Pháp đàm giữa Achaan Sujin và Tỳ kheo B. tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn độ 2019 – Phần 2

A.S (tiếp): Tôi nghĩ rằng Giáo pháp vô cùng thâm sâu, và chúng ta cần nghiên cứu từng từ một. Không phải cứ nghe Pháp rồ ilà đã hiểu được hết mọi thứ. Điều này là không thể bởi vì Pháp vô cùng sâu sắc. Ví dụ như: những người mới tới Hiệp hội không có ý niệm gì về sự vô ngã của cái thấy, cái nghe, suy nghĩ. Từ khi sinh ra cho tới khi đến Foundation, họ luôn có ý niệm về ngã. Cái gì có thể diệt trừ được các phiền não ngủ ngầm(anusaya)? Trong một giấc mơ, hoặc bất cứ khoảnh khắc nào của tâm, ngủ ngầm ở đó và là nguồn gố chay hạt giống cho các pháp bất thiện khác sinh lên. Khi ta ngủ, có ý niệm về tự ngã dưới dạng ngủ ngầm, và cũng vậy ngay sau khoảnh khắc của cái thấy.

Cái thấy không phải là cái được thấy. Cái thấy sinh khởi nơi nhãn căn(một sắc pháp làm cơ sở vật chất cho tâm sinh lên). Khi chúng ta nói về căn (vathu), có sáu căn: nhãn căn, nhĩ căn,tỷ căn,thiệt căn, thân căn và ý căn. Nếu nói về môn (dvara) thì cũng có sáu môn, nhưng nghĩa của chúng khác nhau: Căn (vathu) là nơi chốn cho tâm phát sinh lên.Môn (dvara)là cửa – không chỉ cho tâm thấy mà cho cả các tâm khác sinh khởi trước và sau tâm thấy, cho tới khi sắc diệt đi không còn gì nữa.   

Tôi nghĩ rằng những gì được nghe là sự thật, vì đó là những lời dạy của đức Phật. Nó (sự diệt trừ các ngủ ngầm nói trên-VDH) phụ thuộc vào pháp học (pariyatti)5, là hiểu biết rất thuần thục sự thống nhất của các lời giảng bằng các thuật ngữ khác nhau như: giới (dhātu), TứThánh Đế (ariya sacca),xứ (āyatana), Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda). Nhưng [cần phải hiểu] chúng đều phải là [các pháp] hiện giờ. Lý Duyên Khởi cũng là hiện giờ.

Nếu chúng ta nghiên cứu Giáo pháp như một học giả, một chuyên gia tiếng Pali, hoặc một người phiên dịch, thì đó không phải là cách đúng. Bởi vì Đức Phật dạy rằng những gì xuất hiện hiện giờ có thể được biết như chúng là. Và Ngài thường hỏi những người đến gặp Ngài: “Cái thấy là thường hay vô thường?” Tại thời điểm đó, những người đã có tích lũy viên mãn trítuệ có thể chứng ngộ về cái thấy ngay lập tức. Khoảnh khắc của hiểu biết trực tiếp là Tứ niệm xứ. Nó khác với những người chỉ tới để nghe và suy nghĩ theo cách riêng của họ, về cái này hay cái kia.

Cách thức tốt nhất là nghiên cứu cẩn trọng từng từ một và xem xét tính thống nhất của nó với những từ khác mà Ngài đã thuyết giảng không mệt mỏi trong bốnmươi nhăm năm.

TK: Nhưng chúng ta thấy trong các bài kinh rằng, đức Phật dạy tu tập theo thứ lớp. Ngài không bắt đầu ngay bằng việc yêu cầu mọi người quán chiếu những gì đang xuất hiện trong trải nghiệm tức thì của họ, nhưng trước tiên họ phải có nền tảng về giới, là những hành vi có đạo đức.

A.S: Đúng vậy,tuy nhiên hãy xét về riêng từ ‘giới”. Mọi người thường hiểu giới là hành vi qua thân và khẩu, nhưng thực chất trong Tam tạng, trong Đạo Vô Ngại Giải thì giới là gì? Sắc không thể làm được điều gì, vì vậy sắc không thể có giới được. Giới phải là tâm và tâm sở mà thôi. Nó có nghĩa là hành xử của tâm-theo cách thức của bất thiện giới khi tâm bất thiện sinh lên, theo thiện giới khi tâm thiệnsinh lên, và theo vô ký6giớiđối vớibậc A la hán. Cái thấy không thể làm gì- nó chỉ sinh lên để thấy.Nhưng các tốc hành tâm được làm duyên bởi nhiều tâm sở có thể là thiện hoặc bất thiện, và chỉ có tâm bất thiện là giới bất thiện. Thông thường, mọi người nghĩ về năm giới, hoặc tám giới, hay mười giới7, nhưng thực chất giới chỉ là hành xử của tâm và tâm sở mà thôi.

Đức Phật đã dạy từ trí tuệ vĩ đại của Ngài và ta chỉ học để cố gắng hiểu những lời dạy đó. Nếu không suy xét cẩn trọng, ta có thể đi sai đường. Bởi vì, nếu không phải là hiểu biết về khoảnh khắc này thì có gì có thể được hiểu? Mọi thứ ngoài khoảnh khắc khắc này đều đã qua. Nếu không có hiểu biết thì chỉ có suy nghĩ về những thứ đã qua rồi. Nếu pháp học chưa đủ chắc chắn, nếu chưa phải là mức độ trí tuệ hiểu rõ ràngTứ thánh đế(sacca ñāṇa)thì nó sẽ không thể làm duyên cho pháp hành (patipatti) được. Pháp hành là chánh niệm trực tiếp cùng với trí tuệ, diễn ra rất tự nhiên.

Giáo pháp dạy về con đường tận diệt [ýniệm về] ngã, vì vậy nó phải luôn bắt đầu từ hiểu biết về vô ngã, và tiếp tục với trí hiểu vô ngã suốt chặng đường, suốt cả chặng đường. Nó phải rất tự nhiên, giống như hiện giờ.Hiện giờ không ai nghĩ về cái thấy trong khi có cái thấy. Nó rất bình thường. Tại thời điểm của cái nghe, họ không hiểu cái nghe sinh khởi ởkhoảnh khắc đólà gì. Nhưng nếu suy xét kỹ hơn một chút, nếu không có gì sinh khởi thì không thể có thế giới (lokiya). Ngay khi thực tại sinh khởi, thế giới hiện hữu. Lokiya cónghĩa là thế giới/ thế gian là bởi pháp thế gian sinh lên và diệt đi do duyên, khác với siêu thế (lokuttara)9.

————————

Chú thích

5 Pariyatti: Pháp học, trí ở mức độ tư duy hiểu về các pháp chân đế làm nền tảng đưa tới pháp hành, trí tuệ trực nhận và pháp thành, sự chứng ngộ Tứ Thánh Đế

6 Abyākata: Vô ký, chỉ tới tất cả các thực tại không phải là thiện hay bất thiện. Các vị A-la-hán không còn có các tâm thiện mà có các tâm duy tác không có năng lực cho quả của nghiệp

7 Ngũ giới,tám giới hay mười giới là các các điều học giới được thọ trì bởi các cư sĩ thường giới, người xuất gia hay cư sĩ tám giới (anagarika) và sa-di.

8 Sacca ñāṇa: Trí hiểu vững chắc Tứ Thánh Đế ở mức độ tư duy, là nền tảng dẫn tới kicca ñāṇa, trí hiểu phận sự của Tứ Thánh Đế- tương ứng với pháp hành, và  cuối cùng là kata ñāṇa, trí tuệ chứng ngộ các tầng tuệ và đạo quả.

9 Lokiya: Thế gian.  “Nó đang tan rã (lujjati), này các tỳ kheo, vì vậy nó được gọi là thế gian (loko)” (SN 35:82, Lokapañhāsutta).  Lokuttura: Siêu thế. Niết bàn là pháp siêu thế không sinh không diệt

Leave a Reply