niết bàn là diệu đế thứ mấy? Trước đó thì là gì nào?

Học viên 2:   Trước đó là nguyên nhân về khổ.

Học viên 12: Là sự thật về khổ.

Achaan:         Thế nào là khổ?

HV 12:           Theo con hiểu chấp thủ vào ngũ uẩn là khổ. Con muốn Bà giải thích về khổ theo nghĩa chấp thủ vào ngũ uẩn là khổ, như thế nào là sự hiểu biết đúng về những điều Đức Phật dạy trong kinh về 11 yếu tố mà Đức Phật dạy là khổ như sinh, già, bệnh, chết…

Sarah:            Tôi nghĩ rằng cả hai bạn đều chưa trả lời vào câu hỏi của Achaan về đối tượng của con đường đạo là gì, khi con đường đạo đang được phát triển thì đâu là đối tượng của con đường đạo? Câu trả lời cho câu hỏi này là tất cả các thực tại hữu vi đều là đối tượng của con đường Bát chánh đạo trước khi diệu đế thứ ba được chứng ngộ (Diệt đế hay Niết bàn).

Achaan:         Theo nghĩa tuyệt đối thì thế nào là dukkha?

HV 12:           Do sự sinh và diệt của mọi pháp.

HV 2:             Tôi không nghĩ vậy, tôi nghĩ bản thân sự sinh diệt của pháp không có vấn đề gì cả mà tà kiến về cái sinh và diệt đó mới dẫn đến khổ.

Achaan:         Chúng tôi nghĩ rằng, điểm này cần phải được làm rõ, bây giờ bạn hãy nói đến từng cái khổ mà bạn vừa kể đến, từng cái một.

HV 12:           Khi nói khổ là bởi vì mọi thứ đều sinh và diệt nên nó khổ. Với con, điều đó dường như chỉ là suy nghĩ về mặt logic thôi.

Achaan:         Nếu như không có sự sinh khởi thì có thể có sự diệt đi của thực tại không?

HV 12:           Nếu nó không sinh thì  không có diệt và cũng không có khổ.

Achaan:         Tại sao các vị tỳ kheo ở thời Đức Phật đã xuất gia chỉ để thấy Khổ?

HV 12:           Bởi vì Đức Phật đã nói ngũ uẩn thủ là Khổ.

Achaan:         Một thực tại sinh và rồi lại diệt đi hoàn toàn không bao giờ trở lại, cứ như vậy thì cái đó không phải là khổ hay sao?

HV 12:           Có những khi rất chánh niệm và thấy mọi thứ nó sinh và diệt rất là nhiều thì khi đấy thấy rất mệt và lúc đó đúng là thấy rất là khổ.

Sarah:            Có phải ý của bạn là nó chỉ khổ khi nó được hiểu là nó sinh và diệt thôi hay sao? Chẳng hạn như hiện giờ đang có cái cứng, nó đang sinh và diệt nhưng không có cái hiểu về điều đó thì có khổ không?

Achaan:         Khi bạn nói như vậy là bạn khổ thôi, chứ không phải là cái hiểu của tuệ giác về khổ, đó không phải là cái hiểu của panna. Bạn cho cảm thọ khổ đó là diệu đế hay sao?

HV 12:           Không ạ.

Achaan:         Chỉ có tuệ giác khi hiểu được sự sinh diệt của thực tại thì nó hiểu về khổ, còn khi có ý niệm là mình khổ thì khi đó chỉ là thọ khổ thôi chứ không phải là cái hiểu trực tiếp về sự sinh diệt của thực tại.

Sarah:            Liệu Tuệ giác có mệt khi nó hiểu thực tại hay nó hiểu về sự sinh diệt của thực tại hay không?

HV 12:           Không.

Achaan:         Vậy thì đó không phải là panna. Chỉ có tuệ giác mới có thể thấy được sự sinh và diệt, cho nên cái mà bạn gọi là sự sinh diệt đó không phải là sự sinh diệt của thực tại, cái chỉ xảy ra một cái ở một thời điểm. Nếu trí tuệ mệt thì chúng ta có nên có trí tuệ không?

HV 12:           Con không nói là trí tuệ mệt ạ.

HV 12:           Câu hỏi lúc nãy là phát triển con đường Bát chánh đạo, nếu có duyên để phát triển bất cứ một trong tám yếu tố trong Bát chánh đạo, thì sẽ phát triển yếu tố đấy. Đó có phải là phát triển dần dần không?

Achaan:         Không có người nào phát triển Bát chánh đạo mà chỉ có Trí tuệ phát triển mà thôi.

Sarah:            Phát triển dần dần có nghĩa là bắt đầu ngay bây giờ, ở khoảnh khắc hiểu về thực tại, hiểu đúng về con đường phát triển của hiểu biết, không có ai ở đó. Khi có ý niệm rằng ai đó hay tùy thuộc vào nhân duyên mà một trong các chi của Bát chánh đạo sẽ được phát triển, thứ nhất là ở đó có ý niệm về một ai đó phát triển Bát chánh đạo, thứ hai là không có hiểu biết đúng về sự phát triển Bát chánh đạo thực sự là gì,

HV 12:           Ví dụ trường hợp nếu tiếp xúc với đối tượng nào đó mà có thể dẫn đến sân hoặc si. Ở cái khoảnh khắc đó với sự hiểu biết đúng thì sẽ là phát triển Tứ chánh cần tức là làm cho bất thiện pháp chưa sinh không sinh khởi, bất thiện pháp đã sinh không phát triển, thiện pháp chưa sinh thì sinh khởi, thiện pháp đã sinh thì tăng trưởng.

Jonathan:      Chánh tinh tấn là một trong những chi của Bát chánh đạo, nó sinh khởi cùng các chi khác, chúng ta không chọn để làm chánh tinh tấn đó, bất cứ khi nào có tâm thiện thì đã có tinh tấn là thiện rồi. Bất cứ khi nào tâm là thiện thì tâm sở tinh tấn đó sẽ đảm nhận chức năng mà bạn vừa đề cập tới, hoặc một trong số các chức năng đó.  Chẳng hạn như ở khoảnh khắc của giữ giới thì khi đó chánh tinh tấn sẽ làm nhiệm vụ ngăn ngừa bất thiện pháp sinh khởi, chứ không phải là việc cố gắng làm cái gì đó khi có tham hay sân.

HV 12:           Tại khoảnh khắc ấy có thể có cái thực hành, cái phát triển về Tứ chánh cần, tức là không để cho bất thiện pháp sinh khởi, hoặc để cho thiện pháp sinh khởi và tăng trưởng. Ở khoảnh khắc đó chỉ có chánh tinh tấn thôi, chứ không có được chánh kiến là cái sự hiểu biết về Tứ đế.

Sarah:            Khi đến thời điểm để cho cái thấy sinh khởi vì có cái duyên cho cái thấy sinh khởi thì nó sẽ sinh khởi. Khi đến thời điểm để cho sân sinh khởi bởi vì có duyên cho nó sinh khởi thì nó sẽ sinh khởi. Khi có những con người hay chúng sinh có duyên để cho tâm từ sinh khởi thì tâm từ sẽ sinh khởi. Ở khoảnh khắc đó, có thể không có hiểu biết nhưng mà tâm là tâm thiện. Ở khoảnh khắc đó có tinh tấn là thiện cùng với tâm đang là tâm từ, chứ không phải là một ai đấy cố gắng có tâm từ hay có sự thân thiện, không ai có thể khiến cho tinh tấn sinh khởi. Tinh tấn sinh khởi cùng tâm thiện là thiện, nhưng nó không phải là chánh tinh tấn của con đường Bát chánh đạo.

HV 12:           Bây giờ chúng ta đang thảo luận, phát triển con đường Bát chánh đạo thì phải phát triển cả 8 yếu tố đó đồng thời cùng lúc thì là như thế nào? Bởi vì như thế kia là chỉ có 1 yếu tố, đâu có đủ hết các yếu tố khác.

Jonathan:      Chúng ta đang không nói đến khoảnh khắc của Bát chánh đạo ở tâm đạo, tức là tâm siêu thế khi cả tám chi cùng có mặt, mà chúng ta đang nói đến những khoảnh khắc phát triển con đường Bát chánh đạo, có thể gọi là Bát chánh đạo hiệp thế, thì ở khoảnh khắc của Bát chánh đạo hiệp thế, có năm hoặc sáu chứ không phải cả tám chi đều sinh khởi một lúc.

HV 12:           Dường như phát triển từng yếu tố thì còn dễ dàng một chút, chứ nếu bảo là phát triển đồng loạt thì không có dễ dàng, dù là không đủ cả tám yếu tố.

Jonathan:      Khi có hiểu biết đúng về các pháp thì tự các chi đó sinh khởi cùng nhau, chứ không cần phải có chúng ta phát triển chúng một cách riêng biệt. Ở khoảnh khắc của Bát chánh đạo hiệp thế, có ít nhất các tâm sở như chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định sinh khởi cùng với nhau, và có thể với một trong ba tâm sở tiết chế: chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp, nếu như có cơ hội để cho một trong ba tâm sở này sinh khởi (vì cả ba không bao giờ sinh khởi cùng nhau trong Bát chánh đạo hiệp thế).

Achaan:         Bạn nói là bạn muốn cố gắng phát triển chánh tinh tấn?

HV 12:           Không phải là con mà đó là công việc của tâm.

Học viên 9:    Con hiểu Khổ là sự vận hành của 12 nhân duyên, mà bắt đầu là do vô minh. Nếu như chấm dứt được nhân duyên thì sẽ không có khổ?

Achaan:         Thế nào là dukhha- khổ? Chúng ta dùng từ này rất nhiều, nhưng nó là gì đây? Chúng ta đang nói đến dukhha là một trong tam tướng mà vẫn chưa thể được biết, được hiểu hiện giờ, hay là chúng ta nói về cái khổ trong cuộc sống hàng ngày của mình? Cái mà chúng ta đang nói đến ở đây, là dukkha trong Tứ diệu đế, là khổ đế. Bạn có mệt không? Cái mệt đó có phải là dukkha không? Chính xác hơn là, bất cứ cái gì, trong đó bao gồm cả cái mệt này, đều sinh và diệt, và đó là khổ. Bất cứ cái gì sinh và diệt là khổ, đó là ý nghĩa tuyệt đối của dukkha. Nếu như không có kinh nghiệm trực tiếp về sự sinh diệt của thực tại hiện giờ, thì liệu ta có thể gọi đó là thánh đế thứ nhất không? Chính vì vậy, chưa cần phải nói về mức độ dukkha mà hiện giờ chúng ta vẫn chưa thể thấy được, mà cần phải bắt đầu với việc hiểu về thực tại khi chúng xuất hiện. Bởi vì, ngay cả ở tuệ đầu tiên của minh sát tuệ –tuệ phân biệt danh sắc, vẫn chưa có cái hiểu về khổ – dukkha, vì lúc đó chưa có sự xuyên thấu sự sinh diệt của thực tại.

Sarah:            Có ba loại khổ: thứ nhất là loại khổ sinh khởi cùng với thọ khổ khi chúng ta đau đớn hay buồn rầu, cái đó gọi là dukkha-dukkha (khổ khổ), rất dễ nhận biết ; thứ hai là loại khổ được biết đến với sự diệt đi của thọ lạc và thọ hỷ, kể cả những thứ dễ chịu cũng sinh và diệt, nó không kéo dài, vì vậy cũng là khổ và được gọi là viparinama dukkha (hoại khổ); thứ ba, là khổ do sự sinh diệt của tất cả các thực tại hữu vi, được gọi là hành khổ (sankkhara dukkha). Kể cả khi chưa có giáo lý của Đức Phật, mọi người vẫn biết rất rõ về khổ khổ, tức cái khổ của thọ khổ, người ta cũng biết hơn một chút về hoại khổ, cái khổ của trạng thái dễ chịu nhưng không kéo dài. Nhưng chỉ khi Đức Phật ra đời và giảng về thực tại, người ta mới biết được về Hành khổ, chính là loại dukkha nói đến trong Tứ Thánh đế, là một mức độ dukkha rất sâu sắc mà chỉ có trí tuệ ở mức độ chứng nghiệm về sự sinh diệt của thực tại mới hiểu được.

Học viên 1:    Theo hiểu biết của con về khổ thì có hai cách hiểu về Khổ. Khổ theo cách nghĩ thông thường là không có nhà cửa, không có thứ đồ mà họ muốn có thì là khổ, đấy là do sự dính mắc với các đối tượng là các sắc. Thứ hai Khổ mà Đức Phật nói đến trong Tứ diệu đế, là cái khổ trong bản chất của các pháp, tại sao có cái khổ này, là do tính chất vô thường của tất cả các pháp. Hình thành rồi tan hoại thì dẫn đến cái khổ đó.

Sarah:            Sẽ không thể hiểu được ý nghĩa thâm sâu của loại khổ thứ ba này nếu như không bắt đầu từ các thực tại hiện giờ như cái thấy, cái nghe, cái cứng v.v., và chỉ nhờ sự phát triển hiểu biết về các thực tại đang xuất hiện hiện giờ, đến một lúc nào đấy, có thể có được tuệ giác xuyên thấu sự sinh diệt của thực tại, khi ấy cái hiểu về dukkha- khổ đế mới thực sự được chứng nghiệm.

Ai đó hỏi:      Hôm qua Bà nói sắc chẳng hạn như cái cứng, cái mềm đều sinh và diệt do vậy nó đều là khổ. Nhưng theo con thì sắc không biết cái gì cả. Vậy thì làm sao nó có thể là khổ? Chỉ có sự dính mắc vào cái sinh và diệt đó thì mới là khổ.

Achaan:         Cái cứng là một thực tại là sắc và nó không biết gì cả, nhưng nó cũng sinh và diệt giống như các thực tại hữu vi khác, chúng vô thường, vậy nếu chúng ta dính mắc vào cái sinh và diệt đi và không bao giờ quay trở lại, đó là khôn ngoan hay xuẩn ngốc đây? Thánh đế thứ nhất hay sự thật về khổ  không phải nói về thọ khổ đâu.

Sadhu sadhu sadhu!

 

, , ,

Pháp đàm sáng ngày 02-09-2013 tại Sài gòn

5/ Pháp đàm buổi sáng ngày 02.09.2013 tại Sài Gòn

 

Học viên 5:   Hôm qua Achaan có chia sẻ về ý nghĩa thực sự của chánh niệm. Như vậy thì chánh niệm giống như lâu nay là ảo kiến, bị sai lầm nghĩ rằng mình thực tập có chánh niệm; chánh niệm đó không đúng vì nó thiếu chánh kiến, thiếu sự hiểu biết.

Khi về nhà con có thực tập thế này không biết là đúng hay sai? Khi nào có chánh kiến là khi mình làm việc thiện lúc đó mình có chánh niệm. Bố thí là có chánh niệm, trì giới là có chánh niệm, tác ý thuộc về thiện là có chánh niệm, tinh tấn trong lúc nghe pháp là có chánh niệm. Nếu trong một ngày cứ để cho tâm thoải mái nổi sân nổi si và nói là tôi đang chánh niệm về tâm tham tâm sân. Khi đó nếu có suy nghĩ đúng sẽ có hành động đúng, thì cái đó có phải là thuộc về sati? Khi đó nếu có suy nghĩ sai sẽ hành động sai, thì nó thuộc về tà kiến, vậy có đúng không?

Sarah:            Trước hết sẽ chia sẻ từng ý một: việc bạn nghe và suy xét về những điều Achaan nói là rất tốt, vì nghe pháp và suy xét là điều nên làm. Tuy nhiên khi nói đến việc trở về thực hành, bản thân ý nghĩ là mình thực hành cái gì đó đã hàm chứa một ý niệm về một cái ngã có thể tạo ra chánh niệm, Liệu đó có phải là chánh niệm hay không? Bất cứ khi nào chúng ta có cái ý niệm cố gắng thực hành, hay mong muốn có chánh niệm, hay nghĩ đến việc bây giờ sẽ chánh niệm, sẽ không thể có được chánh niệm, bởi vì có sự dính mắc ở trong đó, dính mắc để có chánh niệm thay cho một sự phát triển tự nhiên, đó sẽ không phải là duyên để cho chánh niệm hay trí tuệ sinh khởi.

HV 5:             Bà có thể nhắc lại những duyên để chánh niệm sinh khởi?

Sarah:            Hiện giờ chúng ta đến đây nghe Achaan giảng pháp, nói về những gì đang sinh khởi hiện giờ, về cái thấy, cái nghe… Thông thường chúng ta có ý niệm rằng chúng ta đến đây và đang ngồi nghe pháp với những người bạn đạo. Nhưng về mặt chân đế, đó chỉ là những khoảnh khắc của cái nghe, những khoảnh khắc của cái thấy, rồi được tiếp nối bởi các suy nghĩ,… và tất cả những cái đó đều là thực tại. Khi được chỉ ra rằng đó là những khoảnh khắc của các thực tại sinh khởi và diệt đi tiếp nối lẫn nhau, nếu có sự suy xét chân chánh ở khoảnh khắc nghe, ở chính khoảnh khắc ấy đã có chánh niệm. Còn nếu không có hiểu biết ở khoảnh khắc được nghe nói về giây phút hiện tại như vậy, sẽ chưa thể hiểu đúng chánh niệm là gì. Nếu chưa có hiểu biết đúng thế nào là chánh niệm, sẽ chưa có đủ duyên để chánh niệm sinh khởi.

Cần phân biệt thêm các mức độ khác nhau của chánh niệm: chánh niệm sinh khởi với tất cả các tâm thiện, vì vậy chánh niệm có nhiều mức độ khác nhau: có chánh niệm ở mức độ khi làm các việc thiện như bố thí, trì giới, khi chúng ta có những lời ái ngữ – ở những khoảnh khắc đó là có chánh niệm. Nhưng  loại chánh niệm mà ta đang bàn tới đây – loại chánh niệm hợp với trí (hiểu biết), loại chánh niệm hay biết các thực tại – thì chỉ sinh khởi với sự phát triển của Tứ niệm xứ . Lại nhắc lại một chút về các duyên để có chánh niệm, như hôm qua chúng ta có nói, đó là: được gần gũi bậc thiện trí thức và được nghe Chánh Pháp. Giải thích cụ thể hơn, khi chúng ta được nghe pháp về các loại thực tại khác nhau, chẳng hạn về cái thấy – cái thấy là một thực tại kinh nghiệm đối tượng thị giác, còn đối tượng thị giác là thực tại không kinh nghiệm  gì cả; về tâm từ, tâm bi là các thực tại sinh khởi kinh nghiệm đối tượng là chúng sinh, đối nghịch với tâm sân v.v… điều đó có thể tạo duyên cho chánh niệm sinh khởi  hiểu về những thực tại đó khi chúng xuất hiện. Khi đó sẽ có hiểu biết rõ dần hơn về sự khác biệt giữa khoảnh khắc có chánh niệm và khoảnh khắc không có chánh niệm. Nếu không có hiểu biết đó sinh khởi thì chúng ta sẽ bị nhầm lần, chúng ta sẽ tưởng cái không phải chánh niệm là chánh niệm, chẳng hạn như việc hay biết khi chúng ta đi ra mở cửa, hoặc thực hành chánh niệm, chúng ta tưởng đó là chánh niệm, nhưng một khi chánh niệm sinh khởi để hay biết cùng với hiểu biết đúng, lúc đó sẽ biết rằng đâu là chánh niệm thực sự và đâu không phải là chánh niệm thực sự.

HV 5:             Như vậy những khoảnh khắc của phiền não mà được phát hiện và ghi nhận thì lúc đó có được gọi là chánh niệm hay không?

Sarah:            Tất cả những khoảnh khắc của thiện tâm đều có chánh niệm, chẳng hạn khoảnh khắc có tâm từ sinh khởi với một người khác thì ở khoảnh khắc đó có sati (chánh niệm). Nhưng nếu khoảnh khắc đó không đi kèm với hiểu biết đúng thì nó chỉ đơn thuần là chánh niệm sinh khởi cùng với tâm thiện mà thôi và không có trí tuệ đi kèm. Nhưng khi có hiểu biết sinh khởi đồng thời thì ở khoảnh khắc đó có chánh niệm ở một mức độ cao hơn. Đối với tâm bất thiện, khi có sự dính mắc, chẳng hạn dính mắc vào việc thực hành hay dính mắc vào việc có chánh niệm, chắc chắn ở khoảnh khắc dính mắc thì không có sati. Nhưng khoảnh khắc thấy được tính chất của sự dính mắc và hiểu đúng về nó thì khoảnh khắc đó lại là có sati.

HV 5:              Theo như lời Achaan dạy là hoàn toàn triệt để phá ngã không còn một chút dính mắc nào, ngay cả thiện và bất thiện cũng đều là vô ngã. Nói đến khoảnh khắc thực tại thì không thể nào dùng ngôn từ để mà diễn đạt. Đó là một sự cảm nhận. Sau khi học Achaan thì có cái tâm sinh khởi ý muốn thực hành có sự tinh tấn nhưng ngay cái tâm đó nó lại nghĩ là không biết có dính vào ngã hay không? Nên muốn diễn đạt ra, muốn nói lên thì lại kẹt vào cái ngã. Vậy những hành động thiện như bố thí thì cái chánh niệm chỉ là thầm cảm nhận hay sao. Làm thế nào có thể hoàn toàn sống với tinh thần vô ngã khi mà ý niệm về ngã luôn ở đó?

Achaan:         Hiểu biết không thể diễn ra một cách nhanh chóng được. Ví dụ việc tôi học Tiếng Việt. Vì không phải là người Việt nên tôi phải học từ từ, cần có thời gian. Ngay một từ như  Xin chào,  ngay lập tức tôi không thể nhớ ngay được, mà đầu tiên phải nghe rồi nhắc lại một lần, hai lần, rồi sau đó dần dần mới nhớ được. Sau đó mới học đến từ Cảm ơn, và để học được tôi phải nghe đi nghe lại. Ngay vừa rồi thôi, tôi phải nghĩ mới nhớ được từ Cảm ơn và không chắc, tối nay còn nhớ hay không? Đó mới chỉ là vấn đề ngôn ngữ thôi, vậy mà đã không dễ dàng rồi, nói chi đến giáo lý của Đức Phật. Giáo lý của Đức Phật khó hơn rất nhiều, bởi vì chúng ta chưa nghe được là bao, kể cả chỉ trong kiếp này. Chính vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu từng từ một, một cách rõ ràng từng từ từ một, nếu không ta sẽ cho là mình đã hiểu, nhưng thực chất hiểu biết của chúng ta  rất hời hợt. Trong 45 năm, Đức Phật đã dạy rất nhiều từ, không đếm được, nhưng mỗi lần chúng ta chỉ học được một từ mà thôi, và đã cần phải rất nhiều thời gian. Những gì Đức Phật giảng đều tới từ sự giác ngộ của Ngài và rất khác với những gi mà chúng ta vẫn quen nghĩ tới. Chúng ta luôn thấy con người và vạn vật, điều này đã xảy ra từ rất lâu rồi, từ nhiều a tăng kỳ kiếp, luôn luôn có ý niệm về con người và vạn vật. Bây giờ chúng ta nói đến vô ngã, vậy ý nghĩa của nó thực sự là gì? Nó có nghĩa là không có những con người thường hằng, không có những thứ thường hằng, không có một cái gì xuất hiện mà thường hằng. Thế giới của thực tại chân đế rất khác với thế giới mà chúng ta quen nghĩ về cho tới giờ. Hiện giờ, nếu có hiểu biết đúng thì ở cùng thời điểm đó, có rất nhiều tâm sở thiện xuất hiện cùng nhau. Ai biết được điều đó ? Nó xảy ra chỉ trong một khoảnh khắc mà thôi. Nếu chưa có hiểu biết vững vàng ở mức độ tư duy về những những gì được nghe, sẽ không thể đi xa hơn như nói đến việc thực hành, phát triển… Như vậy, thái độ đúng khi nghe pháp là hãy chỉ hiểu mà thôi, chứ không để làm cái gì cả,.. Nếu không thì người đó sẽ thông thái hơn cả chính Đức Phật. Bởi vì trước khi Đức Phật giác ngộ, Ngài đã phải tích lũy các Ba la mật trong một thời gian rất dài và phát triển hiểu biết về các thực tại sinh khởi trong khoảnh khắc hiện giờ. Cách mà tốt nhất để thể hiện sự tôn kính tới Tam bảo là nghiên cứu Giáo lý của Đức Phật, các từ mà Ngài dậy. Đừng nghĩ rằng mình có thể hiểu ngay lập tức được. Mặc dù Đức Phật nói rằng tất cả các pháp là vô ngã nhưng khi chúng ta nghe điều ấy thì chúng ta lại có ý niệm, ôi “tôi” có thể làm được điều ấy, có thể chứng ngộ, nhưng điều đó hoàn toàn đi ngược với Giáo lý của Ngài. Nếu như ai đó nói rằng tôi quy y Phật, Pháp, Tăng nhưng không có hiểu biết thực sự thì người đó chưa thực sự chân thành. Vậy đừng vội nghĩ chúng ta có thể hiểu ngay được những từ này. Kể cả những từ như là Ngã và Vô ngã cũng hoàn toàn không đơn giản. Hiện giờ cái gì được thấy và ai thấy đây? Vẫn có cái ý niệm rằng tôi đang thấy và cái được thấy là một cái gì đấy tồn tại kéo dài. Đừng vội vàng làm một cái gì đó, hay cố thực hành mà hãy chỉ hiểu và hiểu biết sẽ tự phát triển. Nếu như có ý nghĩ “tôi” sẽ thực hành hoặc “tôi” có thể làm điều ấy, khoảnh khắc đó là có [ý niệm về] ngã, chứ không phải vô ngã. Trong Tam tạng có nói, những lời dạy của các Giáo lý khác không thể phá bỏ được cái ý niệm về ngã, mà chỉ giáo lý của Đức Phật mà thôi mới làm được điều ấy mà thôi. Những ý niệm có hàm ý về ngã ấy được giảng dạy bởi những người chưa nghiên cứu giáo lý của Đức Phật một cách kỹ lưỡng, vậy chúng ta không nên là một trong số đó. Kể cả những từ đơn giản như ngã, vô ngã, cái thấy, cái nghe, cái ngửi v.v… là những thực tại hàng ngày nhưng có ai biết được sự thực về chúng nếu như không có Giáo lý của đức Phật. Khi Đức Phật nói  tất cả các pháp đều là vô ngã, Ngài không chỉ dừng lại ở đó. Ngài đã dạy cho bất kỳ ai, ở bất kỳ nơi nào có được hiểu biết thực sự về điều ấy. Những ý niệm khác không đề cập đến hiểu biết đúng thì không thể tận diệt được các bất thiện pháp, nếu đi ra khỏi hiểu biết đúng thì không phải là lời dạy của Đức Phật. Chẳng hạn như bây giờ, cái gì là thực? Sự thực tuyệt đối và sự thực chế định rất khác nhau. Dường như phải lộn thế giới bên trong ra ngoài để thấy được sự thực. Cái đang kinh nghiệm cái được thấy hiện giờ không phải là tự ngã.

Đêm qua tất cả mọi người đều ngủ đúng không? Có ai mơ không? Ồ, tất cả mọi người. Chúng ta mơ về cái gì? Chúng ta mơ về những  gì đã thấy, đã nghe, có thể là những thứ đã diễn ra trong ngày hôm qua. Nhưng tại sao chúng ta lại nói là đó chỉ là một giấc mơ thôi? Tất cả mọi người đều biết được sự khác biệt giữa mơ và không mơ, nhưng lại không chỉ ra được sự thực về điều ấy. Vậy sự khác biệt giữa giấc mơ và khi không mơ, như bây giờ là gì nào? Điều này không thể được biết chỉ bằng việc cứ cố thực hành. Đức Phật đã không cần phải dạy đến 45 năm nếu chỉ cần bảo mọi người đi thực hành mà thôi. Lời dạy của Đức Phật không làm tăng sự vô minh và dính mắc. Ngược lại, lời dạy của Đức Phật dẫn tới thêm trí tuệ, ở những mức độ khác nhau. Trong tiếng Pali, chúng ta biết đến các từ Pariyatti- pháp học, Patipatti – pháp hành, Pativeda- pháp thành.

Sarah:            Pariyati là pháp học, chẳng hạn chúng ta đang được nghe về các thực tại khác nhau, các thực tại sinh và diệt. Việc nghiên cứu về các thực tại ấy không phải là việc chỉ đơn thuần đọc sách mà không có hiểu biết đúng. Việc chúng ta tiếp tục nghe,  nghiên cứu và suy xét về các thực tại sinh khởi trong một ngày, ví dụ như cái thấy, cái nghe, xúc chạm, chánh niệm, hiểu biết, chánh tinh tấn v.v…sẽ khiến hiểu biết phát triển dần dần, hiểu rõ hơn và rõ hơn nữa về các thực tại ấy, và tới một lúc, nó sẽ dẫn đến những khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp về thực tại, khoảnh khắc đó chính là khoảnh khắc của patipati– pháp hành. Khi những khoảnh khắc của kinh nghiệm trực tiếp hay pháp hành diễn ra ngày càng nhiều hơn và sâu sắc hơn, đó cũng chính là Tứ niệm xứ. Tuy nhiên, nếu không có pháp học làm nền tảng- hiểu biết rõ ràng hiện giờ đâu là các thực tại như cái thấy, tham, sân, v.v…, sẽ không thể có sự sinh khởi của pháp hành, của tứ niệm xứ, sẽ không dần dần  dẫn tới  pativeda– pháp thành. Khi sự phát triển của pháp hành đã diễn ra một cách thường xuyên hơn và nhiều lần hơn, dần dần nó sẽ dẫn tới pháp thành, tức là những khoảnh khắc của các vipassanā ñāṇa- tuệ minh sát, và khoảnh khắc của sự chứng ngộ Tứ diệu đế. Nhưng để khoảnh khắc của pháp hành và pháp thành  sinh khởi thì cần phải có pháp học ở bước ban đầu. Pariyati – tức là nghiên cứu các thực tại đã được giảng được nghe là những bước rất sơ khởi để dần đặt nền tảng cho Bát chánh đạo hiệp thế. Bát chánh đạo hiệp thế sinh khởi khi có hiểu biết về các thực tại sinh khởi hiện giờ. Khi Bát chánh đạo hiệp thế được phát triển viên mãn, nó sẽ dẫn đến Bát chánh đạo siêu thế.

Học viên 2:    Bát chánh đạo tôi thường hiểu khá đơn giản, chúng ta đang hành việc là mỗi ngày chúng ta làm cho cái tâm tốt hơn bằng việc thực hiện các yếu tố trong Bát chánh đạo. Đơn giản rằng chúng ta cố gắng nói lời chân chánh khi thấy ta nói lời không chân chánh. Trong hành động cũng vậy. Đấy là việc chúng ta cho là chúng ta giữ giới. Trong các khóa tu thiền chúng ta đạt được một sự an ổn trong tâm, biết được vài phương pháp quán thân, quán thọ, quán pháp. Khi nghe pháp chúng ta cũng biết quan sát các pháp vận hành và chúng ta từ từ có một chút hiểu biết đúng đắn, có nghĩa là chúng ta đi vào phần tuệ trong con đường bát chánh đạo, cứ như vậy, mỗi ngày chúng ta góp nhặt một chút, chúng ta chịu khó đọc kinh sách, nghe pháp. Vậy có phải là đang hành trên con đường của Đức Phật hay không? Đến khi đẩy đủ nhân duyên thì tuệ giác của chúng ta sinh khởi. Hôm qua Sarah có nói với tôi rằng, Bát chánh đạo như vậy chỉ là Bát chánh đạo hiệp thế. Chỉ khi đạt đến những tầng tuệ giác cao thì chúng ta mới thực sự kinh nghiệm được Bát chánh đạo. Đấy không phải là con đường chúng ta bước đi như chúng ta vẫn thường hiểu, mà phải là những gì chúng ta trực nghiệm. Điều đó làm tôi khó hiểu. Hôm nay tôi muốn được nghe Achaan giải thích thêm về điều này.

Người phiên dịch: Vừa rồi Sarah có tóm tắt lại câu hỏi cho đơn giản hơn, có nói ý cơ bản nhất trong những gì bạn trình bày, đó là cái hiểu của bạn về Bát chánh đạo, bao gồm Giới- Định -Tuệ, và rằng Giới – Định phải được thực hành trước khi Tuệ có thể sinh khởi.

Achaan:         Đó vẫn là ý niệm riêng của bạn về Bát chánh đạo mà thôi. Như vừa rồi đã chia sẻ, tôi mới học được hai từ tiếng Việt, và hi vọng là hôm nay sẽ học thêm được một từ nữa. Nhưng khi quay về Thái lan tôi không chắc có thể nhớ được những từ đã học hay không. Tương tự, khi chúng ta nghe pháp, có thể có những khoảnh khắc hiểu biết có vẻ rõ ràng, nhưng sau đó lại có những, khoảnh khắc của tâm bất thiện, những tình huống khác, những thông tin khác, v.v…, tất cả những cái đó che lấp cái hiểu đã sinh khởi và đã diệt đi rồi, khiến cho nó trở nên mờ nhạt. Chính vì lẽ đó, mỗi từ mà chúng ta tìm hiểu cần phải bám rễ thật sâu. Cũng như cái cây phải có rễ để không bị đổ ngã, cái hiểu của ta về từng từ phải thật sâu thì mới không bị che lấp bởi bóng tối, khi hiểu biết chưa thực sự chắc chắn. Và cũng tương tự  việc chỉ học được mỗi lúc một hai từ Tiếng Việt mà thôi, nếu ai đó đọc rất nhiều từ trong Tam tạng mà không có hiểu biết thực sự thì điều đó cũng không có ích lợi gì. Sẽ giống như tôi nghe nhiều từ tiếng Việt mà không hiểu gi cả. Như vậy chúng ta nghe về những từ như Định, Niệm và Bát chánh đạo, chúng ta hiểu những từ đó như thế nào đây? Học về những gì mà Đức Phật đã dạy từ sự giác ngộ của Ngài cũng giống như việc học ngôn ngữ? Nó cũng như vậy nhưng khó khăn hơn rất nhiều. Chúng ta có thể nghe đi nghe lại một thứ, nhưng học được hay không còn tùy thuộc vào hiểu biết và trí nhớ. Chẳng hạn như từ Anatta –Vô ngã. Có bao nhiều lần chúng ta hiểu đúng nó như  chúng ta cần phải hiểu? Cho đến khi nó được hiểu một cách rất thấu đáo và được ghi nhớ vững chắc bởi tưởng để không bao giờ quên được ý nghĩa thực sự của nó nữa. Ở bất cứ khoảnh khắc nào có ý nghĩ “tôi” có thể làm, ở khoảnh khắc đó không có cái hiểu đúng về anatta hay là về từ thực hành. Cái ngã thực hành hay là vô ngã thực hành đây? Chính vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, cụ thể, chẳng hạn như  bây giờ liệu đã có cái hiểu rõ về anatta chưa? Sati (chánh niệm) là có thực, đó là một thực tại, sati có vô ngã hay không? Samadhi– định là một thực tại, nó có vô ngã hay không? Cần hiểu thực sự rằng tất cả các thực tại đều không thường hằng và đều là vô ngã. Hiện giờ có rất nhiều thực tại để nghiên cứu mà vẫn chưa được biết, cũng giống như đối với tôi, nhiều từ tiếng Việt hoàn toàn chưa được biết. Tôi không thể nào học tất cả những từ ấy cùng một lúc. Hiện giờ đang có rất nhiều thực tại, các thực tại kinh nghiệm và những thực tại được kinh nghiệm, và những thực tại này cần phải được nghiên cứu để bản chất vô ngã của chúng được hiểu đúng. Nếu chúng ta hiểu đúng cách Tuệ giác phát triển, thì chẳng phải giây phút này cũng là thực hành hay sao? Nhiều người nghĩ rằng cần phải ở một nơi nào đó đặc biệt khác với bây giờ. Nhưng ở bất cứ nơi nào cũng có cái thấy, cái nghe, sự suy nghĩ … cũng hệt như bây giờ mà thôi. Nếu hiện giờ đang có cái nghe nhưng không có hiểu biết về cái nghe đang xuất hiện, liệu thực tại đó có thể được biết ở những nơi khác, ở những thời điểm khác  hay không? Hiểu biết hiện giờ sẽ dần dần là duyên cho những khoảnh khắc hiểu về sau và sẽ dẫn tới khoảnh khắc trực nhận về thực tại. Quá trình đó được gọi là bhavana – là sự phát triển hiểu biết về thực tại hay sự phát triển tâm trí. Mỗi từ trong giáo lý của Đức Phật đều là chân lý và đều có thể dẫn chúng ta đến việc hiểu đúng về những gì đang xuất hiện hiện giờ, đó chẳng phải là điều tốt đẹp nhất trong vòng luân hồi này hay sao? Hiểu về cái xuất hiện  đã sinh khởi bởi duyên. Dù chúng ta nghĩ về cái gì đi nữa, đó cũng là do duyên. Nếu các bạn nghĩ rằng có những cách thức khác để hiểu đúng thì hãy nói cho tôi biết đi. Để hiểu được đúng cái gì đang xuất hiện hiện giờ, ví dụ như cái thấy cái nghe hay suy nghĩ. Đối với tôi, khi nói “con xin quy y Pháp” chính là “pariyati, patipati và pativeda” (Pháp học- pháp hành- pháp thành). Nếu ai đó nói rằng pháp hành sẽ dẫn đến pháp học và pháp thành thì điều ấy liệu có thể đúng không? Kể cả nghĩa của từ pháp hành cũng đã bị hiểu sai rồi.

 

Hiện giờ chúng ta đang nghe về tất cả những thực tại thấy – ngửi -nếm -xúc chạm đang xuất hiện, và điều ấy sẽ dẫn tới sự xả ly hay bớt vô minh về những gì đang xuất hiện hiện giờ, ở ngay chính khoảnh khắc  này. Nếu như vô minh dầy đặc thì làm sao có thể thấy được cái đang xuất hiện hiện giờ? Chính vì vậy vô minh cần phải được loại bỏ một cách từ từ qua việc nghe Pháp, cho đến khi hiểu biết đúng lý thuyết có thể đủ để làm duyên cho hiểu biết trực nhận. Đó chính là điều mà Đức Phật đã làm trước khi giác ngộ. Ai có thể thông minh hơn Đức Phật đây? Hiểu biết đúng là quan trọng hay thực hành là quan trọng đây? Bởi vì hiểu biết đúng thì không bao giờ sai cả. Còn thực hành mà không có hiểu biết đúng thì chắc chắn là sai. Nó không thể hiểu được đúng các thực tại hiện giờ. Còn trí tuệ đã được phát triển thì có thể hiểu bất cứ thứ gì.

Sarah:            Trong buổi nói chuyện hôm qua, quan điểm cụ thể của bạn về Định như thế nào?

HV 2:             Lúc nãy Achaan nói việc học giáo lý Đức Phật như học một ngôn ngữ rất khó. Lấy ví dụ ngôn ngữ khó như tiếng Hoa tôi đang học. Mình là người lớn thì sẽ học kỹ ngữ pháp, từ vựng, cách kết hợp, cuối cùng thành khả năng tiếng Hoa. Nhưng một đứa trẻ thì nó lại được dạy theo cách khác thông qua các trò chơi, các bài hát, các đoạn phim, nhưng cuối cùng thì nó cũng nói được tiếng Hoa như mình, có khi còn nói hay hơn mình. Cho nên chưa chắc là mình cứ cố chấp vào việc tìm hiểu hiểu biết mình cho là đúng thì mình sẽ đi nhanh hơn con đường khác. Trên con đường Bát chánh đạo, có người có thể tìm Định là yếu tố để phát triển trước, khi có Định rồi họ dễ dàng học giáo pháp hơn. Khi tâm chúng ta định hơn thì chúng ta sẽ kiên nhẫn hơn, chúng ta sẽ lắng nghe giáo pháp hơn, chúng ta sẽ rèn luyện chánh ngữ của mình. Như thế có phải chăng chúng ta rèn luyện Giới Định Tuệ theo cách mà chúng ta hiểu thông thường thì vẫn là con đường đi đúng hay không?

Achaan:         Tất cả chúng ta đều khác nhau và sự khác nhau đó là do tích lũy. Khi tôi nghe Giáo lý và gặp một từ không hiểu, tôi sẽ không đi tìm ai đó để hỏi, vì đó không phải là nơi mà tôi đã quy y, mà tôi phải đi đến cội nguồn của Giáo lý để hiểu rõ từ đó. Bởi tôi biết rằng không ai có thể giảng về Giáo lý đúng đắn hơn chính Đức Phật, Ngài đã dậy rất chi tiết. Cho nên tôi đi vào kinh điển để tìm câu trả lời, chứ không bỏ qua từ đó để chuyển sang từ khác. Chẳng hạn như từ  Sila – Giới. Tất cả chúng ta đều biết từ Giới, nhưng trong kinh điển có nói đến rất nhiều nghĩa khác nhau của Giới. Một bông hoa có thể giữ giới không, một cái bàn có giới không? Về mặt thực tại thì giới là gì? Nó phải là một thực tại có thể kinh nghiệm một đối tượng.

Trước hết chúng ta cần phải biết phân biệt hai yếu tố thuộc về danh, đó là tâm – yếu tố dẫn đầu trong việc kinh nghiệm một đối tượng và tâm sở –  cũng là yếu tố kinh nghiệm một đối tượng, nhưng nó khác với tâm- yếu tố dẫn đầu. Ví dụ ở khoảnh khắc của cái thấy thì cũng có cảm thọ, nhưng yếu tố cảm nhận đối tượng ấy rất khác với thực tại kinh nghiệm đối tượng ấy. Thực tại làm nhiệm vụ thấy, có khả năng kinh nghiệm một đối tượng thị giác đó trong tiếng Pali gọi là Citta – Tâm hoặc Tâm Vương. Ở mỗi khoảnh khắc có một tâm kinh nghiệm một đối tượng, ở mỗi cũng cần phải có một đối tượng được kinh nghiệm. Chẳng hạn, ở khoảnh khắc của cái thấy phải có đối tượng của cái thấy (hay còn gọi là đối tượng thị giác). Đó chính là cuộc sống, nó tiếp nối từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, từ khi sinh ra đến khi chết đi nhưng với vô minh và ý niệm về tự ngã, về một cái gì đó trường tồn, từ vô thủy. Vậy làm sao vô minh có thể được tận diệt một cách dễ dàng đây? Như hiện giờ ai biết được mức độ của bất thiện nào đã sinh khởi? Chính vì vậy chúng ta hãy “Con xin quy y Pháp”  để học để hiểu về những thứ luôn luôn bị che lấp. Như hiện giờ cái đang được kinh nghiệm đang bị che lấp. Cái xuất hiện là thế giới bên ngoài, thế giới của con người và đồ vật. Nhưng nếu không có những thực tại như cái thấy và suy nghĩ thì sẽ không có gì cả.

Một từ nữa dùng để chỉ tất cả các thực tại hữu vi là từ loka – thế gian hay là hiệp thế. Người Thái dùng rất nhiều tiếng Pali trong ngôn ngữ cho nên đối với họ việc sử dụng từ Pali rất dễ dàng, chẳng hạn như từ loka, tuy nhiên họ lại không có hiểu biết đúng về nghĩa của từ Loka, cho đến khi họ nghiên cứu Giáo lý. Tôi vẫn chưa biết từ loka trong tiếng Việt. Có ai có thể nói cho tôi biết về từ loka không?

Học viên 11: Ý nghĩa trong tiếng việt là Đời hay thế gian.

Achaan:         Nhưng nó là gì?

HV 11:           Có ba loại: đời bản chất, đời thế gian và hay đời vũ trụ. Đời bản chất là tâm và tâm sở; đời vũ trụ là toàn bộ chúng sinh; đời thế gian thì con không nhớ.

Achaan:         Nghĩa tối hậu của tâm và tâm sở là gì, khiến nó có thể trở thành Thế giới hay thế gian? Điều bạn nói là đúng nhưng chưa được đầy đủ, bạn có thể nói thêm được không?

HV 11:           Trong tất cả các pháp vận hành đều gồm danh và sắc, danh gồm tâm và tâm sở, sắc là vật chất nó biến đổi hoại diệt. Tâm là sự biết thì chỉ biết thôi, tâm sở là nó phải phụ thuộc vào tâm. Không có chúng sinh gì cả mà chỉ có danh và sắc thôi, cho nên mới hình thành được thế giới. Do những danh sắc đó.

Achaan:         Khi không có gì sinh khởi thì có thế gian không?

HV 11:           Không bao giờ không có cái gì sinh khởi cả. Luôn luôn nó sinh rồi diệt không bao giờ chấm dứt cả.

Achaan:         Có phải bạn muốn nói rằng nếu như không có gì sinh khởi thì không có thế giới, đúng không?

HV 11:           Con chưa được chứng kiến cho nên không thể khẳng định, nhưng mà chắc là như vậy.

Achaan:         Bây giờ chúng ta mới chỉ đang thảo luận ở mức độ lý thuyết thôi. Chúng ta chỉ đang tìm hiểu về mặt lý thuyết về những gì mà trí tuệ có thể kinh nghiệm, và trí tuệ thì không phải là tôi, là bạn, hay là một người nào đó. Nhưng hiểu biết về mặt lý thuyết sẽ dẫn tới hiểu biết rằng, cái đang xuất hiện hiện giờ là thế gian – thế giới, và rằng nó không trường tồn, nó sinh và diệt một cách rất tự nhiên. Nếu không, sẽ vẫn có ý niệm về một ai đó thực hành, và vậy thì có thể có trí tuệ thực sự được không? Nhưng ở khoảnh khắc của sự thực hành thực sự, sẽ có hiểu biết rằng bất cứ cái gì sinh khởi đều có thể được hiểu, và sẽ thấy rằng không có ai cả, không có thế giới. Điều này sẽ dẫn đến hiểu biết về ý nghĩa thực sự của sila- giới, bởi vì cái không kinh nghiệm gì cả thì không thể có giới. Hiện giờ chúng ta đang ngồi đây có giới hay không? Bởi yếu tố kinh nghiệm có lúc là thiện, có lúc là bất thiện, đúng không? Hiện giờ chúng ta chỉ biết có thiện và bất thiện, nhưng cần phải biết thêm nữa. Chẳng hạn như, tâm của một vị A la hán đã hoàn toàn hết sạch ô nhiễm, không còn tâm thiện và tâm bất thiện mà chỉ còn tâm duy tác – kiriya citta mà thôi. Thế giới ở bên trong bây giờ đang sinh và diệt trong từng khoảnh khắc. Ở khoảnh khắc của tâm bất thiện, thân và khẩu đi kèm và khi ấy sẽ có giới bất thiện. Như vậy có cả giới thiện cũng như giới bất thiện. Ta không biết rằng trong một ngày bình thường, có nhiều giới bất thiện hơn là giới thiện

Sarah:            Đối với người bình thường, ngay khi tâm sinh khởi sẽ được kèm theo thiện hoặc bất thiện, khi đó được gọi là giới thiện và giới bất thiện. Nhưng với một vị Arahan thì sẽ có các pháp gọi là avyakata pháp vô ký – tức là không phải là thiện, cũng không phải là bất thiện.

Achaan:         Tất cả các thực tại này đều đang có mặt hiện giờ – giới thiện và giới bất thiện. Có nên biết về điều này không? Nếu ta hiểu càng chi tiết thì sẽ càng bớt dính mắc vào ý niệm về ngã. Sau đây tôi sẽ mời cô Sarah giải thích cho các bạn những mức độ phiền não rất vi tế hầu như không được biết tới trong cuộc sống hàng ngày, đó là asava – ogha –yoga. Có thể ta không biết rõ vì sao ta thực hành, và liệu điều mình biết có tận diệt được phiền não hay không. Nhưng nếu có sự nghiên cứu, chúng ta sẽ thấy rằng là chúng ta đang rất may mắn có được một cơ hội quý báu trong cuộc đời là được nghe Giáo pháp, vì việc nghe Pháp chính là duyên cho sự tích lũy hiểu biết có thể dẫn tới những khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp.

Sarah:            Có nhiều loại và mức độ khác nhau của tham ái và vô minh, tà kiến. Ở những khoảnh khắc có ý niệm rằng có ai đó thực hành, hay rằng phải cố chánh niệm, phải luyện định, hay phải trở thành “người” giữ giới trong sạch chẳng hạn, đó là những khoảnh khắc có tham đi kèm với tà kiến về ngã – tức là tâm tham hợp với tà kiến. Hôm trước chúng ta có nói đến các asava – các lậu hoặc, chúng được ví như thuốc độc bởi chúng rất độc hại và vi tế. Chẳng hạn, khi chúng ta thức dậy, ngay lập tức có sự dính mắc vào những đối tượng được kinh nghiệm ở khoảnh khắc đó mà không hề được biết, đó gọi là kama asava – dục lậu hoặc.  Chỉ  ở tầng thánh thứ ba- thánh Bất lai, loại lậu hoặc này mới được tận diệt. Loại lậu hoặc thứ hai là bhava asava hữu lậu hoặc, đây là sự dính mắc vào hữu – là sự trở thành, loại lậu hoặc này chỉ được tận diệt ở tầng thánh A a hán. Loại lậu hoặc thứ ba là ditthi asava – kiến lậu hoặc.  Đó là sự dính mắc vào những ý niệm về ngã, có những loại tà kiến về ngã rất thô, chẳng hạn như cố nhấc cái ly một cách chậm rãi để có chánh niệm, khi đó có ý niệm về một ai đấy có thể làm một cái gì đấy để có chánh niệm, đó là tà kiến rất thô. Nhưng có những loại tà kiến vi tế hơn, như khi chúng ta nghĩ về cái tay và cảm nhận đây là tay mình, khi đó cũng là một loại tà kiến nhưng nó vi tế hơn. Một vị Tu đà hoàn–Sotapana đã hoàn toàn diệt mọi loại ditthi- tà kiến kể cả  vi tế nhất. Với vị ấy, sẽ không bao giờ có những ý niệm như “có ai đó có định”, hay “đây là tay của tôi”. Điều đó sẽ không bao giờ xuất hiện trong tâm vị ấy, vì nó đã hoàn toàn bị tận diệt. Loại lậu hoặc thứ tư là avijja asavavô minh lậu hoặc, avija là một từ đồng nghĩa với si-moha, và có nghĩa là “không hiểu đúng thực tại như nó là”, và điều đó xảy ra thường xuyên hàng ngày. Trong một ngày, ngoại trừ những khoảnh khắc của bố thí, trì giới và phát triển tâm trí (bhavana), sẽ luôn có vô minh lậu hoặc, chỉ duy nhất  vị A la hán mới hoàn toàn tận diệt được loại lậu hoặc này.

Một từ nữa mà Achaan có nhắc đến là từ ogha có nghĩa là lụt (bộc). Khi các phiền não lớn mạnh thì chúng giống như trận lụt, một khi sinh khởi chúng sẽ như một dòng nước lớn cuốn đi tất cả. Dù có hiểu biết sinh khởi, nhưng khi có nhiều bất thiện pháp nó vẫn sẽ cuốn đi mọi thứ. Về mặt bản chất, ogha cùng là một loại thực tại với các lậu hoặc đã kể trước nhưng ở mức độ mạnh mẽ hơn, thô tháo hơn và dễ được nhận thấy hơn trong cuộc sống, còn mức độ của asava thì rất vi tế.

Từ thứ ba là Yoke, có nghĩa là như sự trói buộc, xiềng xích. Một con thú bị yoke là một con thú bị giam hãm, bị cột trong một cái chuồng. Giống như vậy, chúng ta bị trói buộc, bị cầm tù bởi phiền não. Đây là mức độ rất mạnh của phiền não.

Achaan:         Có ai trong chúng ta có suy nghĩ rằng nếu  Đức Phật đã thuyết giảnh những điều này thì điều ấy hẳn phải có ý nghĩa và hữu ích? Nếu điều ấy không hữu ích thì Đức Phật đã không cần phải dậy về nó. Đó là lời dậy của Ngài, vì vậy, hẳn việc học hiểu về nó là rất thiết yếu. Hiểu biết đúng khi được phát triển có thể tận diệt được mọi loại tà kiến, bất kể là ở mức độ nào. Khi nghiên cứu thêm, ta có thể thấy được nhiều hơn các loại phiền não sinh khởi trong một ngày, tất nhiên điều đó tùy thuộc vào mức độ của hiểu biết.

Cần phải tích lũy những gì để có thể tạo duyên cho sự tận diệt Tà kiến? Chúng ta đã nói có 3 loại sila: kusala sila (giới thiện), akusala sila (giới ác), và loại thứ ba thì khó hiểu hơn vì nó rất vi tế, nhưng nó có đó. Có rất nhiều người không sát sinh, đúng không? Chúng ta không sát sinh hàng ngày, một số người sát sinh những con nhỏ như kiến hay côn trùng, động vật và sâu bọ, nhưng không sát sinh người chẳng hạn. Khi có sát sinh xảy ra, cái đó được gọi là akusala sila – giới ác, khi không có sát sinh, đó được gọi là kusala sila- giới thiện. Tuy nhiên giới thiện có thể được thực hiện mà không đi kèm chút hiểu biết nào. Hiểu biết hiểu rằng, cả khoảnh khắc có sát sinh hoặc không có sát sinh đều là vô ngã. Yếu tố làm duyên quan trọng nhất vẫn là hiểu biết đúng. Nếu không, sẽ không có cách nào để thấy rằng không có cái ngã nào cả, dù ta cử động, nói hay suy nghĩ.

Ngay cả cách ngồi hiện giờ của mọi người ở đây đều rất khác nhau, mỗi người trong một tư thế. Đó là do tích lũy của chúng ta từ vô lượng kiếp. Nhưng tà kiến có thể được tận diệt khi có thêm hiểu biết đúng. Tà kiến là một thực tại, cũng như Chánh kiến là một thực tại. Chính vì vậy Đức Phật có chỉ ra rằng Bát chánh đạo khác với Tà đạo. Khi không có hiểu biết thì các yếu tố trở thành tà, và như vậy sẽ có Bát tà đạo. Vậy làm sao ta có thể biết được con đường đạo này là chánh hay tà đây? Nếu không có hiểu biết đúng về thực tại hiện giờ, sẽ có ý niệm về ngã.  Bản thân hiểu biết đúng hoặc vô minh cũng là vô ngã, tất cả các thực tại đều là vô ngã, đều không phải là “tôi”. Và khi không cho các thực tại là tôi hay ta, sẽ có Con xin quy y Pháp thực sự. Đó là cách duy nhất để phát triển hiểu biết và loại trừ Tà kiến.

Trong một ngày, khi không có sự xao lãng, sẽ có thể có sự suy xét liệu cái này có phải là sila hay không? Mặc dù có suy xét như vậy, nhưng khoảnh khắc đó vẫn chỉ là suy nghĩ chứ không phải là kinh nghiệm trực tiếp về thực tại đó ở khoảnh khắc nó sinh khởi. Nhưng bản thân việc suy nghĩ ấy cũng có thể dẫn tới  hiểu biết kỹ càng hơn về thực tại. Cái thấy hiện giờ đã được hiểu là vô ngã một cách trực tiếp hay chưa? Những khoảnh khắc như vậy chính là quá trình phát triển hiểu biết mà chúng ta gọi là bhavana. Bhavana không phải là việc “làm” một cái gì đó mà chúng ta vẫn coi là thực hành. Hiện giờ liệu có thể có bhavana hay không? Liệu có thể có thực hành hiện giờ hay không? Liệu có cần đi đến một nơi nào đó để thực hành khi vẫn chưa có hiểu biết về mặt lý thuyết về cái đang xuất hiện hiện giờ?

Jonathan:     Như vậy sự thực hành đúng nhất chính là khoảnh khắc chánh niệm về thực tại. Khi Đức Phật nói đến sự thực hành, ý nghĩa thực sự mà Ngài muốn nói đến không phải là ai đó có thể làm một cái gì đấy để chánh niệm, mà là nói đến sự sinh khởi của khoảnh khắc thực sự có chánh niệm về thực tại. Nếu chúng ta vẫn chưa hiểu được sự khác biệt giữa “ý nghĩa thực sự của sự thực hành” (là những khoảnh khắc có chánh niệm thực sự sinh khởi) với việc cho rằng “thực hành là ai đó làm một cái gì đó”, sẽ không thể nào hiểu được những phần còn lại của giáo lý. Điều này sẽ đưa chúng ta quay về câu hỏi ban nãy rằng “làm những việc thiện tách rời với hiểu biết thì có phải là phát triển Bát chánh đạo hay không?” Mặc dù Giới, Định hay Bố thí là những thiện pháp sẽ hỗ trợ cho việc phát triển hiểu biết, nhưng bản thân chúng không phải là những bước để đi tới con đường phát triển Tuệ giác. Bởi lẽ, lời dạy về Vô ngã và về các thực tại là lời dạy duy nhất chỉ có Đức Phật mới thuyết giảng, không một ai khác có thể thuyết giảng về những điều ấy. Mặc dù chúng ta cần phát triển mọi loại thiện pháp nhưng chúng ta không nên nhầm lẫn cho rằng tất cả các loại thiện pháp đều là sự phát triển tuệ giác. Tất cả các thiện pháp đều cần được phát triển, nhưng cái mà chúng ta cần phải phát triển nhất chính là chánh niệm và hiểu biết về các thực tại.

Achaan:         Có ai muốn hỏi gì về hai loại kusala sila và akusala sila hay không? Và kusala sila- giới thiện thì có tôn giáo hay quốc tịch không? Nó có phải là Việt nam hay Thái lan hay không? Giới không thuộc về quốc tịch nào cả, cả giới bất thiện cũng không thuộc về quốc tịch nào cả. Tất cả đều là pháp, không phải là ai, không phải là chúng sinh nào cả. Chúng chỉ là pháp thiện hoặc pháp bất thiện mà thôi. Hiểu như vậy mới có thể tận diệt được các ý niệm về “tôi”, về “người ấy” hay “cô ấy”. Nếu các bạn không có câu hỏi gì về sila thì chúng ta có thể chuyển sang nói về Định- samadhi.

Bất cứ ai cũng có thể giữ giới mà không có trí tuệ, nhưng nếu có hiểu biết, hiểu biết sẽ thấy được lợi ích của giữ giới và tác hại của bất thiện pháp. Chính vì vậy trí tuệ hay hiểu biết đúng sẽ dẫn tới càng nhiều thiện pháp hơn, bởi vì trí tuệ thì thấy được hiểm họa của bất thiện pháp và ích lợi của thiện pháp. Chính vì vậy thực tại tốt đẹp nhất trong tất cả các thực tại hữu vi chính là Trí tuệ – panna, không phải chỉ là Giới và Định.  Có câu hỏi gì về sila nữa không?

Học viên 3:   Xin bà nhắc lại về akusala sila- ác giới, nó có nghĩa là gì?

Achaan:         Không phải chỉ có tâm và tâm sở đúng không? Cũng có cả thân nữa. Thân là gì, thân là một thực tại không kinh nghiệm gì cả. Bản thân cái thân thì không có giới. Bất cứ khi nào có khẩu và thân thì về mặt thực chất, đó là do tâm cùng với các tâm sở đã tạo duyên để cho thân cử động và khẩu được phát ra. Bản thân cái thân không thể có tác ý làm gì cả, nó không thể tự cử động hay có bất cứ hành động nào hết. Như vậy chỉ ở trong tâm mới có ý niệm làm việc tốt hay là làm việc xấu. Khi có tâm thiện, nó sẽ tạo duyên để thân cử động theo cách thiện. Lời giải thích này sẽ tạo duyên cho hiểu biết rằng chỉ có các tâm, tâm sở và sắc (hay than). Khi tâm là bất thiện, chẳng hạn như tâm tham, nó sẽ tạo duyên cho thân cử động theo cách biểu hiện của cái tham đó. Như vậy ở khoảnh khắc của giới bất thiện, tâm sẽ tạo duyên cho thân cử động làm việc sát sinh hay trộm cắp. Ngược lại khi tâm là thiện, nó sẽ tạo duyên cho thân cử động theo cách là thiện, chẳng hạn như giúp đỡ người khác, hay là đảnh lễ người đáng đảnh lễ. Đó là giới thiện. Tuy nhiên giới thiện có thể được thực hiện với hiểu biết đúng hoặc không với hiểu biết đúng. Khi không có hiểu biết đúng về thực tại ở khoảnh khắc của giữ giới, đó không phải là adhi sila – thượng giới – tức là giới ở mức độ cao hơn. Chỉ có Đức Phật mới có được hiểu biết cụ thể, chi tiết về mọi thứ. Mức độ cao thượng của Giới Định Tuệ là adhi silathượng giới, adhi citta/adhi samadhi – thượng định, và  adhi panna –  thượng tuệ

Sarah:            Khi nói đến con đường Bát chánh đạo là nói đến Giới- Định- Tuệ ở mức độ cao thượng hơn tức là adhi sila -adhi citta- adhi panna. Nó khác với những gì mà chúng ta vẫn nghĩ đến Giới- Định- Tuệ theo cách thông thường. Trong một ngày ở những khoảnh khắc của ác giới hoặc thiện giới, nếu không có hiểu biết đúng thì khoảnh khắc đó đều không phải là adhi sila. Nó không thể dẫn đến sự sinh khởi của ahi sila,  tức là Giới thuộc về Bát chánh đạo. Xin nhắc lại, adhi có nghĩa là cao hơn, cao thượng hơn. Adhi sila – adhi samadhi – adhi panna chính là con đường dẫn tới giác ngộ. Định cũng vậy, nếu Định bình thường không kèm với trí tuệ thì cũng không phải là chánh định của Bát chánh đạo.

Achaan:         Nói rằng nếu không có giới thì ta không thể thực hành là đúng hay sai? Chẳng hạn bây giờ chúng ta đang ngồi đây, không sát sinh không trộm cắp, không làm việc bất thiện thì có thể gọi là đang thực hành không ? Vì vậy để có hiểu biết đúng hơn về các thực tại là vô ngã thì cần phải nghiên cứu rõ hơn. Để thấy được rằng chỉ ở những khoảnh khắc của hiểu biết trực tiếp về thực tại, khi đó mới có adhi sila – adhi samadhi – adhi panna. Nếu vẫn chưa có khoảnh khắc đó sinh khởi thì vẫn chưa phải là adhi sila – adhi samadhi – adhi panna. Nếu nói rằng không có giới thì ta không thể thực hành thì điều đó có nghĩa như thế nào?

HV 3:             Do trong quá khứ nhiều đời mình huân tập các hành động bất thiện nên nó thành thói quen. Chẳng hạn khi con muỗi cắn thì liền theo phản xạ tự nhiên là muốn đập con muối, nhưng khi giơ tay lên thì nhớ tới là giữ giới không sát sinh và mình dừng cái hành động đó lại hoặc rải tâm từ. Vậy lúc đó cái ý niệm biết cái tác ý muốn đập con muỗi và tiếp theo cái ý niệm khởi lên biết đây là hành động bất thiện và dừng lại thì đó có phải là thiện giới, kusala sila không?

Achaan:         Khi đó là bạn hay biết hay là chánh niệm hay biết?

HV 3:             Đó không phải là con mà là pháp sinh khởi.

Achaan:         Về mặt bản chất thì đó không phải là một ai đó, mà đúng là một thực tại. Nó chỉ sinh khởi do duyên và thực hiện chức năng của mình. Nhưng do tích lũy vô minh của chúng ta nên thông thường, vẫn có sự chấp vào “đây là giới của tôi”, đây là sự giữ giới của tôi. Cho đến khi có hiểu biết đúng cùng với chánh niệm sinh khởi để hiểu rằng thực tại đang sinh khởi này là vô ngã không phải là ai cả.

Để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về sila. Tôi lại đặt câu hỏi lần nữa. Hiện giờ có sila không? Hiện giờ chúng ta đang ngồi, không sát sinh, không trộm cắp mà chỉ chú ý lắng nghe, nếu có hiểu biết, khi đó có thiện và cũng được coi là có sila, có giới. Tất cả các thiện pháp (kusala) đều là sila. Nhưng đó mới chỉ là sila thôi, chưa phải là adhi sila. Chỉ đến khi có chánh niệm cùng hiểu biết sinh khởi và hiểu được đúng thực tại hiện giờ như nó là, khi ấy sẽ không còn hoài nghi về sự khác biệt giữa Giới và Giới cao thượng. Đó là những mức độ khác nhau của thiện pháp.

Sadhu sadhu sadhu!

 

, , , ,

Pháp đàm tại miền Trung tháng 5 2014 – các bản thu âm

Xin mời các quý vị truy cập trang:

https://archive.org/details/20140518Pm

Các phần thu âm này chưa được hiệu đính nên không tránh khỏi có những chi tiết chưa được chính xác trong dịch thuật, kính mong các quý vị lượng thứ.

, , , , , ,

Pháp đàm chiều ngày 01- 09 – 2013 tại Sài Gòn

3/ Pháp đàm buổi chiều ngày 01.09.2013 tại Sài Gòn

 

Học viên 9:   Hồi sáng Achaan có hỏi con về hiểu đúng. Theo con nghĩ rằng hiểu đúng có nghĩa là hiểu làm sao để không bị mê, không bị sai lầm và phải có cả sự tư duy trong đó mới được gọi là hiểu đúng.

Achaan:        Khi chúng ta nói đến hiểu biết đúng, chúng ta phải nói rõ hiểu biết ấy hiểu cái gì. Nếu không sẽ chỉ là chung chung. Vì vậy, chúng ta cần phải đặt câu hỏi, hiểu biết đúng hiểu cái gì?

HV 9:            Hiểu đúng là hiểu về đối tượng

Achaan:        Hiện giờ đối tượng là gì? Một cái một lúc thôi, bạn hãy nói từng đối tượng một mà thôi.

HV 9:                        Đối tượng mà chúng ta đang nói chuyện ở đây là về bài pháp.

Achaan:        Nếu không có suy nghĩ thì có thể có bài pháp hay không? Sẽ không thể có, đúng không? Cái gì tạo duyên cho việc nói về pháp? Kể cả từ pháp cũng là một âm thanh cần có duyên để sinh khởi. Và cái gì tạo duyên cho sự sinh khởi của từ dhamma- pháp? Nếu không có suy nghĩ về pháp thì liệu có thể làm duyên cho việc phát ra cái âm thanh “pháp” hay không? Và như vậy tâm nghĩ đến từ này cùng với tưởng và rồi phát ra từ “pháp”.Như vậy âm thanh đó được tạo duyên bởi tâm. Mỗi từ đều được tạo duyên bởi tâm, mỗi cái ở một thời điểm. Tâm suy nghĩ nhưng không phải lúc nào cũng tạo ra âm thanh. Nếu tâm luôn tạo duyên cho âm thanh thì thế giới này sẽ vô cùng ầm ĩ.

Vậy thực tại của cái mà chúng ta gọi là bài pháp là gì đây? Để hiểu về thực tại, chúng ta có thể thấy rằng, nếu không có suy nghĩ, không thể có ý niệm về pháp đàm. Hiện giờ đang có cái thấy, cái nghe và suy nghĩ. Đó là những thực tại khác nhau.  Từng thực tại đó đều có thể là đối tượng của hiểu biết, riêng biệt từng thực tại một. Nếu không sẽ chỉ là sự phỏng đoán chứ không phải là hiểu biết trực tiếp về cái xuất hiện như nó là. Có rất là nhiều mức độ hiểu biết khác nhau.

Sarah:           Achaan muốn cho bạn hiểu rõ hơn về sự phân biệt giữa thực tại và khái niệm. Khi chúng ta nói đến những thứ như hoa, bàn, hoặc pháp đàm thì đó là khái niệm. Tuy nhiên, sự phát triển tuệ giác không phải là phát triển hiểu biết về khái niệm mà là về thực tại. Và thực tại tạo nên những khái niệm đó.  Những thực tại tạo nên pháp đàm chính là âm thanh, đối tượng thị giác, suy nghĩ, v.v.. và sự phát triển hiểu biết phải dựa trên những thực tại có thể được kinh nghiệm trực tiếp. Nếu không, sẽ chỉ là suy nghĩ mà thôi.

Chính vì vậy Đức Phật đã dạy cho chúng ta về hai loại thực tại khác nhau. Loại thứ nhất là thực tại chế định, là những khái niệm được quy ước, và loại thứ hai là những thực tại chân đế. Các khái niệm chế định không cần một Đức Phật ra đời để thuyết giảng, ai cũng biết đây là bông hoa, đây là pháp đàm. Nhưng phải có sự ra đời của một Đức Phật toàn giác thì chúng ta mới biết bản chất của những cái đó là gì. Chẳng hạn, bây giờ đây, cái được xúc chạm không phải là vào một bông hoa, về mặt bản chất cái được xúc chạm là cứng, nóng, lạnh, mềm, v.v. Đó là điều mà Đức Phật đã giác ngộ và chỉ dạy cho chúng ta.

Hôm qua một bạn đã hỏi câu hỏi về đối tượng thị giác về cái được thấy, ở khoảnh khắc nhãn thức sinh khởi về màu sắc. Achaan hỏi bạn có muốn đặt thêm câu hỏi về điều này không?

Học viên 5:   Hôm qua con hỏi, cái khoảnh khắc đầu tiên khi mình bắt đầu mở mắt, nhìn thấy hình và màu, chưa có ý thức sinh khởi, chưa có khái niệm chen vào. Cái đó có phải là thực tại không, hay là do cái thức nó chưa kịp hoạt động nên mình mới thấy như vậy?

Achaan:        Khi bạn nói thức chưa hoạt động, thì bạn hàm ý nói đến cái gì?

HV 5:                        Cái đó là do con kinh nghiệm, sau giấc ngủ hoặc sau nhắm mắt, thì lần mở mắt đầu tiên, ở khoảnh khắc đầu tiên, nhanh hơn cả cái nháy mắt, nó chỉ là hình với màu thôi. Sau khoảnh khắc đó thì nó bắt đầu thấy cái bàn, cái ghế và nó bắt đầu phân tích.

Achaan:        Ai thấy cái đó? Ai thấy sắc và màu?

HV 5:                        Tâm- citta

Achaan:        Hiện giờ, hay đã qua rồi? Khoảnh khắc mà bạn nói đến đã qua rồi, thế còn bây giờ, cái tâm hiện giờ? Bây giờ chúng ta hãy nói về cái hiểu đúng, về cái tâm hiện giờ, để có thể hiểu hơn về cái đã qua đi.

HV 5  :           Con chưa có học Vi diệu pháp, nên con rất lờ mờ. Mong Achaan giảng thêm.

Achaan:        Có thể có cái hiểu về tâm hiện giờ hay không? Bởi vì hiện giờ đang có tâm, đúng vậy không? Nếu như có cái hiểu đúng về cái tâm hiện giờ, thì nó sẽ là câu trả lời cho tâm ở bất cứ khoảnh khắc nào. Tâm chỉ là tâm, dù là nó sinh khởi lúc nào và nó kinh nghiệm cái gì.

Sarah:           Chúng ta có thể có những kinh nghiệm đặc biệt, và chúng ta có thể nghĩ đó có thể là những khoảnh khắc không có thức, và có thể có suy nghĩ về khoảnh khắc đó, mỗi người có một cách diễn giải riêng, Nhưng phép thử về mức độ trí tuệ luôn luôn là bây giờ. Nếu ở khoảnh khắc hiện giờ không có hiểu biết đúng về cái đang xuất hiện, điều đó cho thấy rằng những gì đã xảy ra trước đây chưa phải là hiểu biết thực sự. Chính vì thế, chúng ta luôn nói về cái hiện giờ. Bây giờ đang có cái thấy, liệu có sự hiểu đúng về cái thấy như nó là hay không, nếu như có hiểu đúng về cái thấy như nó là thì mới có thể cho phép biết cái trong quá khứ có đúng hay không, còn nếu không thì đó chỉ là suy nghĩ của chúng ta mà thôi.

HV 5:                        Achaan có giảng về chánh niệm. Khi con học các vị có dạy là đi, đứng, ngồi nằm, mở cửa mà hay biết là chánh niệm, nhưng Achaan nói là chưa đúng. Thực tại trong từng khoảnh khắc thì nó sanh diệt rất nhanh. Học chánh niệm trong khoảnh khắc đó thì rất trừu tượng và khó. Như vậy nếu thiền sinh chánh niệm theo cách tới lui này nọ là không đúng, thì cách nào mới là đúng? Thưa Achaan.

Achaan:        Bạn muốn điều gì hơn? Bạn muốn hiểu đúng hay là bạn muốn có chánh niệm?

HV 5:               Con muốn hiểu đúng và chánh niệm như thế nào cho đúng.

Achaan:        Khi bạn nói vừa muốn phát triển hiểu biết vừa muốn có chánh niệm, như vậy có ý niệm về muốn ở đó rồi. Nếu có ý muốn, điều đó không thể là duyên cho chánh niệm sinh khởi vì chánh niệm cần phải có duyên riêng để nó sinh khởi. Vì mọi pháp đều là vô ngã, nên không ai có thể, bằng ý muốn của mình, làm cho chánh niệm sinh khởi – nó cần phải có duyên đầy đủ. Nếu không từng được nghe pháp, thì trong một ngày chúng ta có thể có ý niệm nào về chánh niệm hay không? Sau khi nghe pháp, chúng ta bắt đầu quan tâm đến việc có chánh niệm. Như vậy lúc đó vẫn là có một cái “tôi” muốn có chánh niệm. Thực tế nó [sự phát triển chánh niệm] không diễn ra như vậy, chỉ cái hiểu đúng về cái đang xuát hiện hiện giờ mới làm duyên cho khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp và khoảnh khắc đó chính là chánh niệm –sati mà tôi đang nói tới.

Chẳng hạn như, nếu có hiểu biết đúng về cái hiện giờ xuất hiện, khi ấy có sati. Từ “sati” là từ bằng tiếng Pali nhưng thực chất là tiếng Magadhi (Ma kiệt đà) ở thời Đức Phật. Đó là thứ tiếng mà người dân bình thường dùng ở thời kỳ đó. Cái gì thú vị hơn: cố gắng để hiểu từ “pháp”, hay chỉ đơn giản hiểu cái gì đang xuất hiện hiện giờ? Nếu chúng ta chỉ cố muốn hiểu pháp mà không hiểu về cái đang xuất hiện hiện giờ, điều đó chứng tỏ rằng chúng ta chưa biết pháp là gì. Ở khoảnh khắc của hiểu biết, đó có phải là tôi, là một ai đấy hay đó chỉ là thực tại hiểu mà thôi? Và liệu trí tuệ có thể sinh khởi mà không có chánh niệm hay không? Điều ấy là không thể, chính vì vậy, bất cứ khoảnh khắc nào có hiểu biết đúng, ở khoảnh khắc đó đã có chánh niệm rồi, nếu không thì đó sẽ không phải là hiểu biết. Nhưng chánh niệm khi được nghe pháp không ở cùng mức độ với chánh niệm ở khoảnh khắc kinh nghiệm trực tiếp thực tại. Nếu bây giờ không có hiểu biết rằng cái thấy là một thực tại và nó sinh khởi do duyên, không có một ai ở đó, liệu có thể có được khoảnh khắc sinh khởi hiểu biết về cái thấy, rằng không có một ai ở đó cả hay không? Lobha- tham có thể dính mắc với bất cứ cái gì, trừ thực tại là Niết bàn. Bởi vì con đường để chứng ngộ Niết bàn cũng là con đường của sự xả ly, suốt dọc con đường ấy là như vậy. Vậy ở khoảnh khắc muốn bất cứ một cái gì đó thì đều là khoảnh khắc của sự dính mắc, không phải là sự xả ly, không phải là Chánh đạo. Sati cũng sinh và diệt, vậy tại sao ta lại muốn có nó? Nếu ta muốn có chánh niệm, ta cũng sẽ muốn có những thứ khác nữa. Bởi vì khi đó tham có đối tượng là chánh niệm. Nhưng nhờ có việc hiểu rằng không có một thực tại nào, kể cả chánh niệm, có thể được tạo ra do ý chí của mình, hiểu biết ấy dần tăng trưởng có thể làm duyên cho chánh niệm trực tiếp sinh khởi. Vậy thì tại sao không phát triển các duyên để cho chánh niệm sinh khởi thay vì việc muốn có chánh niệm mà không có duyên tương ứng cho chánh niệm sinh khởi.

Sarah:           Bạn có nói đến khái niệm về hay biết khi ta đang mở cửa, hay làm những việc khác nhau. Những sự hay biết đó, một người chưa biết gì về giáo pháp, hay một đứa trẻ cũng có thể biết được nó đang làm gì, không cần tới một Đức Phật ra đời để biết về những việc đó. Như vậy thì chánh niệm mà Đức Phật nói tới không phải là những việc bình thường đó.

Achaan:       Có hai cách, cách nào là đúng đây: một là cố gắng để có chánh niệm; và cách thứ hai là hiểu rằng chánh niệm là một thực tại, không phải là “ta”, nó sinh khởi do duyên khi có đủ điều kiện cho nó sinh khởi. Nếu không hiểu rõ điều ấy, bản thân chánh niệm cũng sẽ trở thành đối tượng của tham.

HV 5:             Achaan có nói các pháp tự vận hành, phải để cho nó vận hành tự nhiên. Ở đó chỉ có Tâm sinh khởi để hiểu và cái sự hiểu chỉ mang bản chất là pháp, chứ không định đặt, không đúng và không sai, có phải như vậy không ạ?

Achaan:         Khi bạn nói là để các pháp, thì ai là người để các pháp? Có ai là người có cái quyền năng “để” các pháp vận hành không?

HV 5:             “Để các pháp vận hành là ngôn từ để hiểu. Nếu con dùng ngôn từ [như vậy] thì là để Achaan hiểu điều con nói. Ngôn từ cũng chỉ là ngôn từ thôi ạ.

Achaan:        Nhưng thực tại thì nó đã diệt đi trước khi ta để cho nó diệt đi. Và đấy thực ra chỉ là một ý niệm là tôi buông bỏ hay tôi để cho nó, chứ thực ra thì thực tại đã diệt đi trước khi ta có ý niệm đó rồi.

HV 5:                Nếu chánh niệm nghĩa là chánh niệm về thực tại, cái sinh diệt liên tục. Vậy hành động đi tới đi lui để mình có chánh niệm thì trong lúc đó có rất nhiều thực tại sanh diệt liên tục mà không có hiểu biết. Điều này có nghĩa rằng trong lúc đó mình đang sống ở trong tâm si, phải không ạ?

Achaan:        Chánh niệm sinh khởi trước khi ta nghĩ về nó, hay là sau khi ta “để” cho nó sinh khởi? Cái thấy sinh khởi trước khi ta để cho cái thấy thấy. Điều ấy cho thấy rằng những gì mà chúng ta có chỉ là toàn những ý niệm về “tôi”, “tôi” có thể làm cái này hay cái kia. Nhưng ai có thể làm cho chúng sinh khởi theo  ý chí đây, bạn có thể thay đổi ý nghĩ của bạn không? Có ai có thể thay đổi suy nghĩ của mình ở khoảnh khắc của suy nghĩ hay không? Không thể bởi vì nó đã sinh khởi rồi.

HV 5:                                                   Nếu nó nhanh như vậy, thì việc học để cho có sự hiểu biết đúng, thì cũng vẫn là suy nghĩ thôi. Chúng ta học là để hiểu các pháp nó sinh khởi như vậy, nhưng mình không làm được, vẫn chưa phải là kinh nghiệm trực tiếp. Vậy có thể nói việc học này cũng đã là chánh kiến, chánh tư duy không ?

Sarah:           Như bạn nói, phần lớn thời gian trong ngày, hay việc mở cửa trong sự hay biết, nhưng vẫn là trong vô minh, thì đúng là như vậy. Nhưng không chỉ có vô minh, trong đó còn có sự dính mắc vì “muốn”, và thêm vào đó là ý niệm về ngã tức là tà kiến cho rằng “tôi” đang cố gắng giữ chánh niệm. Và đó không phải là con đường phát triển đúng. Mặt khác, tuy nhiên nếu chúng ta bắt đầu hiểu biết đúng về mặt lý thuyết về cái gì là thực và có sự suy xét dần dần thì những hiểu biết đúng đó sẽ tiếp tục được tích lũy và dần dần có thể làm duyên cho chánh niệm thực sự sinh khởi về thực tại một cách trực tiếp, một cách tự nhiên chứ không phải bằng việc cố.

HV 5:               Con rất tri ân Achaan và cô.

Học viên 10: Tại thời điểm ta biết rằng nếu không có đối tượng sinh khởi thì cũng không có thực tại sinh khởi để chánh niệm về đối tượng đó. Lúc đó ta hiểu được như vậy thì có phải là chánh niệm hay không?

Sarah:            Về lý thuyết chúng ta biết chắc chắn rằng nếu không có đối tượng, sẽ không thể có tâm biết đối tượng đó. Chẳng hạn phải có đối tượng thị giác thì mới có nhãn thức sinh khởi hay biết đối tượng đó. Tâm luôn kinh nghiệm một đối tượng. Nhưng khi đặt câu hỏi, như vậy có phải là chánh niệm hay không, [thì câu trả lời là] chánh niệm bản thân nó sẽ hay biết một cách rõ ràng, nên khi có sự hoài nghi rằng khi đó có chánh niệm hay không, điều đó chứng tỏ đó chưa thực sự có chánh niệm. Khi chánh niệm thực sự sinh khởi, sẽ không phải là chánh niệm của ai cả, không phải là chánh niệm của tôi, mà nó chỉ là chánh niệm mà thôi. Thay cho việc hoài nghi về những gì đã qua rồi, thì ngay tại thời điểm này, cái gì đang xuất hiện đều có thể là đối tượng của hiểu biết và chỉ có cái đang xuất hiện hiện giờ [mới có thể được hiểu] mà thôi.

HV 10:           Chẳng hạn bây giờ tâm đang có sự hồi hộp, vậy sự ghi nhận trạng thái tâm như vậy có phải là chánh niệm không?

Sarah:            Khi ta có ý niệm rằng tôi đang có cảm xúc như thế này, tôi đang cảm thấy hồi hộp, thì lúc đấy ý niệm về tôi đã có ở đó rồi. Đó không phải là chánh niệm mà chỉ là suy nghĩ về cái đã xảy ra rồi thôi.  Khi bạn nói đến những cảm xúc, thì bạn muốn nói đến cái gì, nó ở đâu?

Khi có chánh niệm về cảm xúc, thực tại của cảm xúc đó là gì?

HV 10:           Lúc đó cái tâm nó nói là hãy quay về nhìn tâm đi, đừng để đối tượng chi phối. Sự hồi hộp nó sẽ từ từ xuống. Cái tâm nó ghi nhận cái tâm khác nó đang hồi hộp như vậy.

Sarah:            Như Achaan đã nói, chánh niệm bao giờ cũng rất chính xác và chi tiết. Thông thường mọi người hay nói “tôi hay biết về cảm xúc, về cái này hay cái kia” một cách rất chung chung. Bởi vì khi mà chúng ta nói về cái việc hay biết một cái cảm xúc nào đấy, nó cũng tương tự như việc hay biết ta đang mở cửa, nó cũng không khác gì với cái cách người thông thường biết về cảm xúc của họ hay những việc họ đang làm, Nhưng khi ta nói về chánh niệm mà Đức Phật đã dạy, chánh niệm đó hay biết về thực tại, và chỉ có một thực tại ở một thời điểm mà thôi. Nếu không biết rõ chánh niệm hay biết cái gì một cách chuẩn xác, sự hay biết ấy sẽ không phải là chánh niệm.

Học viên 2:   Lúc nãy Achaan có nói là, tại sao chúng ta phải đi tìm chánh niệm mà không tạo cái duyên để cho chánh niệm sinh khởi, bởi vì mọi pháp đều do duyên sinh khởi. Vậy những cái duyên để cho chánh niệm sinh khởi là gì ? Làm sao để tạo được những duyên này và nếu chúng ta nói là không có cái tôi, cái ta ở đây, thì ai là người tạo ra những cái duyên này để cho chánh niệm sinh khởi?

Achaan:         Tạm hoãn lại câu hỏi của bạn. Tôi muốn nói tiếp về những gì đang diễn ra ở đây.

Dường như chúng ta đi tìm ngôn từ cho những cái gì mà mình kinh nghiệm, nhưng việc tìm ngôn từ cho những gì đã được kinh nghiệm như vậy có cần thiết hay không? Dù cho ta gọi nó là gì đi nữa thì đó vẫn là thực tại và nó là thực. Nó có thể được hiểu, cho nên gọi nó là gì không quan trọng, không cần phải biết nó có phải là sati hay không? Bởi vì, dù ta gọi cái thấy là cái thấy hay không, thì đặc tính của cái thấy vẫn là thấy, bất kể ta gọi nó là gì, tất cả những gì sinh khởi đều là đối tượng của hiểu biết, không cần phải đặt tên. Ta cần nói đến tên khi cần phân biệt điều đang nói tới, là về cái thấy, cái nghe hay là những thực tại khác, khi đó ta cần dùng tên. Nhưng cái đã qua rồi, sinh khởi rồi thì chúng ta không cần đặt tên cho nó nữa.

Như cái thấy hiện giờ, cái thấy thấy, nó không phải là Việt nam, Thái lan hay là một quốc tịch nào khác, đặc tính của cái thấy là một, và cái thấy sinh khởi do những duyên của nó, và nó là vô ngã, nó sinh và diệt đi để cho thực tại khác sinh khởi, chẳng hạn như cái nghe. Không có ai ở trong đó cả. Điều mấu chốt ở đây là hiểu được  những gì Đức Phật dạy, và suy xét xem nó có thực hay không? Những gì Đức Phật nói tới hiện giờ có thể được kiểm chứng hay không? Nếu chúng ta thấy được một phần những gì Đức Phật nói tới là đúng, chẳng hạn rằng cái thấy thì sinh và diệt và chúng ta không thể kiểm soát được nó, thì điều ấy có thể làm duyên cho việc tiếp tục phát triển hiểu biết, đến mức độ có thể kinh nghiệm trực tiếp về điều đó, để biết rằng Đức Phật đã nói hoàn toàn sự thực về bản chất của thế giới chứ không phải là nghĩ là một chủ thuyết nào đó. Hiện giờ, trí tuệ chưa đủ mức để hiểu tất cả những gì mà Đức Phật đã dạy. Như vậy chúng ta cần phải nghiên cứu một cách rất cẩn thận để biết được Đức Phật thực sự nói những gì. Phải đi từng từ một, tức là nói đến một thực tại này, rồi mới chuyển sang một từ khác hay là một thực tại khác. Như là từ sati –chánh niệm, chúng ta có thể nói rất nhiều về từ đó, nhưng thực sự nó là gì? Liệu bây giờ có sati hay không? Chúng ta cần phải tìm hiểu để biết được ý nghĩa thực sự của từ sati. Ở khoảnh khắc của cái nghe, chỉ nghe thôi, liệu có chánh niệm ở ngay khoảnh khắc ấy hay không? Câu trả lời của các bạn là gì nào? Có chánh niệm sinh khởi cùng với cái nghe không?

Ai đó Trả lời:            Có.

Achaan:         Đức Phật không dạy như vậy, ở khoảnh khắc của cái nghe, nó chỉ sinh khởi để kinh nghiệm âm thanh mà thôi; rồi cái nghe diệt đi và có các tâm khác tiếp nối. Có rất nhiều loại tâm khác nhau, những tâm đó có đặc tính khác nhau và Đức Phật dạy về tất cả các tâm đó. Nếu không có giáo lý của Đức Phật, mỗi người sẽ tự nghĩ ra những ý niệm khác nhau. Có người có thể nói rằng có chánh niệm với cái nghe, và có người nói rằng không có chánh niệm với cái nghe, Nhưng khi chánh niệm thực sự sinh khởi thì nó tự biết điều ấy. Vậy thực chất sati là gì?

Người phiên dịch: Có ai muốn trả lời không ạ?

Trả lời:          Ghi nhận

Achaan:         Chẳng hạn như bây giờ chúng ta nhận biết rằng bông hoa này khác với bông hoa kia, cái đó có phải là sati không?

Trả lời:          Không

Achaan:         Vậy thì sati là gì?

Trả lời:          Ghi nhận và hiểu.

Achaan:         Sati là một thực tại hay biết thiện pháp, ở những khoảnh khắc chúng ta hay biết về việc mở cửa hay làm gì đó thì không phải là sati. Khi có sati, khoảnh khắc đó là khoảnh khắc của tâm thiện. Trong một ngày có rất ít thiện pháp bởi không có sati sinh khởi để biết cái gì là thiện. Ở những khoảnh khắc của thiện pháp, chẳng hạn như bố thí, ở khoảnh khắc đó có chánh niệm, có thiện pháp. Nhưng đó không phải là “tôi” làm việc thiện, mà chính là sati làm nhiệm vụ biết cái gì là thiện. Ở khoảnh khắc của bố thí, có sati hay biết về thiện pháp là bố thí cho người khác. Ở khoảnh khắc của giữ giới, có sati hay biết về thiện pháp không làm tổn hại đến người khác. Ở khoảnh khắc có từ tâm, có sati hay biết việc không thù hận, không thù địch với những người khác. Ở khoảnh khắc có hiểu biết rằng chưa có cái hiểu về cái đang xuất hiện hiện giờ, có sati cùng với hiểu biết rằng cần phải phát triển hiểu biết. Như vậy, sati – chánh niệm sinh khởi chỉ với tất cả những khoảnh khắc của tâm thiện. Nhưng có nhiều mức độ khác nhau. Ta có thể thấy rằng có những người có thể bố thí một cách dễ dàng và nhanh chóng, đó là bởi họ đã có tích lũy bố thí. Có những người bố thí với những từ không phải là ái ngữ, đó là bởi người đó không có tích lũy để bố thí cùng với ái ngữ. Những khoảnh khắc nói những lời từ ái khác với những khoảnh khắc nói những lời không từ ái. Tất cả những cái đó đều là do duyên, đều vô ngã. Khi có cái hiểu về vô ngã như vậy, ở khoảnh khắc đó cũng có sati nhưng không phải ở mức độ bố thí, trì giới mà có ở mức độ bhavana- phát triển tâm trí. Bất cứ ở khoảnh khắc nào có hiểu biết đúng thì ở khoảnh khắc đó cũng có chánh niệm đi kèm, chúng ta không cần phải muốn có nó. Bởi vì hiểu biết đúng luôn sinh khởi cùng với chánh niệm, cho nên bất cứ khi nào có trí tuệ thì đã có chánh niệm ở đó rồi, vì vậy không cần phải nghĩ làm thế nào để có chánh niệm. Tuy nhiên khi không có hiểu biết, sati vẫn có thể sinh khởi, nhưng chỉ với tâm thiện bình thường mà thôi. Điều ấy cho chúng ta hiểu về tích lũy khác nhau của những người khác nhau. Trong tiếng Pali có từ dana upanissaya- nghĩa là người có tích lũy về bố thí, do họ có tích lũy để bố thí một cách rất thường xuyên. Có người có sila upanissaya, người có tích lũy về trì giới – những người có những việc làm và lời nói chân chánh nhưng lại không có nhiều tích lũy về bố thí. Có người có bhavana upanissaya, người có tích lũy về phát triển tâm trí. Bhavana bao gồm phát triển sự an tịnh – xa rời bất thiện pháp, và sự phát triển hiểu biết đúng về thực tại. Đức Phật dạy chúng ta hiểu đúng về mọi thứ và mọi người ở bất cứ thời điểm nào. Chúng ta không thể bắt người khác quan tâm đến việc nghiên cứu Giáo pháp, có những người có tích lũy về tà kiến. Trong các bất thiện pháp thì tà kiến là bất thiện pháp nguy hiểm nhất. Bởi vì nó sẽ dẫn tới tất cả các bất thiện pháp khác. Nào bây giờ hãy quay lại với câu hỏi ban nãy của bạn.

HV 2:             Nghe Achaan giải thích, con nảy sinh ra một câu hỏi khác là: lúc nãy Achaan nói chánh niệm luôn luôn đi kèm với những thiện tâm, có đúng vậy không?

Achaan:         Hiện giờ chúng ta mới chỉ đang học để hiểu về sati, nhưng đặc tính của sati chưa xuất hiện đúng không? Tức là chánh niệm đang không xuất hiện để cho trí tuệ hiểu về nó. Như vậy là vấn đề không phải là tôi có thể phát triển chánh niệm hay không, bởi cái “tôi” ấy không có, mà là liệu đã có duyên cho sati sinh khởi hay chưa. Không giống như cái thấy và cái nghe hiện giờ, cái thấy và cái nghe xuất hiện đối với tất cả mọi người. Cho nên ta có nói về chánh niệm thì nó vẫn chưa phải là đối tượng của cái hiểu hiện giờ.

HV 2:             Vậy khi các thiền sư dạy chúng ta phải giữ chánh niệm, phải hay biết trên phiền não của mình, biết tham, biết sân, biết si. Vậy ý nghĩa chánh niệm đó theo như lời chỉ bảo của Achaan thì có phải khi chúng ta có hiểu biết đúng thì chúng ta chánh niệm trên phiền não hay không? Bởi vì nếu cả ngày chúng ta chỉ toàn phiền não thì đồng nghĩa với việc chúng ta chẳng có một tí chánh niệm nào thì làm sao chúng ta hay biết ghi nhận và đoạn trừ được phiền não?

Achaan:         Khi bạn nói rằng, “chúng ta hay biết phiền não”, ý bạn là gì? Chúng ta dùng từ “phiền não”, nhưng thực chất có phiền não xuất hiện trước trí tuệ hay không? Có một hôm chúng tôi đi đến một nơi rất đẹp, rất dễ chịu, có một  người trong nhóm đã nói là “lobha, lobha”  tức là “tham, tham”. Cứ như thể người đó đang thực sự hiểu được là có lobha, nhưng thực ra đó chỉ là nhớ lại từ đó mà thôi. Vì đã được nghe rằng khi kinh nghiệm những thứ dễ chịu, sẽ có lohba sinh khởi, cho nên lập tức có ngay ý niệm “ôi đây là lobha”, nhưng như vậy hoàn toàn không có nghĩa rằng ở khoảnh khắc đó có chánh niệm về thực tại lobha, hiểu đúng và rõ ràng đặc tính của nó. Đó chỉ là tưởng nhớ lại tên gọi của tình huống ấy, như chức năng thong thường của nó. Mỗi khoảnh khắc của cuộc sống đều sinh khởi do duyên, chẳng hạn như khoảnh khắc của cái thấy, cái nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, những thực tại ấy không thể sinh khởi một mình, mà luôn đi kèm với bảy biến hành tâm sở. Ở những khoảnh khắc ngoài thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, ngoài bảy tâm sở đó, sẽ có thêm nhiều tâm sở khác sinh khởi cùng với nó. Những khoảnh khắc đó đều sinh và diệt rất nhiều lần trong ngày mà chúng ta hoàn toàn không hay biết gì về chúng. Còn đức Phật đã xuyên thấu sự thật ấy và dậy cho chúng ta một cách chi tiết sự thật của từng khoảnh khắc một.

Jonathan:     Tôi muốn làm rõ thêm câu hỏi của bạn về việc là, nếu sati chỉ sinh khởi với thiện tâm thôi vậy, nếu cả ngày chỉ toàn phiền não thì sẽ không có một chút sati nào, có phải vậy không? Khi mô tả về sati, Achaan có nói đến những mức độ sati khác nhau và có nói đến mức độ của sila- giới, dana- bố thí, bhavana- phát triển tâm trí. Khi ở mức độ của phát triển tâm trí, bất cứ thực tại nào – kể cả là bất thiện pháp cũng đều có thể là đối tượng của chánh niệm. Như vậy, chánh niệm có thể lấy đối tượng là bất thiện pháp cũng như là thiện pháp, còn ở mức độ của sila (trì giới) và dana (bố thí) thì chánh niệm sinh khởi với tâm thiện.

Tôi muốn trả lời vào câu hỏi vừa nãy, đâu là các duyên cho chánh niệm sinh khởi? Những duyên này đã được Đức Phật thuyết giảng: thứ nhất, gần gũi thiện trí thức, thứ hai, được nghe Chánh pháp, thứ ba, suy xét chân chánh và thứ tư, thực hành tùy pháp. Với câu hỏi làm thế nào để tạo duyên, điều kiện để phát triển chánh niệm? Chúng ta có nói về nghiên cứu pháp, việc nghiên cứu pháp phải bắt đầu từ nghe pháp, nếu không nghe pháp thì chúng ta sẽ không thể phát triển hiểu đúng về pháp. Khi nghe pháp, cũng cần có cái hiểu rằng pháp được nói đến là liên quan đến những gì đang sinh khởi.Việc nghe pháp và suy xét về cái được nghe là một phần của việc tạo nhân duyên cho chánh niệm sinh khởi. Tuy nhiên, khi ta nói đến việc nghiên cứu pháp, thì chúng ta cũng cần phải hiểu rất rõ rằng không có một cái ngã nào, không có một tình huống nào được lựa chọn bởi một cái ngã cả.  Bởi vì chúng ta có thể nghe pháp nhưng chưa chắc đã là chánh pháp. Chúng ta có thể gặp ai đấy và đàm luận về pháp, nhưng liệu đó có chắc là chánh pháp hay không? Cho nên cũng tùy vào duyên mà  chúng ta được nghe loại pháp nào và như vậy bản thân yếu tố “được nghe chánh pháp” cũng sinh khởi do duyên. Việc chúng ta gặp được một bậc thiện trí thức giảng giải cho chúng ta chánh pháp là quả của nghiệp quá khứ. Đó là do những tích lũy trong quá khứ đã tạo ra quả đó, chứ không phải là một thứ mà chúng ta có thể lựa chọn. Theo hiểu biết của tôi, thì mấu chốt ở đây không phải là “thực hành”, mà là “nghiên cứu giáo pháp” theo nghĩa mà chúng ta đã trao đổi từ hai ngày nay.

Điều này cũng liên quan đến lời bình luận hôm qua của bạn, rằng trong Tứ niệm xứ có đề cập tới nhiều cách thức khác nhau, tùy căn cơ khác nhau, người thì ngồi, người thì giữ giới, v.v. Nhưng theo tôi, đó không phải là những cách thức khác nhau mà là lời mô tả các loại căn cơ khác nhau, những tích lũy khác nhau. Điểm chung cốt lõi trong tất cả các lời dậy của đức Phật là sự phát triển hiểu biết, nhưng có sự khác biệt về tích lũy. Chẳng hạn chúng ta đọc phần nói về quán niệm hơi thở: bản thân việc phát triển quán niệm hơi thở không thể tách biệt với hiểu biết đúng. Và luôn luôn phải nhớ một điều là, không một ai phát triển cả mà chỉ có các duyên đang diễn ra và các duyên được phát triển. Cho nên vấn đề ở đây không phải là nói về “ai” phát triển, mà là khi nào, những duyên nào có điều kiện để phát triển.

HV 2:             Lúc nãy ông có nói rằng không có ai ở đấy để tạo duyên cho chánh niệm sinh khởi. Vậy nếu nói như ông thì chúng ta tinh tấn để làm gì? Chúng ta phải tinh tấn nỗ lực vun bồi chánh niệm của mình, để tăng trưởng trong pháp hành chứ?

Jonathan:     Tinh tấn mà Đức Phật nói đến là tâm sở tinh tấn, chánh tinh tấn. Chánh tinh tấn là tâm sở sinh khởi với tất cả các tâm thiện. Khi chúng ta có sự quan tâm tới Giáo pháp, chúng ta ngồi nghe Pháp với sự quan tâm và có hiểu biết thì ở khoảnh khắc đó đã có tinh tấn rồi, không cần ai phải làm một cái gì cả thì mới được gọi là tinh tấn. Thông thường chúng ta cứ nghĩ mình phải nỗ lực, nghĩa là phải làm một cái gì đó đặc biệt. Nhưng khi hiểu đúng về thực tại như Đức Phật đã giảng, thì kể cả những lúc bình thường như thế này – đang lắng nghe – thì đã có chánh tinh tấn ở đấy rồi, nếu như có sự hiểu biết.

Sarah:            Khi có ý niệm rằng phải cố gắng đặc biệt để chánh niệm hoặc hiểu, đó chính là con đường sai- tà đạo – mà Achaan đã nói tới hôm qua, bởi vì nó bị thúc đẩy bởi ý niệm về một cái ngã. Tôi muốn gợi lại nhận xét của bạn hôm qua rằng có nhiều phương pháp khác nhau, có nhiều cách thức khác nhau để tiếp cận. Những cách thức khác nhau đó chỉ đến con đường đúng và các con đường sai, vì Đức Phật chỉ dạy duy nhất một con đường thôi. Con đường đó là phát triển hiểu biết đúng. Đức Phật có nói trong kinh Tứ niệm xứ ba yếu tố, đó là Tinh tấn- Chánh niệm – Tỉnh giác, nhưng những cái đó phải là chánh. Nếu có hiểu biết đúng thì cũng có tinh tấn và chánh niệm ở đó rồi.

Achaan:         Tinh tấn có thể sinh khởi với tham hay không? Dù chúng ta nói đến gì đi nữa, chúng ta cũng phải biết rõ về nó, chẳng hạn khi chúng ta nói về tinh tấn,  chúng ta cần phải hiểu tinh tấn có thể sinh khởi với tham hay không?

Trả lời:          Không

Achaan:         Câu trả lời đúng là Có. Các bạn thấy không, chúng ta cần phải nghe lời dạy của Đức Phật, nếu không chúng ta sẽ không thể biết được bản chất của mọi thứ. Kể cả tâm tham cũng cần phải có tinh tấn để tạo duyên cho nó sinh khởi. Tham không thể sinh khởi một mình, nên bất cứ khoảnh khắc nào của tâm tham, tinh tấn cũng có ở đó. Vậy, chúng ta hãy quy y Pháp chứ đừng quy y ý niệm riêng của mình. Kể cả ở những khoảnh khắc không có tham hoặc sân, ở những khoảnh khắc của tâm si, vẫn phải có viriya- tinh tấn sinh khởi để giúp moha (si) đảm nhận chức năng “không hiểu” của nó; và chúng ta không thể tự nghĩ ra những điều này được. Trên thưc tế thì chẳng có ai cố tình nghĩ “tôi sẽ cố gắng”. Nhưng bất cứ khi nào vô minh và tà kiến vẫn chưa được tận diệt, sẽ vẫn có cái ý niệm là “tôi đang cố gắng”. Nếu quả thật ai đó có thể làm một cái gì đấy để đạt được [trí tuệ] thì sẽ chẳng cần phải nghiên cứu giáo lý làm gì cả.

Mọi người: sadhu sadhu sadhu!

 

, , ,

Translate »