Pháp đàm giữa Achaan Sujin và Tỳ kheo B. tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn độ 2019 – Phần 4

TK: Đương nhiên là lúc đầu mọi người sẽ thực hành với ý niệm về một tự ngã đạt được cái gì đó. Nhưng khi đã tiến bộ hơn thì ý niệm về ngã sẽ dần dần suy giảm. Tuy vậy, việc mọi người nghĩ theo ngôn ngữ chế định như ”tôi” hay “sự chứng đạt của tôi” là khá tự nhiên.

A.S: Kểcả điều ấy (ý niệm về ngã -VDH)phải được biết bởi trí tuệ. Nếu không, ngũ uẩn bao gồm: sắc uẩn (rūpa khandha), thọ uẩn (vedanā khandha), tưởng uẩn (saññā khandha), hành uẩnsaṅkhāra khandhathức uẩn(viññāṇa khandhakhông thể được tận diệt nếu nó (ý niệm về ngã – VDH) không được nhậnra. Thông thường, hàng ngày chúng ta không thấy được tham và si, bởi vì cái thấy không được biết, cái nghe không được biết, suy nghĩ không được biết, tất cả mọi thứ đều không được biết.

Dù chỉ ở mức độ pháp học, ta phải hết sức cẩn mực, chẳng hạn với từ “thực hành”. Nó không có nghĩa là một tự ngã làm gì đó, mà là thời điểm sinh khởi trí tuệ trực nhận thực tại, được duyên bởi hiểu biết đúng đã tích lũy. Ví dụ như, không ai có thể tránh khỏi đặc tính cứng, nó luôn ở đó, từ lúc chúng ta ngủ dậy. Nhưng tại khoảnh khắc có sự xúc chạm thì không có hiểu gì về nó cả, mặc dù thế giới xúc chạm đang hiện diện. Tại khoảnh khắc đó không có thế giới nào khác cả, chỉ thế giới xúc chạm và tính cứng hiện hữu để được biết mà thôi. Bất kỳ đối tượng nào của tâm cũng cần được hay biết,một cách tự nhiên.

Sẽ vô cùng khó khăn để tận diệt được ý niệm về ngã bởi nó luôn có ở đó và luôn luôn xen vào, cố gắng tập trung, cố gắng nắm bắt, cố gắng biết. Nhưng trí tuệ biết như vậy là sai.Trí tuệ lớn mạnh dần, từng chút một xả ly khỏi sự dính mắc với ý niệm về ngã.

Chẳng hạn, ngay bây giờ đây, cái thấy không được hiểu là một pháp kinh nghiệm đối tượng thị giác,và điều ấy cản trở hiểu biết về thực tại tiếp theo bởi vì ngay lập tức cósự chấp tưởng rằng có một cái gì đó, cho tới khi cótrí hiểu đó chỉ là cái thấy và cái được thấy. Sự thật ấy dần được hiểu trong cuộc sống hàng ngày, do duyên, khởi đầu từ pháp học. Nếu pháp học chưa đủ vững vàng, nó không thể làm duyên cho bấtcứ sự xả ly nào trong cuộc sống đời thường. Hiểu biết phải là trong cuộc sống hàng ngày, bởi vì đó là cách thức hoạt động của trí tuệ.

Từ ‘thực hành” có thể bị hiểu nhầm.[Thựcchất], không có người thực hành. Đặc tính của các pháp xuất hiện, trí tuệ hiểu đúng như chúng là. Cái nghe hiện giờ không phải là âm thanh. Và nó không hiểu nghĩa của âm thanh đó-điềunày xảy ra ở khoảnh khắc khác. Trí tuệ sinh khởi rất tự nhiên.Giống như việcbạn không muốn nghe âm thanh, nhưng cái nghev ẫnnghe âm thanh. Hayviệcta không muốn tham hay sân sinh khởi, nhưng nó đã ở đó rồi. Mọi khoảnh khắc đều có thể được hiểu, nhưng chỉ bởi trí tuệ mà thôi. 

TK: Tuy nhiên có những phương pháp tu tập cụ thể để có thể làm giảm bớt tác động của tham và sân. Trong kinh, Đức Phật giáo giớinhư mộtlương y thiện xảo, kê đơn đúng thuốc cho từng bệnh cụ thể nơi tâm.

A.S: Vâng, và sự thiện xảo đó là trí tuệ

TK: Vâng, nhưng không phải tất cả các phương pháp mà đức Phật dạy trong kinh đều hướng trực tiếp tới việc làm vững mạnhtrí tuệ theo nghĩa hiểu biết về các pháp chân đế. Ví dụ như để giảm bớt tham,đặc biệt là tham dục (kāma rāga), đức Phật đã dạy quán thân bất tịnh.

A.S: Nhưng nếu không có hiểu biết đúng rằng việc quán niệm đó là vô ngã, thì chính ý niệm về ngã sẽ thúc đẩy cố để bớt tham.

TK: Hiểu biết về mặt khái niệm về vô ngã là kiến thức nền tảng của những ai đã học Giáo pháp theo cách đúng đắn. Nhưng nếu một vị thiền sinh có một vấn đề cụ thể về dục tham, thì họ sẽ áp dụng phương pháp quán thân bất tịnh, chứ không sử dụng phương pháp ghi nhận chính xác cái đang có mặt hiện giờ.

A.S: Nhưng nếu không có hiểu biết về các thực tại làvôngã, thì người đó sẽ nghĩ rằng mình là ngườ ibiết.Tôi thích, tôi không thích, tôi hiểu, luôn là ‘Tôi” là người biết. Thậm chí ngay ở khoảnh khắc cố nghĩ theo cách đúng đắn, thì tham đã ở đó rồi. Chính vì vậy,trước khi trí tuệ liên tục được vun bồi cho tới khi tâm siêu thế sinh khởi, không phải chỉ có một mà nhiều tầng tuệ minh sát, một tầng tuệ thôi chưa đủ.

Ở Thái lan (và tôi nghĩ là khắp nơi trên thế giới) có những trường thiền, nhưng trong Tam tạng kinh điển không đề cập đến bất kỳ trường thiền nào cả. Mọi người tới trường thiền, lựa chọn đề mục thiền để chú tâm vào. Đó không thể là khoảnh khắc của hiểu biết về vô ngã, bởi vì “Tôi nghe về điều này, tôi chọn điều này, tôi chỉ muốn biết về điều này mà thôi”.

TK: Tôi nghĩ ý tưởng về trung tâm thiền phát triển trong thời kỳ gần đây, có thể vào đầu thế kỷ thứ 19. Thời xưa, khi mọi người muốn thực hành chuyên sâu thường trở thành tu sĩ, còn các cư sĩ muốn chuyên tu sẽ đi tới các tu viện và tại nơi đó có những cơ sở vật chất để giúp cho cư sĩ có thể nghỉ lại và thực hành thiền định.

A.S:Liệu có ai đó có thể thực hành “thiền chuyên sâu”,nếu không có trí tuệđã tự phát triển từng chút một nhờ nghe Pháp? Không chỉ có văn tuệ (suta-mayapaññā)mà còn có tư tuệ (cinta-mayapaññā). Chẳnghạn,trong Hạnh phúc kinh, nghe Pháp là phước lành và đàm luận về Giáo pháp cũng là phước lành. Điều ấy có nghĩa là [việc học hiểu Giáo Pháp] là khó khăn và vi tế đến nhường nào. Và khi không có trí tuệ, sẽ không thể hiểu được pháp vô ngã đang thấy và nghe một cách tự nhiên. Phật ngôn có thể giúp mọi người hiểu cái gì đúng và cái gì sai. Nếu không, mọi người sẽ có những ý niệm của riêng mình về cái là đúng và cố gắng theo đuổinó.

TK: Đương nhiên rằng mỗi người sẽ phải luôn tự kiểm chứng cái hiểu của mình đối chiếu với kinh điển,và nếu may mắn được gặp vị thầy giỏi thì cần đối chiếu hiểu biết của mình với vị ấy và được chỉnh sửa những hiểu sai của mình. Đó là giá trị của bậc thiện trí thức mà đức Phật tán thán.

A.S: Bậc Thiện trí vĩ đại nhất là đức Phật. Vì vậy, những lời dạy của Ngài là bậc thiện trí tuyệt hảo nhất.

Nếu một người có suy xét cẩn trọng, người đó có thể hiểu con đường đưa tới sự xả ly. Ngược lại thì sẽ “làm gì đó” với ý niệm về ngã. Và điều đó là sai lầm,bởi vì người đó đã quay lưng lại với Giáo pháp, trong kiếp sống này,và còn tiếp diễn trong các kiếp sống khác nữa. Đọc thô ikhông đủ, tìm hiểu thôi không đủ, suy xét thôi không đủ cho chánh niệm sinh khởi. Nhưng khi chánh niệm sinh khởi,người ấy hiểu rằng chánh niệm ấy tới từ việc nghe, suy nghĩ, từ suy xét, hiểu biết, mỗi lúc một tốt hơn, sâu sắc hơn. Nó phải bắt đầu từ khoảnh khắc này.

TK: Nếu một người nhìn vào cấu trúc của hệ thống Tứ niệm xứ mà đức Phật đã thuyết giảng, Ngài bắt đầu, một cách rất thiện xảo, với niệm thân, với các phương pháp thiền lấy các đối tượng tương đối thô tháo của thân như một cách thức khởi sự để cho tâm được ổn định. Và rồi có quán pháp. Các đối tượng quán tưởng, đặc biệt như quán mắt và đối tượng thị giác, tai và âm thanh, thấy,nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, thì tới sau, trong niệm xứ thứ tư.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng bốn niệm xứ được cấu trúc theo thứ lớp. Do đó, ta không bắt đầu thực hành tứ niệm xứ với việc ghi nhận cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và các đối tượng tương ứng, mà đầu tiên, theo kinh nghiệm riêng của tôi – ta phải làm tâm lắng đọng với một hình thức thiền nào đó dựa trên thân. 

————————

Chú thích

16 Sutamayā paññā: Văn tuệ – trí hiểu nhờ nghe Pháp; Cintāmayā paññā: Tư tuệ – trí hiểu qua sự tư duy, suy xét; Bhāvanāmayā paññā: trí hiểu trực tiếp trong quá trình phát triển tâm trí.

17 Mangala: Hạnh phúc, phước lành. Hạnh phúc kinh dạy về ba mươi tám pháp hạnh phúc.

 

Leave a Reply